Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế trên địa bàn còn có những công trình xây dựng chưa thực sự phát huy hiệu quả như mục tiêu đề ra, nhiều hạng mục công trình chưa đảm bảo chất lượng, nguyên
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM ANH QUANG
XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
ho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả các đơn
vị, cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Quang Minh - trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới ban lãnh đạ g Đại học Kinh tế và
Đại học, cùng toàn thể quý thầy cô giáo
Tam Dương, các cá nhân, đã giúp đỡ tôi trong thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này
2013
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
viii
ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
Ơ xi
M 1
1
u 2
……… 2
4 u 2
5 Nh 3
6 3
CHƯƠNG 1 CƠ S D Ư XDCB 4
1.1 Tổng quan lý luận cơ bản về quản lý dự án đầu tư 4
4
ơ d ư 5
1.1.3 S d ư XDC 11
ươ ư 12
ư 14
ư 18
Trang 5ư 18
1.2 Khái niệm, vị trí, vai trò của đầu tư xây dựng cơ 22
1.2.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng 22
1.2.2 Vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế 23
1.2.3 Dự án đầu tư xây d ng 23
ư XDCB 27
1.3.1 CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án 27
1.3.2 CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án 27
1.4 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng 28
1.4.1 Người có thẩm quyền quyết định đầu tư 28
1.4.2 Chủ đầu tư 28
1.4.3 Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng 29
1.4.4 Doanh nghiệp xây dựng 29
1.4.5 Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng 30
1.4.6 Mối quan hệ của CĐT đối với các chủ thể liên quan 30
1.5 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng 30
1.5.1 Quản lý phạm vi dự án 31
1.5.2 Quản lý thời gian của dự án 31
1.5.3 Quản lý chi phí dự án 31
1.5.4 Quản lý định mức dự toán, giá và chỉ số giá xây dựng 32
1.5.5 Quản lý nguồn nhân lực 34
1.5.6 Quản lý an toàn và vệ sinh môi trường 34
1.5.7 Quản lý việc trao đổi thông tin dự án 35
1.5.8 Quản lý rủi ro trong dự án 35
ư bằng nguồn ngân sách ương trong nước và n c ngoài 35
CHƯƠNG 2 PHƯƠ U 39
u 39
Trang 62.1.1 Th d ư XDCB bằng nguồn
ngân sách ươ 2010 - 2012 như ? 39
2.1.2 Nh d tư XDCB bằng nguồn ngân sách ươ ? 39
2.1 ? 39
2.1.4 Nh ng phương h d ư XDCB bằng nguồn ngân sách ương? 39
2.2 Phươ u 39
u 39
2.2.2 Phươ c 39
2.2.3 Phươ 39
2.2.4 Phươ 40
u 41
ư ư 41
ư ư 41
41
ư XDCB 41
2.3.5 Năng l ư ư 41
CHƯƠNG 3 TH D Ư ƯƠNG 42
3.1 Gi ương 42
42
43
Trang 73.2 Tình hình đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện
Tam Dương 45
3.3 Hoạt động quản lý dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách trên địa bàn huyện Tam Dương giai đoạn 2010 - 2012 50
50
ư 51
ư 52
ư 54
3.3.5 61
3.3.6 Công tác quản lý giá xây dựng 65
3.3.7 u tư 65
69
3.4.1 Ưu điểm 69
3.4.2 Hạn chế 70
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 71
CHƯƠNG 4 D Ư X ƯƠNG 73
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Tam Dương giai đoạn 2011 - 2015 73
4.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội 73
4.1.2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội 73
4.1.3 Mục tiêu cơ bản phát triển kinh tế - xã hội 75
ư XDCB trong nh ng năm t ương 77
4.3 79
4.3.1 Lấy mục tiêu hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư để định hướng và xác lập các giải pháp hoàn thiện 79
Trang 84.3.2 Trên cơ sở phân tích các tồn tại để đưa ra các giải pháp hoàn thiện 80
80
4.4.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý và quá trình quản lý thực hiện các dự án đầu tư 81
4.4.2 Đổi mới cơ ư xây dựng 82
4.4.3 Nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư 84
4.4.4 Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu 87
, quyết toán vốn đầu tư 89
4.4.6 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình 90
4.4.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn của các Ban quản lý dự án 92
4.4.8 Hoàn thiện bộ máy quản lý đồng bộ thống nhất trong việc lập, tổ chức thực hiện và điều hành dự án 93
4.4.9 Tăng cư ư t ngân sách nhà nước và chống nợ đọng trong xây dựng cơ bản 93
95
97
99
Trang 9CĐT
DA DAĐT GPMB
KHKT
MN NSNN NVH QLDA QLNN QSDĐ THCS TTCN XDCB XHCN
Trang 10Dươ 2011 - 2020 77
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Dươ 2010 - 2012 49
Trang 12Sơ đồ 1.1: Hình thức CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án 27
Sơ đồ 1.2 CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án 28
Sơ đồ 1.3 Các chủ thể tham gia quản lý dự án 28
32
81
Trang 131
Nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư XDCB
trong quá trình phát triển kinh tế củ Quy mô đầu tư, hiệu quả đầu tư tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế và đời sống
con người
Trong thời gian qua công tác quản lý đầu tư xây dựng
Tam Dương có nhiều tiến bộ Nhìn chung, các công trình đã được Chủ đầu tư nghiệm thu, đưa vào khai thác sử dụng đảm bảo phát huy hiệu quả, chất lượng, kỹ thuật, đáp ứng được yêu cầu thiết kế đề ra, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đời sống nhân dân Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế trên địa bàn còn có những công trình xây dựng chưa thực sự phát huy hiệu quả như mục tiêu đề ra, nhiều hạng mục công trình chưa đảm bảo chất lượng, nguyên nhân chính là do có những hạn chế, thiếu sót trong công tác khảo sát, thiết kế, thẩm tra thiết kế, phê duyệt thiết kế, thi công, giám sát thi công… của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng; chưa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng
2010
, nông thôn
Để
huyện Tam Dương cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách là một nội dung quan trọng Để làm được điều này, việc nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc về thực trạng công tác quản lý các dự án đầu tư XDCB từ nguồn
Trang 14ngân sách của huyện, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý các dự án này là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Là cán bộ công tác tại huyện Tam Dương, đang theo học lớp học chuyên ngành Q khóa 8 tại trường Đại học Kinh tế
để đi sâu nghiên cứu, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội trên địa
” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2
XDCB bằng nguồn ngân sách trên địa bàn huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ
ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, đề xuất các giả
Trang 15- Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn công tác quản dự án đầu
tư XDCB bằng nguồn ngân sách ở một số địa phương trong nước và nước ngoài
Trang 16có tổ chức, có định hướng vào dự án đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư,
thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) bằng một hệ thống đồng bộ các biện
pháp kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, trong điều kiện xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu
b.
* Quản lý nhà nước về đầu tư bao gồ
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
về đầu tư phát triển để huy động và điều tiết các nguồn lực cho đầu tư phát triển
- , hướng dẫn và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư; xây dựng các tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật liên quan đến hoạt động đầu tư; giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư; tổng hợp, kiến nghị hoặc huỷ bỏ các văn bản pháp luật không còn phù hợp hoặc do các cấp ban hành không đúng thẩm quyền hoặc có
- Thực hiện quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế, đàm phán, ký kết các
điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định pháp luật về
điều ước quốc tế
- Quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư; xây dựng hệ thống thông tin quốc gia phục vụ hoạt động đầu tư
Trang 17- Cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư; quản lý thống nhất hoạt động đăng ký đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đầu tư;
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật đầu
tư đối với hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư và hoạt động của nhà đầu tư
Phạm vi thanh tra đầu tư, tổ chức và hoạt động thanh tra đầu tư thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư và quy định pháp luật về thanh tra đối với hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư và dự án đầu tư
Hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư và việc xử lý vi phạm về đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật
- Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư trong quá trình hoạt động đầu tư;
- Đánh giá tác động và hiệu quả kinh tế vĩ mô của hoạt động đầu tư;
- Phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong quản lý hoạt động đầu tư;
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tăng cường năng lực quản lý đầu tư cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư các cấp;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt
động đầu tư theo thẩm quyền Khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động đầu tư hoặc xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi
Trang 18a-
Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa hai mặ “tập trung” và “dân chủ” trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng không phải chỉ
Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt ra xuất phát từ lý do sau đây: hoạt động kinh tế là việc của công dân, nên công dân phải có quyền (đó là dân chủ), đồng thời, trong một chừng mực nhất định, hoạt động kinh tế của công dân có ảnh hưởng rõ rệt tới lợi ích nhà nước, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, do đó Nhà nước cũng phải có quyền (đó là tập trung)
Vận dụng nguyên tắc
Bảo đảm cho Nhà nước và công dân, cho cấp trên và cấp dưới, tập thể và các thành viên tập thể đều có quyền nhất định, không thể chỉ có Nhà nước hoặc chỉ có công dân, chỉ có cấp trên hoặc chỉ có cấp dưới có quyền Nghĩa là vừa phải có tập trung, vừa phải có dân chủ
Quyền của mỗ (Nhà nước và công dân, cấp trên và cấp dưới) được
xác lập một cách có căn cứ khoa học và thực tiễn Phải xuất phát từ yêu cầu và khả năng làm chủ của mỗi chủ thể
Trong mỗi cấp của hệ thống quản lý nhà nước phải bảo đảm vừa có cơ quan thẩm quyề có cơ quan thẩm quyền riêng Mỗi cơ quan phải có thẩm quyền rõ rệt, phạm vi thẩm riêng phải trong khuôn khổ thẩm quyền chung
-Quản lý Nhà nước theo ngành
Quản lý nhà nước theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ quản lý ngành ở trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành trong phạm vi cả nước
Quản lý nhà nước theo ngành bao gồm các nội dung sau đây:
Xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trương chính sách phát triển kinh tế toàn ngành
Trang 19Xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế họach và các
dự án phát triển kinh tế toàn ngành
Xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu và khoa học công nghệ… cho toàn ngành
Xây dựng và triển khai thực hiện các quan hệ tài chính giữa các đơn vị kinh
tế trong ngành với Ngân sách nhà nước
Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng sản phẩm Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm
Thực hiện chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chung cho toàn ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của ngành nội địa trong những trường hợp cần thiết
p dụng các hình thức tổ chức sản xuất khoa học và hợp lý tại các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng ngành
Thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế trong ngành Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong cơ cấu ngành và vị trí của ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân
Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho toàn ngành, bảo hộ sản xuất nội địa
Thống nhất hoá, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng hàng hoá và dịch vụ, hình thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền ban , công bố
Thực hiện các biện pháp, các chính sách quốc gia trong việc phát triển nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành
Tham gia xây dựng các dự án Luật, pháp lệnh, pháp quy, thể chế kinh tế theo chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành
hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành
Trang 20Quản lý theo lãnh thổ
Quản lý nhà nước về kinh tế trên lãnh thổ là việc tổ chức, điều hoà, phối hợp hoạt động của tất cả các đơn vị kinh tế phân bố trên địa bàn lãnh thổ (ở nước ta, chủ yếu là theo lãnh thổ các đơn vị hành chính)
Nội dung quản lý theo lãnh thổ
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế xã hội (không
phân biệt kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, các thành phần kinh tế khác nhau) nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lý, có hiệu quả
Điều hoà, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị kinh
tế trên lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực sẵn có tại địa phương
Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ (hệ thống
giao thông vận tải, cung ứng điện năng, cấp thoát nước, đường sá, cầu cống, hệ thống thông tin liên lạc…) để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên lãnh thổ
Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ một cách hợp
lý và phù hợp với lợi ích quốc gia
Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn lãnh thổ
Quản lý, kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia trên lãnh thổ Quản lý, kiểm soát việc xử lý chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn lãnh thổ
Nội dung kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
Nguyên tác kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có
sự phối hợp chặt chẽ quản lý trên tất cả lĩnh vực kinh tế
Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ Sự kết hợp này sẽ tránh được tư tưởng
quyền địa phương Theo đó bộ chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế
do mình thành lập; địa phương chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế
do địa phương Từ đó dẫn đến tình trạng tranh chấp, không có sự liên
Trang 21kết giữa các đơn vị kinh tế trên cùng một địa bàn lãnh thổ , hiệu quả kinh tế thấp
Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau: Quản lý đồng thời theo cả hai chiều: Các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ), đồng thời phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nội dung theo chế độ quy định
Có sự phân công quả , rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, không trùng l , không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụquyền hạn
-Có thể phân biệt sự khác nhau trên 5 tiêu chí sau đây:
Về chủ thể quản lý: chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế là các cơ quan nhà nước, còn chủ thể của quản lý sản xuất kinh doanh là các doanh nhân
Về phạm vi quản lý: Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quản lý tất cả các doanh nhân, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên tất cả các lĩnh vực, thuộc tất cả các ngành, còn doanh nhân thì quản lý doanh nghiệp của mình Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý vĩ mô còn quản lý sản xuất kinh doanh là quản lý vi mô
Về mục tiêu quản lý: Quản lý nhà nước theo đuổi lợi ích toàn dân, lợi ích cộng đồng (phát triển nền kinh tế quốc dân, ổn định sự phát triển kinh tế - chính trị
xã hội, tăng thu nhập quốc dân, tăng mức tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết việc làm…) Quản lý sản xuất kinh doanh theo đuổi lợi ích riêng của mình (thu được lợi nhuận cao, ổn định và phát triển doanh nghiệp, tăng thị phần, tạo uy tín cho sản phẩm của doanh nghiệp…)
Về phương pháp quản lý: nhà nước áp dụng tổng hợp các phương pháp (phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục) trong đó, phương pháp đặc trưng của quản lý nhà nước là cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước Trong khi đó, doanh nhân chủ yếu áp dụng phương pháp kinh tế và giáo dục thuyết phục
Trang 22Về công cụ quản lý: Công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước về kinh tế là: Đường lối phát triển kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, kế hoạch phát triển kinh
tế, pháp luật kinh tế, chính sách kinh tế, lực lượng vật chất và tài chính của Nhà nước Các doanh nghiệp có công cụ quản lý chủ yếu là: chiến lược kinh doanh, kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính, dự án đầu tư để phát triển kinh doanh, các hợp đồng kinh tế, các quy trình công nghệ, quy phạm pháp luật, các phương pháp và phương tiện hạch toán
Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là một nền kinh tế đa sở hữu về tư liệu sản xuất Chính sự xuất hiện của nhiều loại hình kinh tế thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân tư bản, kinh tế tư nhân… đòi hỏi Nhà nước phải quản lý đối với nền kinh tế bằng những biện pháp, trong đó đặc biệt phải coi trọng phương pháp quản lý bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật Thực tiễn quản lý nhà nước đối với nền kinh tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy, tình trạng buông lỏng kỷ cương, kỷ luật trong việc thực hiện chức năng tổ chức, giáo dục, xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh nghiệp, đ
… đã làm cho trật tự kinh tế của nước ta có nhiều rối loạn, gây ra những tổn thất không nhỏ cho đất nước, đồng thời làm giảm sút nghiêm trọng uy tín và làm lu mờ quyền lực của Nhà nước Vì vậy, việc thực hiện nguyên tắc tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu khách quan của quá trình quản lý kinh tế Nhà nước ta
Để thực hiện nguyên tắc trên, cần phải tăng cường công tác lập pháp và tư pháp Lập pháp: Phải từng bước đưa quan hệ kinh tế vào khuôn khổ pháp luật Các Luật phải được xây dựng đầy đủ, đồng bộ, có chế tài rõ ràng, chính xác và đúng mực
Tư việc phải được thực hiện nghiêm minh (giám sát, phát hiện, điều tra, công bố, xét xử, thi hành án ) không để xảy ra tình trạng có tội không bị bắt, bắt rồi không xét xử hoặc xét xử quá nhẹ, xử rồi không thi hành hoặc thi hành án nửa vời
Trang 231.1.3 XDCB
thành lập Ban quản lý dự án thay mặt chủ đầu tư trực tiếp quản lý sử dụng vốn của nhà nước Tuy vậy, hoạt động quản lý của các Ban quản lý dự án chỉ giới hạn trong phạm vi quản trị dự án chứ không phải hoạt động quản lý nhà nước đối với các dự Các Ban quản lý dự án vẫn phải chịu sự quản lý của tất cả các cơ quan quản lý khác vì lý do:
Ban quản lý dự án thực hiện trách nhiệm với tư cách chủ đầu tư Họ là người đại diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư Như vậy các ảnh hưởng khác của dự án như tác động của môi trường, anh ninh quốc phòng, trình độ công nghệ …, họ không có trách nhiệm và không đủ khả năng để quan tâm đến Nếu không có sự quản lý nhà nước đối với các Ban quản lý dự
án này, các dự án nhà nước trong khi theo đuổi các mục tiêu chuyên ngành có thể sẽ làm tổn hại quốc gia ở các mặt mà họ không lường hế
Mặt khác, bản thân các Ban quản lý dự án cũng có thể không thực hiện trọn vẹn trách nhiệm đại diện sở hữu vốn, từ đó sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả,
, thậm chí tham ô, chiếm đoạt vốn nhà nước
Do vậy quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
Sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống tham ô lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả của đầu tư
Đảm bảo cho quá trình đầu tư, xây dựng công trình đúng quy hoạch và thiết
kế được duyệt, đảm bảo bền vững và mỹ quan, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc sử dụng đầu vào của các chủ dự
trên lợi ích toàn diện, lâu dài của đất nước
Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác có thể gây ra dự án cảnh quan, thuần phong mỹ tục, an ninh quốc gia
Trang 24Hỗ trợ các Ban quản lý dự án thực hiện đúng vai trò chức năng nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án
Kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách của nhà nước
1.1.4
Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên đối tượng quản lý nhằm làm cho các đối tượng quản lý tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Đặc điểm
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng chế hành chính mà bằng lợi ích, tức là Nhà nước chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đặt ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ Có thể thấy đây là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hiện tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế Phương pháp này mở rộng quyền hành động cho các chủ thể kinh
tế, đồng thời cũng tăng trách nhiệm kinh tế của họ
Sử dụng chính sách ưu đãi kinh tế
Trường hợp áp dụng phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế được áp dụng khi cần điều chỉnh các hành vi không có nguy cơ gây hậu quả xấu cho cộng đồng, cho Nhà nước hoặc chưa đủ điều kiện để
áp dụng phương pháp hành chính cưỡng chế Trên thực tế, có những hành vi mà nếu không có sự điều chỉnh của Nhà nước, sẽ không diễn ra theo chiều hướng có lợi cho Nhà nước và cho cộng đồng, nhưng cũng không có nghĩa là nó gây ra những thiệt
Trang 25hại cần phải điều chỉnh tức thời Ví dụ, Nhà nước mong muốn các nhà đầu tư trong
và ngoài nước bỏ vốn đầu tư vào các vùng, miền núi biên cương, hải đảo để cải thiện đời sống dân cư ở các vùng này, nhưng nếu không có các ưu đãi hay khuyến khích của Nhà nước, các nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư vào các vùng đồng bằng, đô
Nhà nước mong muốn song không phải vì thế mà gây hại cho Nhà nước và cộng đồng Vậy trong trường hợp đó, nếu muốn nhà đầu tư hành động theo hướng có lợi cho mình, Nhà nước phải chia sẻ lợi ích kinh tế của họ bằng các hình thức như: giảm thuế, miễn thuế thu nhập, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ về kỹ thuật…
Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc trong khuôn khổ luật pháp lên các chủ thể kinh
tế, nhằm thực hiện các mục tiêu của nhà nước trong những tình huống nhất định
Phương pháp này mang tính bắt buộc và tính quyền lực
Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời đích đáng
Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước chỉ được phép đưa ra
về mặt tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh tế và những quy định thuộc về thủ tục hành chính buộc tất cả các chủ thể từ cơ quan nhà nước đến các doanh nghiệp phải tuân thủ
Tác động điều chỉnh hành động, hành vi của các chủ thể kinh tế là những tác động mang tính bắt buộc của nhà nước lên quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu quản lý của nhà nước
Trường hợp áp dụng phương pháp hành chính
Trang 26Phương pháp hành chính được dùng để điều chỉnh các hành vi mà hậu quả của nó có thể gây thiệt hại cho cộng đồng, cho nhà nước Trong trường hợp những hành vi này diễn ra khác với ý muốn của Nhà nước, có thể gây ra những nguy hại nghiêm trọng cho xã hội thì nhà nước phải sử dụng phương pháp cưỡng chế để ngay lập tức đưa hành vi đó tuân theo một chiều hướng nhất định, trong khuôn khổ chính sách luật pháp về kinh tế
c Phư
Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao
Phương pháp giáo dục mang tính thuyết phục cao, không dùng sự cưỡng chế, không dùng lợi ích vật chất mà là tạo ra sự nhận thức về tính tất yếu khách quan để đối tượng quản lý tự giác thi hành nhiệm vụ
Hướng tác động
Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Giáo dục ý thức lao động sáng tạo hiệu quả
-Trường hợp áp dụng phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục cần được áp dụng trong mọi trường hợp và phải được kết hợp với hai phương pháp trên để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý Sở dĩ như vậy là do, việc sử dụng phương pháp hành chính hay kinh tế để điều chỉnh các hành vi của đối tượng quản lý suy cho cùng vẫn là tác động bên ngoài, và do đó không triệt để toàn diện Một khi không có những ngoại lực này nữa, đối tượng rất
có thể lại có nguy cơ không tuân thủ người quản lý Hơn nữa bản thân phương pháp hành chính hay phương pháp kinh tế cùng phải qua hoạt động thuyết phục, giáo dục thì mới truyền tới đối tượng quản lý, giúp họ cảm nhận được áp lực hoặc động lực, biết sợ thiệt hại hoặc muốn có lợi ích, từ đó tuân theo những mục tiêu quản lý do Nhà nước đề ra
1.1.5
tác động lên đối tượng quản lý Công cụ quản lý các dự án đầu tư của Nhà nước là
Trang 27tổng thể các phương tiện mà Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý
của Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định
Công cụ quản lý của Nhà nước là một hệ thống bao gồm nhiều loại, trong đó
có công cụ quản lý thể hiện mục tiêu, ý đồ của Nhà nước, có công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các chủ thể kinh tế, có công cụ thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế, các công cụ vật chất thuần tuý…
a
Xác định mục tiêu quản lý là việc khởi đầu quan trọng trong hoạt động quản lý của Nhà nước Các mục tiêu chỉ ra phương hướng và các yêu cầu về số lượng, chất lượng cho các hoạt động quản lý của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế Các công cụ thể hiện ý đồ mục tiêu của quản lý bao gồm:
Đường lối phát triển kinh tế xã hội: đường lối phát triển kinh tế xã hội là khởi đầu của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước do Đảng cầm quyền của các quốc gia xây dựng và thực hiện, đó là việc xác định trước một cái đích mà nền kinh
tế cần đạt tới, để từ đó căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế mà tìm ra lối đi, cách đi, trình tự và thời gian tiến hành để đạt tới đích đã xác định
Ở nước ta, đường lối phát triển kinh tế xã hội đất nước gắn liền với phát triển
xã hội và do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng qua các kỳ Đại hội
Đường lối phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của đất nước, nó được coi là công cụ hàng đầu của Nhà nước trong sự nghiệp quản lý vĩ
mô nền kinh tế quốc dân Đường lối đúng sẽ đưa đất nước đi đến phát triển, ổn định, giàu mạnh, công bằng và văn minh Đường lối sai sẽ đưa đất nước đi lầm đường lạc lối, là tổn thất, là đổ vỡ, là suy thoái, là hậu quả khôn lường về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội: chiến lược phát triển kinh tế xã hội là một hệ thống các quan điểm cơ bản, các mục tiêu lớn và các giải pháp chủ yếu được lựa chọn nhằm đạt được một bước đường lối phát triển kinh tế đất nước trong một chặng thời gian dài Thực chất chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là sự cụ thể hoá đường lối phát triển đất nước trong mỗi chặng đường lịch sử đất nước (thường là 10 năm, 15 năm hoặc 20 năm) và cũng do Đảng cầm quyền chỉ đạo và xây dựng Ở
Trang 28nước ta, chiến lược phát triển kinh tế xã hội do Đ Cộng sản Việt Nam xây dựng trong các Đại hội Đảng toàn quốc, như chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến 2010, đến năm 2020
Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội: Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là việc định hướng phát triển kinh tế dài hạn Trong đó xác định rõ quy mô và giới hạn cho sự phát triển Thực chất quy hoạch và xác định khung vĩ mô về tổ chức không gian nhằm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý Nhà nước để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình dự án đầu tư
Thực chất của các quy hoạch là cụ thể hoá chiến lược về không gian và thời gian Trên thực tế, công tác quản lý kinh tế của Nhà nước có các loại quy hoạch như: Quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương …
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội: Kế hoạch là cụ thể hoá chiến lược dài hạn gồm có kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm Thực chất kế hoạch là một hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản được xác định như: tốc độ phát triển kinh tế, các cơ cấu kinh tế, các cân đối lớn… các chỉ tiêu kế hoạch bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực và thành phần kinh tế
Ở , các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội được xem là công cụ quan trọng trong quản lý nền kinh tế của Nhà nước
Chương trình phát triển kinh tế xã hội là tổ hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ các thủ tục, các bước phải tiến hành, các nguồn lực và các yếu tố cần thiết để thực hiện một ý đồ lớn, một mục tiêu nhất định đã được xác định trong một thời kỳ nhất định Ví dụ chương trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, chương trình cải cách nền hành chính quốc gia, chương tình đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chương trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chương trình phát triển kinh tế đối ngoại, chương trình phát triển công nghiệp, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng, chương trình phát triển kinh tế miền núi, vùng đồng bào dân tộc,
Chương trình là cơ sở quan trọng để tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào việc giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch Nhà nước trong
Trang 29từng thời kỳ và cho phép khắc phục tình trạng tách rời giữa các nhiệm vụ của kế hoạch đã được xác định để thực hiện kế hoạch nhà nước một cách có hiệu quả nhất
b
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với
xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng luật pháp và theo pháp luật
Hệ thống văn bản pháp luật trong quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý dự án đầu tư XDCB nói riêng có hai loại: văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật
- Văn bản quy phạm pháp luật gồm:
+ Văn bản do Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh;
+ Vă do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành để thi hành văn bản của Quốc hội và ủy ban thường vụ quốc hội ban hành: Lệnh, Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Thông tư;
+ Văn bản do Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp ban hành để thi hành văn bản qui phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
- Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý dự án nói riêng là những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể đối với các đối tượng cụ thể
c
Công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế nói chung và quản lý dự án nói riêng, đó chính là chính sách kinh tế Chính sách kinh tế là một hệ thống phức tạp gồm nhiều loại:
Chính sách phát triển các thành phần kinh tế; Chính sách tài chính với các công cụ chủ yếu: Chi tiêu của Chính phủ (G) và thuế (T); Chính sách tiền tệ với các cộng cụ chủ yếu: Kiểm soát mức cung tiền (Ms) và lãi suất (r); Chính sách thu nhập
Trang 30với các công cụ chủ yếu: Giá cả (p) và tiền lương (w); Chính sách ngoại thương với các công cụ chủ yếu: Thuế nhập khẩu, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế…
d
- Đất đai, rừng núi, sông hồ, các nguồn nước, thềm lục địa
- Tài nguyên trong lòng đất
- Các ngân hàng thương mại quốc doanh
- Vốn và tài sản của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước
- Các loại quỹ chuyên dùng vào công tác quản lý của nhà nước
1.1.6
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trong phạm vi cả nước; chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển theo ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế; ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật
về đầu tư; phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư cho các Bộ, ngành và địa phương;
- Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thực hiện luật pháp, chính sách về đầu tư; phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt quy hoạch; quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc thẩm quyền; quyết định hoặc cho phép thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế; chỉ đạo giải quyết những vấn đề vướng mắc trong quá trình điều hành, quản lý hoạt động đầu tư vượt quá thẩm quyền của các bộ, ngành và địa phương;
- Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế có chương trình đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư;
- Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn hoạt động đầu tư trong lĩnh vực và địa bàn theo thẩm quyền; bảo đảm thủ tục đầu tư minh bạch, đơn giản, đúng thời hạn
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không được ban hành các văn bản quy định lĩnh vực cấm đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các ưu đãi đầu tư không đúng với quy định của pháp luật
1.1.7
Trang 31Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nói riêng Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước các dự án đầu tư
từ nguồn ngân sách nhà nước là công việc khó khăn và phức tạp bở , hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động mang tính đặc thù Hoạt động này không trực tiếp sáng tạo ra các giá trị vật chất nhưng bản thân nó có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình tạo ra giá trị vật chấ ết quả của hoạt động này nhiều khi được đánh giá chủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định lượng Bên cạnh đó, còn có nhiều yếu tố không thể định lượng một cách cụ thể, chí
năng lực, uy tín, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và sự am hiểu về các lĩnh vực xã hội cơ bản của chủ thể tiến hành hoạt động quản lý nhà nước Những yếu tố này có vai trò, tác dụng rất lớn đối với hoạt động quản lý nhà nước nhưng không thể lượng
hoá như các chỉ số khác
Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước cầ ững tiêu chí nhất định Việc xác định hệ thống tiêu chí là luận cứ khoa học bảo đảm cho việc đánh giá được khách quan và đúng đắn
đầu tư từ nguồn ngân sách
a
Quản lý nhà nước các dự án đầu tư hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu
tư, từ đó tác động tích cực đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Quản lý dự án đầu tư liên quan trực tiếp đến các chính sách tập trung và phân bổ vốn trong nền kinh tế Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phần làm tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng mức đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng Ngược lại các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực quản lý yếu kém có thể dẫn đến
sự mất cấn đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả và mức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến tác động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế , với chính sách bao cấp trong đầu tư (qua chế độ cấp phát vốn, tín dụng ) một mặt sẽ tạo ra sự khan hiếm và lãng phí vốn trong một số đối tượng được bao cấp, phân bổ vốn không hợp lý dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao, do đó tác động tiêu cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 32Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý họat động đầu tư của các cấp, các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế trong nền kinh tế thị trường có tác động mạ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực khác và sau cùng, tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
b Nh
Vốn đầu tư thất thoát diễn ra từ khâu chuẩn bị dự án, thẩm định và phê duyệt
dự án đầu tư đến khâu thực hiện đầu tư và xây dựng Tình trạng đầu tư không theo quy hoạch được duyệt; khâu khảo sát nghiên cứu thiếu tính đồng bộ, không đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế, khả năng tài chính, nguồn nguyên liệu, bảo vệ môi trường, điều tra thăm dò thị trường không kỹ; chủ trương đầu tư không đúng khi xem xét, phê duyệt dự án đầu tư Việc thẩm định và phê duyệt chỉ quan tâm tới tổng mức vốn đầu
tư, không quan tâm tới hiệu quả, điều kiện vận hành của dự án, nên nhiều dự án sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng không phát huy tác dụng, gây lãng phí rất lớn
Lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong đầu tư và xây dựng đang là vấn đề nhức nhối, cả xã hội quan tâm; kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầm trọng mà đến nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế
Một số Bộ, ngành, địa phương khi xác định mức vốn đầu tư ít quan tâm đến việc tiết kiệm vốn đầu tư, sử dụng đơn giá, định mức trong tính toán cao hơn quy định, làm tăng khối lượng, tăng dự toán công trình Nhiều dự án không làm đúng thiết kế, chủ đầu tư và bên thi công móc nối, thoả thuận tăng khối lượng, điều chỉnh dự toán để rút tiền và vật tư từ công trình
Ngoài ra, do năng lực quản lý điều hành kém của chủ đầu tư, các ban quản lý
dự án, các tổ chức tư vấn cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư
Qua kiểm tra một số công trình, đã phát hiện tình trạng lãng phí và thất thoát vốn nhà nước diễn ra phổ biến ở nhiều công trình, nhiều dự án, nhiều lĩnh vựcnhiều cấp ; tỷ lệ lãng phí và thất thoát của những công trình có mức lãng phí
Nguyên nhân chính của hiện tượng lãng phí và thất thoát nằm ở chính những
cơ chế kiểm soát hiện nay; vừa cồng kềnh, vừa chồng chéo, quá nhiều người có thẩm quyền can thiệp vào công trình nhưng không thể xác định được
Trang 33trác không thể quản lý được hoặc quản lý rất kém hiệu quả Do vậy chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư là tiêu chí rất quan trọng trong phản ánh hiệu quả quản lý nhà nước dự án đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
c
Chất lượng công trình xây dựng nay vẫn là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm, chú ý Chất lượng công trình xây dựng càng trở nên nhạy cảm hơn, sau một sự cố tại một vài công trình gây xôn xao dư luận Đổi
mới công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là dài mà mục tiêu quan trọng là hướng tới sự thay đổi về nhận thức của chính quyền, tổ chức và
cá nhân tham gia vào quá trình đảm bảo chất lượng công trình xây dựng Trước đây, nội hàm của quản lý dự án đầu tư xây dựng thì quản lý tiền vốn và tiến độ được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến quản lý chất lượng công trình Nhưng từ khi Luật Xây dựng được ban hành, thì quản lý chất lượng công trình được đặt lên hàng đầu trong nội dung cơ bản của Quản lý dự án đầu tư xây dựng Đây là một thay đổi rất quan trọng về luật pháp nhằm tạo ra sự thay đổi về nhận thức: chất lượng công trình xây dựng trước hết, không chỉ mang đến sự hài lòng cho người thụ hưởng công trình xây dựng mà còn bảo đảm cho sự phát triển bền vững, chất lượng công trình được quan tâm, coi trọng không chỉ mang lại lợi ích về kinh
tế mà hơn thế là vì con người Như vậy, chất lượng công trình xây dựng cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn rất nhiều Nghĩa là khái niệm về chất lượng công trình xây dựng không chỉ bảo đảm độ bền của công trình (hữu hình) … mà còn đem lại các giá trị quan trọng khác (vô hình), như sự hài lòng của người sử dụng, sự thân thiện với môi trường, vẻ đẹp tổng thể của đất nước… Tất cả yếu tố đó của chất lượng công trình xây dựng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
d
Một hình thức hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước là ban hành các quyết định quản lý nhà nước nhằm đưa ra các chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng các quy tắc đó giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống xã hội Suy đến cùng, các quyết định quản lý nhà nước chỉ thực sự có ý nghĩa khi được thực hiện một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội Việc thực hiện có hiệu quả các quyết định quản lý nhà nước là yếu tố rất quan trọng để hiện thực hóa
Trang 34ý chí của nhà quản lý thành những hoạt động thực tiễn Điều này chỉ đạt được khi việc tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, đúng lúc, kịp thời, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của đời sống xã hội Quá trình tổ chức thực hiện không hợp lý, không kịp thời không thể mang lại kết quả như mong muốn và hơn thế nữa, có thể trực tiếp
e
Thực chất hoạt động quản lý nhà nước là tổ chức thực hiện pháp luật và các chủ trương, chính sách của chính quyền cấp trên vào trong cuộc sống Đây là một chuỗi hoạt động kế tiếp nhau rất phức tạp từ khâu nắm bắt tình hình, lên kế hoạch hoạt động, tổ chức lực lượng, giao nhiệm vụ cho từng bộ phận, đến việc chỉ đạo thực hiện, điều hòa phối hợp hoạt động và kiểm tra tiến độ thực hiện Suy đến cùng, đây là hoạt động để biến cái chung thành cái riêng, thậm chí là cái đơn nhất; là hoạt động hiện thực hóa những quy định ở trạng thái tĩnh Vì thế, nó đòi hỏi chủ thể quản lý nhà nước căn cứ vào tình hình, đặc điểm mà đề ra các biện pháp quản lý thích hợp Hơn nữa, tính chủ động và sáng tạo còn được quy định bởi chính bản thân sự phức tạp, phong phú của đối tượng quản lý Tiêu
phát triển đột phá của các cấp quản lý
f
Để đánh giá đầy đủ, chính xác hiệu quả hoạt động của quản lý nhà nước các
dự án đầu tư, xem xét những chỉ số về tính kinh tế trong hoạt động quản lý
Đó là những chi phí tối thiểu hoặc có thể chấp nhận được về ngân sách, thời gian, lực lượng tham gia và những chi phí khác có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước (có thể có nhữ lượng hóa) Tất cả những chi phí cho hoạt động của quản lý nhà nước cần phải ở mức thấp nhất hoặc có thể chấp nhận được nhưng phải bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước ở cơ sở phát huy tác dụng ở mức cao nhất Tính kinh tế trong hoạt động của quản lý nhà nước đòi hỏi phải tính toán được trước những chi phí cho hoạt động quản lý nhà nước và lựa chọn những phương án
1.2 Khái niệm, vị trí, vai trò của đầu tƣ xây dự
1.2.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng
Trang 35Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cụ thể nào
đó của người sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu cầu nhất định
: Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở
rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
1.2.2 Vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế
Đầu tư xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất kỳ hình thức kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội
Đầu tư xây dựng cơ bản hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ hiện đại; tạo ra những cơ sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị -
xã hội, an ninh - quốc phòng
Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay, quản lý hiệu quả các
dự án xây dựng là quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp
1.2.3 Dự án đầu tư
1.2.3.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Theo Luật xây dựng: Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề
xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng bao gồm 2 phần, phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
b Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công … được giải quyết Các dự án đầu tư xây dựng có một số đặc điểm sau:
* Dự án có tính thay đổi:
Trang 36Dự án xây dựng không tồn tại một cách ổn định cứng, hàng loạt phần tử của
nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn các tác nhân từ bên trong như nguồn nhân lực, tài chính, các hoạt động sản xuất… và bên ngoài như môi trường chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật … và thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội
* Dự án có tính duy nhất:
Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt, được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi
* Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô:
Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn có liên quan Có thể ngày hoàn thành được ấn định một cách tuỳ ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án, điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư Mỗi dự án đều được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó trong quá trình triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất Sự thành công của quản
lý dự án thường được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc
đã được định trước hay không?
Quy mô của mỗi dự án là khác nhau và được thể hiện một cách rõ ràng trong mỗi dự án vì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí
của dự án
* Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau
Triển khai dự án là quá trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định, chính vì vậy để thực hiện được nó chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau, việc kết hợp hài hoà các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả
dự án
1.2.3.2 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bất kỳ dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn : Chuẩn bị đầu tư; Thực hiện đầu tư; Kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng
Trang 37Quá trình thực hiện dự án đầu tư có thể mô tả như sau:
Thi công
a Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Đối với các dự án quan trọng quốc gia Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hộ phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì CĐT phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập
dự án đầu tư xây dựng công trình Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chưa có trong quy
hoạch xây dựng thì phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận
b Giai đoạn thực hiện đầu tư
Sau khi báo cáo đầu tư được phê duyệt, được chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tư vấn, phải lựa chọn được những chuyên gia tư vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tư vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết
kế đến giai đoạn quản lý giám sát xây dựng, đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp Trong khi lựa chọn đơn vị tư vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tư vấn này phải
có kinh nghiệm qua những dự án đã được họ thực hiện trước đó Một phương pháp thông thường dùng để chọn là các cơ quan tư vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba bước
Trang 38Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật
Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định
Sau khi sản phẩm thiết kế được hình thành, CĐT tổ chức thẩm định hồ sơ
- và trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể
là người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư) phê duyệt Trường hợp CĐT không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra dự toán thiết kế công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt Trên cơ sở kết
lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực để cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của CĐT và các mục tiêu của dự án
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, CĐT tổ chức đàm phán
ký kết hợp đồng thi công xây dựng công trình với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng công trình Nội dung quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm quản lý chất lượng xây dựng; quản lý tiến độ xây dựng; quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng; quản lý môi trường xây dựng
Trong giai đoạn này CĐT chịu trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng; trình
đồng, quản lý chất lượng kỹ thuật công trình trong suốt quá trình thi công và chịu trách nhiệm toàn bộ các công việc đã thực hiện trong quá trình triển khai dự án
Trang 39c Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng
Sau khi công trình được thi công xong theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, CĐT thực hiện công tác bàn giao công trình cho cơ quan quản lý, sử dụng thực hiện khai thác, vận hành công trình với hiệu quả cao nhất
Như vậy các giai đoạn của quá trình đầu tư có mối liên hệ hữu cơ với nhau, mỗi giai đoạn có tầm quan trọng riêng của nó cho nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau Trong quá trình quản lý đầu tư xây dự luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng
1.3 Các hình thức quản lý thực hiện dự án
Trước đây, tuỳ theo quy mô và tính chất của dự án, năng lực của CĐT mà dự
án sẽ được người quyết định đầu tư quyết định thực hiệ theo một trong số các hình thứ trực tiếp quản lý thực hiện dự án; Chủ nhiệm điều hành dự án; Hình thức chìa khoá trao tay và hình thức tự thực hiện dự án Hiện nay Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình, quy định chỉ có hai hình thức quản lý dự án đó là: CĐT trực tiếp quản lý dự án và CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án:
1.3.1 CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Hợp đồng
Hợp đồng Thực hiện Giám sát
Sơ đồ 1.1: Hình thức CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án
1.3.2 CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án
Trình
CHỦ ĐẦU TƢ
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN
DỰ ÁN
Tư vấn khảo sát, thiết
kế, đấu thầu, giám sát
…
CHỦ ĐẦU TƯ
Người có
Trang 40Hợp đồng Hợp đồng Phê duyệt
Quản lý
Thực hiện
Sơ đồ 1.2 CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án
1.4 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tƣ xây dựng
Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của
nhiều chủ thể khác nhau Khái quát mô hình các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu
tư như sau:
Sơ đồ 1.3 Các chủ thể tham gia quản lý dự án 1.4.1 Người có thẩm quyền quyết định đầu tư
Là người đại diện pháp luật của tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc các doanh
nghiệp tuỳ theo nguồn vốn đầu tư Người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra quyết
định đầu tư khi đã có kết quả thẩm định dự án
dự án sử dụng vốn tín dụng, tổ chức cho vay vốn thẩm định phương
án tài chính và phương án trả nợ để chấp thuận cho vay hoặc không cho vay trước
khi người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra quyết định đầu tư
CHỦ ĐẦU TƢ
Nhà thầu tƣ vấn
Nhà thầu xây lắp