1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

100 753 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương đã không ngừng triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm thúc đẩy và phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng tới chủ

Trang 1

HÀ THỊ ANH

ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP

THỰC HIỆN TẠI XÃ NÔNG THỊNH

HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUANG DUỆ

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hà Thị Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Quang Duệ - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sau đại học – Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn UBND huyện Chợ Mới, UBND xã Nông Thịnh, các tổ chức chính trị, xã hội xã Nông Thịnh, bà con nhân dân xã Nông Thịnh đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Thái Nguyên, ngày 11 tháng 04 năm 2013

Tác giả luận văn

Hà Thị Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình vii

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp của đề tài 3

1.6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY

DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.3 Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới 38

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 45

Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ NÔNG THỊNH HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN 47

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 47

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 47

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 48

3.2 Đánh giá các chỉ tiêu của xã so với Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới của Thủ tướng Chính phủ 54

Trang 5

3.2.1 Tiêu chí 1: Tình hình lập và quản lý quy hoạch 54

3.2.2 Tiêu chí số 2: Đường giao thông 54

3.2.3 Tiêu chí số 3: Thủy lợi 55

3.2.4 Tiêu chí số 4: Hệ thống điện 56

3.2.5 Tiêu chí số 5: Trường học 56

3.2.6 Tiêu chí số 6: Cơ sở vật chất văn hóa 58

3.2.7 Tiêu chí số 7: Chợ 58

3.2.8 Tiêu chí số 8: Bưu điện 59

3.2.9 Tiêu chí số 9: Nhà ở của người dân 59

3.2.10 Tiêu chí số 10: Thu nhập 60

3.2.11 Tiêu chí số 11: Hộ nghèo 60

3.2.12 Tiêu chí số 12: Cơ cấu về lao động 61

3.2.13 Tiêu chí số 13: Hình thức tổ chức sản xuất 61

3.2.14 Tiêu chí số 14: Giáo dục 62

3.2.15 Tiêu chí số 15: Y tế 62

3.2.16 Tiêu chí số 16: Văn hóa 63

3.2.17 Tiêu chí số 17: Môi trường 64

3.2.18 Tiêu chí số 18: Đánh giá hệ thống chính trị 65

3.2.19 Tiêu chí số 19: Tình hình an ninh, trật tự xã hội 65

3.3 Đánh giá chung, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 66

3.3.1 Đánh giá chung 66

3.3.2 Hạn chế 70

3.3.3 Nguyên nhân 71

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ NÔNG THỊNH 72

4.1 Phương hướng, mục tiêu, lộ trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2011- 2020 72

4.1.1 Phương hướng xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 - 2020 72

4.1.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 - 2020 72

4.1.3 Lộ trình xây dựng nông thôn mới tại xã Nông Thịnh đến năm 2020 73

Trang 6

4.2 Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Nông Thịnh 73

4.2.1 Giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhân thức của người dân về xây dựng nông thôn mới 73

4.2.2 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện quy hoạch nông thôn mới tại xã Nông Thịnh 74

4.2.3 Giải pháp xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội 75

4.2.4 Giải pháp phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất 77

4.2.5 Giải pháp phát triển văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường 79

4.2.6 Giải pháp củng cố hệ thống chính trị 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

PTNT Phát triển nông thôn

CNH - HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa

KTTW-BNN Kinh tế trung ương – Bộ nông nghiệp

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã Nông Thịnh qua 3 năm (2010 - 2012) 49

Bảng 3.2: Tình hình lao động tại xã Nông Thịnh qua 3 năm 2010-2012 51

Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của xã qua 3 năm (2010 - 2012) 53

Bảng 3.4: Cơ sở vật chất trường học qua các năm 57

Bảng 3.5: Thực trạng kinh tế - xã hội theo các tiêu chí nông thôn mới 67

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình NTM 14

Hình 3.1: Cơ cấu kinh tế xã Nông Thịnh năm 2012 60

Hình 3.2:Cơ cấu lao động của xã trong 3 năm 2010 - 2012 61

Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức thoát nước cấp thôn 80

Hình 4.2: Sơ đồ nguyên tắc xử lý rác thải 80

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta đã xác định: “Hiện nay và

trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước”[8] Trong thời gian qua các cấp, các ngành từ trung ương đến

địa phương đã không ngừng triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm thúc đẩy và phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng tới chủ động giải quyết thiết thực các vấn đề đời sống và đáp ứng nhu cầu cho nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vươn lên có cuộc sống tốt hơn, đảm bảo phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế

Góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách

mà Đảng và Nhà nước đề ra, năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chọn xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Cạn đại diện cho các xã thuộc vùng Trung du Niềm Núi phía Bắc xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới cấp xã Sau 1 năm thực hiện đề án, tại đây bộ mặt nông thôn được thay đổi đáng kể về cơ sở hạ tầng, về kinh tế - xã hội, văn hoá - môi trường… tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần tích cực vào mục tiêu giảm nghèo của địa phương

Tuy nhiên, đây là chương trình mới nên trong quá trình thực hiện đề án

không tránh khỏi những bỡ ngỡ liên quan đến các lĩnh vực về xây dựng cơ bản, quy hoạch, kinh tế, văn hoá - xã hội… Mô hình áp dụng thực hiện với quy mô xã, do xã không phải là một đơn vị hành chính quản lý Nhà nước, cũng không phải là đơn vị hoạt động kinh tế nên một số nội dung của chương trình cấp xã không chủ động thực hiện được, do đó kết quả thực hiện xây dựng mô hình chưa cao

Trang 10

Tháng 4 năm 2009 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X có Thông báo

số 491 kết luận của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình xây dựng thí điểm mô

hình nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [1] Xã Nông

Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn được chọn xây dựng mô hình xã điểm đại diện cho khu vực Trung du niềm núi phía Bắc xây dựng nông thôn mới

Như vậy, sau 1 năm triển khai xây dựng mô hình thí điểm thì thực trạng xây dựng nông thôn mới ở xã Nông Thịnh đã và đang diễn ra như thế nào? Có đạt được mục tiêu đề ra hay không? Vai trò của người dân và các tổ chức xã hội được thể hiện như thế nào trong quá trình tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới? Thuận lợi, khó khăn của người dân và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở đây? Bài học kinh nghiệm nào cần rút ra trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới? Cần có các giải pháp gì để giúp người dân và các tổ chức xã hội tham gia thực hiện tốt mô hình nông thôn mới đảm bảo duy trì mô hình có hiệu quả, hợp lý và có tính bền vững?

Để góp phần thúc đẩy việc thực hiện xây dựng nông thôn mới của vùng Trung du Miền Núi, đánh giá đúng thực trạng của người dân và các tổ chức xã hội

ở xã Nông Thịnh trong xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở đó đề xuất các giải

pháp thực hiện tốt mô hình này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá

bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 11

- Đánh giá được tình hình kinh tế xã hội của xã Nông Thịnh bước đầu trong xây dựng nông thôn mới

- Đưa ra một số các giải pháp thực hiện việc xây dựng nông thôn mới của xã trong 5 năm tới

1.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là mô hình nông thôn mới, các chủ thể tham gia quá trình xây dựng nông thôn mới bao gồm có: hộ gia đình, cán bộ các cấp, các tổ chức đoàn thể thuộc xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

1.4 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng trong xây dựng nông thôn mới xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn ,

đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo

* Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu ở xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

* Về thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2012; số liệu khảo sát thực trạng được điều tra năm 2011, năm 2012, các số liệu dự kiến tính đến năm 2020

1.5 Những đóng góp của đề tài

Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nông thôn, phát triển nông thôn, mô hình xây dựng nông thôn mới, các quan điểm về xây dựng nông thôn mới, những nội dung và tiêu chí nông thôn mới và một số bài học kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nông thôn mới có thể áp dụng đối Nông Thịnh của tỉnh Bắc Kạn

Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, kiến nghị với các cơ quan hữu quan

và chính quyền Xã, Huyện, tỉnh Bắc Kạn để chủ động thực hiện tốt các giải pháp nhằm đẩy nhanh và xây dựng thành công nông thôn mới tại xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

Trang 12

1.6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm có 4 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới Chương II Phương pháp nghiên cứu

Chương III: Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

Chương IV: Kiến nghị và một số giải pháp hoàn thiện việc xây dựng nông thôn mới tại xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Nông thôn

Nông thôn được coi như là khu vực địa lý, nơi đó sinh kế cộng đồng gắn

bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu

Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn Song có nhiều quan điểm khác nhau:

Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn

mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Cũng có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn

Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế

giới Trong điều kiện Việt Nam theo chúng tôi: “Nông thôn là vùng sinh sống

của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”[6]

1.1.1.2 Phát triển nông thôn

Khác với phát triển và phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn; có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh

tế Sau đây là một số quan điểm về phát triển nông thôn

Trang 14

- Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn

- Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương; theo quan điểm thông thường, bản chất của phát triển là tăng trưởng và hiện đại hoá mang lại cho người nghèo chút lợi nho nhỏ

- Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm phát triển đời sống kinh

tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo nhất, trong những người đang tìm kế sinh nhai

ở các vùng nông thôn Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những người không có đất

- Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững

và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả cho thế hệ tương lai [6]

Từ các quan điểm trên theo chúng tôi: Phát triển nông thôn là một quá

trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế - xã hội, văn hoá, môi trường và ổn định chính trị Quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác

1.1.1.3 Mô hình nông thôn mới

Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao

Trang 15

quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí Theo các nhà nghiên cứu thì mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người dân Nhìn chung mô hình nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa

Mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn; mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thảo mãn các mục tiêu về kinh

tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến

bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước[18]

Từ các quan điểm trên theo chúng tôi: “Mô hình nông thôn mới là tổng

thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay,

là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống,

đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”

1.1.2 Mô hình phát triển nông thôn mới

1.1.2.1 Một số tiêu chí đặc trưng cơ bản của mô hình nông thôn mới

Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là một làng - xã

Làng - xã thực sự là một cộng đồng, trong đó công tác quản lý của Nhà nước

Trang 16

không can thiệp sau vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự

quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật

của Nhà nước)

Hai là, đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị

những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo

mọi điều kiện cho người dân có thể “ly nông bất ly hương”

Ba là, nông thôn biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường tự nhiên được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngàng nghề tiểu thủ công nghiệp

Bốn là,dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất Các chủ

thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức

phi Chính phủ, Nhà nước, tư nhân…) tham gia tích cực trong mọi quá trình ra

quyết định về chính sách phát triển nông thôn, thông tin mang bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan, phân phối công bằng Người nông dân thực sự “ được tự do và tự quyết định trên luống cày, thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất, kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Năm là, nông dân, nông thôn có văn hóa, trí tuệ được nâng lên, sức lao

động được giải phóng, nhân dân tích cực tham gia vào quá trình đổi mới Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Các tiêu chí này đang trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách về mô hình nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.1.2.2 Vai trò mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế xã hội

* Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị

trường giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở vật chất của nông thôn

Trang 17

phải hiện đại, điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng

- Thúc đẩy nông nghiệp, nông nghiệp phát triển nhanh, khích thích mọi người tham gia sản xuất hàng hóa, hạn chế rủi ro cho nông dân

- Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các HTX theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến

bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn

- Sản xuất hàng hóa và chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương

* Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn

lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã

* Về văn hóa- xã hội: Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp

nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng

* Về con người: Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn

mới, đó là người nông dân dản xuất khá giả, giàu có là người nông dân kết tinh các tư cách, công dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình

Có kế hoạch có chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn

* Về môi trường: Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng và

củng cố Bảo vệ rừng, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững

Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành

Trang 18

quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng

1.1.2.3 Đặc điểm của một xã nông thôn mới

Một xã được công nhận là nông thôn mới mang một số đặc điểm cơ bản sau:

- Được quy hoạch một cách rõ ràng: Trong thực tế, khu vực nông thôn

luôn phát triển tự do, không theo chuẩn mực hay quy hoạch, gây ra sự lộn xộn trong cảnh quan Theo Bộ tiêu chí Quốc gia, một xã đạt chuẩn nông thôn mới phải có 3 loại quy hoạch: quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất, nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch

vụ, Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội - môi trường theo tiêu chuẩn mới Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

- Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội từng bước được hiện đại hóa

Hiện nay, cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của khu vực nông thôn vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn, gây khó khăn cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh

Vì vậy, để các xã đạt chuẩn nông thôn mới hệ thống cơ sở hạ tầng phải từng bước hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân

- Kinh tế phát triển, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến Qua điều

tra cho thấy, các hình thức sản xuất ở khu vực nông thôn hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, công cụ lao động thô sơ, chủ yếu là thủ công, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao., thu nhập của người dân còn thấp Nhưng theo tiêu chuẩn của một xã nông thôn mới thì thu nhập bình quân đầu người của người

Trang 19

dân phải cao gấp 1,5 lần thu nhập bình quân đầu người của tỉnh, riêng Thành phố Hà Nội chỉ tiêu này còn có sự thay đổi theo tính riêng của Thành phố là thu nhập bình quân đầu người của người dân cao gấp 1,5 lần khu vực nông thôn, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến giúp cho kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của dân cư nông thôn

- Các điều kiện văn hóa- xã hội- môi trường- được nâng cao nhằm

đảm bảo chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn Một trong các đặc điểm

của một xã nông thôn mới đó là chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được đảm bảo Vì hiện nay, đa số cư dân nông thôn chưa được hưởng thụ điều kiện văn hóa - xã hội- môi trường đảm bảo, đời sống văn hóa còn nghèo nàn, điều kiện xã hội còn thấp và đặc biệt là về môi trường, người dân phải chịu đựng sự ô nhiễm ngày càng gia tăng

- Tình hình an ninh trật tự địa phương được đảm bảo Trong điều kiện

đô thị hóa ngày càng nhanh như hiện nay thì hệ quả của nó cũng nhanh chóng lan rộng nếu chính quyền không có biện pháp thỏa đáng Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của một xã nông thôn mới

1.1.3 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình NTM

Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội tại địa phương vào việc xây dựng mô hình NTM được coi là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm xây dựng mô hình NTM Khi tham gia phát triển xóm, làng với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của

Trang 20

người dân và các tổ chức xã hội trong các hoạt động trong phát triển xóm làng,

vai trò của người dân ở đây được thể hiện: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân

làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi[18] Như vậy, vai trò của người

dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan

điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung trong nâng cao vai trò của

người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:

- Dân biết: Quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về

những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi

- Dân bàn: Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch

phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi

- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc,

công sức mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

Trang 21

- Dân làm: Là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt

động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và

đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản

lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính

- Dân quản lý: Các thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham

gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một

tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ

sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình

- Dân hưởng lợi: Là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia

ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt

Trang 22

động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập…[14] [18]

Hình 1.1: Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình NTM 1.1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và PTNT

1.1.4.1 Một số đặc điểm của nông dân Việt Nam

Bản chất cần cù, thông minh và sáng tạo là truyền thống lâu đời của người dân nông thôn; có Đảng lãnh đạo thì tinh thần ấy được thể hiện và phát huy một cách có hiệu quả về mọi mặt Ngày nay, người dân nông thôn Việt Nam một lòng theo Đảng, luôn tán thành chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, thể hiện từ tinh thần hăng say lao động, dám đương đầu với khó khăn

và thách thức để vươn lên; cùng nhau góp sức với các tầng lớp khác để hoà chung với đất nước trong công cuộc đổi mới, vai trò của người dân nông thôn đang được phát huy trên nhiều lĩnh vực; chủ trương dân chủ cấp cơ sở ngày một hoàn thiện, nông dân tham gia ngày một nhiều hơn trong các hoạt động phát triển kinh tế xã hội xóm - làng [14]

Trong những năm qua, người dân nông thôn đã được tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, với những công nghệ hiện đại

Trang 23

trong sản xuất thâm canh, cũng như tiếp cận được thông tin trong nước và trên thế giới một cách nhanh chóng; người dân nông thôn đã tự lực trong sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng thu nhập cho chính họ, Đảng và Nhà nước rất khuyến khích người dân nông thôn làm giàu một cách chính đáng để rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các vùng, miền

Tuy nhiên, người dân nông thôn có những hạn chế và còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại như: tính cam chịu, ít có động lực và ý chí vươn lên, tính bảo thủ, ít tư duy sáng tạo và còn ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước và sự hỗ trợ

từ bên ngoài; trình độ dân trí thấp, đội ngũ cán bộ địa phương, nhất là ở cấp thôn, bản còn hạn chế và yếu kém, thiếu vốn, máy móc phương tiện lao động lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém Từ những vấn đề đó đã làm hạn chế vai trò của người dân nông thôn

1.1.4.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nông thôn

Những năm gần đây, mô hình phát triển nông thôn đã góp phần quan trọng trong việc phát triển và cải thiện nông thôn nước ta Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao của người dân nông thôn, yêu cầu phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, hợp tác hoá theo tinh thần Nghị quyết 26 NQ-TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương và Thông báo số 238-TB/TW ngày 07 tháng 4 năm 2009 của Ban bí thư về Chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, nhằm định hướng rõ trong chỉ đạo thực hiện Việc xây dựng mô hình NTM là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường Đồng thời đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi"[18] Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển nông thôn

Trang 24

Mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn; mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh

tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn

Đây là quan điểm có tính khái quát và có tính mạch lạc về mô hình phát triển nông thôn trong thời kỳ đổi mới Như vậy xây dựng mô hình nông thôn mới là phát triển nông thôn có đặc điểm chung nhất là gắn với nông nghiệp, nông thôn, nông dân

1.1.4.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của người dân và trong phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay

Những năm gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, Đảng

và Nhà nước rất quan tâm đến vai trò của người dân trong việc tham gia phát triển nông thôn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng có một số quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nông thôn là:

Đảng ta vẫn xác định vai trò quan trọng của khối liên minh công, nông

và trí thức là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Nhiệm vụ đặt ra là đưa người dân đi lên Chủ nghĩa Xã hội bằng phát huy nội lực, bằng vai trò của mình hoà cùng sức mạnh của cả nước; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc đã chỉ rõ “Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các hội quần chúng cần đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng hoạt động, khắc phục cho được tình trạng hành chính hoá, phô trương, hình thức; làm tốt công tác

dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách

nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”[8]

Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân

Trang 25

dân, đồng thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng

và pháp luật của Nhà nước

Chúng ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ở nước ngoài Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước,

Trang 26

tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn

ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân [14]

1.1.5 Những nội dung chủ yếu về xây dựng mô hình nông thôn mới

Xây dựng NTM là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn nhằm tạo

ra một nông thôn có kinh tế phát triển, có đời sống về vật chất văn hoá và tinh thần tốt, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho sản xuất, phục vụ tốt cho đời sống và văn hóa của người dân, đẩy mạnh dân chủ hoá ở nông thôn và nâng cao vai trò của cộng đồng trong những quyết định về phát triển sản xuất, phát trển văn hoá và xã hội trên địa bàn Ba điều kiện cần trên đây cho chúng ta đề xuất những chỉ tiêu chủ đạo trong xây dựng mô hình NTM với ý nghĩa rằng một địa phương là một mô hình NTM thì ít nhất cần phải đạt những chỉ tiêu sau [1] [8] [15]

1.1.5.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Quy hoạch nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định thành công của chương trình xây dựng NTM Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, xây dựng quy hoạch NTM có 7 bước gồm:

Bước 1 Xác định nội dung quy hoạch: Quy hoạch NTM là quy hoạch

không gian và quy hoạch hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, bao gồm: Quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp với thời hạn 10 - 15 năm

Bước 2 Quy trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch: Do UBND xã làm

chủ đầu tư và trình UBND huyện phê duyệt quy hoạch

Bước 3 Công bố quy hoạch: Hồ sơ công bố quy hoạch gồm quyết định

phê duyệt quy hoạch, báo cáo thuyết minh, các văn bản pháp lý liên quan

Bước 4 Cấp giấy phép xây dựng tại xã: Sở Xây dựng có thẩm quyền

cấp phép công trình của tổ chức được xây dựng ven quốc lộ, tỉnh lộ UBND

Trang 27

huyện cấp phép xây dựng của các tổ chức xây dựng tại xã UBND xã cấp phép xây dựng nhà ở của dân theo quy hoạch được phê duyệt

Bước 5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: UBND xã thực hiện chức

năng kiểm tra, giám sát trực tiếp hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng trên địa bàn mình quản lý Quyết định xử lý theo quy định của pháp luật

Bước 6 Hồ sơ quy hoạch xây dựng NTM: Hồ sơ quy hoạch chung gồm

bản vẽ với sơ đồ vị trí xã và liên hệ vùng, tỷ lệ 1/5.000 - 1/10.000 thể hiện liên kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng, các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của xã Định hướng phát triển điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp được lập theo tỷ lệ 1/5.000 Bản vẽ định hướng hạ tầng

kỹ thuật, kể cả thuỷ lợi và giao thông nội đồng…

Bước 7 Kinh phí lập quy hoạch xây dựng: Định mức chi phí lập quy

hoạch chung NTM từ 80 - 115 triệu đồng tuỳ theo quy mô dân số mỗi xã Chi phí lập quy hoạch chi tiết trung tâm xã và từng điểm dân cư trên địa bàn xã là 8,5 triệu đồng/ha Chi phí lập quy hoạch chi tiết hệ thống thuỷ lợi, giao thông nội đồng cho mỗi xã khoảng 10 - 15 triệu đồng

1.1.5.2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội

Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phương xây dựng nông thôn mới là nông thôn có một bộ mặt đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là yếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống cho người dân Đối với cơ sở hạ tầng như đường giao thông: liên xóm, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thống, hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất

Trang 28

Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất như hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn có thể mở rộng chăn nuôi ở khu tập trung này thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bị những thiết bị mới những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướng thị trường

Xây dựng NTM không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y tế, giáo dục, văn hoá cũng cần được ưu tiên phát triển Tuy nhiên cần phải xác định rõ quy mô và mức độ phục vụ của các công trình an sinh xã hội để đảm bảo các công trình đó

có quy mô phù hợp với nhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng

1.1.5.3 Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập

Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến bộ xã hội được thực hiện Sau khi đã có thu nhập bảo đảm cuộc sống, người dân mới có điều kiện xây dựng những công trình phục vụ đời sống cho gia đình họ và đóng góp cho sự phát triển chung

Trong các nội dung xây dựng NTM thì nội dung phát triển sản xuất hàng hoá là quan trọng nhất Tuy vậy không phải bất cứ địa phương nào cũng

có điều kiện để sản xuất hàng hoá mà phải tạo ra hoặc lựa chọn những sản phẩm nhất định có thể sản xuất hàng hoá Nói một cách cụ thể, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩy mạnh hơn nữa các ngành nghề là biện pháp để nâng cao sản xuất hàng hoá; địa phương nào có điều kiện phát

Trang 29

triển trang trại là đã có điều kiện sản xuất nông sản hàng hoá và cần phải đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hoá quy mô trang trại để tạo cơ sở cho phát triển nông thôn và xây dựng NTM Ngoài ra có thể thực hiện biện pháp "cấy nghề" để trở thành địa phương có sản xuất ngành nghề và đó là điều kiện để

mở rộng sản xuất hàng hoá theo hướng phát triển ngành nghề

Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với năng suất và hiệu quả ngày càng cao, đồng thời phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn để từng bước giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, phân công lại lao động, phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương trong xây dựng NTM cần được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và ngành nghề Trong những năm qua, công tác khuyến nông khuyến lâm, khuyến ngư đã được triển khai mạnh mẽ và thu được nhiều kết quả, nhưng công tác khuyến công đặc và biệt là khuyến thương còn là những lĩnh vực tương đối mới mẻ, chưa được triển khai nhiều trên địa bàn nông thôn Có điều này là do bản thân ngành nghề nông thôn, hoạt động kinh doanh trên địa bàn nông thôn nói chung còn rất hạn chế Để có thể đẩy mạnh khuyến công thì các địa phương phải có ngành nghề và nhiều người hoạt động ngành nghề (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ), do đó việc "cấy nghề" không những là bước đi ban đầu mà còn là yêu cầu cấp thiết trong phát triển kinh tế ở mỗi địa phương và là điều kiện để khuyến công phát huy hiệu quả của mình Thông qua hoạt động khuyến công, các xã xây dựng nông thôn mới có thể phát triển nguồn lực con người để từ đó không những nâng cao trình độ nhiều mặt nh ất là phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các ngành nghề truyền thống có sự kết hợp bổ xung các công nghệ mới phù hợp với tiến trình hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 30

1.1.5.4 Phát triển Văn hoá - Xã hội - Môi trường

Việc nâng phát triển văn hoá là một trong những động lực để giải phóng sức lao động, giải phóng sức tư duy sáng tạo trong việc đẩy mạnh sản xuất cho chính họ và cho cộng đồng Giải phóng tư duy trí tuệ được xem là sức mạnh nội sinh của cộng đồng cư dân nông thôn trong công cuộc phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung và xây dựng NTM nói riêng Người nông dân có kinh tế ổn định, có trình độ văn hoá khoa học cao, có phong cách sống văn minh hiện đại là mẫu người nông dân mới trong nông thôn đổi mới không những là mục tiêu trước mắt mà còn là mục tiêu lâu dài của công cuộc phát triển nông thôn ở nước ta

Để thực hiện được yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội tốt hơn, khang trang hơn chỉ là một trong nhiều yếu tố mang tính hình thức Cần có những nội dung thiết thực trong việc xây dựng con người vừa có trình

độ chuyên môn vừa có văn hoá là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và có tính lâu dài Trong xây dựng NTM, không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng mà điều cốt yếu là phải xây dựng các phong trào hoạt động văn hoá, thể thao, phát triển dân trí có tính thiết thực và được cộng đồng tham gia Do đó xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá xã hội luôn luôn phải

đi đôi với những nội dung của những hoạt động này

Địa phương xây dựng NTM cần phải là địa phương có phong trào văn hoá mới, vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là điều kiện thiết yếu để phát triển nông thôn, song điều đó không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong phát triển kinh tế, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng

để tăng trưởng một cách bền vững Bên cạnh đó, việc giữ gìn và bảo vệ môi

Trang 31

trường cũng là một trong những nội dung đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp hơn, hơn nữa nếu có điều kiện kết hợp giữa bảo vệ môi trường với phát triển cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn còn tạo điều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái Trong nội dung giữ gìn và bảo vệ môi trường của xây dựng NTM, trước mắt đó là cuộc vận động về một nông thôn mới xanh - sạch - đẹp, không có rác thải vứt bừa bãi, không có phế thải của sản xuất và sinh hoạt thải thẳng ra các cánh đồng, ao hồ mà không được xử lý Tiếp theo là việc

cả cộng đồng cùng tham gia đầu tư xây dựng hệ thống cống rãnh trong các xóm làng, xây dựng hệ thống xử lý nước thải và thu gom rác thải Về lâu dài, nông thôn phải đúng là nơi cảnh quan và môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống

và là lá phổi xanh trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước

1.1.5.5 Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh

Yêu cầu cấp thiết trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là xây dựng được hệ thống chính trị, xã hội ở địa phương thật sự trong sạch và vững mạnh là điều rất quan trọng, mà điều quan trọng ở đây là nâng cao trình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ tại địa phương về chuyên môn nghiệp vụ để có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của người dân Người nông dân giờ đây đang tự chủ vươn lên, nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác để làm giàu trên mảnh đất của mình rất cần có sự định hướng, có người dẫn dắt Để nông dân làm được như vậy, Nhà nước cần đầu tư và giúp đỡ nhiều hơn, cụ thể hơn cho nông dân nâng cao trình

độ về sản xuất, quản lý, thị trường…

Xây dựng hệ thống chính trị tại địa phương không thể không nhắc đến tính dân chủ ở cơ sở Đặc biệt sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM (trong đó tất cả những nội dung của chương trình xây dựng này đều cần có sự tham gia góp ý kiến cũng như sự đồng thuận của cộng đồng) là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và từ đó

Trang 32

mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Từ đó cộng đồng dân cư sẽ được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện các quyết sách của các cấp chính quyền ở địa phương mà mục tiêu cuối cùng cũng là để dân giàu, nước mạnh, văn minh và hiện đại

Như vậy năm nội dung chủ yếu của xây dựng nông thôn mới bao gồm:

(1) Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch; (2) Xây dựng hạ tầng

kinh tế - xã hội; (3) Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; (4) Phát triển văn hóa xã hội - môi trường; (5) Củng cố và

xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh tại cơ sở [15] là năm yêu cầu

cơ bản phải luôn được gắn kết với nhau Trong quá trình xây dựng NTM cũng phải đánh giá xem một địa phương có khả năng xây dựng mô hình NTM hoặc

đã trở thành một mô hình NTM hay chưa? Tuy nhiên đây là vấn đề rất phức tạp, hơn nữa trong hoàn cảnh nông thôn nước ta nhìn chung còn nghèo và cơ

sở vật chất, khoa học kỹ thuật lạc hậu thì yêu cầu đồng thời phải đạt tất cả các các nội dung sẽ trở nên khó khả thi Tuỳ từng điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà thứ tự ưu tiên của mỗi nội dung sẽ được thay đổi cho phù hợp và đảm bảo để công cuộc xây dựng NTM theo chủ trương của Đảng thu được thắng lợi

1.1.5.6 Các tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới

Tiêu chí để xây dựng mô hình NTM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 gồm 19 tiêu chí, được chia thành 5 nhóm cụ thể [15]:

Các nhóm tiêu chí:

* Về quy hoạch

* Về hạ tầng kinh tế - xã hội

* Về kinh tế và tổ chức sản xuất

Trang 33

* Về văn hóa - xã hội - môi trường

* Về hệ thống chính trị

Và được thể hiện qua 19 tiêu chí xây dựng mô hình NTM là: Quy hoạch

và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh

và an ninh, trật tự xã hội

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn

1.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn Trung Quốc “Xí nghiệp Hương Trấn”

Xí nghiệp Hương Trấn của Trung Quốc được hình thành từ năm 1950, trên cơ sở các xí nghiệp, đội sản xuất của công xã nhân dân trước đây Cuối những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc đã đề ra nhiều chính sách để phát triển xí nghiệp Hương Trấn Vào năm 1997 Trung Quốc có khoảng 20 triệu xí nghiệp Hương Trấn, với số lao động là 130 triệu người

Với 75% dân số sống ở nông thôn (hơn 900 triệu người/1,2 tỷ người) thì

sự phát triển của xí nghiệp Hương Trấn không những có thể thu hút được lượng lớn sức lao động dư thừa ở nông thôn, mà còn phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn [7]

Là một loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập ngay tại quê hương mình trên cơ sở sử dụng nguồn tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo của Đảng và quan tâm giúp đỡ của Nhà nước

Là một hình thức mới của công nghiệp hóa nông thôn, đã đẩy mạnh tốc

độ công nghiệp hóa, giảm chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn

Do vậy, Trung Quốc rất chú ý phát triển nông nghiệp, lấy sản xuất nông

Trang 34

nghiệp là chính và lấy xí nghiệp Hương Trấn làm trụ cột để phát triển nông

nghiệp và nông thôn

Xí nghiệp Hương Trấn có cơ chế vận hành phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường nên nó mở ra được cho mình một khoảng không gian sinh tồn, phát triển, lớn mạnh trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nơi có rất nhiều xí nghiệp quốc doanh Sau hơn 20 năm tăng trưởng, các doanh nghiệp nông thôn

đã làm thay đổi toàn cảnh kinh tế khu vực nông thôn; trở thành lực lượng chính đứng sau sự tăng trưởng bền vững chung của Trung Quốc

Như vậy, có thể nói: Xí nghiệp Hương Trấn là mô hình đặc biệt của Trung Quốc và nó đã được nhân rộng ra nhiều vùng ở nông thôn, tạo nên sức mạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc Xí nghiệp Hương Trấn đã tạo cho nông dân tự lập trong thu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân Trung Quốc

1.2.1.2 Hàn Quốc phát triển nông thôn từ việc nâng cao vai trò của nông dân thông qua mô hình “làng mới” (Saemaul Undong)

Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính, với khoảng 2/3 dân số sống ở nông thôn Nông dân sống trong cảnh nghèo nàn, an phận thủ thường, thiếu tinh thần trách nhiệm Do vậy, cần có chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của nông dân ở khu vực nông thôn và nâng cao vai trò của họ trong cuộc sống

Tổng thống Hàn Quốc phát biểu: “Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai

thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong đó là lời tuyên ngôn

Trang 35

của phong trào làng mới” [16] Như vậy, phong trào làng mới nhấn mạnh đến

yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của

người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó

phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân

Các hoạt động của mô hình “làng mới”:

- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến Trung ương

Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành

là bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”;

Uỷ ban này có khoảng 5 - 10 người, những người này là đại diện cho cộng đồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án phát triển nông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho

Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Khác với các nước khác, chương trình này do tổng thống đứng ra trực tiếp lãnh đạo

Bộ trưởng Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban điều phối Trung ương với 12 điều phối viên là các Bộ trưởng của các bộ

- Đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển

Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Những người này độc lập với hệ thống chính trị, hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào Nguồn tinh thần chính cho những người này là sự kính trọng của cộng đồng và sự vận động tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này không bị một sức ép nào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế,

mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng đồng tin yêu

- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn

Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương

Trang 36

được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân; Chính phủ mở các khoá đào tạo ngắn hạn khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tuỳ theo nhu cầu từng giai đoạn của sự phát triển, đào tạo chủ yếu là học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình

- Phát huy dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động, trong đó hoạt động nào được tiến hành trước và hoạt động nào tiến hành sau; họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát công trình Để tập hợp hay huy động nhanh, thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, các làng đã xây dựng hội trường làng của mình Đây là điều kiện cho dân làng gần gũi nhau hơn, có tinh thần đoàn kết hơn khi tham gia sinh hoạt cộng đồng

- Tạo ra một không khí thi đua, tinh thần hăng hái trong làng, xã

Đây là nét nổi bật trong phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc Hàng năm có đánh giá hiệu quả tham gia chương trình và được đánh giá một cách nghiêm túc, công khai Nơi nào thực hiện thành công từng giai đoạn của dự

án mới được hỗ trợ chương trình khác Chủ trương này được Tổng thống công

bố chính thức cho toàn dân Địa phương nào cũng muốn vươn lên thành điển hình tốt, họ tự hào về sự thay đổi và giàu có của làng mình, tình trạng kê khai

xã nghèo để được hưởng sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước cũng tự nó mất đi trong các làng

- Nhà nước và nhân dân cùng làm

Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên trước, sau, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu, giám sát công trình Hàng năm nhà nước tổ chức các cuộc họp

Trang 37

toàn quốc cho lãnh đạo cộng đồng làng, xã tham dự; tại cuộc họp này, người

có công được tuyên dương, phát phần thưởng, kể cả tuyên dương anh hùng lao động Đặc biệt Tổng thống là người sáng tác bài hát của phong trào, điều này đã cổ động rộng rãi hơn cho phong trào xây dựng mô hình “làng mới”, người dân càng tự hào và tự tinh hơn

Kết quả đạt được từ phong trào “làng mới”:

Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau tám năm các dự

án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành, trong vòng 20 năm rừng đã được che phủ khắp nước và khoảng 84% cây rừng của Hàn Quốc hiện nay là cây rừng đã được trồng trong những năm làm mô hình Trong vòng sáu năm thu nhập bình quân các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường làng, nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình, Phong trào Saemaul là một mô hình phát triển nông thôn cho phép hạn chế tối đa thời gian chuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại

Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào “làng mới”, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể; sản xuất mang tính thương mại Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói bắt đầu trở nên tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển Thông qua phong trào lao động nông thôn đã được đào tạo cơ bản, điều quan trọng là họ có tác phong công nghiệp, điều này đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động cho ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn

Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế

Trang 38

nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào “làng mới” Saemaul là một trong số những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một cách có chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan về doanh nghiệp hoá nông nghiệp

Năm 1977, Thái Lan lựa chọn chiến lược “xuất khẩu nông sản” với

mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế chiếm lĩnh được thị trường thế

giới bằng chính sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến Công nghiệp chế biến

được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược ấy

Các hoạt động xúc tiến chiến lược “xuất khẩu nông sản”:

- Công nghiệp hoá nông nghiệp với nghĩa là nông nghiệp trở thành một khâu gắn chặt với công nghiệp làm hàng xuất khẩu, do đó phải phát triển các doanh nghiệp trong công nghiệp đảm nhận liên hiệp với nông dân tạo ra sản phẩm để chế biến có hiệu quả xuất khẩu cao

- Tổ chức theo công thức 4 nhà: Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà ngân hàng, nhà nông (Việt Nam cũng lấy ý tưởng này nhưng thay nhà ngân hàng bằng nhà khoa học) Công thức này nhắm vào việc lập ra các doanh nghiệp kinh doanh nông sản xuất khẩu theo hướng cả 4 nhà đi từ đầu đến cuối của quá trình sản xuất Hình thức kết hợp thì linh động thay đổi theo từng loại công việc và sản phẩm, nhưng về nguyên tắc, thì cả 4 nhân vật này đều là chủ thể của quá trình sản xuất:

Chính phủ địa phương chịu trách nhiệm tạo dựng cơ sở hạ tầng, nhất là đường xá, chọn các nông hộ có khả năng tham gia liên kết với doanh nghiệp ngay từ lúc đầu, chọn những làng xã nào để thực hiện dự án sản xuất; Ngân hàng có trách nhiệm đầu tư vốn vào việc xây dựng các cơ sở chăn nuôi hoặc trồng trọt cho từng hộ nông dân đã được chọn; Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Kết thúc quá trình sản xuất và tiêu thụ, lợi nhuận sẽ được chia cho 4 bên theo

Trang 39

tỷ lệ thích hợp, chính phủ thu lợi qua thuế, ngân hàng thu lợi qua lợi tức cho vay, doanh nghiệp thu lợi qua lợi nhuận, nông dân thu lợi qua lợi nhuận và trừ dần các khoản đầu tư về thiết bị dài hạn Sau khoảng 05 năm, các thiết bị, nhà xưởng, máy móc đã đầu tư cho nông hộ sẽ do nông hộ sở hữu hoàn toàn

Như vậy, nông hộ không bị lép vế như là người vay lãi ngân hàng hay mang nợ doanh nghiệp Do đó, cũng không xẩy ra tình trạng phải phạt nông dân khi họ không tôn trọng hợp đồng như có thể thấy ở các nơi khác Kết quả cuối cùng là Thái Lan có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp và hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp chuyên môn hoá có quy mô hợp lý Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong chăn nuôi, sau phát triển sang các mặt hàng khác như gạo, thuỷ sản, và đặc biệt là hoa quả nhiệt đới, hiện đứng đầu thế giới Đến năm 1989, Thái Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào sự liên kết này

1.2.2 Những bài học và kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng phát triển và nông thôn có sự tham gia

Phát triển nông thôn Việt Nam đã trải qua nhiều mô hình, mỗi mô hình luôn gắn liền với giai đoạn phát triển của đất nước

1.2.2.1 Phát triển nông thôn giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1957 - Mô hình chuyển giao ruộng đất cho hộ nông dân

Mô hình phát triển nông thôn nổi bật giai đoạn này là giao ruộng đất về

tay người nông dân, với mục tiêu người cày có ruộng Nhà nước thực hiện

chính sách cải cách ruộng đất và triển khai công tác khuyến nông Nhờ vậy

kinh tế hộ nông dân phát triển, hàng triệu người dân hăng hái sản xuất, nông nghiệp sau 3 năm khôi phục kinh tế đã đạt được mức tăng trưởng khá cao Có

thể xem đây là thời kỳ “hoàng kim” của nông nghiệp nông thôn Việt Nam kể

từ sau năm 1939 [18]

Trang 40

1.2.2.2 Kinh nghiệm một số mô hình nông thôn phát triển khá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá

Trước những đòi hỏi của thực tiễn phát triển nông thôn, trong thời gian qua, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành đề cương 185/KTTW-BNN về chương trình “Phát triển nông thôn mới cấp xã”, các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai xây dựng mô hình “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân

chủ hoá” (gọi chung là mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã) tại các vùng

sinh thái với một số xã điểm do Trung ương trực tiếp chỉ đạo

Một số kết quả đạt được:

Chương trình phát xây dựng nông thôn mới đã triển khai tại 14 xã điểm sau đó đã tăng lên thành 18 xã vào năm 2004, trong thời gian đó các tỉnh cũng lựa chọn khoảng 200 xã đưa vào xây dựng mô hình nông thôn mới bằng nguồn ngân sách tỉnh Chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới với 5 nội dung cơ bản là: phát triển kinh tế hàng hoá với cơ chế phù hợp để khai thác được lợi thế của các địa phương và có thị trường tiêu thụ; phát triển cơ sở

hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá; xây dựng khu dân cư văn minh, tăng cường công tác văn hoá, y tế giáo dục ở nông thôn; xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

xã hội, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và phát huy vai trò các tổ chức quần chúng thực hiện dân chủ ở cơ sở Việc thực hiện chương trình đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, có sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của các xã điểm đã có sự thay đổi đáng kể, nhiều hệ thống nước sạch cũng như việc xử lý chất thải đã hoạt động có hiệu quả Sản xuất nông nghiệp và ngành nghề đã đạt được hiệu quả nhất định Những kết quả cụ thể được thể hiện chi tiết dưới đây:

Ngày đăng: 18/09/2014, 11:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
2. Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
3. Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Khác
4. Văn bản số 5385/VPCP-KTN ngày 7/8/2009 của Văn phòng Chính phủ, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng về việc xây dựng Chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới Khác
5. Văn bản số 34/VPCP-KTN ngày 3/2/2010 của Văn phòng Chính phủ. Thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng về việc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới, tại hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm 2010 của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khác
6. Văn bản số 2543/BNN-KTHT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030 Khác
7. Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ ngành Trung ương, UBND tỉnh, huyện ..., liên quan đến Chương trình xây dựng nông thôn mới Khác
8. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Khác
9. Căn cứ vào quyết định số 750/2009/QĐ-UBND ngày 14/04/2009 của UBND tỉnh Bắc Kạn về quy định một số nội dung cụ thể công tác quản lý nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Khác
10. Căn cứ vào quyết định số 784/QĐ – UBND ngày 06/06/2011 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Kạn năm 2011 Khác
11. Căn cứ Nghị quyết số 01- NQ/HU ngày 18 tháng 7 năm 2010 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Chợ Mới về quy hoạch nông thôn mới trên địa bàn huyện Khác
12. Căn cứ quyết định số 1925/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 của UBND huyện Chợ Mới về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Nông Thịnh huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2011- 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình NTM  1.1.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và PTNT - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Hình 1.1 Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình NTM 1.1.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và PTNT (Trang 22)
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã Nông Thịnh qua 3 năm (2010 - 2012) - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã Nông Thịnh qua 3 năm (2010 - 2012) (Trang 57)
Bảng 3.2: Tình hình lao động tại xã Nông Thịnh qua 3 năm 2010-2012 - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.2 Tình hình lao động tại xã Nông Thịnh qua 3 năm 2010-2012 (Trang 59)
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của xã qua 3 năm (2010 - 2012) - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của xã qua 3 năm (2010 - 2012) (Trang 61)
Bảng 3.4: Cơ sở vật chất trường học qua các năm - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.4 Cơ sở vật chất trường học qua các năm (Trang 65)
Hình 3.1: Cơ cấu kinh tế xã Nông Thịnh năm 2012 - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.1 Cơ cấu kinh tế xã Nông Thịnh năm 2012 (Trang 68)
Hình 3.2:Cơ cấu lao động của xã trong 3 năm 2010 - 2012 - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.2 Cơ cấu lao động của xã trong 3 năm 2010 - 2012 (Trang 69)
Bảng 3.5: Thực trạng kinh tế - xã hội theo các tiêu chí nông thôn mới - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.5 Thực trạng kinh tế - xã hội theo các tiêu chí nông thôn mới (Trang 75)
13  Hình thức tổ  chức sản xuất - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
13 Hình thức tổ chức sản xuất (Trang 77)
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức thoát nước cấp thôn - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức thoát nước cấp thôn (Trang 88)
Hình 4.2: Sơ đồ nguyên tắc xử lý rác thải - Đánh giá bước đầu xây dựng nông thôn mới và một số biện pháp thực hiện tại xã Nông Thịnh Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Hình 4.2 Sơ đồ nguyên tắc xử lý rác thải (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w