Giống IR8 được một số nhà báo thời kỳ đó tuyên truyền là giống lúa “Thần Kỳ”, bên cạnh đó là các giống lúa cao cây ngắn ngày năng suất cao cũng được gieo trồng rộng rãi, đưa Việt Nam từ
Trang 1Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THÁI SƠN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG LÚA LAI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Ĩ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, 2013
Trang 2Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THÁI SƠN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG LÚA LAI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Ĩ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU HỒNG
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng cho bảo vệ một học vị nào, mọi
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Đặng Thái Sơn
Trang 4Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài từ năm 2012 đến năm 2013, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, Khoa Nông học, Trung tâm Thực hành - Thực nghiệm, cùng các Thầy Cô giáo và học viên, sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn khoa học: PGS - TS Nguyễn Hữu Hồng - Trường đại học nông lâm Thái Nguyên là những người Thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy Cô giáo, đồng nghiệp và bạn đọc
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đặng Thái Sơn
Trang 5Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các cụm từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới 6
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 13
1.3 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới và Việt Nam 16
1.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới 16
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam 21
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31 2.1 Vật liệu nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 32
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
Trang 6Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.4 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
2.4.2 Các biện pháp kỹ thuật trong khi làm thí nghiệm 34
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm 37
2.5.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng 37
2.5.3 Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 40
2.5.4 Chỉ tiêu về khả năng chống chịu 41
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Khí hậu thời tiết vùng nghiên cứu 45
3.2 Sức sống của mạ 45
3.3 Thời gian sinh trưởng, phát triển của các dòng lúa tham gia thí nghiệm 50
3.4 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng lúa tham gia thí nghiệm 58
3.5 Một số đặc điểm nông học của các dòng lúa tham gia thí nghiệm 67
3.5.1 Góc lá đòng 71
3.5.2 Chiều dài cổ bông 71
3.5.3 Chiều dài bông 71
3.5.4 Chiều dài và chiều rộng hạt 72
3.6 Khả năng chống đổ của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm 73
3.7 Khả năng chống chịu sâu, bệnh của các dòng giống lúa tham gia thí nghiệm 75
3.8 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 79
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
4.1 Kết luận 88
4.2 Đề nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
1 FAO Tổ chức Nông lương thế giới
(Food and Agriculture Organization)
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (International Rice Research Institute)
3 KL1000 Khối lượng nghìn hạt
5 NSTT Năng suất lý thực thu
Trang 8Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới trong vài thập kỷ gần đây 8
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu Thế giới 9
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam những năm gần đây 15
Bảng 2.1: Các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm 31
Bảng 3.1: Chất lượng mạ của các dòng giống lúa trong vụ Mùa 2012 47
Bảng 3.2: Chất lượng mạ của các dòng giống lúa trong vụ Xuân 2013 48
Bảng 3.3: Thời gian sinh trưởng của các dòng giống lúa trong vụ Mùa 2012 53
Bảng 3.4: Thời gian sinh trưởng của các dòng giống lúa trong vụ Xuân 2013 55
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu theo dõi về khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng lúa tham gia thí nghiệm vụ Mùa 2012 59
Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu theo dõi về khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2013 61
Bảng 3.7-a: Một số chỉ tiêu nông sinh học của các dòng giống lúa tham gia thí nghiệm 67
Bảng 3.7-b: Một số chỉ tiêu nông sinh học của các dòng giống lúa tham gia thí nghiệm 69
Bảng 3.8: Khả năng chống đổ của các dòng giống lúa tham gia thí nghiệm 74 Bảng 3.9: Mức độ sâu, bệnh hại của các dòng, giống lúa trong thí nghiệm 77
Bảng 3.10: Các yếu tố cấu thành năng suất trong vụ Mùa 2012 80
Bảng 3.11: Các yếu tố cấu thành năng suất trong vụ Xuân 2013 82
Trang 9Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ thí nghiệm 33
Trang 10Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Lúa (Oryza Sativa.L) là một trong những cây lương thực quan trọng
nhất trên thế giới và là nguồn thức ăn thường xuyên cho khoảng 3 tỷ người trên trái đất [25] Hiện nay có trên 100 quốc gia trồng lúa ở hầu hết các châu lục, với tổng diện tích là 158,9 triệu ha [33] Sản lượng lúa gia tăng trong thời gian qua đã mang lại sự no ấm cho người dân Đạt được thành tựu đó là do có
sự đột phá mạnh mẽ trong công tác tạo giống mới
Những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, cuộc “Cách mạng xanh” bùng nổ làm cho năng suất cây trồng tăng lên một cách đột biến, giải quyết tốt nhu cầu thiếu đói lương thực cho người dân và có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á Mở đầu cho cuộc “Cách mạng xanh” ở các nước Nam Á và Đông Nam Á là giống IR8 do Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI chọn tạo ra Tiếp theo là sự ra đời của các giống lúa IR5, IR6, IR20, IR22, IR26, IR36,
đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, phẩm chất [2]
Những năm 80 (thế kỷ XX) giống IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam Giống IR8 được một số nhà báo thời kỳ đó tuyên truyền là giống lúa
“Thần Kỳ”, bên cạnh đó là các giống lúa cao cây ngắn ngày năng suất cao cũng được gieo trồng rộng rãi, đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới vào năm 1989, đánh dấu một bước tiến lớn trong công cuộc đổi mới đất nước
Những năm 90 (thế kỷ XX) công tác nhập nội giống cây trồng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, bên cạnh giống lúa truyền thống, giống lúa năng suất cao là những giống lúa lai được nhập từ Viện nghiên cứu Lúa gạo quốc tế IRRI và Trung Quốc làm cho năng suất lúa không ngừng tăng cao Năm 2000 nước ta xuất khẩu 4,6 triệu tấn gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan
Trang 11Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những năm gần đây, năng suất và sản lượng lúa của nước ta khá ổn định, an ninh lương thực được đảm bảo Tuy nhiên, giống lúa chủ lực vẫn chỉ
là Q5, Khang dân, IR50404… tuy sản lượng rất cao nhưng chất lượng gạo chưa ngon, giá trị kinh tế thấp Vì vậy, việc tạo ra các giống lúa mới năng suất cao, chất lượng gạo ngon, mẫu mã đẹp, ưa thâm canh, khả năng chống chịu tốt với điều kiện thời tiết bất thuận và sâu bệnh hại, là đòi hỏi tất yếu mang tính cấp thiết trong công tác chọn tạo giống lúa ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng lúa lai tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Chọn được những cá thể có đặc điểm nông sinh học tốt, năng suất cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận để làm vật liệu chọn lọc cho các thế hệ sau
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng lúa lai trong
4 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Đề tài này là cơ sở phục vụ cho công tác chọn tạo dòng thuần
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Bước đầu chọn được những dòng lúa thích hợp phục vụ cho công tác
chọn tạo giống
Trang 12Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Con người luôn muốn điều khiển cây trồng theo những mục đích riêng của mình Phần lớn chúng ta đều hy vọng đạt được năng suất và chất lượng tốt, nhưng thực tế đã chứng minh rằng: Năng suất hay chất lượng cây trồng không chỉ đơn giản được tạo ra do sự cộng gộp đơn thuần tác động của từng yếu tố riêng rẽ mà nó là kết quả tổng hợp tổng hòa của rất nhiều yếu tố: giống, phân bón, bảo vệ thực vật, biện pháp canh tác và điều kiện tự nhiên,… Trong
đó, công tác chọn giống là một trong những nhân tố có vai trò quyết định đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng
Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng, trong sản xuất nông nghiệp chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu cũng như mục đích của người sản xuất Các trung tâm nghiên cứu giống lúa của các nước và Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research Instiute (IRRI) đã có nhiều công trình nghiên cứu về chọn, tạo giống lúa và đưa ra những giống lúa có đặc trưng như: thời gian sinh trưởng, tính chống chịu sâu, bệnh hại; tính mẫn cảm với quang chu kỳ chiếu sang và những giống có chất lượng gạo cao, thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và canh tác của từng địa phương khác nhau
Những năm gần đây, do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hàng loạt các giống mới được ra đời; bằng nhiều biện pháp chọn, tạo khác nhau: có giống tạo ra bằng gây đột biến, có giống tạo ra bằng lai xa, chuyển nạp gen, lắp ráp các gen, dung hợp tế bào trần, từ chọn lọc trực tiếp…với các phương pháp chọn lọc tập đoàn, chọn lọc cá thể, chọn lọc hỗn hợp…và một số biện pháp kỹ thuật khác Mục đích của các nhà chọn, tạo giống là tạo ra được giống có một
số đặc điểm như sau:
Trang 13Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác của từng địa phương
+ Cho năng suất cao, ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn biến động của thời tiết
+ Có tính chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận + Có chất lượng đáp ứng yêu cầu sử dụng
Chính vì vậy, Vavilop nói: “Chọn giống có thể coi như một khoa học, là một nghệ thuật như một lĩnh vực xác định của nền sản xuất nông nghiệp”
Từ xa xưa con người đã biết thuần hoá các loại cây hoang dại thành các loại cây trồng Các kĩ thuật được áp dụng trong trồng trọt cũng ngày càng phát triển
Năm 1926, J W Jones (nhà thực vật học người Mỹ [28] lần đầu tiên báo cáo về sự xuất hiện ưu thế lai (ƯTL) trên những tính trạng số lượng và năng suất lúa Tuy nhiên, lúa là cây tự thụ phấn điển hình, khả năng nhận phấn ngoài rất thấp, do đó khai thác ƯTL ở lúa đặc biệt khó khăn trong khâu sản xuất hạt lai F1
Những năm đầu của thập kỷ 60, Yuan Long Ping (Trung Quốc) đã cùng đồng nghiệp phát hiện được cây lúa dại bất dục trong loài lúa dại: Oryza fatua spontanea tại đảo Hải Nam Sau khi thu về, nghiên cứu, lai tạo, họ đã chuyển được tính bất dục đực dạng hoang dại này vào lúa trồng và tạo ra những vật liệu di truyền mới giúp cho việc khai thác ƯTL thương phẩm
Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ
"3 dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 dòng" và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước [33]
Trang 14Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Kết quả của các nhà chọn tạo giống Trung Quốc cho thấy: Trên tổng thể hiệu ứng ƯTL biểu hiện theo quy luật: Indica/Japonica > Indica/Javanica
> Japonica/Javanica > Indica/Indica > Japonica/Japonica [14] Các tổ hợp lai năng suất siêu cao đã và sẽ được tạo ra là tổ hợp lai giữa hai loài phụ Indica/Japonica Năm 1997, Yuan LP [29] đã trình diễn tổ hợp lai Peiai 64S/E32, đạt năng suất cao tới 17,1 tấn/ha/vụ Vì vậy, hiện nay lai xa giữa các loài phụ được sử dụng khá phổ biến ở Trung Quốc, IRRI, Ấn Độ và một số nước khác
Với mục tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của các dòng lúa lai vụ Mùa 2012 và vụ Xuân 2013 phục vụ chọn tạo giống lúa thuần mới tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, với mục đích tạo ra giống lúa thuần mới thay thế những giống lúa hiện có chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, cải tiến để đưa giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất phù hợp với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái
Cần phải tạo ra các dòng, giống lúa triển vọng, tạo ra sản phẩm hàng hoá, sử dụng hợp lý phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới có triển vọng song vẫn đảm bảo có năng suất khá, sử dụng nước tưới và các biện pháp kỹ thuật không khác nhiều so với tập quán canh tác của địa phương
Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ưu, nhược điểm song
sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian, thời gian nhất định và được người nông dân chấp nhận và mở rộng
Cơ cấu các giống lúa đang được gieo trồng được chọn dựa trên lợi ích cho đa số người dân, cơ cấu các dòng, giống lúa triển vọng phải được bố trí hợp lý, có độ an toàn, xác suất gặp rủi ro thấp nhất, phù hợp với tập quán canh tác của địa phương, đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong vùng
Trang 15Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới
Dân số Thế giới không ngừng tăng cao Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về lương thực, sản xuất lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể, nhưng phân bố không đều do các trở ngại về tiếp cận lương thực, thu nhập Quốc gia và thu nhập của hộ gia đình không đủ để mua lương thực, sự bất ổn giữa cung cầu, thiệt hại do thiên tai mang lại là những nhân tố khiến cho vấn đề lương thực trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết Tuy tổng sản lượng lúa không ngừng được gia tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng dân
số tăng nhanh hơn, nhất là ở các nước đang phát triển, nên lương thực vẫn là vấn đề cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt cũng như lâu dài
Cây lúa là một loại ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một quá trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích ứng rộng nên cây lúa có thể trồng ở nhiều nơi trên Thế giới
Cây lúa trên Thế giới được trồng ở 5 vùng đất chính là: vùng chủ động tưới tiêu, vùng đất thấp chịu nước trời, vùng đất cao, vùng ngập nước, vùng đất ngập do thuỷ triều Có khoảng 80 triệu ha hoặc 55% diện tích đất trồng lúa của Thế giới được tưới tiêu chủ động trong suốt vụ gieo trồng Người ta ước tính khoảng 75% sản lượng lúa Thế giới thu từ các vùng được tưới tiêu này
Trên Thế giới có khoảng trên 100 nước đang trồng lúa nằm ở hầu hết các châu lục với tổng diện tích thu hoạch là 163,4 triệu ha
Cây lúa gắn bó mật thiết với các Quốc gia thuộc Đông Nam Á và Nam
Á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản Trong số 25 nước sản xuất lúa chính của Thế giới có 17 nước nằm trong vùng này và 8 nước nằm ngoài vùng (Jay Maclean, 1985) Trên 85% sản lượng lúa trên Thế giới phụ thuộc 8 nước mà những nước này đều tập trung ở Châu Á (gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Banladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nhật Bản)
Trang 16Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Từ năm 1995 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên Thế giới có tăng nhưng với mức độ chậm, thậm chí sản lượng năm 2003 thấp hơn năm 1999 Bởi vì giai đoạn này trình độ sản xuất lúa của nhiều nước trên Thế giới đã phát triển tương đối cao, một số nước năng suất đã vượt trần, diện tích khai hoang đã hết, tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tăng, đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Chúng ta thấy được điều này qua bảng 1.1
Số liệu bảng 1.1 cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Thế giới ngày một tăng nhưng tốc độ tăng diện tích chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng sản lượng, như vậy sản lượng tăng là do tăng năng suất là chủ yếu
Trong những năm gần đây, do việc sử dụng các giống lúa mới cộng với việc áp dụng các biện pháp canh tác và bố trí cơ cấu các trà lúa hợp lý, làm cho sản lượng lúa tăng một cách đáng kể ở hầu hết các Quốc gia trồng lúa Tuy vậy, trong tương lai, sản lượng lúa của Thế giới sẽ phải tăng ở mức 1,6%/năm giai đoạn 2000-2025 mới đáp ứng nhu cầu dân số ngày càng tăng của Thế giới Đối với những nước đứng đầu về sản xuất lúa của Châu Á thì tỷ
lệ tăng này đòi hỏi ở mức 2,0%/năm Đây là nhiệm vụ không dễ của các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học trong thời gian tới
Sản lượng lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây tăng đáng kể: Năm 1970, sản lượng lúa chỉ là 308,8 triệu tấn Năm 2001, diện tích lúa của Thế giới là
155 triệu ha, năng suất 37,8 tạ/ha, sản lượng đạt 586,8 triệu tấn
Đến năm 2002 đạt 578,6 triệu tấn Năm 2003 đạt 581,9 triệu tấn, năm
2004 đạt 607,1 triệu tấn và đến năm 2005 đạt 614 triệu tấn Năm 2006 đạt 644,1 triệu tấn Năm 2007 tăng lên 651,7 triệu tấn Năm 2008 tăng lên 685 triệu tấn Năm 2012 tiếp tục tăng lên 718,34 triệu tấn
Trang 17Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới trong vài thập kỷ gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Trang 18Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những năm đầu của thế kỷ XXI, các nước trồng lúa đều có xu hướng hạn chế sử dụng các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn là số lượng làm cho năng suất lúa có xu hướng chững lại hoặc tăng không đáng kể Tuy nhiên, ở những nước có nền nông nghiệp phát triển, năng suất lúa vẫn cao hơn hẳn Điều này được chứng minh qua số liệu thống kê của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu trên Thế giới [33]
Châu Á là vùng đông dân cư và cũng là vùng sản xuất lúa trọng điểm trên Thế giới, có diện tích lúa 145,5 triệu ha và sản lượng 650,0 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 44,6 tạ/ha, chiếm 95,0 % sản lượng thóc trên Thế giới, nước có sản lượng lúa lớn nhất Thế giới là Trung Quốc đạt 204,2 triệu tấn và thứ hai là Ấn Độ đạt 152,6 triệu tấn, đồng thời Châu Á cũng là nơi tiêu thụ khoảng 90 % sản lượng gạo Thế giới [33]
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước
có sản lượng lúa hàng đầu Thế giới
(Triệu ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lƣợng (Triệu tấn)
Trang 19Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo số liệu của Bảng 1.2 thì trong 10 nước trồng lúa có sản lượng lúa hàng đầu thế giới đã có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu lục khác đó là Braxin (Nam Mỹ) Riêng 8 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Bangladest, Việt Nam, Mianma, Pakistan chiếm 84,1 % sản lượng lúa của Thế giới Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước có năng suất cao hơn hẳn đạt 67,4 tạ/ha (Trung Quốc) và 56,3 tạ/ha (Việt Nam) Điều đó có thể lý giải là
vì Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển lúa lai và người dân nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ thâm canh cao
Trung Quốc: là một nước có dân số đông nhất Thế giới (trên 1,3 tỷ người), trong vài thập niên gần đây có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ƯTL ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 67,4 tạ/ha, sản lượng năm 2012 đạt 204,2 triệu tấn cao nhất Thế giới [31]
Việt Nam ta cũng là nước có năng suất lúa cao đứng hàng thứ 2 trong
10 nước trồng lúa chính, đạt 56,3 tạ/ha Thái Lan tuy là nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu Thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt 30,0 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài ngày, chất lượng cao [6]
Theo dự báo của Ban nghiên cứu Kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của Thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn
Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng 50% tổng lượng gạo xuất khẩu của Thế giới Một số nước khác cũng
sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo Thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara Châu Phi, Bangladesh, Philippin, Brazil [10]
Sản lượng gạo trên Thế giới tăng, nhưng không tăng nhanh bằng mức tăng dân số, thêm vào đó diện tích trồng trọt giảm và thời tiết không thuận lợi
là một trong những nguyên nhân làm giá gạo biến động mạnh
Trang 20Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Giá gạo thị trường Thế giới: Giai đoạn 1998 - 2000 diễn biến trong khoảng 160 - 320 USD/tấn (loại 25 % tấm); giai đoạn 2001 - 2005 giá gạo Thế giới xuống thấp dao động trong khoảng 170 - 270 USD/tấn Từ 2006 trở lại đây giá gạo liên tục tăng Nguyên nhân chính làm cho giá gạo tăng vọt là nguồn cung gạo từ các Quốc gia đang trên đà công nghiệp hoá như Ấn Độ giảm sút Tại các Quốc gia này một phần đáng kể diện tích trồng lúa đã chuyển mục đích sử dụng Thành quả của cuộc "Cách mạng xanh" ở Ấn Độ trong thập niên 60 của thế kỷ 20 đã làm cho sản lượng lúa gạo tăng vọt trong nhiều năm, làm cho nhiều Quốc gia lơ là trong chính sách với ngành lúa gạo Việc giá lúa gạo suy giảm liên tục cũng làm cho những người nông dân trồng lúa không quan tâm đến việc gia tăng năng suất Bên cạnh đó, việc giảm thêm nguồn cung cũng là một nguyên nhân đẩy giá gạo tăng cao, vào lúc người ta thấy lúa gạo dự trữ, sản lượng sản xuất đang giảm sút, một số Quốc gia trên Thế giới đã phản ứng một cách quá đáng hoặc nỗ lực tìm kiếm nguồn cung để nhập khẩu cho Quốc gia (như Philippin) Nhiều Quốc gia khác lại lo lắng an ninh lương thực nên đã cấm xuất khẩu gạo (như Ấn Độ), chính những yếu tố này đã làm gia tăng thêm cơn hoảng loạn đẩy giá tăng vọt có lúc lên hơn 1.000 USD/tấn [5]
Trong “Báo cáo chiến lược về an ninh lương thực Quốc gia đến năm
2020 và tầm nhìn 2030” Bộ Nông nghiệp và PTNN năm 2008 [31] đã dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên Thế giới đến năm 2020:
- Trong 10 năm tới, sản xuất lúa gạo trên Thế giới tăng chậm do hạn chế việc mở rộng diện tích gieo cấy, một số nước có diện tích lúa lớn có xu hướng giảm và năng suất lúa kém ổn định khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai dịch bệnh [31]
+ Diện tích sản xuất lúa: trong 10 năm tới, dự báo diện tích trồng lúa
sẽ không tăng nhiều và ở mức khoảng 151,5 triệu ha Hầu hết các nước Châu
Á đều không có hoặc có rất ít khả năng mở rộng diện tích đất trồng lúa Một
Trang 21Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
số nước như Thái Lan, Inđônesia, tiểu vùng Saharan của châu Phi có thể mở rộng một phần diện tích trồng lúa nhưng cũng chỉ bù vào phần diện tích đất lúa sẽ bị thu hẹp của các nước có diện tích lớn như Trung Quốc, Ấn Độ do thiếu nguồn nước và nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích khác Mặt khác, theo dự báo biến đổi khí hậu và nguy cơ mực nước biển dâng cao sẽ dẫn đến một phần diện tích đất nông nghiệp vùng ven biển, chủ yếu là đất trồng lúa sẽ
bị ngập hoặc nhiễm mặn
+ Về sản lượng gạo: theo Bộ nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo toàn cầu năm 2008 đạt 420,8 triệu tấn Dự báo trong 10 năm tới nếu không có những đột biến về thiên tai và sâu bệnh hại trên quy mô lớn, sản lượng gạo tăng bình quân khoảng 0,6 %/năm, đạt mức khoảng 440,2 triệu tấn vào năm 2017 Yếu
tố để tăng sản lượng gạo trong 10 năm tới chủ yếu là tăng năng suất dựa trên
cơ sở phát triển thủy lợi, áp dụng giống tốt và cải tiến kỹ thuật canh tác lúa Tuy nhiên, việc thâm canh tăng năng suất lúa phụ thuộc nhiều vào nỗ lực của Chính phủ các nước trong việc đầu tư phát triển thủy lợi, sản xuất và cung ứng đủ nguồn phân bón, vật tư sản xuất khác
- Tiêu dùng gạo trên Thế giới tiếp tục tăng do tăng dân số, đặc biệt ở Châu Á, Châu Phi là khu vực sử dụng nhiều lúa gạo; khu vực Tây bán cầu và Trung Đông tăng mức tiêu thụ gạo trên đầu người [31]
+ Bộ nông nghiệp Mỹ đánh giá: nhu cầu gạo năm 2008 là 424,5 triệu tấn, tăng 1 % so với năm trước và so với nguồn cung thiếu hụt khoảng 4 triệu tấn, do đó giá gạo trên Thế giới sẽ tiếp tục tăng và đứng ở mức cao trong thời gian dài Trong 10 năm tới dự báo mức tiêu dùng gạo Thế giới tăng bình quân 0,6 %/năm và dự kiến tổng mức tiêu dùng gạo khoảng 441,2 triệu tấn vào năm 2017, trong đó: gạo dùng làm lương thực khoảng 406,8 triệu tấn (92,2
%), gạo dự trữ có xu hướng giảm chỉ còn khoảng 72,7 triệu tấn năm 2017 và giảm 4,5 triệu tấn so với hiện nay
Trang 22Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Trong giai đoạn 2007 - 2017, tiêu dùng gạo Thế giới tăng phần lớn là
do nhu cầu nhập khẩu tăng ở Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Philippines và tiểu vùng Sahara của châu Phi (chiếm khoảng 2/3 mức tăng cầu toàn Thế giới), một số nước Tây bán cầu tăng lượng gạo nhập khẩu như: Braxin, Cuba
- Nhiều Quốc gia xuất khẩu gạo lớn giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với cầu, giá gạo trên thị trường Thế giới giữ ở mức cao Theo Bộ nông nghiệp
Mỹ, thương mại gạo toàn cầu năm 2008 là 29,4 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn so với năm 2007 Dự báo lượng gạo thương mại trên Thế giới trong thập kỷ tới
sẽ tăng bình quân 2,4 %/năm và sẽ đạt mức 35 triệu tấn vào năm 2017 Tuy nhiên, trước nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, một số nước như Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan, Mỹ giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhiều nước tăng lượng nhập khẩu Do thiếu hụt nguồn cung sẽ làm cho giá gạo Thế giới duy trì giữ ở mức cao trong trung và dài hạn [31]
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho phát triển cây lúa
Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu Lúa ở Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu
là ĐB Sông Hồng, ĐB Sông Cửu Long và ĐB Duyên hải miền Trung Trong
đó, ĐB Sông Cửu Long (2,1 triệu ha) và ĐB Sông Hồng (1,7 triệu ha) được coi là 2 vựa lúa chính của cả nước
Về giá cả, Bộ công thương cho biết: Mặc dù bối cảnh chung thị trường xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, xuất khẩu gạo của Việt Nam những tháng đầu năm 2010 vẫn tăng mạnh về số lượng, lúa hàng hóa được tiêu thụ với mức giá tốt nhất, không ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Trang 23Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Dân số Việt Nam vẫn tăng nhanh, đạt xấp xỉ 87 triệu người năm 2010 trong khi quỹ đất dành cho trồng lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất là
ĐB sông Hồng gần như việc tăng năng suất thêm nữa là rất khó khăn Tập quán sản xuất nhỏ, quy mô gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ gia đình Trình độ khoa học công nghệ, kiến thức thị trường của nông dân còn nhiều hạn chế
Đứng trước tình hình đó, chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: Phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha
để sản xuất lúa phục vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đạt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả “4 nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt được kết quả như mong đợi
Cần tập chung phát triển sản xuất lương thực ở những vùng và tiểu vùng trọng điểm, phấn đấu tăng sản lượng lương thực bình quân đầu người trên 450 kg/người/năm, nâng cao chất lượng sản xuất và chế biến lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu dung, dự trữ và xuất khẩu
Trong những năm gần đây, diện tích cấy lúa tăng không đáng kể nhưng
do năng suất cây lúa được cải thiện mà sản lượng lúa không ngừng tăng lên từ 32,5 triệu tấn thóc năm 2000 đến năm 2012 là 43.6 triệu tấn [33]
Trong các năm từ 2000 - 2007 việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng Vì thế mặc dù việc thâm canh tăng vụ rất được chú trọng, song tổng diện tích lúa thu hoạch hàng năm từ năm 2000 - 2007 đang giảm dần Năm
2008, diện tích đất trồng lúa có tăng nhưng không đáng kể Đến năm 2012 sản lượng lúa nước ta đạt 43,6 triệu tấn tăng 34 % so với năm 2000; năng suất 56,3 tạ/ha đạt cao nhất từ trước đến nay Đây là dấu hiệu đáng mừng cho ngành trồng lúa nước ta
Trang 24Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
những năm gần đây
(Triệu ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lƣợng (Triệu tấn)
Trang 25Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới
* Sơ lƣợc lịch sử chọn tạo giống lúa trên Thế giới
Theo Gurdev S Khush trong bài khai mạc hội thảo “Lúa lai và sự thay đổi trong hệ thống nông trang” do hiệp hội các nhà khoa học trẻ có triển vọng tổ chức tại Đại học Kyushu, Nhật Bản từ 22 - 24/11/2008 [22] cho biết lịch sử chọn tạo giống lúa trên Thế giới chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn chọn lọc: 1901 - 1949
Cây lúa được chọn tạo xuất hiện sớm nhất ở khu vực châu Á, xuất hiện đầu tiên ở Maligaya (Philippines) vào năm 1902, Nishigahara (Japan) vào năm 1903, Bogor (Indonesia) năm 1905, Mandalay (Burma) năm 1907 Đây
là khu vực được coi là cái nôi của nghề trồng lúa nước, là nơi tập trung rất đa dạng nguồn gen cây lúa Tuy nhiên ở giai đoạn này chủ yếu là chọn tạo các giống lúa thuần có năng suất thấp
Giai đoạn lai tạo: 1950 - 1960
Giai đoạn này, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo Bên cạnh đó các nhà khoa học còn tập trung nghiên cứu những giống lúa có khả năng chống lại sự xâm nhiễm của cỏ dại, dịch bệnh và sự tàn phá của côn trùng
Giai đoạn Cách mạng xanh: 1961 - 2000
Cuộc cách mạng xanh đã làm cho năng suất và sản lượng lúa trên Thế giới tăng lên một cách rõ rệt, đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cung cấp cho người dân Tuy nhiên diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp, tốc độ đô thị hoá gia tăng Mặt khác, giá lúa tăng chậm trong khi đó giá vật tư đầu vào tăng cao không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử dụng ruộng đất khó có thể tăng cao hơn, nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang trồng các giống lúa có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn
Trang 26Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trước sự suy giảm về năng suất lúa các nhà khoa học đang nghiên cứu tạo ra những giống lúa mới cho năng suất cao đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tế sản xuất Từ những giống lúa truyền thống ban đầu dần được cải tiến tạo ra giống năng suất cao, lúa lai, giống lúa thế hệ mới
Có ba giống lúa thế hệ mới được đưa ra sản xuất đại trà tại tỉnh Vân Nam Trung Quốc với năng suất bình quân đạt 13 tấn/ha, năng suất cao nhất đạt 15,2 tấn/ha
* Những thành tựu đạt trong công tác chọn tạo giống lúa mới trên Thế giới
Châu Á là vùng trồng nhiều lúa nhất trong đó có các trung tâm nghiên cứu hàng đầu về lúa đặt tại đây Phải kể đến đầu tiên là Viện nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (International Rice Research Institute) (IRRI) ở Los Banos, Philippines đã bắt đầu chương trình thu thập, bảo tồn và đánh giá nguồn gen các giống cổ truyền và các cây lúa dại từ năm 1962 Từ khi thành lập đến nay IRRI đã lai tạo, chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt phổ biến khắp Thế giới, tiêu biểu như các dòng IR, Jasmi Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và Jasmin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên Thế giới Trên cơ sở một số
Trang 27Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
giống lúa chất lượng cao Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lượng Vitamin và Protein cao, có mùi thơm, cơm dẻo vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng [2]
Trung Quốc là nước đầu tiên trên Thế giới sử dụng lúa lai trong sản xuất đại trà Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm 1976, diện tích gieo cấy lúa lai ở Trung Quốc mới là 13,3 nghìn ha cho đến nay lúa lai đã phổ biến rộng rãi trong cả nước Năm 1983, Bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và nghề cá của Trung Quốc đã coi lúa lai là hạng mục trọng điểm về tiến
bộ kỹ thuật nông nghiệp để phát triển gieo cấy vụ Xuân Thành tựu nghiên cứu và sản xuất lúa lai của trung Quốc đã đạt được giải thưởng đặc biệt về phát minh năm 1981 Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 dòng" và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước [24] Chương trình phát triển lúa lai giữa các loài phụ Indica và Japonica được bắt đầu từ năm 1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng, mở ra tiềm năng
về năng suất cao cho các giống lúa lai hai dòng [21] Những tổ hợp giữa các loài phụ như: Chen 232/26 Zhazao; 3037/02428 và 6154S/Vaylava đưa ra ở Trung Quốc nhưng không được sử dụng trong sản xuất đại trà, vì cây F1 quá
to, bông quá lớn, số dảnh ít, dạng lá rộng Năm 1992 diện tích gieo trồng lúa lai của Trung Quốc là 15.000 ha với năng suất trung bình đạt 9 - 10 tấn/ha, năng suất cao nhất đạt 17 tấn/ha [3] Đến năm 2001 diện tích lúa lai 2 dòng đạt 2,5 triệu ha Một số tổ hợp lai hai dòng điển hình có năng suất đạt hơn 10,5 tấn/ha ở điểm trình diễn và năng suất trung bình trên diện rộng là 9,1 tấn/ha Đã có những tổ hợp lúa lai 2 dòng mới đạt 12 - 14 tấn/ha trong ô thí
Trang 28Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệm [30] Hầu hết các tổ hợp lai hai dòng đều cho năng suất cao, phẩm chất tốt hơn so với tổ hợp lai ba dòng [3] Gần đây hướng nghiên cứu phát triển lúa lai một dòng là mục tiêu cuối cùng và rất quan trọng của công tác chọn tạo lúa lai của Trung Quốc Ý tưởng của Yuan L.P là cố định ưu thế lai
và sản xuất lúa lai thuần đã trở thành đề tài lớn, quan trọng trong các chương trình Quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ cao
Diện tích lúa lai của Trung Quốc đã tăng trở lại từ 14 triệu ha năm 2003 lên 15,8 triệu ha năm 2007, chiếm 53,4 % diện tích lúa toàn Trung Quốc (85 % diện tích lúa lai toàn châu Á), đóng góp một phần rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho Quốc gia đông dân nhất Thế giới này Hiện tại có tới 40 Quốc gia ở châu Á, châu Mỹ và châu Phi tham gia vào tiến trình nghiên cứu phát triển lúa lai Chương trình nghiên cứu siêu lúa lai (super hybrid rice) của Trung Quốc được khởi động từ năm 1996 và cho đến nay diện tích siêu lúa lai của Trung Quốc đã đạt trên 1,5 triệu ha với năng suất bình quân 10 tấn/ha, cao hơn lúa lai 3 dòng tới 20 %, một số tổ hợp cho năng suất tới 17 - 18 tấn/ha trên diện hẹp
Các nhà khoa học Trung Quốc đang lập kế hoạch nghiên cứu nhằm nâng năng suất siêu lúa lai của họ lên 13,5 tấn/ha trên diện rộng vào năm
2015 Hiện tại các nhà khoa học Trung Quốc đang đẩy mạnh sử dụng những tiến bộ về công nghệ sinh học như lai xa, chuyển gen nhằm tạo ra những tổ hợp bố mẹ siêu lúa lai không những cho năng suất cao, chất lượng tốt mà còn kháng được những sâu bệnh hại chủ yếu Dòng phục hồi R8006 mang gen kháng bạc lá dùng để tạo ra các tổ hợp siêu lúa lai mới như Quốc Hào (1,3,6), Nhị ưu 8006, Tiên ưu 6 là ví dụ điển hình [12]
Sự phát triển thành công của công nghệ sản xuất lúa lai ở Trung Quốc
đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên Thế giới Hiện nay có 17 nước trên Thế giới nghiên cứu và sản xuất lúa lai đã đưa tổng diện tích lúa lai của
Trang 29Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thế giới lên tới khoảng 10 % tổng diện tích trồng lúa và chiếm 20 % tổng sản lượng lúa gạo toàn Thế giới, song phát triển mạnh nhất vẫn là Việt Nam và
Ấn Độ Lúa lai đã thực sự mở ra hướng phát triển mới để nâng cao năng suất, sản lượng lúa cho xã hội loài người
Ấn Độ là nước đi đầu trong cuộc “Cách mạng xanh” và thành công lớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất Trong công tác nghiên cứu giống lúa, Viện nghiên cứu giống lúa Trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck, bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Ngoài ra tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan trọng ở Madras, heydrabat, Kerala hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệt đới (ICRISAT) Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên Thế giới như: Basmati, Brimphun Mặt khác, Ấn
Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai tốt được sử dụng ở Ấn Độ như: IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI 136, 2RI
158, 3RI 160, 3RI 086, PA - 103 Một trong những giống lúa chất lượng cao
do các nhà khoa học Ấn Độ chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam công nhận năm 2007
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu Thế giới Với những ưu đãi của thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ có chiến lược chú trọng đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục vụ nhu cầu
Trang 30Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong nước và xuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho chúng ta thấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của Việt Nam Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng Thế giới của Thái Lan là: Khaodomali, Jasmin [2]
Đối với Nhật Bản, công tác giống lúa cũng được đặc biệt chú trọng về giống chất lượng cao vì người Nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, các Viện và các Trạm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó
có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Saga là những nơi diện tích trồng lúa lớn Trong công tác nghiên cứu giống lúa ở các Viện, các nhà khoa học Nhật Bản đã tập trung lai tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao như giống: Miyazaki1 và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13 %, hàm lượng Lysin cũng rất cao [8]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam
* Sơ lược lịch sử chọn tạo giống lúa ở Việt Nam
Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa ở các nước châu Á Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm Trước công nguyên Tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay [34]
Trang 31Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 đồng bằng Bắc bộ và Nam Bộ
là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ/ha và sản lượng thóc tương ứng 2,4 - 3,0 triệu tấn Trong thời gian này chủ yếu là các giống lúa cũ, ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ đổ, năng suất thấp [34]
Từ năm 1963 - 1965, ở những vùng chuyên canh lúa do diện tích nhiều, thường có một số diện tích cấy chậm, bị muộn thời vụ Nhờ tiến bộ kỹ thuật đã đưa vào một số giống lúa Xuân thấp cây, ngắn ngày đã đảm bảo được thời vụ Đã chuyển vụ lúa Chiêm thành vụ lúa Xuân, chuyển từ Xuân sớm thành Xuân chính vụ đạt 80 - 90 % diện tích và thời kỳ 1985 - 1990 sang Xuân sớm là 5 - 10 % và 70 - 80 % là Xuân muộn Một số giống lúa Xuân đã
có năng suất cao hơn hẳn lúa chiêm, có thể cấy được cả hai vụ chiêm Xuân và
vụ Mùa Do thay đổi cơ cấu sản xuất lúa, kết hợp với áp dụng hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới nên sản xuất lúa ở Việt Nam ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể [34]
Từ năm 1979 đến 1985, sản lượng lúa cả nước tăng từ 11,8 - 15,9 triệu tấn, nguyên nhân là do ứng dụng giống mới, tăng diện tích và năng suất Tính riêng 2 năm 1988 và 1989 sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn/năm
Từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam đã
có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, đưa nước ta từ chỗ là nước thiếu
ăn triền miên đã không những đảm bảo đủ lương thực cho nhu cầu trong nước
mà còn xuất khẩu 7,5 triệu tấn gạo năm 2012, đứng hàng thứ 2 trên Thế giới
về các nước xuất khẩu gạo [34]
* Một số kết quả đạt được trong nghiên cứu giống lúa ở Việt Nam
Việt Nam được coi như cái nôi của nền văn minh lúa nước Vai trò của cây lúa vô cùng quan trọng đối với đời sống của người dân Việt Nam mà không có cây trồng nào thay thế được
Trang 32Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhiệm vụ của công tác chọn tạo giống cây trồng là trong một thời gian ngắn tạo ra những giống cây trồng mới có năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và yêu cầu của nền kinh tế quốc dân [11]
Giống lúa là một trong những biện pháp quan trọng trong việc tăng năng suất, sản lượng lương thực Trong thực tiễn sản xuất ở nhiều địa phương cho thấy nếu có cơ cấu giống phù hợp với điều kiện tự nhiên và sử dụng loại giống có độ thuần cao, phẩm chất giống tốt thì có khả năng làm tăng năng suất từ 15 - 20 % hoặc cao hơn [17]
Nhận thấy tầm quan trọng của cây lúa Nhà nước ta một mặt đầu tư vào sản xuất, mặt khác còn đầu tư vào công tác nghiên cứu toàn diện về cây lúa, trong đó có công tác giống Muốn tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng lương thực, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần vào việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước thì việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất có khả năng cho năng suất cao thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác của từng địa phương là vấn đề không thể thiếu
Hiện nay, cả nước có trên 30 đơn vị nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng mới, trong đó 15 đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, 7 đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo, 1 thuộc Viện Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia và 2 thuộc Bộ Công thương Bên cạnh đó, còn có hàng chục công ty trong nước và nước ngoài đang thực hiện các hoạt động nghiên cứu chọn tạo hoặc nhập nội giống phục vụ sản xuất
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam là một trong những cơ quan nghiên cứu hàng đầu của ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và cây lúa nói riêng Viện đã lai tạo, nhập nội, chọn lọc và đưa ra sản xuất rất nhiều
Trang 33Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
giống lúa mới như C37, CN2, C180, V15, VX83, NR11, [21] Trong những năm gần đây, Viện đã không ngừng nghiên cứu và tạo ra các dòng giống lúa mới như: Giống BM9603 do tác giả Thái Thị Hoà và cộng sự chọn tạo đã được công nhận là giống Quốc gia năm 2000 Mới đây là giống BM 9855 được tạo ra từ tổ hợp lai/VN10/Lemont do Lê Vĩnh Thảo lai tạo, chọn lọc, được công nhận giống Quốc gia 2003 [16]
Viện Cây Lương thực và Thực phẩm: Trải qua quá trình hoạt động Viện đã đưa ra hàng chục giống lúa chất lượng và được bà con ưa chuộng Trong đó có giống PC6 là giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, có chất lượng gạo ngon: hạt gạo dài, trong, không bạc bụng, tỷ lệ xát 68,5 %, hàm lượng amylose từ 18 - 19 %, cơm mềm, gạo ngon [4] Ngoài ra, Viện còn nghiên cứu chọn giống lúa chống chịu khô hạn với phương pháp thu thập nguồn vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địa phương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ IRRI với phương pháp lai hữu tính kết hợp với gây đột biến để tạo
ra các tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá và năng suất cao như CH2, CH3,
CH 133, CH5 trồng rộng rãi ở vùng Trung du miền núi phía Bắc, Trung bộ, Đông Nam bộ và Tây nguyên
Viện Bảo Vệ Thực Vật: đã tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC93-1 phục vụ sản xuất lượng thực ở vùng cao.Với phương pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn được giống LC93-1
có thời gian sinh trưởng 115 - 125 ngày, năng suất 3 - 4 tấn/ha, chịu hạn khá, chất lượng gạo tốt, thích hợp cho vùng đồng bào dân tộc nghèo ở vùng cao giống lúa phẩm chất cao phục vụ đồng bằng sông Cửu Long [32]
Viện Di Truyền nông nghiệp Việt Nam: Từ khi thành lập đến nay, với đội ngũ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: chọn giống, sinh học phân tử, nuôi cấy tế bào Đặc biệt trong lĩnh vực chọn tạo giống lúa, nhiều giống lúa của Viện được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất
Trang 34Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mang lại lợi nhuận đáng kể cho người dân, góp phần phát triển nền sản xuất nông nghiệp Các giống lúa do Viện chọn tạo ra: DT10, DT13, A20, CM1, DT122, HD1 [19]
Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long [32]:
+ Tạo giống lúa chịu hạn bằng dấu chuẩn phân tử:
- Đã xác định được 31 giống chống chịu khô hạn chiếm 42,46 % từ 73 giống lúa cạn của IRRI Giống cứng cây và bông nhiều là BP225 D-TB 6-8, IR78933-B-24-B-B-31, IR78933-b-24-B-b-4, IR65191-3B-2-2-2-2, BP227 D -M R -2-12
- Các dòng triển vọng đã được phân lập và so sánh năng suất là: OM6840, OM6863, OM6872, OM6862, OM6162, OM6867, OM6868, OM6869, OM7344, OM7379, M7340, OM7338, OM7261, OM8901, OM8900, OM8902 Trong đó có 1 giống OM6840 được đưa vào khảo nghiệm Quốc gia Viện đang tiếp tục chuyển khảo nghiệm Quốc gia 5 giống mới trong vụ Đông Xuân 2010 là giống OM8901, OM8900, OM7379, OM7340, OM8902 Một giống đã được công nhận sản xuất thử như: OM6162, OM6162
+ Nghiên cứu chọn tạo giống lúa xuất khẩu cho đồng bằng sông Cửu Long:
- Giống lúa được Bộ công nhận chính thức: OM4900, OM6073, OM4498, OM5930
- Giống lúa được Bộ công nhận sản xuất thử: OM6161, OM5628, OM5625, OMCS2009, OM6377, OM6877, OM5954, OM5629, OM6600, OM6071, OM5981, OM3689, OM6032
+ Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu mặn và phẩm chất tốt cho ĐBSCL và phía Bắc:
- Xác định được 14 giống bố mẹ kháng mặn tốt; 47 dòng lúa triển vọng chống chịu mặn tốt; 8 markers thích hợp cho phân tích SSR và xử lý đột biến được 9 giống
Trang 35Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Lai tạo được 235 tổ hợp lai; thanh lọc mặn nhân tạo 1352 dòng lúa và phân tích SSR150 dòng lúa
- Nuôi cấy mô 8 giống lúa, tạo được 382 dòng tái sinh đang trồng nhà lưới và nuôi cấy túi phấn của 8 tổ hợp lai thế hệ F1, tạo được 25 dòng tái sinh
- Kết quả chọn dòng SC2 từ 2 giống lúa Một bụi đỏ và Tép hành đột biến thu được 212 cá thể có dạng hình mong muốn và chọn dòng DH2 từ 20
tổ hợp lai thu được 380 cá thể có dạng hình mong muốn
+ Nghiên cứu chọn tạo các giống lúa thơm chất lượng cao có khả năng kháng rầy cho vùng đồng bằng sông Cửu Long:
- Thực hiện được 371 tổ hợp lai đơn và 159 tổ hợp lai ba, 70 tổ hợp lai kép; chọn được 3509 cá thể ở thế hệ F2; chọn được 4881 cá thể ở thế hệ F3; chọn được 400 dòng F4
- Chọn được 600 dòng đột biến ở thế hệ M3 và 456 dòng độnt biến ở thế hệ M4 trên các giống OM4900, Jasmin85, OM6162 và chọn được 93 dòng đột biến ở thế hệ M2 và 453 dòng đột biến ở thế hệ M3 trên các giống Nàng nhen, Hoa sữa và Nàng thơm Chợ Đào
- Nuôi cấy túi phấn (NCTP) được 9 tổ hợp lai F1, tạo được 182 dòng tái sinh
- Tạo biến dị soma: Thực hiện thí nghiệm tạo biến dị soma cho 2 giống lúa DS20 và VND95-20 Kết quả thu nhận 47 dòng tái sinh ở giống DS20,
135 dòng ở giống VND95-20
- Giống OM4088 và OM2496-15 đã được công nhận giống tạm thời (theo Quyết định số 197QĐ-TT-CLT ngày 18-6-2009 của Cục trưởng cục trồng trọt), trong thời gian tới giống OM6072, OM4101, OM4218, OM8923, OM5166 sẽ được làm thủ tục để công nhận giống tiếp
+ Chọn thuần và phục tráng các giống lúa chủ lực Cửu long 8 (CL8)
và OM2395
Trang 36Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Nghiên cứu chọn tạo giống lúa giàu vi chất dinh dưỡng và có năng suất, chất lượng cao, kết quả đạt được:
- Giống OM5199 được Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận là giống chính thức
- Giống OM5472 được Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận là giống sản xuất thử và được hội đồng KHCN cấp cơ sở đề nghị Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận giống chính thức vào đầu năm 2010
- Giống OM5464 và OM5451 đã được hội đồng KHCN cấp cơ sở đề nghị Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận giống sản xuất thử vào đầu năm
- Giống Khang Dân 18 là giống lúa thuần có xuất xứ từ Trung Quốc đặc điểm chủ yếu là thời gian sinh trưởng ngắn, vụ Xuân từ 125 đến 130
Trang 37Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ngày, vụ Mùa từ 100 đến 105 ngày, đẻ nhánh khá, đẻ gọn, chống chịu bệnh đạo ôn khá, chống chịu bệnh bạc lá và bệnh khô vằn nhẹ, hạt gạo dài, trong, cơm dẻo Năng suất cao và ổn định, trung bình đạt từ 60 đến 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 85 đến 90 tạ/ha
Xu hướng tăng tỷ lệ giống chất lượng để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước nhằm nâng cao giá trị ngành trồng lúa đang được các địa phương và nông dân quan tâm Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ gieo trồng giống chất lượng ngắn ngày và đặc sản dài ngày tăng cao, chiếm trên 55% diện tích, đã góp phần quan trọng tăng giá trị xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua Vùng Đồng bằng sông Hồng cũng đang chuyển dịch theo hướng tăng giống lúa chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa trong bữa ăn hằng ngày của nông dân Do đó cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng trong công tác chọn tạo giống lúa và phục tráng các giống lúa địa phương cổ truyền
* Đặc điểm của một giống lúa tốt
Một giống lúa tốt cần thỏa mãn những yêu cầu sau:
- Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác của địa phương: Mỗi địa phương đều có điều kiện sinh thái khác nhau nên có các giống lúa riêng thích ứng với từng vùng đó Trong một vùng lại có các mùa vụ khác nhau mà mỗi vụ lại có một giống phù hợp
vì thế ở mỗi địa phương luôn trồng một số giống lúa khác nhau, trên cả nước có rất nhiều giống lúa
- Cho năng suất cao, ổn định: Một giống lúa phải cho năng suất cao khi
áp dụng đầy đủ các biện pháp kỹ thuật canh tác, đồng thời, năng suất lúa phải
ổn định ở những năm khác nhau trong giới hạn của sự biến động khí hậu, thời tiết qua các năm
- Có tính chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
Trang 38Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Có chất lượng đáp ứng yêu cầu sử dụng: Ngày nay, khi mà lúa gạo đã
đủ thì các giống lúa tốt ngoài năng suất cao cần có chất lượng tốt
- Hạt giống có chất lượng gieo trồng cao: Hạt giống là sản phẩm trực tiếp của giống, là vật tư đặc biệt trong sản xuất lúa Một giống lúa tốt cần có hạt giống với chất lượng gieo trồng cao thì khi cấy mới có hiệu quả
Chất lượng gieo trồng của một lô hạt giống được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
+ Độ đúng giống: Sự đồng nhất về mặt di truyền giữa các hạt giống Độ thuần càng cao càng tốt
+ Sức nảy mầm: Khả năng nảy mầm đồng đều và cho cây mầm bình thường vào ngày thứ 4 sau khi gieo trong điều kiện nảy mầm tối ưu Sức nảy mầm càng cao thì hạt giống càng khỏe và sự nảy mầm càng đồng đều khi gieo trên ruộng Hạt giống tốt cần có sức nảy mầm trên 90%
+ Tỷ lệ nảy mầm: Khả năng nảy mầm tối đa của hạt Chỉ tiêu này nói lên các hạt đang sống và có khả năng phát triển thành cây
+ Độ sạch: Là mức độ không lẫn tạp các chất khác vào lô hạt giống Tất
cả các phần tử không phải là hạt lúa nguyên vẹn đều được xếp vào tạp chất; như vậy, cọng rơm rạ, cát, sỏi, hạt gạo, hạt lúa vỡ, trấu, sâu mọt, tàn dư của bệnh hoa cúc…đều là tạp chất Lô hạt giống tốt cần độ sạch trên 99,5% Khi công nghiệp chế biến hạt giống phát triển, người ta có thể tăng độ sạch lên 99,9%
+ Độ ẩm: Độ ẩm tiêu chuẩn của lô hạt giống cần đạt 13,5% Khi độ ẩm vượt quá giới hạn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tỷ lệ nảy mầm Trong khi bảo quản hạt giống, nếu độ ẩm vượt quá mức tiêu chuẩn cần phơi hoặc sấy lại [11]
* Đặc điểm của một giống lúa thuần cao sản:
- Thời gian sinh trưởng: 110 - 130 ngày
- Chiều cao cây: 90 - 115 cm, thuộc loại hình thấp cây, thân cứng, khả năng chống đổ tốt cả khi được bón với lượng phân cao
Trang 39Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Các yếu tố cấu thành năng suất đều ở mức khá:
+ 7 - 10 bông/khóm
+ 130 - 200 hạt/bông
+ KL1000 hạt: 25 - 30 gram
+ Tỉ lệ hạt lép: 5 - 10%
- Các giống lúa thuần cao sản còn có cấu trúc kiểu cây phù hợp để tạo
ra cấu trúc ruộng lúa năng suất cao như: lá thẳng, góc lá đòng nhỏ, lá đòng vươn lên phía trên bông, thân chụm để tạo được mật độ bông cao Bộ lá lúa lâu tàn giúp cây quang hợp tận khi các hạt trên bông lúa đã chín dần đến hạt được tỷ lệ gạo lật rất cao (có thể đạt 84%)
Tiềm năng năng suất của các giống lúa thuần cao sản thuộc nhóm kiểu cây mới có thể đạt 15 tấn/ha; các giống lúa gieo cấy phổ biến cho năng suất
70 - 80 tạ/ha khi được canh tác với lỹ thuật hợp lý [11]
Trang 40Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm
STT Tên dòng
(Giống)
Vai trò Loài phụ Nguồn gốc Ghi chú
* Giống ĐS1: Là giống lúa thuần thuộc dòng Japonica được Viện Di
truyền nông nghiệp di thực từ Nhật Bản về Việt Nam nghiên cứu, chọn tạo và tuyển chọn, được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống quốc gia năm
2010 Đây là giống lúa chất lượng cao, có khả năng chịu rét tốt, chống sâu bệnh khá, thời gian sinh trưởng vụ xuân từ 145 – 155 ngày, vụ mùa là 110 –
120 ngày, chiều cao cây 105 – 110cm, mạ khoẻ, chống đổ Chất lượng gạo ngon, gạo trong, độ bạc bụng thấp, cơm mềm và ngon, có mùi thơm nhẹ Khả năng thích nghi hẹp
* Giống Khang Dân 18: Là giống lúa thuần có xuất xứ từ Trung Quốc,
khả năng thích ứng rộng, thời gian sinh trưởng ngắn, vụ xuân từ 125 đến 130 ngày, vụ mùa từ 100 đến 105 ngày, đẻ nhánh khá, đẻ gọn, chống chịu bệnh đạo ôn khá, chống chịu bệnh bạc lá và bệnh khô vằn nhẹ, hạt gạo dài, trong,