1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang

132 526 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát tình hình nghiên cứu về đề tài Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề XĐGN được công bố, cụ thể là các công trìn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ HƯƠNG

NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Ở VÙNG CAO NÚI ĐẤT PHÍA TÂY TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC

Mã số: 60.31.95

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ NHƯ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 08 tháng 8 năm 2010

Tác giả

Đỗ Thị Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Vũ Như Vân - Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lý, tổ bộ môn Địa lý kinh tế - xã hội và các thầy cô khoa Sau Đại học, trường Đại học

Sư phạm Thái Nguyên đã động viên, chỉ dẫn, đóng góp ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn

Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành và nhân dân tỉnh Hà Giang, huyện Xín Mần, huyện Hoàng Su Phì đã nhiệt tình giúp đỡ trong việc nghiên cứu thực tế, cung cấp số liệu, tài liệu và nhiều thông tin hữu ích liên quan đến luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để tác giả có thể hoàn thành luận văn

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, mặc dù bản thân đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn quan tâm góp ý để luận văn hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 08 tháng 8 năm 2010

Tác giả

Đỗ Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Khái quát tình hình nghiên cứu về đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Quan điểm phương pháp luận 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những điểm mới và đóng góp của đề tài luận văn 7

7 Cấu trúc đề tài luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Cơ sử lí luận 8

1.1.1 Quan niệm, phương pháp tiếp cận và đánh giá đói nghèo trên thế giới 8

1.1.2 Quan niệm và chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.1 Khái quát về tình hình nghèo đói trên thế giới 16

1.2.2 Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam hiện nay 18

1.2.3 Hà Giang là tỉnh có tỉ lệ đói nghèo cao nhất cả nước 28

Tiểu kết chương 1 35

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO Ở

VÙNG CAO NÚI ĐẤT PHÍA TÂY TỈNH HÀ GIANG 36

2.1 Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

2.1.1 Vị trí địa lí và lãnh thổ 36

2.1.2 Môi trường tự nhiên 39

2.1.3 Dân cư - xã hội 43

2.l.4 Cơ sở hạ tầng 49

2.1.5 Sự phát triển kinh tế của vùng núi đất phía tây Hà Giang 51

2.1.6 Đánh giá chung về vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang 56

2.2 Thực trạng đói nghèo tại vùng núi đất phía tây tỉnh Hà Giang 58

2.2.1 Chỉ tiêu về thu nhập 61

2.2.2 Chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khoẻ 71

2.2.3 Chỉ tiêu về giáo dục 72

2.2.4 Chỉ tiêu nhà ở và điện nước 75

2.2.5 Đánh giá tổng hợp mức độ đói nghèo ở vùng cao núi đất phía tây Hà Giang 77

2.3 Kết quả tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo qua tìm hiểu thực trạng 79

2.3.1 Phân nhóm nguyên nhân nghèo đói theo Bộ LĐTB&XH 79

2.3.2 Nguyên nhân nghèo đói vùng cao núi đất tây Hà Giang 80

2.4 Những thành tựu và thách thức trong công cuộc XĐGN ở vùng cao núi đất phía Tây Hà Giang 83

2.4.1 Những thành tựu 83

2.4.2 Những khó khăn thách thức 85

Tiểu kết Chương 2 86

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ XĐGN Ở VÙNG CAO NÚI ĐẤT PHÍA TÂY TỈNH HÀ GIANG 87

3.1 Cơ sở xác định những giải pháp XĐGN ở vùng cao núi đất phía Tây Hà Giang 87

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu XĐGN quốc gia 87

Trang 6

3.1.2 Quan điểm và mục tiêu XĐGN của vùng cao núi đất phía tây

tỉnh Hà Giang 92

3.2 Các giải pháp XĐGN chủ yếu ở vùng cao núi đất phía Tây tỉnh Hà Giang 95

3.2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về giảm nghèo 96

3.2.2 Đẩy mạnh phát triển các ngành các lĩnh vực 96

3.2.3 Phát triển các lĩnh vực xã hội 98

3.2.4 Nguồn vốn và huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng 99

3.3.5 Các cơ chế, chính sách thực hiện chương trình 99

3.2.6 Công tác an sinh xã hội 104

3.2.7 Bảo vệ tài nguyên - môi trường sinh thái 104

3.2.8 Quốc phòng - An ninh 105

3.2.9 Tăng cường công tác lãnh chỉ đạo tổ chức thực hiện và nâng cao năng lực cán bộ làm công tác XĐGN 106

3.2.10 Giải pháp đột phá về tổ chức không gian XĐGN 106

Tiểu kết chương 3 112

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỤC LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Nghèo đói ở Việt Nam qua các năm 20

Bảng 1.2 Tỉ lệ nghèo ở Việt Nam, thời kì 1999 - 2008 25

Bảng 1.3 Số hộ nghèo phân theo đơn vị hành chính của tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2005 - 2009 29

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất chia theo mục đích sử dụng của vùng cao núi đất phía tây và tỉnh Hà Giang, năm 2010 41

Bảng 2.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị nông thôn ở vùng cao núi đất phía Tây Hà Giang (2005-2010) 44

Bảng 2.3 Dân số vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang theo dân tộc, phân chia giới tính và thành thị - nông thôn, năm 2009 45

Bảng 2.4 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của vùng 47

Bảng 2.5 Qui mô GDP và GDP/người (theo giá thực tế) của vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, thời kỳ 2005 - 2010 61

Bảng 2.6 Phân loại mức thu nhập hộ gia đình 1 tháng, năm 2009 63

Bảng 2.7 Đói nghèo phân theo các khu vực ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, năm 2010 67

Bảng 2.8 Giáo dục phổ thông - Bậc Tiểu học của vùng (2005 - 2009) 73

Bảng 2.9 Giáo dục phổ thông - Bậc THCS của vùng (2005 - 2009) 73

Bảng 2.10 Giáo dục phổ thông - Bậc THPT của vùng (2005 - 2009) 73

Bảng 2.11 Số học sinh chia theo khu vực trong vùng, năm 2009 74

Bảng 2.12 Cho điểm các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo 77

Bảng 3.1 Số liệu cơ bản các xã biên giới Việt - Trung, năm 2010 109

Bảng 3.2 Số liệu cơ bản các xã tuyến phát triển động lực, năm 2010 110

Trang 8

DANH MỤC HèNH

Hỡnh 1.1 Thu nhập bỡnh quõn đầu người của Việt Nam (2000 - 2010) 18

Hỡnh 1.2 Tỉ lệ hộ nghốo cả nước và phõn theo thành thị, nụng thụn, thời kỳ 2004 - 2010 24

Hỡnh 1.3 Bản đồ hành chớnh tỉnh Hà Giang 30

Hỡnh 2.1 Bản đồ hành chớnh vựng cao nỳi đất phớa Tõy tỉnh Hà Giang, năm 2010 37

Hỡnh 2.2 Cao nguyờn nỳi đất Tõy Hà Giang nhỡn từ ảnh 3D vệ tinh 39

Hỡnh 2.3 Dõn số trung bỡnh phõn theo giới tớnh ở vựng cao nỳi đất 46

Hỡnh 2.4 Phõn húa dõn cư giữa nụng thụn và thành thị của vựng 48

Hỡnh 2.5 Bản đồ kinh tế chung của vựng cao vựng nỳi đất phớa tõy tỉnh Hà Giang, năm 2010 53

Hỡnh 2.6 Tốc độ tăng tr-ởng kinh tế vùng núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2005 - 2010 54

Hỡnh 2.7 Cơ cấu chuyển dịch kinh tế vựng nỳi đất phớa tõy tỉnh Hà Giang thời kỳ 2005 - 2010 55

Hỡnh 2.8 Bản đồ thực trạng đúi nghốo vựng cao nỳi đất phớa tõy tỉnh Hà Giang, năm 2010 60

Hỡnh 2.9 Tỷ lệ hộ nghèo của vùng, giai đoạn 2005 -2010 64

Hỡnh 3.1 Lược đồ định hướng khụng gian phỏt triển đột phỏ vỡ mục tiờu XĐGN bền vững cho vựng cao nỳi đất phớa tõy Hà Giang 107

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ĐBKK : Đặc biệt khó khăn

2 EDI : Chỉ số phát triển Giáo Dục cho tất cả

3 GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

4 TCTK : Tổng cục Thống kê

5 THCS : Trung học Cơ sở

6 THPT : Trung học Phổ thông

7 TT : Thị trấn

8 HPI : Chỉ số hạnh phúc (chỉ số môi trường)

9 LĐTB&XH : Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

10 MDG : Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ

11 KTXH : Kinh tế và xã hội

12 XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

13 FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc

14 WB : Ngân hàng thế giới

15 WHO : Tổ chức Y tế thế giới

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Năm 2000, Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc tuyên bố XĐGN là một trong những nội dung quan trọng trong những Mục tiêu Thiên niên kỉ Đồng hành cùng cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện mục tiêu cao cả đó, Việt Nam coi XĐGN bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng tâm bằng việc tập trung chỉ đạo, xây dựng cơ chế, chính sách và giải pháp ưu tiên hỗ trợ XĐGN trên phạm vi cả nước, đặc biệt ở những khu vực có tỉ lệ nghèo cao

Năm 2008, Nhà nước ta đã có bước đột phá trong công cuộc xóa nghèo bền vững bằng việc ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP (27/12/2008), nhằm tập trung ưu tiên đầu tư cho 61 huyện đặc biệt nghèo; trong đó có khu vực vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, bao gồm hai huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì Theo tinh thần đó, tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang cũng như của Đại hội Đảng bộ hai huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì đều thể hiện quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu tăng trưởng nhanh đồng thời với XĐGN bền vững Để thực hiện nhiệm vụ nói trên, vùng cao núi đất phía tây

Hà Giang cần được nghiên cứu không chỉ cụ thể của mỗi huyện mà phải có cách nhìn chung cho cả hai huyện theo tinh thần XĐGN bền vững

Qua tìm hiểu lí luận và thực tế về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác XĐGN bền vững ở tỉnh Hà Giang và thực trạng phát triển KTXH của tỉnh luôn phải gắn với XĐGN Là một học viên cao học, chuyên ngành Địa lí học, tôi nhận thấy vấn đề XĐGN của khu vực vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang là đặc biệt quan trọng và cần phải có những giải pháp tổng thể cho toàn vùng theo hướng XĐGN bền vững Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Thạc sĩ Địa lí học, khoá 17 (2009 - 2011) với tên gọi:

“Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây

tỉnh Hà Giang”

Trang 11

2 Khái quát tình hình nghiên cứu về đề tài

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề XĐGN được công bố, cụ thể là các công trình sau:

Báo cáo: “Việt Nam đánh giá nghèo đói và chiến lược” của WB vào

tháng 1/1995 đã xem xét tình trạng đói nghèo của nước ta trong bối cảnh KTXH sau một thời gian chấm dứt chiến tranh và thực hiện đổi mới.[1]

PGS.TSKH Lê Du Phong - PTS Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên),

Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Các tác giả

đã đánh giá những thành tựu về KTXH qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm năng

ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta.[16]

Đề án “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”

được Chính phủ phê duyệt vào ngày 21/5/2002 đã cụ thể hóa các nhiệm vụ về KTXH với trọng tâm là công tác XĐGN.[5]

Cái nhìn tổng quan về diễn biến đói nghèo của nước ta thể hiện rõ

thông qua Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam với “Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 - Tấn công đói nghèo”; “Báo cáo phát triển Việt Nam - Nghèo”; “Báo cáo chung về nghèo đói - Năm 2007, 2008, 2009”;

Những nghiên cứu đã cho ta thấy rõ, đói nghèo là vấn đề nhức nhối ở nước ta.[2 / 3 / 4 / 5]

Nghèo đói và XĐGN không chỉ có các nhà nghiên cứu xã hội và nhân văn quan tâm, mà còn có sự tham gia của nhiều nhà Địa Lý Với báo cáo

“Nghèo đói và sự chênh lệch trong phát triển vùng ở Việt Nam” (tại Hội nghị

khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ II, Hà Nội, 2006), GS Đỗ Thị Minh Đức,

GS Nguyễn Viết Thịnh GS Báo cáo đã tái hiện bức tranh đói nghèo ở Việt Nam và các mức độ chênh lệch khác nhau trong phát triển vùng [8] Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ - “Vấn đề đói

Trang 12

nghèo - Thực trạng và giải pháp” Tác giả đã thành công khi tập trung nghiên

cứu các khu vực có tỉ lệ đói nghèo cao thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc.[19 / 20 / 21]

Có thể nhận định chung là các công trình nghiên cứu về nghèo đói và XĐGN ở nước ta là rất phong phú Thành quả của những công trình đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác XĐGN trên toàn quốc và từng địa phương

Tài liệu nguồn về thực trạng đề tài XĐGN ở tỉnh Hà Giang có thể nói là khá phong phú Quan trọng hàng đầu là các báo cáo của địa phương tỉnh cũng như hai huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì về chủ trương và chính sách XĐGN

cụ thể cho địa bàn [17 / 18 / 22 / 24]

Vấn đề XĐGN được đề cập chủ yếu trong các văn bản, nghị quyết, báo cáo riêng của từng huyện Xín Mần, huyện Hoàng Su Phì, việc đánh giá chung cho cả khu vực núi đất phía tây tỉnh Hà Giang thì mới chỉ là bước đầu Vấn đề XĐGN đã được chúng tôi trong nghiên cứu tại Khoá luận tốt nghiệp và tại báo cáo tại Hội thảo Khoa học Địa lí Hội Địa lý Đông Nam Á 2010 (SEAGA

- 2010), từ ngày 23 - 25/11/2010 tại Hà Nội với tiêu đề: “Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu huyện vùng cao biên giới Xín Mần, Hà Giang vì mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững’’ [10]

Từ nghiên cứu huyện Xín Mần, chúng tôi nhận ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu huyện Xín Mần không thể tách rời khung cảnh chung của môi trường địa lí vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang Nghiên cứu vấn đề XĐGN trong phạm vi rộng lớn hơn, khái quát hơn để khu vực này dễ dàng hòa chung vào sự phát triển KTXH của tỉnh nhà và cùng cả nước thực hiện quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Hai huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì nằm trong khu vực vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang đều thuộc diện các huyện vùng cao biên giới Việt - Trung ĐBKK cần được ưu tiên đầu tư như ghi trong Nghị quyết 30a của Thủ tướng Chính phủ

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói và XĐGN

- Phân tích thực trạng nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói, đánh giá những kết quả và hạn chế trong công tác XĐGN ở hai huyện vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang những năm qua

- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh việc thực hiện XĐGN kết hợp với tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ở các huyện vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang

4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Do nguồn tư liệu, thời gian nghiên cứu và sự hạn chế của bản thân nên

đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về nội dung lý luận cũng

như thực tiễn tăng trưởng KTXH và giảm nghèo cấp tiểu vùng

- Về giới hạn không gian lãnh thổ nghiên cứu: Khu vực vùng cao núi

đất phía tây tỉnh Hà Giang (gồm huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần) với đặc điểm là khu vực miền núi, biên giới - dân tộc có sự phân chia theo trình

độ phát triển có tính tới cơ hội và thách thức do sự hội nhập kinh tế đối với cộng đồng các dân tộc miền núi biên giới

Trang 14

- Về thời gian: Nghiên cứu tình hình tăng trưởng KTXH và giảm nghèo

ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang trong thời kì đổi mới, chủ yếu là từ năm 2005 đến nay Nêu ra mục tiêu, giải pháp XĐGN bền vững thời kỳ 2011

- 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 của vùng sao phù hợp với chiến lược phát triển KTXH của tỉnh Hà Giang và cả nước

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm phương pháp luận

5.1.1 Quan điểm không gian lãnh thổ

Các hiện tượng địa lí KTXH rất phong phú và đa dạng, gắn liền với một không gian lãnh thổ cụ thể với nhiều mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố tự nhiên, con người, xã hội Hai huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần tuy là hai đơn vị hành chính khác tên gọi nhưng cùng nằm trong một đơn

vị địa lí thống nhất đó là cao nguyên núi đất phía tây Hà Giang Quan điểm không gian lãnh thổ thống nhất trong đa dạng đem lại cách nhìn tổng hợp trong tiếp cận các vấn đề XĐGN cho cộng đồng dân cư nơi đây

5.1.2 Quan điểm hệ thống

Đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống, gồm nhiều phân hệ có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Một phân hệ thay đổi sẽ ảnh hưởng đến vận động của toàn bộ hệ thống Huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần được coi là một hệ thống được đặt trong hệ thống lớn hơn là tỉnh Hà Giang Đến lượt mình, huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần là đồng cấp, có mối quan hệ và tương đồng về tự nhiên, kinh tế, xã hội, mỗi hệ thống bao gồm các phân hệ thấp hơn: xã, TT, thôn bản Do đó cần phải tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống và trong cùng một hệ thống

5.1.3 Quan điểm kinh tế

Quan điểm này được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu kinh tế cụ thể như: Tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, chuẩn nghèo, tỷ lệ hộ nghèo

Trang 15

Trong nghiên cứu XĐGN ở các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần áp dụng quan điểm này có thể thấy rõ và cụ thể hơn các chỉ tiêu KTXH

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi sự đảm bảo về bền vững về cả ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường Với khu vực vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, nghiên cứu phát triển KTXH và công tác XĐGN phải đặt trong mối quan hệ giữa ba bộ phận cấu thành phát triển bền vững

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Thu thập tài liệu, tìm hiểu những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu; tổng hợp và phân tích có chọn lọc các loại tài liệu, số liệu, tư liệu từ các nguồn đáng tin cậy, như: Niên giám thống kê, sách, báo, tạp chí, số liệu điều tra, báo cáo của các cơ quan, ban ngành huyện Hoàng Su Phì, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang và các trang web trên mạng internet Các số liệu được

cập nhật mới nhất gần với thời điểm nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Các tài liệu, số liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, được phân tích và xử lý cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu giữa các tài liệu, đặc biệt là giữa các số liệu có sự so sánh giữa các mốc thời gian và giữa các đơn vị lãnh thổ

5.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Các bản đồ về dân cư, bản đồ kinh tế chung và phân hoá lãnh thổ dùng

để mô tả hiện trạng KTXH, sự phân bố các hiện tượng địa lí kinh tế, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, mối quan hệ giữa chúng và những dự kiến phát triển kinh tế

5.2.4 Phương pháp thực địa

Khảo sát thực tế tại TT Cốc Pài, Cửa khẩu Mốc 5 - Đô Long, Khu kinh

tế Quốc phòng 314, xã Nấm Dẩn, Bản Ngò, Tả Nhìu, Nàn Ma, Nà Chì (huyện

Trang 16

Xín Mần); TT Quang Vinh, Đồn Biên phòng xã Bản Máy, xã Thàng Tín, Tụ Nhân, Tả Sử Choóng (Hoàng Su Phì)

6 Những điểm mới và đóng góp của đề tài luận văn

Những nghiên cứu về nghèo đói ở tỉnh Hà Giang không nhiều, nhất là khi xem xét nghèo đói ở cấp thấp hơn Bên cạnh tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn của thế giới và Việt Nam, đề tài đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu và đánh giá phù hợp với khu vực vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang

Từ đặc thù về kinh tế, chính trị, xã hội ở các huyện biên giới, luận văn xác định mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả XĐGN cho các huyện biên giới tỉnh Hà Giang

Đề tài còn đề cập tới những điểm cơ bản về sự chênh lệch phát triển giữa các khu vực, giữa các vùng, giữa các nhóm dân cư, các nhóm thu nhập ở khu vực này và của từng huyện trong xu hướng chung của cả vùng, tỉnh và của cả nước

7 Cấu trúc đề tài luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm các chương chủ yếu:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang

Chương 3 Định hướng và giải pháp XĐGN nhanh và bền vững cho vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang./

Trang 17

1.1.1.1 Quan niệm về đói nghèo

Với phương châm "coi đấu tranh chống đói nghèo là sứ mệnh, là trọng tâm”, WB đã hoàn thành "Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói, năm 2000” Bản báo cáo này ra đời là một đóng góp thiết thực vào

cuộc tranh luận về giàu nghèo trong xã hội Điểm đáng ghi nhận là báo cáo này đã mở rộng quan niệm về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo

Báo cáo diễn giải, nghèo có nghĩa là "Không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”, "người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thế chế của nhà nước và xã hội đối

xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thế chế đó”

Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Nghèo tuyệt đối (hay nghèo theo thu nhập) được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa như sau: "Một người là nghèo khổ khi thu nhập hàng năm

ít hơn một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm của quốc gia” Họ còn nhận định, nghèo thu nhập "là sự đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm tương đương 2100 - 2300 Kcal/người/năm”

Với cách nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, Robert Mc Namara - khi

còn là giám đốc của WB đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối: "Nghèo ở mức

độ tuyệt đối… là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo

Trang 18

tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ

và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta”

Khái niệm của Robert chỉ ra mức nghèo tận cùng của một bộ phận dân

cư khi điều kiện sống của họ chỉ đảm bảo cho sự tồn tại, ngoài việc sử dụng thu nhập hay tiêu dùng để xác định và đo lường đói nghèo thì có nhiều yếu tố khác quyết định đến tình trạng sống của con người mà tình trạng này được gọi

là nghèo tương đối (hay nghèo về con người) Theo đó, nghèo tương đối có

thể xem như là mức độ sống thấp hơn của một số tầng lớp xã hội trong mối tương quan so sánh với sự sung túc của xã hội đó Ranh giới nghèo tuyệt đối

có thể được xác lập cụ thể Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi nó không có tiêu chuẩn chung nào áp dụng Nó phụ thuộc chủ yếu vào tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của từng quốc gia và mức độ quan tâm, điều chỉnh của chính quốc gia đó

Những tiêu chí đánh giá nghèo đói, dù xuất phát từ tổ chức nào và ở thời điểm nào thì về cơ bản, cũng đều có sự thống nhất về ba khía cạnh của người nghèo: không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu; còn mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn trong quá trình phát triển

1.1.1.2 Phương pháp tiếp cận và các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

a Phương pháp tiếp cận

Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo, từ đó có những chính sách trợ giúp cho người nghèo tiếp cận với những thành quả của sự phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội giữa các nhóm dân cư Thực tiễn đã chỉ

ra rằng: "Hậu quả của thiên tai, lũ lụt và khủng hoảng kinh tế, người nghèo là người chịu trước, còn thành quả của pháp triển KTHX người nghèo là người hưởng sau”

Trang 19

Hiện nay hình thành ba phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo:

(1) Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiết

(2) Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế

(3) Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân

Trong ba phương pháp thì hai phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phổ biến Phương pháp cuối lại được hầu hết các tổ chức phi chính phủ (NGOs) sử dụng trong việc xác định hộ nghèo trong các dự án giảm nghèo và phát triển cộng đồng (Participatory Poverty Assessment - PPA)

b Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

* Chỉ tiêu thu nhập

Hiện nay, WB sử dụng hai phương pháp tính toán chủ yếu: Phương pháp Atlas (phương pháp theo tỉ giá hối đoái) và phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (Parachasing Power Parity - PPP)

WB sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP):

- Đối với các nước thu nhập thấp: <1 USD/người/ngày

- Đối với nước thu nhập trung bình thấp: < 2 USD/người/ngày

Ngoài ra, còn có một số chuẩn nghèo khuyến nghị cho các quốc gia

- Đối với các nước chậm phát triển: 0,5 USD/người/ngày

- Đối với các nước đang phát triển: 1 USD/người/ngày

- Đối với các nước Châu Mỹ và nước đang phát triển ở mức khá: 2 USD/người/ngày

- Đối với các nước Châu Âu: 4 USD/người/ngày

- Đối với các nước công nghiệp: 14 USD/người/ngày

* Chỉ tiêu dinh dưỡng

Nhu cầu về dinh dưỡng là một trong những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của con người để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động Trong

Trang 20

nhiều năm, các nhà dinh dưỡng của WHO, FAO, các cơ quan quốc gia và quốc tế đã đưa ra mức dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng con người là 2100 Kcalo mà WHO đưa ra đã dựa trên nhiều lần, đánh giá và kiểm nghiệm

WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người Cụ thể như sau:

- Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua một số lương thực Lượng lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100Kcal cho mỗi con người mỗi ngày (gồm khoảng 40 loại sản phẩm), được gọi là

ngưỡng nghèo lương thực

- Ngưỡng nghèo thứ hai: Bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và

phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung

Ước tính mức nghèo đói trên chỉ có tác dụng là những dự báo về diễn biến toàn cầu Còn đối với từng khu vực, từng vùng, căn cứ vào thu nhập và mức sống cụ thể mà mỗi nước tự xây dựng những ngưỡng nghèo đặc thù riêng, phản ánh được tình trạng đói nghèo trong hoàn cảnh nước đó

Nghèo đói chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… Để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia Liên Hợp Quốc đã sử dụng chỉ số đói nghèo HPI (Human Poverty Index) Cách tính HPI dành cho các nước đang phát triển HPI-1 dựa vào chỉ số phát triển con người HDI Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và ngược lại

Chỉ số HPI được tính theo công thức

HPI =

  1 / 3

3 3 3 2 3 1

Trong đó:

P1: Xác suất những người không thọ quá 40 tuổi (x 100)

P2: Tỉ lệ người lớn mù chữ

Trang 21

P3: Giá trị bình quân phi gia quyền của tỉ lệ người dân không tiếp cận bền vững với nguồn nước sạch (1) và tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (2) (Giá trị bình quân phi gia quyền = 1/2 tỉ lệ (1) + 1/2 tỉ lệ (2))

1.1.2 Quan niệm và chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam

1.1.2.1 Quan niệm về đói nghèo

Các tài liệu và các công trình nghiên cứu của hầu hết các tác giả Việt Nam đều thống nhất với định nghĩa chung về nghèo do Ủy ban KTXH Châu

Á và Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (ESCAP) đưa ra tại hội nghị Bangkok - Thái Lan vào tháng 9/1993

Ngoài định nghĩa chung về đói nghèo, Việt Nam còn sử dụng rộng rãi hai định nghĩa mà về cơ bản cũng đều bắt nguồn từ WB

- Nghèo đói lương thực, thực phẩm (tương đương với nghèo tuyệt - đối,

nghèo về thu nhập của WB): Được xác định bằng số tiền chi phí cho nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống với năng lượng 2100Kcalo/người/ngày

- Nghèo đói chung (tương đương với nghèo tương đối, nghèo về con

người): Được xác định bằng số tiền chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa lương thực, thực phẩm tương đương với mức tiêu dùng năng lượng 2100Kcalo/người/ngày và một số mặt hàng phi lương thực, thực phẩm…

Tuy có sự thống nhất cao về khái niệm nhưng Việt Nam cũng có điểm khác với nhiều nước trong vấn đề nhìn nhận và đánh giá nghèo khổ Bên cạnh

khái niệm nghèo của ESCAP, Việt Nam còn sử dụng thêm khái niệm đói nghèo để chỉ mức độ thấp của nghèo của một bộ phận dân cư Đó là bộ phận

dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu (nhu cầu cơ bản) không đủ điều kiện vật chất duy trì cuộc sống Đây là bộ phận thiếu ăn ít nhất một tháng trong năm, phải đi vay nợ nhưng không có khả năng chi trả Nói cách khác, đói là nấc thang thấp nhất của nghèo

Hiện nay, tình trạng đói đã không được nhắc tới trong các văn kiện

chính thức của Đảng và Nhà nước ta từ năm 2001 Mặc dù vậy, cụm từ "xóa

Trang 22

đói giảm nghèo" vẫn được sử dụng, chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để

giảm nghèo, tiến tới xóa nghèo

1.1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam

Nhóm nghiên cứu liên bộ: Bộ LĐTB&XH, TCTK đã đưa ra chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo là thu nhập, giáo dục, sức khỏe, nhà ở… Trong đó chỉ tiêu thu nhập được coi là chỉ tiêu hàng đầu, đồng thời cũng là chỉ tiêu đang được

sử dụng để xác định số lượng người nghèo và hoạch định chính sách XĐGN

Ở nước ta, trong điều kiện giá cả không ổn định và có sự chênh lệch giữa các vùng miền, bên cạnh việc thu nhập được tính toán bằng tiền, còn tồn tại cách tính toán truyền thống của người nông dân - tức quy ra gạo

Tùy vào từng thời kỳ và từng vùng phát triền của đất nước mà các cơ quan liên bộ ngành và các cơ quan thường trực trong việc tổ chức thực hiện XĐGN đã đưa ra những mức xác định khác nhau về nghèo

a Chuẩn nghèo quốc gia của Bộ LĐTB&XH ban hành

Bộ LĐTB&XH đưa ra chuẩn nghèo đói nghèo chủ yếu dựa vào các số liệu về thu nhập của hộ gia đình Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia Cụ thể như sau:

Giai đoạn 1995 - 2000: (Giá năm 1997)

- Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy gạo dưới 13 kg (tương đương 45.000 đ)

- Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập phân theo các vùng như sau:

+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo: < 15kg gạo/ người/tháng (tương đương 45.000 đ)

Trang 23

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: < 20 kg gạo/ người/ tháng (tương đương 70.000 đ)

+ Vùng thành thị: < 25kg gạo/ người/ tháng (tương đương 90.000 đ)

Giai đoạn 2001 - 2005:

+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo: 80.000 đ/người/tháng

+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đ/người/tháng

* Các tiêu chuẩn nghèo khác:

Theo cách đánh giá của Bộ LĐTB&XH, phạm vi đói nghèo có các cấp với những đặc điểm khác nhau về mức độ nghèo

- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn

chuẩn nghèo Trong số hộ nghèo, lại có hộ dân tộc thiểu số ĐBKK, đây là các

hộ gia đình dân tộc sống vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức

thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo Các hộ này tồn tại "phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên hái lượm”, chủ yếu phát nương làm rẫy, tổng

giá trị tài sản bình nhớ đầu người dưới 1 triệu đồng

- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (>25%): chưa đủ từ 3 trong 6

hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm

Trang 24

xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm; số phòng học chỉ đáp ứng dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh tre, nứa lá; chưa có trạm

y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm; dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50%

số hộ sử dụng điện thoại sinh hoạt…) Trong các xã nghèo, có các xã ĐBKK - Đây là các xã được công nhận theo Quyết định số 135/1998/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ (gọi chung là xã 135)

- Vùng nghèo, vệt nghèo: Là địa bàn tương đối rộng lớn, có thể là một

số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư, nằm ở những khu vực khó khăn; giao thông không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn; không có điều kiện phát triển sản xuất và đảm bảo cuộc sống; là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao

b Chuẩn nghèo của TCTK

Về cơ bản, chuẩn nghèo của TCTK được xác định dựa trên cách tiếp cận của WB, gồm hai mục: Mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung

- Mức nghèo lương thực, thực phẩm: Đây là chuẩn nghèo tính theo thu

nhập bình quân theo người / tháng

- Mức nghèo chung: Dựa trên mức chỉ tiêu bình quân đầu người/ tháng

làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo

+ Năm 1993: 96.700 đồng + Năm 2004: 173.000 đồng + Năm 1998: 149.000 đồng + Năm 2006: 213.000 đồng

+ Năm 2002: 160.000 đồng + Năm 2008: 280.000 đồng

Các chuẩn nghèo thay đổi tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của quốc gia theo từng giai đoạn Tất nhiên, đây không chỉ là tiêu chí duy nhất để xem xét mà cần dựa trên các tiêu chí xã hội khác để đánh giá toàn diện hơn về đói nghèo

Trang 25

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Khái quát về tình hình nghèo đói trên thế giới

WB mới đây đã công bố số liệu ước tính mới về số lượng người sống trong tình trạng nghèo cùng cực trên toàn cầu cũng như ở các nước đang phát triển Ước tính này dựa trên các cuộc điều tra về hộ gia đình được tiến hành tại 115 quốc gia Số liệu áp dụng để điều chỉnh mức nghèo hiện nay cho các các quốc gia nghèo nhất thế giới (theo PPP) là 1,25 USD/ngày thay thế cho ngưỡng nghèo 1 USD/ngày sử dụng vào năm 1999 Trên thực tế, mức nghèo

1 USD/ngày là cách gọi chung cho đường nghèo 1,08 USD đã được đề xuất

từ năm 1993

Tỉ lệ người nghèo sống dưới ngưỡng 1,25 USD/ngày có sự thay đổi rõ rệt theo thời gian Những năm đầu của thập niên 80, trên thế giới có tới gần 1,9 tỉ lệ người sống dưới đường nghèo Sang đầu thập kỳ 90, tỉ lệ người nghèo giảm xuống còn 1,8 tỉ người Và đến năm 2005, đã có mức giảm đáng kể khi trên thế giới còn 1,4 tỉ người nghèo Trải qua gần 1/4 thế kỷ, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các tổ chức quốc tế và các nước chung tay góp phần thay đổi chất lượng cuộc sống dân cư toàn cầu làm số người nghèo sống dưới mức 1,25 USD/ngày giảm hơn một nửa - từ trên 50% (1981) xuống 21,7% (2005) Tuy nhiên con số này vẫn cao hơn dự kiến 985 triệu người

Xét theo các mức nghèo tương ứng với phần trăm dân số, thì đói nghèo

là vấn đề nan giải và lâu dài của toàn cầu Trong số hơn 6 tỉ người, có 0,88 tỉ người sống dưới mức nghèo khổ - 1 USD/ngày, và có tới 2,6 tỉ người sống dưới mức 2 USD/ngày - chiếm 40% toàn bộ dân số thế giới

Các khu vực trên thế giới đều có chung xu hướng giảm nghèo Nhưng kết quả đạt được trong thành tựu này lại khác xa nhau giữa các nước Mức độ giảm nghèo mạnh mẽ nhất và cũng coi là thành công nhất phải kể đến khu vực Đông Á - Thái Bình Dương Đây là nơi có tỉ lệ người nghèo cao nhất - chiếm tới 78% dân số (năm 1981) Đến năm 2005, giảm xuống còn 17%, tương đương với khoảng 78% dân số (năm 1981) Đến năm 2005, giảm xuống còn 17%, tương đương với khoảng 750 triệu người thoát nghèo Đặc biệt hơn

Trang 26

cả là Trung Quốc - với cố gắng và nỗ lực không ngừng cho một xã hội phát triển - đạt được 627 triệu người thoát nghèo

Nhà kinh tế trưởng của WB, ông J Lin cho biết, nghèo đói đang đe dọa 1/5 dân số thế giới, lớn hơn nhiều so với dự báo và ông khẳng định, ngoài việc duy trì tốc độ tăng trường kinh tế để giảm nghèo thì chính phủ các nước cần tập trung tạo việc làm, phổ cập giáo dục, phát triển dịch vụ y tế, xã hội…

Ngoài chỉ tiêu thu nhập được dùng rộng rãi để đánh giá chất lượng cuộc sống của dân cư, thì trên thế giới, người ta coi tuổi thọ là một trong những nhân tố quan trọng dùng để đo lường mức nghèo Các vùng trên thế giới có sự khác biệt rất lớn về tuổi thọ trung bình Phần lớn nguyên nhân là do hệ thống

y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, cường độ lao động, chế độ ăn uống dinh dưỡng khác nhau… Tuổi thọ bình quân năm 2005 ở Nam Sahara Châu Phi là 51,5 ít hơn 12 năm so với mức trung bình của các nước đang phát triển (như Nam Á) và 21 năm so với các nước kinh tế phát triển Tính đến năm 2008,

Mỹ La tinh và Caribe vẫn là khu vực mà người dân có tuổi thọ cao nhất Thấp nhất là Nam Sahara

Sự chênh lệch theo vùng cũng diễn ra tương tự khi xét các chỉ số về

giáo dục "Báo cáo giám sát toàn cầu năm 2009” của UNESCO đã chỉ ra,

trên thế giới hiện nay có khoảng 850 triệu người mù chữ (khoảng 1/7 tổng số dân) trong đó có 75 triệu trẻ em Chỉ số phát triển Giáo Dục cho tất cả (EDI) được UNESCO công bố vào năm 2005 - đây là lần đầu tiên tổ chức này tính

chỉ tiêu giáo dục nhằm đánh giá tiến độ các nước thực hiện mục tiêu "Giáo dục cho tất cả đến năm 2015” của Liên Hợp Quốc EDI được hình thành bởi

những chỉ tiêu: Tỉ lệ phổ cấp giáo dục tiểu học, tỉ lệ biết chữ ở người lớn (từ

15 tuổi trở lên); mức độ cân bằng về giới trong giáo dục và chất lượng giáo dục EDI càng lớn thì trình độ dân trí, trình độ học vấn càng cao Các chỉ tiêu này đóng góp phần quan trọng trong việc đánh giá hoàn chỉnh mức độ nghèo đói của con người trên phạm vi toàn cầu

Trang 27

Như vậy, việc sử dụng ngưỡng nghèo chung và các chỉ số xã hội cho thấy sự khác biệt lớn trong tình trạng đói nghèo giữa các khu vực trên thế giới Nó đang khẳng định và báo động mức độ nghiêm trọng của chênh lệch vùng, đòi hỏi sự giải quyết đồng bộ của các nước

1.2.2 Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam hiện nay

1.2.2.1 Việt Nam là nước khá thành công trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỉ về XĐGN

Công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 đã mang lại những thay đổi ở nhiều mặt trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội nước ta Công cuộc đổi mới không chỉ đạt những thành tựu đáng khích lệ về tăng trưởng mà còn đem lại những kết quả về XĐGN Dù xem xét dưới bất kỳ thước đo đói nghèo nào (chuẩn nghèo quốc gia hay chuẩn nghèo so sánh quốc tế) thì những

gì đạt được trong công cuộc XĐGN cũng thực sự đáng trân trọng

020040060080010001200

USD/người

2000 2002 2004 2006 2008 2010 2011 Năm

(Nguồn: Niên giám thống kê 2000 - 2010, Tổng cục thống kê Việt Nam)

Hình 1.1 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam (2000 - 2010)

Trang 28

Đến năm 2010, GDP/người/năm đạt 1160 USD (khoảng 22,9 triệu đồng) Đây là năm thứ ba Việt Nam có GDP/ người tính bằng USD đã vượt mốc 1000 dù chưa loại trừ yếu tố giảm giá (Các nhà nghiên cứu kinh tế của nước ta đã đưa ra tín hiệu khả quan hơn khi ước tính, năm 2011 GDP/người đạt khoảng 1200USD) Sau khi loại trừ yếu tố giảm giá thì Việt Nam vẫn có mức GDP bình quân đầu người vượt qua mức của nhóm nước có thu nhập thấp, chuyển thành nước có thu nhập trung bình thấp (hình 1.1) Xếp theo thứ bậc thì chỉ tiêu này giúp Việt Nam đứng thứ 7/11 nước ở Đông Nam Á, thứ 39/48 nước và vũng lãnh thổ ở Châu Á, nhưng lại đứng thứ 146/185 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh trên thế giới Rõ ràng, ranh giới nghèo và thoát nghèo của Việt Nam còn hết sức mong manh, kết quả đạt được chưa thật

sự bền vững

Bên cạnh chỉ tiêu thu nhập, chỉ tiêu đời sống cũng là một chỉ tiêu đánh giá mức sống cao hay thấp của người dân Tính chung cả nước, năm 2008, chỉ tiêu bình quân đầu người/tháng đạt 739.000 đồng, chiếm 98% Mức chỉ tiêu cho đời sống khu vực thành thị tăng gấp 1,5 lần so với năm 2006 và gấp 2,01 lần khu vực nông thôn Mức chỉ tiêu này đang có xu hướng thu hẹp dần khoảng cách giữa hai khu vực

Năm 2004, chỉ số HPI-1 của Việt Nam là 20 Đến năm 2007, chỉ số này giảm còn 12,4 - Việt Nam xếp thứ 55/135 quốc gia được xếp hạng Ở vị trí này, mức độ nghèo khổ của Việt Nam đã được khắc phục đáng kể

Tốc độ tăng cường kinh tế nhanh từ suốt thập kỳ 1990 đã có tác động quan trọng đến XĐGN và phát triển xã hội

Tỉ lệ người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ hơn 50% xuống còn hơn 10% năm 2004 Năm 2005, do WB thay đổi ngưỡng nghèo - dùng ngưỡng nghèo 1,25 USD thay thế ngưỡng 1 USD - nên tỉ lệ này tăng cao Tuy nhiên, xét theo ngưỡng 2 USD/người/ngày, ta thấy mức độ giảm nghèo ở nước ta là rõ rệt (Bảng 1.1)

Trang 29

Bảng 1.1 Nghèo đói ở Việt Nam qua các năm (Đơn vị %)

(Nguồn: Niên giám thống kê 2004 - 2010, Tổng cục thống kê Việt Nam)

Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia đã ban hành, tỉ lệ hộ nghèo và tỉ lệ nghèo chung đều giảm Xu hướng giảm diễn ra ở cả thành thị, nông thôn và các vùng Như vậy, dù ở chuẩn nghèo nào, với chỉ tiêu thu nhập hay chi tiêu thì công cuộc XĐGN ở nước ta cũng đều thu được kết quả tốt Tuy nhiên, công tác XĐGN vẫn chưa thực sự vững chắc khi hơn 48% dân số Việt Nam còn sống dưới mức 2 USD/người/ngày

Hiện nay, Việt Nam cũng đạt được những tiến bộ đáng kể về phổ cập giáo dục tiểu học, với tỷ lệ nhập học tiểu học là 97% và 88,5% trẻ em đi học

đã hoàn thành 5 năm tiểu học Trong số này, hơn 90% tiếp tục học trung học

và không có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn Tỉ lệ về giới khá đồng đều, với gần một nửa học sinh là trẻ em là gái ở cả cấp tiểu học lẫn trung học Các thành tựu về y tế, văn hóa, an sinh xã hội… đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân

1.2.2.2 Tăng trưởng kinh tế đi cùng với sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo

Năm 2008, tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994 tăng khoảng 6.23% so với năm 2007 Trong đó khu vực nông lâm ngư nghiệp (Khu vực I) tăng 3.79%; khu vực công nghiệp - xây dựng (Khu vực II) tăng 6.33%; khu vực dịch vụ (Khu vực III) tăng 7,2% Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực I đóng góp 0,68%; Khu vực II đóng góp

Trang 30

2,65%: Khu vực III đóng góp 2,9% [21] Tốc độ tăng trưởng năm 2008 tuy có thấp hơn năm 2007 và thấp hơn mục tiêu kế hoạch điểu chỉnh (7%) nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao rõ ràng là

sự cố gắng lớn

Với một số kết quả nổi bật như vậy, hầu hết trong các báo cáo chính thức của Chính phủ và các tổ chức quốc tế đều khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tích về tăng cường kinh tế trong các năm qua Việc đánh giá tính chất và khả năng bền vững của tăng trưởng là thực sự quan trọng Bởi

nó tác động không nhỏ đến công cuộc XĐGN và mức độ bất bình đẳng trong

xã hội

Bất bình đẳng là một khái niệm đa chiều được áp dụng với những phạm

vi khác nhau Trên thế giới có ít nhất ba khái niệm khác nhau về bất bình

đẳng Thứ nhất, bất bình đẳng trong nội bội các nước Đó là vấn đề chênh

lệch về thu nhập hay mức sống nói chung của những người dân hay nhóm xã

hội ngay trong một nước Thứ hai, đó là bất bình đẳng quốc tế, có nghĩa là sự

khác biệt trong thu nhập bình quân đầu người hay tổng sản phẩm quốc nội

giữa các nước Khái niệm thứ ba - sự bất bình đẳng toàn cầu - liên quan đến

sự chênh lệch thu nhập giữa tất cả cá nhân trên toàn thế giới

Phạm vi của đề tài chỉ xin đánh giá một thể hiện của bất bình đẳng trong xã hội nước ta - đó là để cập đến khoảng cách giàu nghèo - với hai tiêu chí so sánh phổ biến: Một là dựa vào sự chênh lệch giữa các nhóm thu nhập trong xã hội, hai là dựa vào hệ số Gini

Theo kết quả khảo sát mức sống dân cư qua các năm thì hệ số chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất là 9,0 lần Hệ số này tăng so với các năm trước (Năm 1999 là 7,6 lần; năm 2002 là 8,1 lần; năm 2004 là 8,3 lần; năm 2006 là 8,4 lần) Trong vòng 10 năm, hệ số chênh lệch tăng 1,2 lần

Trang 31

Một chỉ số khác về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội là tiêu chuẩn

"40%" của WB Tiêu chuẩn này xét tỉ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm 1 và nhóm 2) trong tổng thu nhập (của cả 5 nhóm) Nếu tỉ trọng này nhỏ hơn 12% thì bất bình đẳng là cao; nằm trong khoảng 12 - 17% là bất bình đẳng vừa; nếu lớn hơn 17% là tương đối bình đẳng

Đối chiếu với tiêu chí trên, tỉ trọng này của Việt Nam năm 1999 là 18,7%; năm 2002 là 16,1%; năm 2004 là 15,8%; năm 2006 là 15,8% và năm

2008 đạt 15% Trong 10 năm, sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ từ tương đối bình đẳng đang tiến dần về bất bình đẳng vừa Tuy kinh tế phát triển có kéo theo nâng cao an sinh xã hội nhưng không nâng cao mọi người lên một mức ngang nhau "Các hộ trong nhóm 20% giàu nhất nhận được khoảng 14% lợi ích an ninh xã hội và các tác động tích cực từ tăng trưởng kinh tế Trong khi đó nhóm nghèo nhất chỉ nhận chưa tới 7%”

Hệ số Gini (G) là một chỉ số khác thể hiện sự bình đẳng hay bất bình đẳng trong xã hội Hệ số G có trị số nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Hệ số G càng lớn, bất bình đẳng càng cao

Kết quả khảo sát năm 2008 cho thấy, hệ số Gini tính chung cả nước là 0,434, tăng so với các năm trước Khu vực thành thị, nông thôn và các vùng trong cả nước, hệ số G có xu hướng tăng chung Tuy nhiên mức độ tăng là khác nhau giữa các khu vực Mức tăng cao nhất là G thuộc Đồng bằng sông Hồng Thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (G tăng 0,001) Thậm chí có vùng hệ

số G giảm như Tây Nguyên Đây là hai vùng tuy có chất lượng cuộc sống hoàn toàn trái ngược nhau song lại có nét giống nhau về mức độ bình đẳng về phân phối thu nhập trong xã hội

So sánh sự bình đẳng hay bất bình đẳng ở Việt Nam với các nước khác trên thế giới, ta thấy hệ sô Gini tương đương với một số nước Nam Á nhưng lại thấp hơn một số nước Đông Á và tương đối thấp so với các nước đang phát triển Tuy nhiên hệ số này đang có xu hướng tăng qua các năm chứng tỏ

Trang 32

sự bất bình đẳng ở nước ta đang lớn dần, khoảng cách giàu nghèo ngày càng

mở rộng

1.2.2.3 Sự phân hóa đói nghèo theo khu vực địa lí ở Việt Nam

a Đói nghèo ở khu vực thành thị:

Khu vực thành thị có tỉ lệ đói nghèo thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn so với mức chung của cả nước Bởi đây là khu vực có nền kinh tế phát triển thịnh vượng hơn, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng vững chắc, người dân lao động có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường mới, nâng cao thu nhập Tuy nhiên, vấn đề nghèo đói của một bộ phận dân cư đô thị cũng gay gắt và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các đô thị

Theo kết quả cuộc Khảo sát "Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia” của hai Tổ chức Action Aid Việt Nam, Oxfam Anh và

Oxfarm Hong Kong vào tháng 6/2009 thì người di cư tự do từ các vùng khác đến Họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, phải chịu nhiều thiệt thòi khi

ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội Hơn thế nữa, họ phải "chỉ trả cho các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế… ở mực cao hơn so với người dân có

hộ khẩu”

Nghèo đói ở thành thị là một vấn đề phức tạp và ở một số góc độ, nó còn là vấn đề nghiêm trọng hơn so với nghèo đói ở nông thôn Phân tích nghèo đói đã xác định tình trạng chung của người nghèo đô thị là tính chất dễ

bị tổn thương khi nhà ở, quyền sử dụng đất đai không được đảm bảo, các điều kiện thể chất không được an toàn… nhất là tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và hưởng thụ phúc lợi xã hội có xu hướng tăng

b Nghèo đói tập trung ở khu vực nông thôn

Nông thôn là khu vực có lượng người nghèo đông nhất Đặc điểm nổi bật ở nông thôn là kinh tế chủ yếu phát triển nông thôn, cho thu nhập thấp và chịu tác động chi phối của điều kiện tự nhiên và yếu tố thị trường Người nông dân - do trình độ tay nghề hạn chế, ít có khả năng tiếp cận các nguồn lực

Trang 33

trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ…) nên chất lượng sản phẩm thấp kém, chủng loại nghèo nàn, thị trường thụ bó hẹp và mang nặng tính địa phương Tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn năm 2010 vẫn cao: 9,45% cao gấp 2,6

lần thành thị; 1,6 lần trung bình chung cả nước (hình 1.2)

18.1

10.6

26.9

15.58.6

21.2

13.46.7

16.1

9.455.815.6

(Nguồn: KQKS năm 2004,2006,2008,2010 Tổng cục thống kê Việt Nam)

Hình 1.2 Tỉ lệ hộ nghèo cả nước và phân theo thành thị, nông thôn,

thời kỳ 2004 - 2010

Nghèo đói ở Việt Nam có sự phân hóa giữa các vùng Năm vùng có tỉ

lệ hộ nghèo cao hơn mức trung bình của cả nước là Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Vùng núi Tây Bắc có tỉ

lệ nghèo đói cao nhất trong cả nước Tiếp đến là Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Bắc và duyên hải Nam Trung Bộ

So với các vùng có điều kiện KTXH phát triển thì tỉ lệ nghèo trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao ở Việt Nam còn cao Ngoài những yếu tố khắc nghiệt do tự nhiên mang lại thì những yếu kém về hệ thống cơ sở hạ tầng

đã hạn chế khả năng tiếp cận của người dân đối với hoạt động sản xuất và

Trang 34

sinh hoạt, nhất là dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế… cuộc sống của đồng bào dân tộc vốn đã nghèo càng nghèo hơn

1.2.2.4 Sự phân hóa nghèo theo những nhóm dân cư

Năm 2009, WB đã công bố "Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về dân tộc và phát triển ở Việt Nam” Dựa theo kết quả thực hiện thu ®-îc, WB cũng

lên tiếng cảnh báo về tình trạng nghèo khổ của các cộng đồng dân tộc thiểu số

ở Việt Nam

Theo số liệu điều tra thì tỉ lệ nghèo ở các hộ gia đình người Kinh và người Hoa chỉ chiếm 10%, tỉ lệ này ở các nhóm dân tộc khác cao gấp 5 lần (52%) Năm 2008, tỉ lệ nghèo nhóm dân tộc thiểu số giảm 2,44% so với năm 3,03% trong nhóm Kinh - Hoa Mức giảm nghèo chậm và tỉ lệ nghèo cao ở các dân tộc thiểu số là đang thách thức lớn cho Việt Nam.(Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Tỉ lệ nghèo ở Việt Nam, thời kì 1999 - 2008 (Đơn vị: %)

(Nguồn: Báo cáo - nghèo, Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam)

Nghèo đói còn là đặc trung cho nghề nghiệp của các hộ gia đình phần lớn, các hộ nghèo là những hộ làm nông nghiệp Do tính thời vụ nên có thời điểm, người dân không có việc làm Việc đi làm thuê cho các hộ khác, tuy mang lại thu nhập song rất thất thường, không ổn định và đảm bảo cuộc sống Những hộ khá giả hơn là những hộ làm dịch vụ hoặc làm việc trong các cơ quan của nhà nước

Trang 35

1.2.2.5 Nghèo theo đặc điểm hộ gia đình

a Những hộ nghèo là những hộ có trình độ học vấn tương đối thấp, thiếu kỹ năng làm việc và thông tin

Đói nghèo là một hiện tượng đặc thù trong xã hội Trình độ học vấn ảnh hưởng đặc biệt đến đói nghèo vì nó đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống Tỉ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ học vấn tăng lên

Ở thành thị, đời sống của người dân thường khá giả hơn vùng nông thôn do họ có trình độ và kỹ năng tiếp cận những cơ hội mới Ngược lại, ở vùng nông thôn trình độ học vấn thấp, đa số người dân có trình độ trung học;

cá biệt ở vùng sâu vùng xa, trình độ chỉ đạt mức tiểu học hoặc chưa đến trường Do vậy, việc nắm bắt các kỹ thuật mới, áp dụng khoa học vào sản xuất còn hạn chế, mô hình kinh tế nông nghiệp bấp bênh…

b Hộ nghèo thường đông con

Nhiều trẻ em hoặc đông con là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đói nghèo cho hộ gia đình Khi lao động chính trong nhà ít số nhân khẩu phụ thuộc, mức độ thu nhập và khả năng tích lũy có hạn trong khi nhu cầu tiêu dùng lớn, sẽ khiến cho các hộ gia đình gặp nhiều khó khăn, thậm chí lâm vào khủng hoảng

Vấn đề đói nghèo đối với các hộ gia đình chỉ đơn thuần là vấn đề chu

kỳ sống của gia đình nhưng chúng ta vẫn thấy rõ khả năng dễ bị tổn thương của các hộ này khi chi phi y tế, giáo dục tăng lên Đôi khi các hộ này còn gánh thêm các khoản đóng góp xã hội khác

c Các hộ nghèo thường có ít vốn hoặc ít đất sản xuất

Khả năng trang trải chỉ tiêu lương thực và phí lương thực thiết yếu của các hộ này thường thấp Người nghèo, đặc biệt là ở nông thôn - nơi diện tích đất đai và chất lượng đất vốn được xem là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng canh tác, cải thiện mức sống, thường là những hộ có diện tích ít,

Trang 36

chất đất kém [9,11] Vì vậy, nguồn thu nhập thu được nhờ hoạt động sản xuất trên diện tích ấy thường không cao, chỉ đảm bảo đủ ăn Khi gặp những diễn biến bất thường của thời tiết, mùa màng thất bát, kết hợp với nguồn tài chính

có hạn, họ thường chịu sự căng thẳng về mặt kinh tế

1.2.2.6 Nguyên nhân đói nghèo

Ở Việt Nam, nguyên nhân hàng đầu của sự đói nghèo là thiếu thốn,

nguyên nhân này chiếm trên 60% ý kiến được hỏi Tiếp theo là các nguyên

nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh (trên 30%), thiếu đất (>20%), bệnh tật, ốm đau (>15%), đông con (>13%), thiếu lao động (>11,5%)… Trình

tự này đúng với hầu hết các vùng, tuy có khác nhau về mức độ Sự khác nhau này phần nào phản ánh đặc điểm của từng vùng Chẳng hạn, nguyên nhân thiếu thốn có vẻ trầm trọng ở vùng nghèo như Bắc Trung Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc Ở đây người dân cần vốn để sản xuất nhằm giảm nghèo, tiến tới đủ ăn,

đủ mặc Tuy nhiên ở vùng Đông Nam Bộ, nơi có thu nhập bình quân cao nhất cũng thiếu vốn, nhưng mang tính chất khác với các vùng nghèo, vì họ cần vốn

để sản xuất kinh doanh Những nơi này nếu không có vốn cũng có thể dẫn đến nghèo Nhu cầu về vốn ở người nghèo khá lớn nhưng việc tiếp cận các nguồn vốn rất khó khăn Nếu vay của tư nhân thì lãi suất cao, còn các tổ chức tín dụng, như ngân hàng hoặc một số quỹ thì gặp nhiều rào cản (thủ tục rườm rà, thời gian vay ngắn…)

Hầu hết ở các vùng đều thấy vai trò của kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo Kiến thức và kinh nghiệm luôn cần để sử dụng tốt tiềm năng về đất, vốn, lao động Đây là nguyên nhân quan trọng ở những nghèo như Đông Bắc (43,2%), Tây Bắc (47,3%) và Bắc Trung Bộ (50,65%)

Nguyên nhân thiếu đất có thể xảy ra với các vùng có mật độ dân số cao,

tỉ lệ đất canh tác trên đầu người thấp như Bắc Trung Bộ hay Duyên hải miền Trung, và cả đối với vùng cần có diện tích lớn để canh tác, như Đồng bằng

Trang 37

sông Cửu Long, trong đó một số hộ nghèo bán hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất canh tác mà trước đây họ đã được cấp

Nguyên nhân thiếu lao động dẫn đến nghèo thường đi đôi với đông người, gắn với các gia đình có đông con, nhiều nhân khẩu phụ thuộc, không

có khả năng lao động…

Nguyên nhân rủi ro xảy ra không chỉ khi thời tiết bất hòa (lũ lụt, hạn hán hoặc do con người gây nên hỏa hoạn, cháy rừng), mà cả khi thị trường không ổn định (mất giá một số mặt hàng hóa nông sản như gạo, cà phê, hoa màu…) và một phần do cơ chế chính sách Nhưng đây chưa phải là nguyên nhân bề mặt có tính chất quyết định

1.2.3 Hà Giang là tỉnh có tỉ lệ đói nghèo cao nhất cả nước

1.2.3.1 Tỉnh Hà Giang vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh đặc biệt khó khăn (hình 1.3)

Trong công cuộc XĐGN, tỉnh Hà Giang đã đạt được một số thành tựu đáng kể Tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 21,5% (giảm 29,5% so với năm 2005) Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh

Hà Giang là tỉnh nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, địa hình núi cao phức tạp, là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều mặt hạn chế; kết quả XĐGN chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; mức thu nhập bình quân đầu người/năm còn thấp so với bình quân chung của cả nước và khu vực; trình độ phát triển so với một số tỉnh trong khu vực còn có những khoảng cách đáng kể; tỉnh có 6 huyện / 62

huyện đặc biệt khó khăn, nghèo nhất cả nước Vì vậy, “Hà Giang vẫn là tỉnh nghèo, chưa thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh đặc biệt khó khăn”

Bảng 1.3 cho thấy số hộ nghèo đói của tỉnh Hà Giang còn rất cao, năm

2009 toàn tỉnh còn 31.931 hộ nghèo Vì vậy, có thể tạo được bước phát triển mạnh, tích cực trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

Trang 38

năng suất, chất lượng, hiệu quả và bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng cuốc sống người dân thì cần có những giải pháp giải quyết vấn đề đói nghèo của tỉnh

Bảng 1.3 Số hộ nghèo phân theo đơn vị hành chính của tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2005 - 2009 (Đơn vị: hộ)

Trang 39

Nguồn: Công báo tỉnh Hà Giang tháng 3 năm 2011

Hình 1.3 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang

Trang 40

1.2.3.2 Vùng cao núi đất phía tây Hà Giang gồm hai huyện nằm trong dự án 30a của Chính Phủ

Theo tinh thần Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ ra về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững cho 61 huyện nghèo của cả nước, trong đó có hai huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần UBND huyện Hoàng Su Phì, UBND huyện Xín Mần và Sở KH&ĐT tỉnh Hà Giang đã lập đề án và tờ trình xin xét duyệt Đến tháng 9/2009, Thủ Tướng Chính phủ và Chủ Tịch UBND tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định về việc phê duyệt Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững hai huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần từ năm 2009 đến năm 2020

Thời gian trước đây, huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần là một đơn vị thống nhất cấp huyện, đến năm 1965 được tách ra làm hai huyện như bây giờ Hai huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần có sự tương đồng về mặt địa lí, dân cư, điều kiện KTXH - văn hóa, như: vị trí gần nhau và cùng nằm trong khối thượng nguồn Sông Chảy, một phần nằm trong cao nguyên Bắc Hà - Si

Ma Cai; có khí hậu giống nhau, có chung những lưu vực dòng chảy; có chung các thành phần dân tộc và dân tộc hai huyện có mối quan hệ huyết tộc rất gần gũi ; đồng thời cùng là hai huyện nghèo - đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém, nền kinh tế quy mô nhỏ, yếu; có tỷ lệ hộ nghèo tương đương nhau Chính vì vậy, khi nghiên cứu về Hà Giang, người ta gộp hai huyện này thành một vùng (trong tổng số 3 vùng của tỉnh) Trong địa lí học, các hiện tượng và không gian luôn có mối quan hệ với nhau, chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối liên hệ nhiều chiều Chính vì vậy khi nghiên cứu các vấn đề tự nhiên hay KTXH ở Hà Giang nói chung và từng huyện nói riêng thì cả hai huyện cần phải được đặt trong một hệ thống nhất định, đó là vùng cao núi đất phía tây Hà Giang

Yêu cầu thực tiễn của vùng là nâng cao trình độ phát triển của địa bàn Theo quyết định 393/2005/QĐ-UBDT ngày 29/8/2005 Ủy ban Dân tộc chính

Ngày đăng: 18/09/2014, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo “Việt Nam đánh giá nghèo đói và chiến lược”; “Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo” của WB, Nxb Văn hóa- thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam đánh giá nghèo đói và chiến lược”; " “"Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo”
Nhà XB: Nxb Văn hóa- thông tin
2. Báo cáo phát triển Việt Nam (2004), Nghèo - Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam. Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo
Tác giả: Báo cáo phát triển Việt Nam
Năm: 2004
3. Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 - Tấn công nghèo đói - Báo cáo chung của nhóm công tác các chuyên gia chính phủ, nhà tài trợ, tổ chức phi chính phủ - Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 12/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tấn công nghèo đói - Báo cáo chung của nhóm công tác các chuyên gia chính phủ, nhà tài trợ, tổ chức phi chính phủ
4. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
5. Đề án “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo” được Chính phủ phê duyệt vào ngày 21/5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”
6. Đề án 30a trình Chính phủ phê duyệt của UBND huyện Hoàng Su phì, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án 30a trình Chính phủ phê duyệt
7. Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam - các yếu tố về địa lý và không gian, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam - các yếu tố về địa lý và không gian
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
8. Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh (2006), Nghèo đói và sự chênh lệch trong phát triển vùng ở Việt Nam, Hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần II, Hà Nội, 2006, tr.525 - 532 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và sự chênh lệch trong phát triển vùng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Hà (2005), "Một số vấn đề liên quan đến nghèo đói ở Việt Nam qua các cuộc điều tra xác định hộ nghèo theo chuẩn mới", Tạp chí Lao động &amp; XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề liên quan đến nghèo đói ở Việt Nam qua các cuộc điều tra xác định hộ nghèo theo chuẩn mới
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2005
10. Vũ Quốc Huy (2005), "Chuẩn nghèo nhìn từ gốc độ lí luận và thực tiễn", Tạp chí LĐ &amp; XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn nghèo nhìn từ gốc độ lí luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Quốc Huy
Năm: 2005
11. Đỗ Thị Hương (2010), “Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu huyện vùng cao biên giới Xín Mần, Hà Giang vì mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững”.Hội nghị Địa lý Đông Nam Á, Hà Nội, 2010,(Kỉ yếu, trang 199 - 204) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu huyện vùng cao biên giới Xín Mần, Hà Giang vì mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững”
Tác giả: Đỗ Thị Hương
Năm: 2010
12. Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004, 2006, 2008, 2010. Phòng thống kê huyện huyện Hoàng Su phì, huyện Xín Mần; Cục thống kê tỉnh Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004, 2006, 2008, 2010
13. Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình các năm 1999, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 - Tổng cục thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình các năm 1999, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010
14. Niên giám thống kê 2005 - 2010. Phòng thống kê huyện Hoàng Su phì, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2005 - 2010
16. Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19. Nguyễn Viết Thịnh &amp; TS Đỗ Thị Minh Đức (2005), Phân kiểu kinh tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân kiểu kinh tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Viết Thịnh &amp; TS Đỗ Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa 2005
Năm: 2005
20. Lê Thông (chủ biên), Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, NXB Giáo dục 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục 2010
21. Nguyễn Minh Tuệ, (chủ nhiệm đề tài), Vấn đề đói nghèo: Thực trạng và giải pháp (lấy ví dụ ở tỉnh Lạng Sơn, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đói nghèo: Thực trạng và giải pháp (lấy ví dụ ở tỉnh Lạng Sơn
23. Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam, website: dangcongsanvietnam.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam, website
25. Vũ Như Vân (2010), Tổ chức không gian lãnh thổ vùng biên giới Việt - Trung hướng tới phát triển bền vững. Hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần V, Hà Nội19/6/2010 (Tuyển tập các báo cáo, tr. 622 - 631./ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức không gian lãnh thổ vùng biên giới Việt - Trung hướng tới phát triển bền vững
Tác giả: Vũ Như Vân
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Nghèo đói ở Việt Nam qua các năm (Đơn vị %) - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 1.1. Nghèo đói ở Việt Nam qua các năm (Đơn vị %) (Trang 29)
Bảng 1.2. Tỉ lệ nghèo ở Việt Nam, thời kì 1999 - 2008 (Đơn vị: %) - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 1.2. Tỉ lệ nghèo ở Việt Nam, thời kì 1999 - 2008 (Đơn vị: %) (Trang 34)
Bảng 1.3. Số hộ nghèo phân theo đơn vị hành chính  của tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2005 - 2009 (Đơn vị: hộ) - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 1.3. Số hộ nghèo phân theo đơn vị hành chính của tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2005 - 2009 (Đơn vị: hộ) (Trang 38)
Hình 2.2. Cao nguyên núi đất Tây Hà Giang nhìn từ ảnh 3D vệ tinh - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Hình 2.2. Cao nguyên núi đất Tây Hà Giang nhìn từ ảnh 3D vệ tinh (Trang 48)
Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng đất chia theo mục đích sử dụng của vùng cao - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng đất chia theo mục đích sử dụng của vùng cao (Trang 50)
Bảng 2.2. Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị  nông thôn ở vùng cao núi đất phía Tây Hà Giang (2005-2010) - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.2. Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị nông thôn ở vùng cao núi đất phía Tây Hà Giang (2005-2010) (Trang 53)
Bảng 2.3. Dân số vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang theo dân tộc, - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.3. Dân số vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang theo dân tộc, (Trang 54)
Bảng 2.4. Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của vùng - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.4. Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của vùng (Trang 56)
Bảng 2.5. Qui mô GDP và GDP/người (theo giá thực tế)  của vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, thời kỳ 2005 - 2010 - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.5. Qui mô GDP và GDP/người (theo giá thực tế) của vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, thời kỳ 2005 - 2010 (Trang 70)
Bảng 2.6. Phân loại mức thu nhập hộ gia đình 1 tháng, năm 2009 - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.6. Phân loại mức thu nhập hộ gia đình 1 tháng, năm 2009 (Trang 72)
Bảng 2.7. Đói nghèo phân theo các khu vực ở   vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, năm 2010 - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.7. Đói nghèo phân theo các khu vực ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, năm 2010 (Trang 76)
Bảng 2.8. Giáo dục phổ thông - Bậc Tiểu học của vùng (2005 - 2009) - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 2.8. Giáo dục phổ thông - Bậc Tiểu học của vùng (2005 - 2009) (Trang 82)
Hình 3.1. Lược đồ định hướng không gian phát triển đột phá vì mục tiêu XĐGN bền vững - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Hình 3.1. Lược đồ định hướng không gian phát triển đột phá vì mục tiêu XĐGN bền vững (Trang 116)
Bảng 3.1. Số liệu cơ bản các xã biên giới Việt - Trung, năm 2010 - Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây tỉnh hà giang
Bảng 3.1. Số liệu cơ bản các xã biên giới Việt - Trung, năm 2010 (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w