Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất nông nghiệp hiện có, góp phần bảo vệ môi trường.. Mục ti
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của sản xuất nông nghiệp, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường hoạt động sản xuất ở nông thôn, một bộ phận quan trọng của môi trường sống Tuy vậy, đất đai là một nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng, cố định về vị trí không gian, không thể di chuyển theo sự sắp đặt chủ quan của con người Do sức ép của sự gia tăng dân số và nhu cầu khai thác, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng Vì vậy, chiến lược
sử dụng đất đai hợp lý, phát triển nông nghiệp sinh thái hợp lý là một vấn đề cấp bách của tất cả các nước trên thế giới cũng như của nước ta hiện nay Nông nghiệp là một ngành sản xuất những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm, là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết, các nước trên thế giới đều phải xây dựng nền kinh tế trên cơ
sở phát triển nông nghiệp, khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp để phát triển các ngành khác Mục đích của việc sử dụng đất đai là làm thế nào bắt nguồn tư liệu có hạn này mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài
Thái Nguyên là một tỉnh ở đông bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và là một tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Cùng với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới của cả nước, trong những năm qua nền kinh tế của Thái Nguyên có những bước phát triển đáng kể Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên
nông nghiệp có tầm quan trọng
lớn đối sự phát triển của huyện Vì vậy việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả nhằm đem lại nhiều hơn những sản phẩm cho xã hội có ý nghĩa rất lớn đối
Trang 4với tỉnh Thái Nguyên nói chung, huyện Đồng Hỷ nói riêng Do phải chịu sức
ép về gia tăng dân số nên một số năm gần đây trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ chưa chú trọng đúng mức việc sử dụng đất đai mà chỉ quan tâm đến năng suất sản lượng cây trồng Chính vì vậy, hệ sinh thái nông nghiệp
đã bị thay đổi đáng kể và tính hợp lý trong hệ thống nông nghiệp không được duy trì Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ làm thoái hoá đất đai đặc biệt là ở các vùng sản xuất chuyên canh
Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất nông nghiệp hiện có, góp phần bảo vệ môi trường Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“ đề xuất giải pháp sử
trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ là cơ sở định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai theo hướng phát triển nông nghiệp hợp lý
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao mức thu nhập của người dân
- Đề xuất các giải pháp sử dụng đất sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp hợp lý
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Là căn cứ nhằm giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách tham khảo, cân nhắc để hoàn thiện chủ trương, chính sách hỗ trợ người dân có đất sản xuất nông nghiệp sử dụng đúng mục đích, có hiệu kinh tế quả cao Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực tiễn để đánh giá chung hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển hợp lý
Trang 53.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài ngoài việc đóng góp để giải quyết vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt kinh tế, xã hội và môi trường theo hướng phát triển hợp lý dựa trên các kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các địa phương có cùng hoàn cảnh
4 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, phát hiện ưu, nhược điểm của các loại hình sử dụng đất đang được áp dụng trên địa bàn huyện
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại trong quá trình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả và phù hợp điều kiện thực
tế ở địa phương
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
1.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Theo Luật đất đai 2003 trong phân loại đất thì đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây "đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”
Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích trồng trọt trên toàn thế giới còn khoảng gần 15 tỷ ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên trái đất, trong đó
có khoảng 973 triệu ha là đất vùng núi Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới
544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất do sử dụng đất không hợp lý [43] Theo Tổng cục Thống kê, tổng diện tích đất nông nghiệp thời điểm 1-1-
2011 gần 26,21 triệu ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp gần 10,13 triệu ha (hơn 38,64%), đất lâm nghiệp gần 15,4 triệu ha (hơn 58,6%)… Tại thời điểm trên, đất trồng lúa hơn 4,12 triệu ha, giảm khoảng 32 nghìn ha so 5 năm trước Dân số là 83.121,0 triệu người, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 1.132,75 m2/người, bình quân đất lâm nghiệp là 1.765,78 m2/người So sánh với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp hàng thứ 4, nhưng dân số lại xếp hàng thứ 2 nên bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực
Theo quy hoạch sử dụng đất đến giai đoạn 2010 - 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, diện tích đất nông nghiệp tăng từ 8.793.783 ha (năm 2005) lên 9.363.063 ha (năm 2010) Tuy nhiên, dân số nước ta cũng tăng từ
Trang 777.635.400 người (năm 2005) lên 86.408.856 người (năm 2010) Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của cả nước lại có xu thế giảm từ 0,113 ha (năm 2005) xuống 0,108 ha (năm 2010) Như vậy, trong 5 năm (2005-2010), bình quân diện tích đất nông nghiệp giảm 50 m2/người, hàng năm giảm
5 m2/người Đây là con số còn rất khiêm tốn (theo báo cáo số 193/BC-BTNMT ngày 06/9/2012 của Bộ Tài nguyên Môi trường)
Đáng báo động hơn là tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp
do rửa trôi, xói mòn, khô hạn và sa mạc hoá, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá, thoái hoá lý hoá học đất, ô nhiễm Suy thoái chất lượng đất dẫn tới việc giảm khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học và nhiều hậu quả khác Những tác động tiêu cực trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp hợp lý ở nước ta Mặt khác, việc sử dụng đất còn lãng phí, chỉ tính riêng ở 68 nông trường quốc doanh và 33 vùng kinh tế mới và chuyên canh trước đây đã có trên 30.000 ha sau khi khai hoang lại bị bỏ hoá trở lại, không đưa vào sản xuất nông, lâm nghiệp Để sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và hợp lý cần quan tâm quản lý tốt cả về số lượng và chất lượng đất đai
Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, sử dụng đất có hiệu quả nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất
1.1.2 Sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững
Đất đai ngày càng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nó không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai Khi dân số trên trái đất còn ít thì đất đai có thể đáp ứng một cách dễ dàng nhu cầu của con người về số lượng cũng như chất lượng, trong điều kiện ấy con người cũng ít có tác động lớn đến tài nguyên quí báu này Một vài thập kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh kéo theo những nhu cầu về lương thực, thực phẩm, chỗ ở… tăng lên tạo nên một sức ép vô
Trang 8cùng lớn đến vấn đề sử dụng đất, những diện tích đất đai màu mỡ ngày càng
bị thu hẹp trước những nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá… dẫn đến con người phải tìm cách khai thác những vùng đất ít thích hợp cho sản xuất Hậu quả của quá trình này là đất đai bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng làm một diện tích lớn đất đai trên thế giới bị suy kiệt, ngoài ra còn ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và nhiều loài động thực vật khác
Nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con người hiện tại cũng như thế hệ tương lai nên cần phải có những chiến lược sử dụng đất đảm bảo duy trì khả năng sản xuất của đất ở hiện tại cũng như tương lai Thuật ngữ “sử dụng đất hợp lý ” ra đời dựa trên những mong muốn trên Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và hợp lý luôn là mong muốn của con người trong suốt cả thời gian Việc sử dụng đất hợp lý là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai
Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai” trong sử dụng đất hợp lý bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp lý của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai
có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hoá Để duy trì được sự hợp lý của đất đai, Smyth AJ và Julian Dumanski (1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất hợp lý là [41]:
Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự
Trang 9thoái hoá chất lượng đất và nước
- Khả thi về mặt kinh tế
- Được xã hội chấp nhận
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất hợp lý không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất hợp lý, nếu trong thực tiễn đạt được cả năm nguyên tắc trên thì sự hợp lý sẽ thành công, ngược lại
sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự hợp lý có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998), việc sử dụng đất hợp lý dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
Khía cạnh xã hội của phát triển hợp lý cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều điện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển hợp
lý Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ
Trang 10một cách bình đẳng Khẳng định sự tồn tại và phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền
cơ bản của con người
1.1.3 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp:
Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học,
kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
Chú ý đầu tư có trọng điểm để tạo ra các vùng kinh tế làm động lực lôi cuốn nhưng không lãng quên đầu tư diện rộng nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư
1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Vùng khí hậu nhiệt đới ẩm là một vùng chiếm một diện tích rộng lớn của
thế giới và chứa các phần lãnh thổ của khoảng 60 quốc gia (hoàn toàn hay
một phần trong vùng sinh khí hậu này) Việc sử dụng sáng suốt tài nguyên đất
Trang 11và nước trong vùng nhiệt đới ẩm là những vấn đề chủ yếu của toàn thế giới hiện tại, vì những sự tương tác giữa dân số con người, các yếu tố xã hội - kinh
tế và chính sách, với tài nguyên thiên nhiên của các vùng sinh thái mong manh này Quản lý sai lầm tài nguyên đất và các hệ thống nông nghiệp dựa trên tài nguyên không hiệu quả đang gây ra sự xuống cấp nghiêm trọng các vùng sinh thái này cùng với tình trạng thiếu lương thực, suy dinh dưỡng và nghèo nàn đang đeo bám dai dẳng các cộng đồng dân cư Hiện nay nhiều diện tích rộng lớn của rừng mưa nhiệt đới đang bị biến mất hàng năm do lửa rừng, búa rìu, cưa xích, máy ủi, và thuốc khai quang, để sản xuất lương thực nuôi sống một dân số không ngừng tăng lên, nguyên liệu cho công nghiệp, và nông sản hàng hoá để xuất khẩu cũng như để phát triển cơ sở hạ tầng cho những người nhập cư mới đến khu vực và cho nhu cầu công nghiệp hoá Các phương pháp không tương thích về mặt sinh thái của sự chuyển hoá rừng, các hệ thống sử dụng đất không phù hợp, và sự quản lý đất và hoa màu không khoa học dựa trên các kỹ thuật bóc lột độ phì của đất, đã thúc đẩy xói mòn đất, góp phần ô nhiễm các mặt nước tự nhiên, phá vỡ cân bằng nước và năng lượng ở các hệ sinh thái với các cấp độ từ vi mô cho đến trung và vĩ mô, và phá vỡ các chu trình của các nguyên tố (ví dụ, C, N, và S) cùng với các hệ quả sinh thái toàn cầu Một hệ quả toàn cầu chính của sự mất, đốt, và chuyển hoá rừng thành các hệ thống sử dụng đất không hợp lý là sự phóng thích của những lượng lớn CO2 và các chất hoạt động phóng xạ hay các khí gây hiệu ứng nhà kính vào khí quyển Nếu các phương pháp chuyển hoá rừng, sử dụng đất và các hệ thống nông nghiệp được cải thiện dựa trên các hiểu biết khoa học không được chấp nhận rộng rãi trong tương lai gần, sự nhiễu loạn lớn trong các hệ sinh thái mong manh của rừng mưa nhiệt đới có thể dẫn tới sự xuống cấp không hồi phục được của đất và môi trường
Trang 121.2.1 Các hệ thống canh tác chính trong vùng nhiệt đới ẩm
Vì các hệ thống canh tác trong vùng nhiệt đới dựa ít hay không dựa vào các nhập lượng từ bên ngoài và được tiến hành trên đất không màu mỡ, chúng thường có hiệu quả và năng suất thấp Các hệ thống này có các đặc trưng sau:
- Rất đa dạng và phức tạp, nông dân gieo trồng đồng thời đến 12 loài hoa màu trên cùng mảnh đất, vì đa canh là phương thức phổ biến
- Dựa vào tài nguyên và thâm canh lao động, với sự phụ thuộc tối thiểu vào các nhập lượng mua từ bên ngoài Sự phục hồi độ phì của đất dựa trên thời gian bỏ hoá dài Thời gian canh tác so với thời gian bỏ hoá phụ thuộc vào khí hậu, thảm thực vật, loại đất, và áp lực dân số
- Quy mô nông trại nhỏ (1-2 ha) phù hợp để quản lý bởi hộ gia đình và sản xuất thủ công
1.2.2 Sự xuống cấp của đất trong vùng nhiệt đới ẩm
Tổng diện tích bị xuống cấp do các tiến trình suy thoái của đất khác nhau trên thế giới được ước lượng vào khoảng 2 tỷ ha Diện tích đất bị xuống cấp lớn nhất là ở Châu Á (38%) và Châu Phi (27%) Phần lớn sự xuống cấp này gây ra bởi sự xói mòn gia tốc, là một vấn đề nghiêm trọng trong vùng nhiệt đới ẩm Tải lượng vật liệu bồi lắng cao đã được báo cáo từ các vùng ẩm của Costa Rica, Malaysia, Panama, Papua New Guinea, Australia, Philippines, và Thái Lan Mức
độ xuống cấp của đất cao được quan sát trong các vùng nhiệt đới ẩm của Trung
Mỹ, Châu Phi, và Châu Á Sự xói mòn do nước xảy ra nghiêm trọng và phổ biến trong các vùng ẩm của Đông Nam Châu Á, bao gồm Mianma, Thái Lan, Malaysia, và Indonesia; nhiều đảo trong Thái Bình Dương và Châu Đại Dương; dọc theo các dãy núi của vùng bờ biển Thái Bình Dương ở Trung Mỹ, bao gồm vùng Đông Nam Mexico, Honduras, Nicaragua, và Costa Rica; và trong các vùng bị nhiễu loạn mạnh của lưu vực Amazon [42]
Trang 13Sử dụng đất không phân biệt và thâm canh để sản xuất hoa màu theo mùa hay lập vùng chăn thả gia súc có mật độ cao, các hệ thống sản xuất dựa vào tài nguyên không hay chỉ sử dụng rất ít nhập lượng mua từ bên ngoài vào
để trả lại dưỡng liệu bị lấy đi trong khi thu hoạch hoa màu và động vật, bản thân đất rất nghèo dưỡng liệu, và môi trường khắc nghiệt là một số yếu tố chịu trách nhiệm dẫn tới nhịp độ xuống cấp nhanh chóng của đất được quan sát trong vùng nhiệt đới ẩm Tính chất nghiêm trọng của sự xuống cấp của đất là
là do tác dụng tương hỗ giữa các nguyên nhân, yếu tố, và tiến trình của sự xuống cấp của đất Các nguyên nhân hay các tác nhân của sự xuống cấp của đất là các động lực xã hội-kinh tế và văn hoá, được thúc đẩy bởi các biến số dân số học (ví dụ mật độ dân số và sự di dân); các lý do chiến lược của sự mất rừng để tạo ra khả năng tiếp cận các tài nguyên có tiềm năng, bao gồm chính sách quốc gia và các yếu tố định chế như sự hỗ trợ hậu cần và kỹ thuật; tập quán về quyền sử dụng đất; và vài đặc trưng văn hoá và dân tộc học xác định nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên Các yếu tố của sự xuống cấp của đất
có liên quan đến các tài nguyên tự nhiên, bao gồm khí hậu vi mô và trung quy
mô, thuỷ văn, địa hình và cảnh quan, thảm thực vật, sử dụng đất, và các hệ thống quản lý đất và hoa màu Các yếu tố thể hiện các tài nguyên tự nhiên, hoạt động sử dụng đất, và mức nhập lượng dựa trên khoa học để khai thác các tài nguyên Tác dụng tương tác của các nguyên nhân và các yếu tố này kích hoạt vài cơ chế và tiến trình dẫn tới sự suy giảm khả năng chống chịu và chất lượng đất, chất lượng môi trường, và sức sản xuất của cơ sở tài nguyên [47]
1.3 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hợp lý
1.3.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
a Một số vấn đề lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất:
Trang 14Hiệu quả là một thuật ngữ mà con người thường dùng để chỉ mục tiêu cho mọi hành động có chủ đích Và sau này trong ngôn ngữ học phát triển, cụm từ “hiệu quả” được hiểu như một phạm trù triết học Quan niệm khá
“nguyên thuỷ” của một nhà kinh tế học người Mỹ, Peter F, Drucker, giáo sư
về quản lý tại New York University, cho rằng: Xét cho cùng mang lại hiệu quả “effect” là cái mà mỗi người khi làm bổn phận của mình, dù trong môi trường nào đều mong đợi công việc được hoàn tất đúng Thật vậy trước kia khi nhận thức còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một Về sau xã hội càng văn minh, nhận thức con người phát triển lên thì dần
đi đến sự phân biệt kết quả và hiệu quả Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả, được đề cập đến mọi đối tượng, dù là quản lý lao động chân tay hay mọi lĩnh vực kinh tế xã hội
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới, nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các
Trang 15loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xã hội và môi trường Sử dụng đất hợp lý là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó
* Hiệu quả kinh tế:
Là hiệu quả do tổ chức bố trí sản xuất hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn Như vậy hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hay một quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác các yếu
tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý Nó biểu hiện bằng
hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xác định bằng cách so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh trình độ
và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu
Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm
để đạt được các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế tài chính
* Hiệu quả xã hội:
Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
* Hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường
Trang 16của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường
do tác động vật lý dẫn đến
Hiệu quả môi trường là hiệu quả đảm bảo tính hợp lý cho môi trường trong sản xuất và xã hội Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại quan tâm, được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật
b) Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra Cụ thể là tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp hợp lý
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất hợp lý
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Trang 17Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đảm bảo tính so sánh có thang bậc
Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định chỉ tiêu chính, chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn
đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học, phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Xuất phát từ bản chất của hiệu quả là nói lên mối quan hệ giữa kết quả
và chi phí, mối quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả là:
H= (K - C)/C H= (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó: H: Hiệu quả
K: Kết quả C: Chi phí
0 và 1 là chỉ số về thời gian Tuỳ vào các hệ thống tính toán khác nhau mà các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả sẽ khác nhau Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp có những sự khác nhau tuỳ vào từng hệ thống kinh tế
- Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
* Hiệu quả kinh tế
Trang 18+ Giá trị sản xuất GO (Gross Output): Là toàn bộ giá trị sản phẩm được
tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian IC (Intermediate Cost): Đó là toàn bộ chi phí vật
chất trực tiếp cho sản xuất như: giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thuỷ lợi phí, thuê máy móc, chi phí công lao động…
Công thức: IC = n
i
Ci
1
Trong đó: Ci: Là khoản chi phí thứ i
+ Giá trị gia tăng VA (Value Added): Là giá trị tăng thêm hay giá trị
sản phẩm mới tạo ra trong quá trình sản xuất VA=GO - IC
+ Thu nhập hỗn hợp NVA (Net Value Added): Là phần trả cho người
lao động (cả lao động chân tay và lao động quản lý) cùng tiền lãi thu được trên từng loại hình sử dụng đất Đây chính là phần thu nhập đảm bảo đời sống người lao động và tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng
Ta có: NVA = VA - Dp - T (Dp là khấu hao tài sản cố định, T là thuế
sử dụng đất)
+ Giá trị ngày công lao động(Hlđ):
Hlđ=VA/số công lao động/ha/năm
+ Hiệu quả đồng vốn (hiệu quả trên một đơn vị chi phí) = NVA/IC
* Hiệu quả xã hội:
+ Nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội, khoa học, kỹ thuật: Kết quả của quá trình sử dụng đất phải đưa lại những lợi ích như nâng cao trình độ dân trí và những hiểu biết xã hội Kiến thức, kinh nghiệm của
Trang 19người nông dân có thể được trau dồi thông qua các hoạt động như đưa các tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hay sự nhạy bén đối với thị trường khi sản xuất hàng hoá phát triển Ngoài ra, khi đạt được hiệu quả kinh tế, người dân có điều kiện học tập hay đầu tư kiến thức cho bản thân hay con em mình
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân: Sử dụng đất đạt hiệu quả trước hết phải đảm bảo được những yêu cầu về lương thực, thực phẩm cho người dân Đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đảm bảo lương thực được đặt lên hàng đầu Điều này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt thoả mãn các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống cho sự tồn tại và cả về mặt ổn định chính trị, xã hội
+ Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng: Mỗi vùng có những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau, có vai trò khác nhau trong sự nghiệp phát triển chung Nền kinh tế muốn phát triển thì các ngành, các vùng cần có những bước đi đúng đắn và phù hợp Sử dụng đất nói chung
và đất nông nghiệp nói riêng nên tuân thủ theo những định hướng mang tính chiến lược
+ Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân: Hệ thống nông nghiệp thu hút nhiều lao động, mang lại lợi ích cho người lao động sẽ giải quyết được vấn đề việc làm, giảm nạn thất nghiệp, giảm các tiêu cực trong xã hội góp phần ổn định và phát triển đất nước
+ Góp phần định canh, định cư: Thực tế cho thấy, hình thức du canh, du
cư không những làm cho cuộc sống thiếu ổn định mà còn gây nên tình trạng suy thoái môi trường đất, nước Sử dụng đất có hiệu quả là phải góp phần giúp người dân định canh, định cư, yên tâm đầu tư sản xuất
* Hiệu quả môi trường:
Trong sử dụng đất luôn có sự mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất, cá nhân trước mắt với những lợi ích xã hội, lâu dài Việc người dân khai thác từ
Trang 20đất nhiều hơn, trong khi cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên Vì vậy, một số tiêu chí đưa ra khi đánh giá đến hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là:
+ Tăng độ che phủ rừng, giảm thiểu thiên tai
+ Cải tạo, bảo tồn thiên nhiên
+ Sự thích hợp môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
1.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
1.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật (1994) trong quá trình phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu những ảnh hưởng khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng nhưng đều có điểm chung là cùng giải quyết các vấn đề sau:
Trang 21- Nâng cao năng suất, chất lượng nông sản phẩm và tăng hiệu quả đầu
tư trong nông nghiệp
- Chiều hướng chung là đầu tư nhiều lao động trí óc, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, giảm lao động chân tay, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức
Từ những mục đích trên tuỳ thuộc vào sự đầu tư và chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nên sự phát triển của nông nghiệp của mỗi nước
có sự phát triển nhưng nhìn chung là theo hai hướng chính sau:
- Nông nghiệp công nghiệp hoá
- Nông nghiệp sinh thái
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ bởi vì tính phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những
xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội biểu hiện trong mọi hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển mới ở mức cao, là
sử dụng đất kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp và hợp lý vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng Đó là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và hợp lý
1.4.2 Xu hướng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Theo văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006), định hướng phát triển ngành nông lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 sẽ là:
- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường
và điều kiện sinh thái của từng vùng Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công
Trang 22nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng
và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong
và ngoài nước Quy hoạch hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất, nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo vệ môi trường
- Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cao chất lượng Đảm bảo an ninh lương thực trong mọi tình huống Xây dựng các vùng sản xuất tập trung, có chính sách bảo đảm đảm lợi ích của người sản xuất lương thực
- Bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao độ che phủ của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hoá lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm lâm nghiệp sống được bằng nghề rừng Kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp, đẩy nhanh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu, nâng cao giá trị sản phẩm rừng
- Chú trọng tạo và sử dụng giống cây có năng suất, chất lượng và giá trị cao Đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất xây dựng một số khu công nghệ cao
- Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác, từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn
- Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 4,0 - 5,0% Năm 2010 tổng sản lượng lương thực đạt khoảng
40 triệu tấn Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16 - 17% Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng
Trang 231 hợp lý
Ngày nay, sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại
1.5 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nhiều chương trình và dự án khai thác sử dụng đất đã được triển khai thực hiện ở nhiều nước trên thế giới như: Chương trình khai thác và sử dụng đất, chương trình giải quyết sức kéo nông nghiệp và thức ăn gia súc, chương trình phát triển thuỷ lợi, sản xuất hàng hoá đặc sản xuất khẩu, chương trình bảo vệ đất ở những nơi có hệ sinh thái bị phá vỡ và chương trình việc làm, sử dụng lao động nông thôn Mỗi chương trình có mục tiêu chủ yếu khác nhau, nhưng tựu chung lại các chương trình đều nhằm mục đích khai thác sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn
Ở Inđônêxia, Luật đất đai ghi rõ người dân có quyền sử dụng trong 10 năm, quyền sở hữu không được vĩnh viễn khi Nhà nước có nhu cầu xây dựng công trình công cộng Các chương trình bảo vệ đất cũng đã được thực hiện nhằm bảo vệ các vùng đất bậc thang và trồng cây theo đường đồng mức Ngoài ra, Chính phủ ưu tiên hàng đầu cho chương trình phát triển lương thực nhằm tìm ra các giống cây trồng lương thực, cây đậu đỗ phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái Kết quả là đã tạo được một số giống ngô có năng suất cao chất lượng tốt, ví dụ: Giống ngô trắng Bague có thời gian sinh trưởng 90 ngày, năng suất đạt 4 - 5 tấn/ha so với giống ngô cũ chỉ đạt 1 - 2 tấn/ha; hoặc cây lúa Miến là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao, làm thức ăn cho người và gia súc có năng suất đạt 3,50 tấn/ha có thể trồng tái giá, sức chống chịu sâu bệnh tốt với đầu tư chi phí thấp
Trang 241.5.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
1.5.2.1 Hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp
Tại Việt Nam, đất đai càng có vai trò quan trọng do bình quân đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng trên đầu người thấp Chính vì thế, từ khi giành được độc lập được đến nay, chính sách đất nông nghiệp và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta Hơn nữa, trong một nước còn hơn 70% dân cư sống ở nông thôn thì chính sách đất nông nghiệp còn có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc
Tuy được coi trọng và thực tế chính sách đất nông nghiệp đã được triển khai trong nhiều năm, nhưng việc hoạch định và thực thi chính sách đất nông nghiệp ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần phải xem xét thấu đáo hơn Nhất là
từ khi đổi mới quản lý kinh tế đến nay, việc nhà nước can thiệp như thế vào phân bổ và sử dụng đất nông nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn đang gặp nhiều lúng túng Trên thực tế đã nảy sinh không ít hiện tượng phức tạp, bức xúc như nông dân mất đất dẫn đến đói nghèo hơn, nông dân trì hoãn, thậm chí phản đối chính sách giải phóng mặt bằng của nhà nước, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động không hiệu quả với các vụ đầu cơ gây sốt đất, quản lý nhà nước về đất đai còn lỏng lẻo, tranh chấp, khiếu kiện đất đai không giảm, Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực đổi mới chính sách đất nông nghiệp theo hướng coi hộ nông dân là đơn vị tự chủ, nông dân được quyền sử dụng và quản lý ruộng đất được nhà nước giao Ngày 08/01/1988, Quốc hội thông qua Luật đất đai với nội dung cơ bản khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý
1.5.2.2 Tác động kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng
Ngay từ năm 1960, các nhà khoa học đã nghiên cứu đưa ra giống lúa xuân ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, tạo ra sự kiện chuyển
Trang 25biến rõ nét trong sản xuất ở đồng bằng sông Hồng Sau đó, trong vài thập kỷ trở lại đây, hàng năm ở nước ta đã đưa ra một số giống cây trồng mới có năng suất cao vào sản xuất: Giống lúa xuân số 5, số 6 cho năng suất đạt tới
65 - 70 tạ/ha Giống ngô Bioseed; giống LVN10; LVN11 đạt năng suất trung bình 55 - 65 tạ/ha, nếu thâm canh tốt năng suất có thể đạt 80 - 90 tạ/ha Các giống cây thực phẩm như đỗ, đậu tương, lạc, cũng được chú trọng nghiên cứu để luân canh với ngô, lúa
1.5.2.3 Xây dựng hệ thống canh tác và mô hình sử dụng đất phù hợp với các vùng
Vấn đề luân canh, tăng vụ, chuyển vụ để sử dụng tốt hơn các điều kiện
về đất đai, khí hậu, thời tiết và nguồn lao động trong nông thôn Cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Đối với đất trồng lúa vùng Đồng bằng sông Hồng, dựa trên đánh giá hiện trạng và khả năng hiệu quả chuyển đổi theo tác giả Bùi Thị Ngọc Dung sẽ chuyển từ 1 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa bấp bênh sang lúa + cá kết hợp với trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm Với loại hình sử dụng đất lúa hai vụ (vùng ven biển thuộc tỉnh Ninh Bình và Thái Bình) chuyển sang trồng cói Đất lúa hai vụ ở các xã ven các đô thị lớn chuyển sang trồng rau sạch, hoa và cây cảnh Các huyện ven biển sẽ tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản do chuyển từ đất lúa một vụ
Trang 26Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất sản xuất nông nghiệp và vấn đề liên quan đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
xã Linh Sơn, xã Cây Thị
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thuỷ văn, thực vật
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, dịch vụ, và cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, công trình phúc lợi )
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
* Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất theo các chỉ tiêu: + Giá trị sản xuất
Trang 27+ Chi phí trung gian
+ Lợi nhuận
+ Tỷ suất lợi nhuận
* Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội là một chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ đề cập đến các chỉ tiêu sau:
+ Mức độ thu hút lao động, khả năng giải quyết công ăn việc làm
+ Thu nhập của các nông hộ
+ Giá trị sản xuất trên công lao động
+ Đảm bảo an ninh lương thực
* Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của các loại hình sử dụng đất thông qua sự ảnh hưởng của các loại hình sử dụng đất đến một số tính chất lý hoá học của đất
2.2.4 Đề xuất sử dụng hợp lý đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
+ Quan điểm xây dựng định hướng
+ Căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hợp lý
+ Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ
+ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đảm bảo tính hợp lý
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Chọn tiểu vùng điều tra: Chọn 2 tiểu vùng theo bản đồ hành chính dọc theo bờ sông cầu phía trên và phía dưới với tiêu chí mỗi tiểu vùng có diện tích trồng các loại cây trồng phổ biến của địa bàn lớn, có điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau Cụ thể 2 tiểu vùng tương ứng với các xã có điều kiện kinh tế phát triển, trung bình và kém:
Tiểu vùng 1 thuộc thị trấn Chùa Hang, xã Khe Mo, xã Hoà Bình
Tiểu vùng 2 thuộc thị trấn Trại Cau, xã Linh Sơn, xã Cây Thị
Trang 28- Chọn hộ điều tra : Chọn ngẫu nhiên 10 hộ/xã trong tiểu vùng với tiêu chí các nông hộ có trồng với diện tích khá lớn một trong các loại cây trồng phổ biếnj của huyện
2.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập các số liệu và thông tin sơ cấp cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từ các cơ quan nhà nước, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng thống kê, phòng Kế hoạch
- tài chính, trung tâm khai thác công trình thuỷ lợi huyện
- Điều tra khảo sát thực địa để đánh giá hiện trạng sử dụng đất
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thống kê xử lý bằng phần mềm EXCEL, số liệu bản đồ
được quét, số hoá
, biểu đồ và bản đồ
2.3.4 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên 1ha đất của các loại hình sử dụng đất (LUT) sản xuất nông nghiệp, đề tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:
* Hiệu quả kinh tế:
Trang 29+ Giá trị sản xuất (GTSX) là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định thường là một vụ (hoặc một năm) Với
hệ thống cây trồng, GTSX là giá trị của sản lượng trên một đơn vị diện tích
+ Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ chi phí vật chất được tính bằng tiền tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó
+ Giá trị gia tăng (GTGT) là hiệu số giữa GTSX và CPTG, đó chính là sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
+ Thu nhập thuần (TNT) là giá trị thu được sau khi đã trừ đi CPTG và tiền công lao động (TCLĐ)
TNT = GTSX - (CPTG + TCLĐ)
+ Tỷ suất lợi nhuận = TNT*100/GTSX
* Hiệu quả về mặt xã hội:
+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm (công/ha)
+ Giá trị sản xuất trên công lao động (GTSX/LĐ)
+ Thu nhập của các nông hộ
* Hiệu quả về mặt môi trường:
Thông qua đánh giá hiện trạng độ phì nhiêu đất dưới một số loại hình
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn;
Phía Nam giáp huyện Phú Bình - thành phố Thái Nguyên;
Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang;
Phía Tây giáp huyện Phú Lương - thành phố Thái Nguyên
Huyện Đồng Hỷ có vị trí khá thuận lợi, nằm sát trung tâm thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp lớn của tỉnh, với hệ thông giao thông đường bộ khá phát triển (Quốc lộ 1B, tỉnh lộ 269 nối huyện với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang ), tạo điều kiện thuận lợi cho Đồng Hỷ trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như việc tiếp cận các thành tựu khoa học, kỹ thuật và góp phần thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đó chính là động lực để Đồng Hỷ có thể phát triển kinh tế đa dạng với các ngành: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch
và nông lâm nghiệp
Trang 31Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 323.1.1.2 Địa hình
Mang đặc điểm chung của vùng đồi núi, địa hình của huyện nhìn chung chia cắt phức tạp, có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, có độ cao trung bình 80 m so với mặt nước biển và phân thành 3 vùng khá rõ rệt: Vùng Đông Bắc: Là vùng có địa hình núi cao, chia cắt mạnh, tạo ra nhiều khe suối hiểm trở; Vùng Tây Nam: Có địa hình núi, đồi thấp, xen kẽ là những cánh đồng; Vùng ven sông Cầu: Là vùng có địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, với nhiều cánh đồng rộng lớn, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
Trang 33Nhìn chung nguồn tài nguyên đất đai huyện Đồng Hỷ khá đa dạng về loại đất Đất bằng có độ dốc <80% tương đối thuận lợi cho trồng cây hàng năm với diện tích khoảng 7.000 ha, diện tích thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả khoảng 4.500 ha còn lại chủ yếu dành cho việc phát triển lâm nghiệp
- Tài nguyên nước:
Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được khai thác chủ yếu từ nguồn nước mặt bởi các hệ thống sông, suối bao gồm hệ thống sông Cầu, suối Linh Nham, suối Thác Zạc, suối Ngàn Me và hàng trăm sông suối, ao hồ, đập chứa, kênh mương khác Tuy nhiên, phần lớn mặt nước các sông suối đều thấp hơn mặt bằng đất canh tác và các khu dân cư khá lớn gây hạn chế đáng kể tới khả năng khai thác sử dụng vào sản xuất và đời sống
- Tài nguyên rừng và thảm thực vật: Hiện tại toàn huyện có 21.210 ha diện tích đất lâm nghiệp có rừng Độ che phủ của rừng đạt 46,09% song phân
bố không đồng đều giữa các khu vực trên địa bàn huyện Nhìn chung, thảm thực vật trên địa bàn huyện Đồng Hỷ khá phong phú và đa dạng về chủng loại, có điều kiện để xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và rừng kinh tế có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên những năm trước đây, rừng bị chặt phá, khai thác khá nhiều Do vậy, hiện tại rừng Đồng Hỷ phần lớn là rừng nghèo, trữ lượng lâm sản ít
- Tài nguyên khoáng sản: Đồng Hỷ nằm trong vùng sinh khoáng Đông
Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Trên địa bàn huyện có nhiều mỏ và các điểm quặng:
Quặng sắt là loại khoáng sản có trữ lượng lớn nhất của huyện bao gồm:
Trang 34+ Cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng lớn khoảng 20 triệu tấn với hàm lượng 58.8 - 61.8% được xếp vào loại chất lượng tốt
+ Cụm mỏ sắt Linh Sơn - Tiến Bộ nằm trên trục đường tỉnh lộ 259 gồm nhiều mỏ có quy mô trung bình từ 1 - 3 triệu tấn Tổng trữ lượng quặng phong hoá đạt trên 30 triệu tấn
+ Quặng chì kẽm làng Hích, làng Mới và các điểm quặng nhỏ phân bố không tập trung Quặng vàng sa khoáng phân bố rải rác khắp các vùng phía Đông và phía Bắc huyện, trữ lượng nhỏ Quặng Phốt pho rít tập trung tại Làng Mới, trữ lượng khoảng 20 - 30 vạn tấn
Có thể nói tài nguyên khoáng sản ở Đồng Hỷ rất phong phú có trữ lượng lớn như sắt, vật liệu xây dựng thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng
* Tài nguyên nhân văn: Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc với bản
sắc đa dạng, khác nhau cùng sinh sống, hiện nay có 8 dân tộc anh em trên địa bàn huyện; trong đó: Kinh chiếm 63.75%; Nùng chiếm 13.6%; Sán Dìu chiếm 21.7%; H’Mông chiếm 1.7%; Hoa chiếm 0.17% và một số dân tộc khác
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế
Cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng tích cực; tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp giảm trong GDP Năm 2012 cơ cấu kinh tế đạt được như sau: công nghiệp - xây dựng 48,74%; dịch vụ 30,69%; nông lâm nghiệp, thuỷ sản 20,57%
Trang 35Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Đồng Hỷ
1 Tổng sản phẩm trong
- Tốc độ tăng trưởng % 13,01 10,71 13,31 12,27 1.1 Công nghiệp – XD
1.2 Nông, lâm, thuỷ sản
212
2 Cơ cấu kinh tế (GDP -
giá thực tế)
- Công nghiệp, xây dựng % 35,66 36,78 48,24 48,74
- Nông, lâm, thuỷ sản % 23,83 21,56 20,78 20,57
(Báo cáo tình hình kinh tế xã hội huyện Đồng Hỷ năm 2012)
Trong năm 2012, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương các cấp, với sự phấn đấu nỗ lực của các doanh nghiệp doanh nhân và nhân dân các dân tộc trong huyện, Đồng Hỷ đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 Nhiều chỉ tiêu chủ yếu đã đạt và vượt kế hoạch đề ra, cụ thể:
- Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản trên địa bàn (theo giá cố định 1994) đạt 1.450 tỷ đồng (tăng trên 300 tỷ so với năm 2012)
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 triệu USD, bằng 100% kế hoạch, tăng 19% so với cùng kỳ (trong đó chủ yếu là sản phẩm chè búp khô)
- Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (theo giá cố định 1994) đạt 307 tỷ đồng, bằng 97,7% kế hoạch, tăng 8,1% so với cùng kỳ
Trang 363.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:
Theo số liệu thống kê toàn huyện năm 2012 có khoảng 59.230 lao động, chiếm 45,95% dân số Trong đó lao động phi nông nghiệp chiếm gần 15% tổng số lao động; lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu chiếm trên 85% tổng số lao động Qua điều tra hàng năm lao động huyện mới chỉ sử dụng hết 78% quỹ thời gian lao động do thiếu việc làm Hiện nay có khoảng 3,6% lao động thường xuyên không có việc làm và khoảng 30% lao động nông nghiệp nhàn rỗi Số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ gần 85% tổng số lao động
Có thể nói nguồn lao động của huyện khá dồi dào song trình độ còn hạn chế Trong thời gian tới cần có các chính sách phát triển việc làm cho người dân Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đời sống nhân dân huyện Đồng Hỷ trong những năm qua đã được cải thiện Mức thu nhập của người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.2: Một số ỉ tiêu phản ánh mức thu nhập của người dân trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2010 - 2012
565
27.611
1.368 4,95
345
28.177
2.027 24,94
360
(Niêm giám thống kê huyện Đồng Hỷ năm 2010 - 2012)
Trang 37Nhìn chung, tình hình thu nhập và mức sống hiện nay của cộng đồng các dân tộc trong huyện còn ở mức thấp so với mức bình quân chung của cả nước Bình quân thu nhập trên đầu người năm 2012 đạt 28.888.000 đồng và mức thu nhập phân bố cũng không đồng đều giữa các vùng, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn với thành thị
3.1.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, văn hóa,
y tế, giáo dục
- Giao thông: Mạng lưới giao thông của huyện trong những năm qua không ngừng phát triển Hiện tại trên địa bàn huyện có gần 800 km đường giao thông, mật độ đường giao thông khoảng 1,74 km/km2
(chưa kể giao thông nội đồng), bao gồm: tuyến Quốc lộ 1B chạy qua địa bàn huyện dài 73,5 km; tuyến tỉnh lộ 259 dài 27,3 km; 11 tuyến đường huyện lộ dài 91,3 km chạy qua các xã và gần 600 km đường giao thông đô thị, nông thôn
- Thuỷ lợi: Tính đến năm 2011, toàn huyện đã xây dựng được 10 hồ, đập chứa nước và hàng trăm kilômét kênh mương nội đồng Nhìn chung,
cơ bản đáp ứng nước tưới cho diện tích gieo trồng lúa Ngoài ra còn góp phần tưới ẩm cho hàng trăm hécta cây công nghiệp, cây ăn quả, kết hợp nuôi trồng thuỷ sản và cung cấp nước sinh hoạt cho một bộ phận khá lớn dân cư khu vực nông thôn
- Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện ngày càng được hiện đại hoá Đến nay, 100% số xã đã được phủ sóng điện thoại, toàn huyện có 7.100 máy điện thoại cố định; 19,25 máy di động/100 dân; 18/18 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá
- Hệ thống điện: Mạng lưới điện Đồng Hỷ nằm trong hệ thống điện Miền Bắc, bao gồm 06 tuyến lưới điện 35 KV; 4 tuyến lưới điện 6 KV và hàng trăm km điện lưới 0,4 KV Mức độ điện khí hoá trên địa bàn huyện nhìn chung còn thấp, khả năng cung cấp và sử dụng hạn chế, chi phí tổn thất lớn
Trang 38Hiện tại các xã, thị trấn trong huyện đã được sử dụng điện lưới quốc gia Tỷ lệ
số hộ được dùng điện là 92,5%
- Về giáo dục và đào tạo: Tiếp tục thực hiện tốt các cuộc vận động và phong trào thi đua lớn của ngành; Duy trì nề nếp, kỷ cương trong các nhà trường; tăng cường công tác bồi dưỡng, ứng dụng công nghệ thông tin, thanh kiểm tra, hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm học 2012-2013, đảm bảo các kỳ thi tổ chức an toàn và nghiêm túc Kết quả học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,88%; tốt nghiệp THCS đạt 99,6%; tốt nghiệp THPT đạt 97,85%, hệ bổ túc THPT đạt 95,43% Toàn huyện có 320 em học sinh đỗ đại học nguyện vọng 1 (tăng 69 em so với năm học trước) Duy trì và giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS; xây dựng được 5/6 trường đạt chuẩn quốc gia, đưa tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 39/62 trường, bằng 62,9% Tổ chức đào tạo nghề cho 1.515 người, đạt 101% KH
- Y tế: Đến nay, trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện trung tâm, 1 phân viện Trại Cau, 01 phòng khám khu vực; 16 đội y tế xã, thị trấn; 56 cơ sở hành nghề y - dược - y học cổ truyền, có 215 cán bộ biên chế và hơn 300 nhân viên
y tế thôn, bản Bình quân trong toàn huyện khoảng 2.224 dân có 1 bác sỹ Mỗi trạm y tế đều có 4 - 6 giường bệnh và 4 - 6 cán bộ y tế phục vụ tại các trạm
- Văn hoá - Thể thao: Toàn huyện có 223 nhà văn hoá xóm (bản, tổ dân phố) được xây dựng khang trang; 15/18 xã, thị trấn đã quy hoạch được khu trung tâm văn hoá thể thao cơ sở; 04 xã; 27 xóm; tổ dân phố có tủ sách; 18/18
xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá; 300 cụm loa FM xóm, bản; 06 trạm truyền thanh cơ sở; 01 trạm truyền thanh nội thị và hàng trăm đội văn nghệ, thể thao, chiếu phim, thông tin lưu động
Trang 393.2 Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2012, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện tính đến hết 12/2012 là 45.524,44ha được phân bố theo 15 đơn vị hành chính xã và 03 thị trấn, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 37689.64 ha, chiếm 82,79% diện tích tự nhiên;
- Đất phi nông nghiệp: 4843.32ha, chiếm 10,64% diện tích tự nhiên;
- Đất chưa sử dụng: 2991.48 ha, chiếm 6,57% diện tích tự nhiên
Như vậy, hiện tại quỹ đất đai của huyện đã được đưa vào sử dụng các mục đích phát triển kinh tế - xã hội khá triệt để chiếm 93.43%
Trang 40Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2012
Thứ tự Mục đích sử dụng đất Mã đất Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%) Tổng diện tích tự nhiên 45.524,44 100
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 77,89 0,17 2.5 Đất sông suối và mặt nước
3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 2.003,71 4,40
(Nguồn: Số liệu kiểm kê đất đai năm 2012-Phòng TN & MT huyện Đồng Hỷ)