phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn huyện việt yên bắc giang.pdfphân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn huyện việt yên bắc giang.pdf
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HIỀN
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN THEO HÌNH THỨC NUÔI GIA CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VIỆT YÊN - TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã ngành: 60 - 62 - 01 - 16
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đình Hoà
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài:“ Phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên – Tỉnh Bắc Giang” đều được được thu thập, điều tra, khảo sát
thực tế một cách trung thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên cứu
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã được cảm ơn, các
thông tin tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 08 năm 2013
Học viên
Vũ Thị Hiền
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Việt Yên – Tỉnh Bắc Giang, tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban quản lý đào tạo khoa sau đại học cùng toàn thể các thầy cô đã tận tụy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Bùi Đình Hòa đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cấp ủy chính quyền cán bộ các ban, các cán bộ phòng thống kê, phòng nông nghiệp huyện Việt Yên, các
xã Tự Lạn, Việt Tiến, Thượng Lan, các cán bộ kỹ thuật của công ty C.P và hộ chăn nuôi gia công lợn tại huyện Việt Yên nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như là hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013
Học viên
Vũ Thị Hiền
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cở sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị 4
1.1.2 Các công cụ phân tích chuỗi giá trị 12
1.1.3 Một số khái niệm dùng cho tính toán 18
20
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam 22
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 27
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 27
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 29
2.2.4 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận trong chuỗi 29
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Đặc điểm KT- XH 38
3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 49
3.2 Thực trạng chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên – Bắc Giang 49
3.2.1 Quy trình chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công 49
3.2.2 Tình hình phát triển mô hình chăn nuôi lợn gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên 51
3.2.3 Tình hình tiêu thụ và chế biến các sản phẩm từ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Việt Yên 55
3.3 Chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công của một số trang trại trên địa bàn Huyện Việt Yên – Bắc Giang 56
3.3.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công tại Việt Yên – Bắc Giang 56
3.3.2 Các kênh tiêu thụ chính trong chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn huyện Việt Yên 60
3.4 Phân tích chi phí, lợi nhuận của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công tại Việt Yên 62
3.4.1 Chi phí và lợi nhuận của Công ty CP Việt Nam khi tham gia chuỗi 62
3.4.2 Chi phí và lợi nhuận của các hộ nuôi lợn gia công 66
3.4.3 Chi phí và lợi nhuận của hộ giết mổ, bán buôn tính BQ/ 100 kg lợn hơi 82
3.4.4 Chi phí và lợi nhuận các hộ bán lẻ (tính BQ/100 kg lợn hơi) 86
3.4.5 Chi phí và lợi nhuận của các hộ chế biến thịt lợn trên địa bàn huyện Việt Yên – Bắc Giang 88
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3.5 Phân tích sự phân chia lợi nhuận của các tác nhân tham gia
trong chuỗi 90
3.5.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị chăn nuôi lợn gia công trên địa bàn huyện Việt Yên - Bắc Giang 90
3.5.2 Chuỗi giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh tiêu thụ 92
3.5.3 Sự hình thành giá và giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh tiêu thụ 94
3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi lợn gia công trên địa bàn huyện Việt Yên - Bắc Giang 96
3.6.1 Những thuận lợi và khó khăn khi tham gia vào chuỗi giá trị chăn nuôi gia công của các tác nhân 96
3.6.2 Phân tích SWOT chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công tại huyện Việt Yên 99
3.7 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công 102
3.7.1 Nhóm các giải pháp chung cho chuỗi giá trị chăn nuôi lợn gia công 102 3.7.2 Giải pháp cụ thể cho từng tác nhân 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Kiến nghị 106
2.1 Kiến nghị đối với nhà nước 106
2.2 Đối với chính quyền địa phương 106
2.3 Kiến nghị đối với công ty C.P 107
2.4 Kiến nghị đối với các hộ chăn nuôi gia công lợn 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC 1
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACI Công ty Tư vấn Nông sản Quốc tế
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
DFID Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
GAP Quy trình Sản xuất Nông nghiệp Tốt
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 2.1 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận theo Kaplinsky
và Morris (2001) 30Bảng 3.1: Bảng tổng hợp khí hậu huyện Việt Yên năm 2012 33Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất của Huyện Việt Yên qua các năm
(2010 – 2012) 37Bảng 3.3 Cơ cấu và giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện
Việt Yên qua 3 năm 2010 – 2012 38Bảng 3.4 Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp huyện Việt Yên
qua các năm 2010 – 2012 39Bảng 3.5 Tình hình chăn nuôi một số loại vật nuôi chính trên địa bàn
huyện Việt Yên trong 3 năm 2010 – 2012 41Bảng 3.6: Diện tích và các sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu của huyện 42Bảng 3.7: Diện tích, sản lượng ngành nuôi trồng thủy sản của huyện 43Bảng 3.8 Tình hình dân số và lao động của huyện Việt Yên qua các
năm (2010 – 2012) 45Bảng 3.9 Tình hình chăn nuôi lợn trên toàn huyện qua 3
năm 2010 - 2012 52Bảng 3.10 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn gia công trên địa bàn
Huyện Việt Yên trong 3 năm (2010 – 2012) 53Bảng 3.11 Chi phí và lợi nhuận của công ty CP trong chăn nuôi gia công
lợn nái và lợn thịt trên địa bàn huyện Việt Yên – Bắc Giang 64Bảng 3.12 Tình hình cơ bản của các hộ chăn nuôi gia công lợn trên
địa bàn huyện Việt Yên 67Bảng 3.13 Các tài sản phục vụ cho chăn nuôi lợn gia công của các hộ
điều tra (BQ/ hộ) 69Bảng 3.14 Tình hình về nguồn vốn đầu tư cho chăn nuôi lợn gia công
của các hộ (BQ/hộ) 71
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 3.15 Các khoản đầu tư ban đầu của các hộ gia công lợn nái trên
địa bàn huyện Việt Yên (BQ/hộ) 72Bảng 3.16 Kết quả và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia công lợn nái
của các hộ điều tra (tính BQ/1 đầu lợn nái) năm 2012 74Bảng 3.17 Các khoản đầu tư ban đầu của các hộ gia công lợn thịt trên
địa bàn huyện Việt Yên (BQ/hộ) 75Bảng 3.18 Kết quả và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia công lợn thịt
của các hộ điều tra (tính BQ/100 kg lợn hơi) năm 2012 77Bảng 3.19 Chi phí và lợi nhuận của công ty CP so với các hộ nuôi gia
công lợn nái (BQ/ đầu heo nái) 78Bảng 3.20 Chi phí và lợi nhuận của công ty CP so với các hộ nuôi gia
công lợn thịt (BQ/ 100kg lợn hơi) 80Bảng 3.21 Chi phí và lợi nhuận của hộ nuôi gia công lợn nái và Hộ nuôi
gia công lợn thịt trên địa bàn huyện Việt Yên – Bắc Giang 81Bảng 3.22: Đặc điểm chung của các hộ giết mổ, bán buôn trên địa bàn
huyện Việt Yên – Bắc Giang 83Bảng 3.23 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ giết mổ, bán buôn
(tính BQ/100kg lợn hơi) 85Bảng 3.24 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán lẻ thịt lợn trên địa
bàn huyện Việt Yên 87Bảng 3.25 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ chế biến thịt lợn trên
địa bàn huyện Việt Yên – Bắc Giang (tính BQ/100kg lợn hơi) 89Bảng 3.26 Tổng hợp kết quả, hiệu quả kinh tế của các tác nhân tham gia
trong chuỗi giá trị (tính BQ/100kg lợn hơi) 91Bảng 3.27 Sự hình thành giá và giá trị gia tăng của các tác nhân theo
kênh tiêu thụ (Tính bình quân cho 100 kg lợn hơi) 95
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985) [26] 11
Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985) [26] 11
Hình 3.1 Giá trị SX của ngành nông nghiệp huyện Việt Yên năm 2012 40
Hình 3.2 Quy trình chăn nuôi lợn gia công tại Việt Yên 50
Hình 3.3 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn gia công trên địa bàn huyện Việt Yên - Bắc Giang (2010 - 2012) 54
Hình 3.4 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên – Tỉnh Bắc Giang 57
Hình 3.5 So sánh chi phí và lợi nhuận giữa hộ gia công lợn nái và công ty C.P 79
Hình 3.6 So sánh chi phí và lợi nhuận giữa hộ nuôi gia công lợn thịt và công ty C.P 80
Hình 3.7 So sánh chi phí và lợi nhuận của hộ gia công lợn nái và hộ gia công lợn thịt 82
Hình 3.8 Hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi 92
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia công là một hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp và người chăn nuôi để phát triển chăn nuôi công nghiệp trong nông thôn, nhằm sản xuất sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, giá thành thấp và năng suất chăn nuôi cao Ở nước ta ngành chăn nuôi gia công hiện nay khá phát triển do định hướng của Đảng và Nhà nước trong phát triển chăn nuôi, cụ thể: Ngày 16-1-2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển chăn nuôi công nghiệp trong nông thôn, nhằm góp phần giải quyết vấn đề tam nông (nông nghiệp, nông thôn và nông dân) Tạo việc làm, tăng thu nhập và phát triển kinh tế khu vực nông thôn Mục tiêu đến năm 2020, tổng sản lượng thịt sản xuất đạt 5,5 triệu tấn, trong đó thịt lợn chiếm 63%, tương đương 3,5 triệu tấn, tăng 49% so với năm 2007 Tuy nhiên, thực tế hiện nay chăn nuôi lợn công nghiệp theo hướng trang trại chỉ mới đáp ứng được 15% sản lượng thịt lợn cả nước, trong đó 60% cung cấp cho thị trường các thành phố (TP) lớn trong nước như Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) và Hà Nội Để tiến nhanh tới một nền chăn nuôi lợn công nghiệp chiếm 50% - 60% tổng sản phẩm chăn nuôi lợn và có thể đáp ứng 80% - 90% lượng thịt lợn cho các TP lớn là từ trang trại chăn nuôi công nghiệp, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, thì hình thức chăn nuôi gia công là một giải pháp được lựa chọn Công ty Charoen Pokphand (C.P) Việt Nam bắt đầu phát triển hệ thống chăn nuôi lợn gia công với người chăn nuôi Việt Nam từ năm 2001, đến nay đã có trên 60.000 lợn nái các loại thuộc các cấp giống khác nhau như giống cụ kỵ (GGP), giống ông bà (GP) và giống bố mẹ
(PS), hằng năm cung cấp hàng triệu lợn con giống cho thị trường
Trong quá trình sản xuất, hộ nuôi gia công sẽ cung cấp lao động, trang thiết bị và dụng cụ chăn nuôi Công ty C.P có trách nhiệm cung cấp con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và vắc - xin đến hộ gia công Công ty chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát việc thực hiện quy trình kỹ thuật, thu hồi sản phẩm
và thanh toán tiền nuôi gia công theo kết quả chăn nuôi của hộ gia công
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Hiện nay, hệ thống chăn nuôi lợn của C.P được tổ chức theo 2 loại hình chính là chăn nuôi lợn nái sinh sản và chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa đến xuất chuồng Hệ thống chăn nuôi lợn nái sinh sản có quy mô từ 600 con đến 2.400 con/trại Hệ thống chăn nuôi lợn sau cai sữa được tổ chức với quy
mô từ 1.000 con 10.000 con/trại Định mức lao động 60 lợn nái/lao động hoặc 1.000 lợn sau cai sữa/lao động Bằng hệ thống này, người chăn nuôi gia công
có thể tham gia một trong hai loại hình chăn nuôi khác nhau (như chăn nuôi lợn nái sinh sản hoặc chăn nuôi lợn sau cai sữa) với nhiều quy mô khác nhau tùy thuộc vào khả năng đầu tư Trại nuôi gia công có thể là của một hộ hoặc của nhiều hộ dưới hình thức góp vốn cổ phần
Tuy nhiên, khi tham gia vào chuỗi chăn nuôi gia công, người dân không chỉ chịu rất nhiều áp lực về việc phải đảm bảo giữ được đầu con giống, đầu tư trang thiết bị, bỏ nhiều công sức mà thu nhập mang lại chưa tương xứng Giá mà công ty trả chưa thỏa đáng, chưa phù hợp với giá thị trường Do vậy người dân luôn là người bị thiệt
Bắc Giang là một tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi phía bắc, trong những năm gần đây tình hình phát triển nông nghiệp cũng có nhiều thay đổi đáng kể Phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại ngày càng phát triển Tuy nhiên, do chăn nuôi phát triển nhưng tỉnh lại chưa thu hút được các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thực phẩm trên địa bàn Do
đó làm cho ngành chăn nuôi chưa phát huy được thế mạnh Điều này thể hiện
rõ đó là hầu hết các trang trại lớn trên địa bàn Tỉnh có điều kiện sản xuất tốt thì đều là chăn nuôi thuê cho các công ty nước ngoài, điển hình là công ty cổ
CP Họ đảm bảo cung cấp cả đầu vào lẫn bao tiêu đầu ra, chính điều này làm cho người dân càng thiệt thòi
Huyện Việt Yên là một trong những huyện có những điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi trang trại ở Bắc Giang Trong những năm qua, hình thức chăn nuôi gia công trên địa bàn khá phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn Song, do khó khăn về vốn đầu tư nên các trang trại phải liên kết với các công ty để phát triển chăn nuôi, vô hình dung trở thành lao động làm thuê cho các công ty cám Dẫn đến người dân địa phương chịu thiệt nhiều đường Để
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
trả lời cho câu hỏi liệu rằng người dân khi tham gia vào chuỗi chăn nuôi gia công có được hưởng lợi gì không? Sự phân chia lợi ích giữa doanh nghiệp và các trang trại tham gia đã công bằng chưa? Người dân được gì và mất gì khi tham gia vào chuỗi này? Tại sao hình thức này vẫn thu hút được nhiều trang trại lớn tham gia? Xuất phát từ những thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “ Phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên – Tỉnh Bắc Giang”
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Phân tích chuỗi giá trị của ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công để thấy được sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân từ đó đưa ra giải pháp nhằm cải thiện chuỗi nâng cao hiệu quả kinh tế cho các tác nhân
2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mô tả được thực trạng ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn huyện Việt Yên – Bắc Giang
- Xác định được các tác nhân tham gia vào chuỗi chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Việt Yên – Bắc Giang
- Xác định được sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi
- Phân tích được những khó khăn và thuận lợi của các tác nhân trong chuỗi
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện Việt Yên trong những năm tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các tác nhân tham gia vào chuỗi chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên – Bắc Giang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vị về không gian: Đề tài được tiến hành trên địa bàn Huyện Việt Yên – Bắc giang
- Phạm vi thời gian
+ Các số liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ năm 2010 - 2012
+ Số liệu sơ cấp được tiến hành thu thập điều tra vào năm 2012
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cở sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị
1.1.1.1 Chuỗi giá trị
Ý tưởng về chuỗi giá trị hoàn toàn mang tính trực giác Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng [23] Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi Theo định nghĩa này
có thể giải thích theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, một chuỗi gồm một loạt những hoạt động trong một công
ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng [23] Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành phẩm cuối cùng Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm [28] Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt Cũng tương tự như vậy đối với một thiết kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyên liệu tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm và vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm
Chuỗi giá trị theo “nghĩa rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản phẩm bán lẻ [23] Chuỗi giá trị „rộng‟ bắt đầu từ hệ thống sản xuất
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến, vv…
Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi [28] Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia
sẻ, quan hệ giữa họ hình thành và phát triển như thế nào, v.v
Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùng quan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội
và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như đất đai, nước), có thể làm thoái hoá đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm [20] Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ, do quan hệ quyền lực giữa các hộ và cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị [20]
Những mối quan ngại này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nông nghiệp Lý do là các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích chuỗi giá trị có thể
áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của người nghèo và các tác động tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến người nghèo [16]
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan đến chuỗi giá trị
Phần này giới thiệu tổng quan về các khái niệm chính của chuỗi giá trị
từ quan điểm học thuật Trước hết, phần này nhằm làm rõ khái niệm về chuỗi giá trị, thứ hai là trình bày cô đọng tổng quan tài liệu để giới thiệu một số vấn
đề chính liên quan đến việc phân tích chuỗi giá trị
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
a Chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân
Theo Lambert and Cooper (2000) [24] một chuỗi cung ứng ứng có 4 đặc trưng cơ bản như sau:
- Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc
- Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức
- Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin
có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý
- Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình
- Bản chất của sản xuất nông nghiệp thường dựa vào quá trình sinh học,
do vậy làm tăng biến động và rủi ro
- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu như dễ dập thối
và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau
- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm
an toàn và vấn đề môi trường
c Ngành hàng
Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản Bước sang những năm 1980, phân tích
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài”
Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến
để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ” [14]
Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp” [4]
Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó
Sự dịch chuyển được xem xét theo ba dạng sau [4]:
+ Sự dịch chuyển về mặt thời gian
Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác
Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ
Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm
+ Sự dịch chuyển về mặt không gian
Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
nơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ
+ Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm)
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển tlợn sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra
Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết” [4]
d Tác nhân
Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và
tự quyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ [14] Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh, )
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy ) Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng với
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
tên tác nhân Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch
về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng Các tác nhân đứng sau thường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nó cho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng luồng hàng kết thúc thì
ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng
e) Bản đồ chuỗi giá trị
Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) về những cấp độ vi mô cấp trung của chuỗi giá trị Theo định nghĩa về chuỗi giá trị, bản đồ chuỗi giá trị bao gồm một bản đồ chức năng kèm với một bản đồ
về các chủ thể của chuỗi Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiết phải bao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị
Filière (Chuỗi)
Phương pháp “Filière” (Filière nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái
tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp [17] Phân tích chủ yếu làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê
và dừa) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển [18] Trong bối cảnh này, khung Filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng [19]
Do đó, khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hoá và xác định những người tham gia vào các hoạt động [27] Tính hợp lý của chuỗi (Filière) hoàn toàn tương tự như khái niệm mở rộng về chuỗi giá trị được trình bày ở trên
Khung phân tích của Porter
Trường phái nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh Porter đã dùng khung phân tích chuỗi
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào? Cách khác
là làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng sẵn sàng mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)?
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu v.v
Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành Ví dụ, một phân tích về chuỗi giá trị của một siêu thị ở châu Âu có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị
đó so với các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả nhập từ nước ngoài [20] Tìm ra nguồn lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đích kinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được đó, doanh nghiệp kinh doanh siêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng cố mối quan hệ với các nhà sản xuất
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
hoa quả nước ngoài và chiến dịch quảng cáo sẽ chú ý đặc biệt đến những vấn
đề này
Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985) [26]
Một cách để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm “hệ thống giá trị” Có nghĩa là: Thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của một chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là “hệ thống giá trị” Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hoá hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm “chuỗi giá trị của doanh nghiệp” Tuy nhiên, cần chỉ ra rằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu là công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược
Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985) [26]
Chuçi gi¸
trÞ cña nhµ cung cÊp
Chuçi gi¸
trÞ cña c«ng ty
Chuçi gi¸
trÞ cña ng-êi mua
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Gần đây nhất, khái niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hoá Các nhà nghiên cứu Kaplinsky và Morris, (2001) đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hoá, người ta nhận thấy khoảng cách trong thu nhập trong và giữa các nước tăng lên Các tác giả này lập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất là trong một viễn cảnh năng động:
- Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi, phân tích chuỗi giá trị sẽ phân tích được tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành những khoản mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được
- Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế được coi là một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ, trong đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận được các thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnh này, sự thành công của các nước đang phát triển và của những người tham gia thị trường
ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lưới này Muốn tiếp cận được mạng lưới này thì sản phẩm phải đạt được các yêu cầu của toàn cầu hoá
1.1.2 Các công cụ phân tích chuỗi giá trị
Trong quá trình phân tích chuỗi giá trị ngành hàng, tuỳ yêu cầu của ngành hàng, có thể sử dụng các công cụ sau đây để phân tích:
- Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích
* Mục tiêu của công cụ này là: Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên phải lập ra phương pháp để lựa chon một số nhất định các chuỗi giá trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được
* Các câu hỏi chính có thể sử dụng khi lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên là:
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
+ Việc chọn những chuỗi giá trị để phân tích dựa trên những tiêu chí chính nào?
+ Có những chuỗi giá trị tiềm năng nào có thể phân tích?
+ Sau khi áp dụng những tiêu chí lựa chọn, những chuỗi giá trị nào là thích hợp nhất để phân tích?
* Các bước tiến hành thực hiện công cụ này như sau:
Quá trình lập thứ tự ưu tiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến hành lựa chọn trong một tình huống có nguồn lực khan hiếm Bốn bước này bao gồm việc xác định một hệ thống các tiêu chí sẽ được áp dụng để lập thứ
tự ưu tiên các chuỗi giá trị, đánh giá tương đối mức độ quan trọng của các tiêu chí đó, xác định các tiểu ngành, sản phẩm, hàng hóa tiềm năng có thể xem xét
và sau đó lập một ma trận để xếp thứ tự các sản phẩm theo các tiêu chí trên Lựa chọn ưu tiên cuối cùng có thể xác định dựa vào kết quả xếp loại đạt được
- Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dùng các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung được bản chất Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm cho những gì chúng ta nhìn thấy dễ hiểu hơn
* Mục tiêu của việc thực hiện công cụ lập sơ đồ chuỗi bao gồm 3 mục tiêu sau:
+ Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác nhân và các quy trình trong một chuỗi giá trị
+ Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị
+ Cung cấp cho các bên có liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị
* Các câu hỏi chính: Không có sơ đồ chuỗi gía trị nào hoàn toàn toàn diện và bao gồm tất cả mọi yếu tố Việc quyết định lập sơ đồ những gì phụ thuộc vào các nguồn lực ta có, phạm vi và mục tiêu của nghiên cứu và nhiệm
vụ của tổ chức của chúng ta Một chuỗi giá trị, cũng như thực tiễn, có rất nhiều khía cạnh: dòng sản phẩm thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích luỹ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
được v.v Vì vậy, việc chọn xem sẽ đưa vào những khía cạnh nào mà ta muốn lập sơ đồ là rất quan trọng
Những câu hỏi sau có thể hướng dẫn chọn những vấn đề nào để đưa vào sơ đồ:
+ Có những quy trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị? + Ai tham gia vào những quy trình này và họ thực tế làm những gì? + Có những dòng sản phẩm, thông tin, tri thức nào trong chuỗi giá trị? + Khối lượng của sản phẩm, số lượng những người tham gia, số công việc tạo ra như thế nào?
+ Sản phẩm (hoặc dịch vụ) có xuất xứ từ đầu và được chuyển đi đâu? + Giá trị thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi giá trị?
+ Có những hình thức quan hệ và liên kết nào tồn tại?
+ Những loại dịch vụ (kinh doanh) nào cung cấp cho chuỗi giá trị?
* Lập sơ đồ chuỗi giá trị bao gồm các bước sau:
+ Bước 1: Lập sơ đồ các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị
+ Bước 2: Xác định và lập sơ đồ những người tham gia chính vào các quy trình này
+ Bước 3: Lập sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin và kiến thức
+ Bước 4: Lập sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và số công việc
+ Bước 5: Lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt địa lý
+ Bước 6: Xác định trên sơ đồ giá trị ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị
+ Bước 7: Lập sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị
+ Bước 8: Lập sơ đồ các dịch vụ kinh doanh cung cấp cho chuỗi giá trị
- Chi phí và lợi nhuận
Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một
số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp Một trong những số đó là chi phí và lợi nhuận, hay nói một
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
cách đơn giản hơn, là số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra
và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được
* Để xác định được chi phí và lợi nhuận chúng ta cần dựa vào một số câu hỏi chính sau:
+ Chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia
là gì và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị?
+ Thu nhập của mỗi người tham gia trong chuỗi giá trị là bao nhiêu? Nói cách khác, khối lượng bán và giá bán của mỗi người tham gia
+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn các chuỗi giá trị tương tự ở những nơi khác?
+ Nguyên nhân của việc phân chia chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị là gì?
- Phân tích công nghệ và kiến thức của các tác nhân tham gia trong chuỗi
Công cụ này giúp xem xét xem những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị đang sử dụng những công nghệ như thế nào? công nghệ này có phù hợp với họ hay không và liệu có thể thay thổi để cải thiện giá trị của sản phẩm được không?
* Mục tiêu của công cụ này:
+ Để phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của công nghệ trong việc sử
dụng trong chuỗi giá trị
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
+ Để đảm bảo một loại hình của công nghệ hiện tại và đòi hỏi trong chuỗi giá trị
+ Để phân tích tính hợp lý của công nghệ (có đủ điều kiện, hợp, có thể tiếp cận, có thể tái tạo và thay thế) phù hợp với những kỹ năng của công nghệ
ở các mức khác nhau của chuỗi giá trị
+ Để phân tích các lựa chọn nâng cao trong chuỗi giá trị cung cấp
những chất lượng đồi hỏi của sản phẩm đầu ra
+ Phân tích tác động của đầu tư bên ngoài trong kiến thức và công nghệ
- Phân tích các thu nhập trong chuỗi giá trị
Phân tích tác động của việc tham gia vào các chuỗi giá trị tới việc phân
bổ thu nhập trong và giữa các mức khác nhau của chuỗi giá trị ở cấp bậc của người tham gia đơn lẻ; Phân tích tác động của các hệ thống quản trị chuỗi giá trị khác nhau tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng; Miêu tả sự tác động của sự phân bổ thu nhập tới người nghèo và những nhóm người yếu thế và tiềm năng đối với sự giảm nghèo từ các chuỗi giá trị khác nhau
- Phân tích việc làm trong chuỗi giá trị
Mục đích của việc phân tích này là: Để phân tích tác động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa và trong các cấp khác nhau của chuỗi giá trị ở cấp người tham gia cá nhân; Miêu tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi giá trị và trong số những tầng lớp giàu khác nhau và làm thế nào để người nghèo và nhóm yếu thế có thể tham gia vào chuỗi; Miêu tả sự năng động của việc làm trong và dọc theo chuỗi giá trị và sự bao gồm, tách rời người nghèo
và các nhóm yếu thế; Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm; Phân tích sự tác động của các chiến lược nâng cao khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm
- Quản trị và các dịch vụ
Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm điều tra các quy tắc hoạt động trong chuỗi giá trị và đánh giá sự phân phối quyền lực giữa những người tham gia khác nhau Quản trị là một khái niệm rộng bao gồm hệ thống điều phối, tổ chức và kiểm soát mà bảo vệ và nâng cao việc tạo ra giá trị dọc theo chuỗi Quản trị bao hàm sự tác động qua lại giữa những người
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
tham gia trong chuỗi là không ngẫu nhiên, nhưng được tổ chức trong một
hệ thống cho phép đáp ứng những đòi hỏi cụ thể về sản phẩm, phương pháp
và hậu cần Ví dụ, việc tham gia thị trường quốc tế thường phụ thuộc vào
sự tuân thủ những quy định và chuẩn mực quốc tế; một hệ thống quản trị hiệu quả đảm bảo rằng những chuẩn mực yêu cầu có thể được đáp ứng bởi tất cả các khâu trong chuỗi Phân tích quản trị và các dịch vụ có thể giúp xác định đòn bẩy can thiệp nhằm tăng tính hiệu quả chung của chuỗi giá trị Các quy tắc có thể không được lập ra một cách đầy đủ và duy trì yếu, làm giảm các khả năng tạo ra giá trị Việc phân tích các dịch vụ và quản trị cũng có thể giúp đánh giá lợi thế và bất lợi của các quy tắc đối với các nhóm khác nhau, do vậy khám phá ra các khó khăn hệ thống ảnh hưởng tới những người tham gia yếu hơn Việc phân tích các dịch vụ và quản trị có thể giúp hiểu những vấn đề quan trọng liên quan đến việc hoà nhập của người nghèo vào chuỗi giá trị Trước hết rất quan trọng để sử dụng phân tích quản trị để xác định xem liệu người nghèo có tiếp cận được với các nguồn lực hay liệu có những rào cản cơ cấu đối với tiếp cận chuỗi giá trị
Ví dụ, khi các nguồn lực được kiểm soát bởi một số ít những người tham gia có quyền lực liên quan bởi tình bạn hay quan hệ tin tưởng thì người tham gia mới muốn tham gia vào chuỗi sẽ gặp phải những rào cản về kinh
tế và xã hội Trong một chuỗi giá trị mà bị thống trị bởi một vài người tham gia trung tâm thì người nghèo sẽ có khả năng ở thế bất lợi
- Sự liên kết
Phân tích mối liên kết bao gồm không chỉ việc xác định tổ chức và người tham gia nào liên kết với nhau mà còn xác định nguyên nhân của những liên kết này và những liên kết này có mang lại lợi ích hay không Việc củng
cố các mối liên kết giữa những người tham gia khác nhau trong hệ thống thị trường sẽ tạo nên nền móng cho việc cải tiến thiện trong các cản trở khác; việc lập ra cơ chế hợp đồng, cải thiện sau khi thu hoạch và hệ thống vận chuyển, những cải tiến trong chất lượng và sử dụng hiệu quả thông tin thị trường Đây là từ quan điểm vì người nghèo
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.3 Một số khái niệm dùng cho tính toán
* Giá trị sản xuất (GO- Gross Output)
Là doanh thu (hoặc đầu ra) của từng tác nhân, được tính bằng lượng sản phẩm nhân với đơn giá Để đơn giản, người ta chỉ xem xét những sản phẩm chính Trong phân tích ngành hàng, giá trị sản phẩm sẽ được phân tích khác nhau trong phân tích tài chính và phân tích kinh tế
* Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost)
Là chi phí về những yếu tố vật chất tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh Chi phí trung gian trong ngành hàng được tính theo chi phí vật chất của luồng vật chất tạo nên sản phẩm Sản phẩm của các tác nhân đứng trước thuộc chi phí trung gian của các tác nhân đứng liền kề sau nó Các chi phí trung gian khác là những chi phí ngoài ngành
* Giá trị gia tăng (VA- Value Added)
- Là giá trị mới tạo thêm của mỗi tác nhân do hoạt động kinh tế về việc
sử dụng tài sản cố định, vốn và đầu tư lao động dưới ảnh hưởng của chính sách thuế của Nhà nước
- Công thức tính: VA = GO – IC Giá trị gia tăng VA có thể bằng 0, dương hoặc âm
Giá trị gia tăng là phần không tính trùng giữa các tác nhân Vì vậy, trong nền kinh tế quốc dân, tập hợp toàn bộ giá trị gia tăng của mọi tác nhân sẽ tạo nên tổng sản phẩm quốc dân của đất nước (GNP = ∑ VA) Như vậy, nếu một tác nhân nào đó có VA > 0 thì nghĩa là tác nhân đó đã góp phần tạo nên GNP cho nền kinh tế
Trong chuỗi giá trị, giá trị gia tăng là thước đo về giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Khái niệm này tương đương với tổng giá trị được tạo ra bởi những người vận hành chuỗi (doanh thu của chuỗi = giá bán cuối cùng * số lượng bán ra) Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữa giá
mà người vận hành chuỗi bán được trừ đi giá mà người vận hành chuỗi đó đã
bỏ ra để mua những nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trước cung cấp, và giá của những hàng trung gian mua từ những nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ không được coi là mắt xích trong chuỗi
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Nói tóm lại, “giá trị mà được cộng thêm vào hàng hoá hay dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó” (Mc Cormick/Schmitz) Một phần của giá trị gia tăng được tạo ra được giữ lại trong chuỗi, còn một phần khác thì được giữ lại bởi những nhà cung cấp nằm ngoài chuỗi
- Các bộ phận của giá trị gia tăng:
+ Chi phí về tiền lương và phụ cấp (W-Wage)
+ Thuế và các khoản phải nộp (T- Taxes): Là các khoản thuế và các khoản phải nộp mà các tác nhân phải đóng góp cho Nhà nước
+ Chi phí khác về tài chính (FF- Financial Fee): Là khoản trả lãi tiền vay, nộp bảo hiểm và các chi phí tài chính khác của các tác nhân Nếu tác nhân chỉ sử dụng vốn tự có, không phải trả lãi tiền vay thì sẽ không có chi phí
về tài chính
+ Lãi gộp (GPr- Gross Profit): Là khoản lợi nhuận thu được sau khi trừ
đi tiền thuê lao động, thuế và các chi phí tài chính
GPr = VA - (W + T + FF)
Nếu lãi gộp > 0 có nghĩa là tác nhân đã thu được khoản lãi trong kinh doanh Lãi gộp GPr là yếu tố linh hoạt, nó biến đổi theo sự biến đổi của các đẳng thức trên Cũng như giá trị gia tăng, lãi gộp cũng có thể âm, dương hoặc bằng 0
Lãi gộp GPr bao gồm 2 đại lượng là hao mòn tài sản cố định và lãi ròng + Hao mòn tài sản cố định (A- Amotization) được tính hàng năm nhằm mục đích tái sản xuất tài sản cố định
Có ba phương pháp tính khấu hao, đó là: khấu hao đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần, khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra
Để đơn giản, trong nghiên cứu này chúng tôi tính khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng Mức khấu hao trung bình hàng năm của chuồng trại được tính bằng nguyên giá tài sản cố định (TSCĐ) chia cho số năm khai thác
Để tính nguyên giá TSCĐ là chuồng trại chăn nuôi phải tập hợp tất cả các chi phí xây dựng vào tài khoản 241 sau đó mới hình thành tài sản cố định Thời điểm ghi nhận TSCĐ là thời điểm kết thúc giai đoạn xây mới, đưa chuồng trại vào khai thác Các chi phí sửa chữa nhỏ trong giai đoạn sử dụng
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
tính vào chi phí hoạt động trong kỳ
+ Lãi ròng NPr (Net Profit): Là phần lãi sau khi lấy lãi gộp trừ đi phần hao mòn tài sản cố định NPr = GPr - A
Lãi ròng cũng có thể là số dương, âm hay bằng 0 Lãi ròng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Đó là phần thu được của các tác nhân sau khi trừ đi toàn bộ mọi chi phí và các khoản phải nộp Thông thường các tác nhân sử dụng lãi ròng NPr vào việc mở rộng sản xuất hoặc nâng cao đời sống
1.1.4
Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:
- Thứ nhất: Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể
- Thứ hai: phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong viêc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia chuỗi Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển (nhất là về nông nghiệp) khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
- Thứ ba: Phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp chuỗi giá trị
- Thứ tư: phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị chuỗi giá trị
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững
Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, bất cập trong
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trình giao dịch, phân phối lợi nhuận, mối liên kết và thông tin giữa các tác nhân để đưa ra giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới
Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho các sản phẩm cũng như đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia
Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đến chuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp Nguyên tắc cơ bản của chuỗi giá trị trong giai đoạn này rất đơn giản và dễ hiểu đó là chuỗi giá trị quan tâm đến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí
về mặt thời gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm đó [19]
Fearne và Hughes (1998) [19] cũng đã phân tích được những ưu điểm
và nhược điểm của việc áp dụng chuỗi giá trị:
Ưu điểm:
- Giảm mức độ phức tạp trong mua và bán
- Giảm chi phí và tăng chất lượng sản phẩm
- Giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới
- Cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau
- Giá cả đầu vào ổn định
Nhược điểm:
- Tăng sự phụ thuộc giữa các bên tham gia chuỗi
- Giảm sự canh tranh giữa người mua/người bán
- Phát sinh những chi phí mới trong chuỗi
Eaton và Shepherd (2001) [18] đã có một nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành chè tại Kenya và cacao tại Indonesia, nghiên cứu này tập trung vào vấn đề chuỗi giá trị và giải pháp sinh kế bền vững, tác giả đã chỉ ra
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
được những vấn đề mà chuỗi giá trị ngành chè Kenya, chuỗi giá trị ngành Cacao Indonesia gặp phải và những vấn đề liên quan đến sinh kế của những người sản xuất nhỏ, những người dễ bị tổn thương Những nghiên cứu về cấu trúc thị trường, những kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị, mối quan hệ tương tác giữa những chuỗi giá trị đó Điều quan tâm của nghiên cứu này là những “mối quan hệ” giữa các tác nhân, những tác động của hộp P.I.P (Policies, Institutions, Processes) và khung sinh kế bền vững SLF (sustainable livelihood framwork) đến những người nắm giữ những
tư liệu sản xuất nhỏ và những người làm thuê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển như Kenya và Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan hệ ràng buộc, giá trị gia tăng trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởng lợi nhuận thấp nhất Chính vì chưa có mối quan hệ ràng buộc nên những tác nhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường là đối tượng hưởng lợi nhuận nhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợi nhuận cao hơn
Trong báo cáo của FAO về chuỗi giá trị ngành khoai tây năm 2008 [16], đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị của ngành hàng Họ đã chỉ ra được vấn đề đang gặp phải ở các nước đang phát triển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thị trường nhỏ lẻ và ít có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thị trường, điều này đang gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi Giá cả đầu vào tăng cao đang gây ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ lẻ Hậu quả là họ đang bị loại dần ra khỏi thị trường và không tham gia được vào chuỗi giá trị Vấn đề quan trọng đặt ra cho chuỗi giá trị ở các nước này là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượng sản phẩm tốt và sự hỗ trợ về các vật tư đầu vào cùng với sự phối hợp hành động trong chuỗi
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam
* Một số công trình nghiên cứu về chuỗi giá đối với các ngành hàng thuộc lĩnh vực trồng trọt ở Việt Nam
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Tại Việt Nam việc áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị đã được các tổ chức (GTZ, SNV, ACI) nghiên cứu trên các đối tượng cây luồng ở Thanh Hoá, cây vải Thanh Hà - Hải Dương, ngành cói của tỉnh Ninh Bình, cá Ba Sa Việt Nam, lúa gạo Việt Nam [9] Phương pháp chuỗi giá trị cũng đã được áp dụng trong việc nghiên cứu việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ,…Việc nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng sẽ đặc biệt quan trọng trong giai đoạn Việt Nam là thành viên của WTO
Các tổ chức ACI, DFID, ADB đã tổ chức tuần lễ “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo”[9] đã tham gia tích cực vào việc nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam Như: “Chuỗi giá trị ngành lúa gạo Việt Nam: Triển vọng tham gia của người nghèo” với hai mục tiêu chính là: thứ nhất, tiến hành phân tích chức năng của thị trường và người nghèo có thể nhận được lợi ích gì từ thị trường? thứ hai, là xây dựng năng lực cho phát triển thị trường vì người nghèo thông qua các hoạt động nghiên cứu, xây dựng
hệ thống và tăng cường thảo luận chính sách Họ đã đưa ra được các chuỗi giá trị khác nhau, các kênh tiêu thụ khác nhau như: kênh tiêu thụ có liên kết, kênh tiêu thụ dựa vào thị trường, các kênh tiêu thụ khác như hợp tác
xã, mức độ giao dịch trong các chuỗi giá trị, so sánh các chuỗi giá trị Các kết luận về chi phí, lợi nhuận, những kết luận về các trở ngại, những định hướng chiến lược cho chuỗi giá trị như: tăng cường mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị để nâng cao chất lượng, đa dạng hoá thị trường
và sản phẩm,… Như vậy, những “mối quan hệ” ở đây được nhắc đến như những vấn đề quan trọng cần được giải quyết trong nghiên cứu này, nó đã vượt qua giới hạn của một sản phẩm nhất định và đi vào giải quyết các mối quan hệ trao đổi thông tin, những quan hệ phi giá cả giữa các bên tham gia
Nghiên cứu “Tác động của chuỗi giá trị cây Hoa Hồng đến sự phát triển kinh tế ở Miền Bắc Việt Nam” đã có cái nhìn tổng thể và đánh giá tác động của các chuỗi giá trị khác nhau đối với cây Hoa Hồng Họ nghiên cứu đến việc tiêu thụ hoa Hồng và thị phần, khả năng sinh lời, vấn đề về tạo việc làm, lãi ròng và tác động giảm nghèo của cây hoa Hồng cũng như các rào cản đối với việc tham gia chuỗi giá trị hoa Hồng Từ đó, họ đã có những kết luận
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
chính xác về các lĩnh vực nghiên cứu trên, như về các rào cản đối với việc tham gia chuỗi giá trị hoa Hồng thì những người nông dân nghèo chỉ có thể vượt qua bước khởi đầu nếu họ được cấp tín dụng, vì trồng hoa Hồng đòi hỏi nhiều vốn hơn, đặc biệt năm đầu tiên rất khó khăn vì phải đầu tư cây giống và đào giếng nếu như nguồn nước không đảm bảo Tại Mê Linh (Vĩnh Phúc), đầu tư năm đầu tiên khoảng 4 triệu VND/sào Đối với nông dân người dân tộc thiểu số ở Sapa, vấn đề này có thể khác Tại Sapa, một rào cản khác lại là sự cần thiết phải có mối quan hệ với những người kinh doanh ở Hà Nội, vì hiện tại chưa có nhà kinh doanh nào tự đến Sapa,…
Trong năm 2005 đã có một dự án “Tạo điều kiện cho người nghèo vùng cao hội nhập vào chuỗi giá trị cây Luồng: Cải thiện chiến lược cho các nhóm sản xuất địa phương” Họ đã có những cách tiếp cận, nghiên cứu như: tiếp cận với các phân đoạn thị trường giá trị gia tăng mở rộng, sự cần thiết phải tăng tính cạnh tranh trong các phân đoạn thị trường giá trị gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo vùng cao hội nhập vào chuỗi giá trị cây Luồng, nâng cao chiến lược cho nhóm những người sản xuất địa phương và hội nhập theo chiều dọc của người trồng Luồng vào chuỗi giá trị Luồng ván sàn,… và
đã có những kết luận mang tính tổng thể của những vấn đề liên quan trong chuỗi giá trị cây Luồng, tạo điều kiện cho việc phát triển chuỗi giá trị một cách bền vững, hiệu quả
Dự án “Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) đối với cây Thanh Long” (Bod Webster, VCCI) đã nói rất nhiều về chuỗi giá trị cây Thanh Long Như mục tiêu của dự án, ứng dụng thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, đạt chứng nhận EUREGAP, tiếp cận thị trường xuất khẩu giá trị cao hơn, xây dựng năng lực - bền vững, chứng minh/duy trì tính bền vững của trái cây và rau Họ đã xây dựng được chuỗi giá trị cây Thanh Long và
đã chứng minh được vai trò của việc nghiên cứu chuỗi giá trị khác nhiều so với kinh tế học thông thường, xây dựng được mối quan hệ tác động giữa các tác nhân trong chuỗi Với nhiều hoạt động khác nhau để thoả mãn mục đích như: Tăng khả năng nhận thức về lợi ích của GAP, nông dân có được chứng nhận EUREGAP, bán sản phẩm đến thị trường giá trị cao hơn, thiết
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
lập các tiêu chuẩn phân loại toàn quốc Dự án đã cho thấy giá trị gia tăng của các tác nhân nằm ở chuỗi giá trị nào, nghiên cứu cũng đã vượt qua giới hạn của một sản phẩm cụ thể [15]
Khi nghiên cứu chuỗi giá trị ngành chè Việt Nam, Công ty tư vấn nông sản quốc tế đã đưa ra nhận xét “Chuỗi giá trị ngành chè Việt Nam là một chuỗi giá trị hết sức phức tạp Mặc dù chỉ có 3 hoạt động chính - sản xuất chè lá, chế biến và bán chè khô - song số lượng các tác nhân tham gia vào mỗi một quá trình lại rất khác biệt, về quy mô và về chủ thể Nhìn chung, chuỗi giá trị chè gồm các mối quan hệ tương tác, tham gia của các tác nhân khác nhau, từ người sản xuất, thương nhân/người thu gom chè lá tới người chế biến, nhà xuất khẩu, thương nhân chè khô, người bán lẻ và người tiêu dùng”
Người nông dân đóng một vai trò hết sức quan trọng trong mỗi chuỗi giá trị, quyết định đến số lượng và chất lượng sản phẩm, khi nghiên cứu chuỗi giá trị ngành thanh long ở Bình Thuận, Công ty Axis Research (2005) [1] đã chỉ ra rằng giữa người sản xuất và người thu mua thanh long chỉ quan hệ với nhau thông qua hợp động miệng trong việc mua bán sản phẩm Vì vậy không
có sự ràng buộc nào trong việc đảm bảo số lượng và chất lượng sản phẩm
* Một số công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị đối với ngành hàng thịt lợn ở Việt Nam
Bên cạnh lĩnh vực trồng trọt, trong những năm qua ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị đối với một số ngành hàng trong lĩnh vực chăn nuôi như: Nghiên cứu chuỗi giá trị của ngành hàng thịt bò Cao Bằng do Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp thực hiện năm 2007, nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng thịt gà,…Đặc biệt trong
đó có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến ngành hàng thịt lợn đã được tiến hành, các nghiên cứu đã chỉ rõ được thực trạng ngành chăn nuôi lợn
ở Việt Nam về sản xuất, tiêu thụ và cũng đưa ra được những giải pháp thiết thực nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả của ngành chăn nuôi lợn ở nước ta
Cụ thể một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- “Nghiên cứu ngành hàng thịt lợn trên địa bàn huyện Văn Giang – Tỉnh Hưng Yên” của tác giả Lê Ngọc Hướng (2012) [5] Công trình đã thực
hiện nghiên cứu đầy đủ thực trạng các tác nhân tham gia ngành hàng thịt lợn trên địa bàn huyện Văn Giang và đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của từng tác nhân trong ngành hàng thịt lợn của huyện
- “Nghiên cứu các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ sản phẩm thịt lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Phạm Thị Tân (2012) [12] Nghiên
cứu đi sâu tìm hiểu các tác nhân tham gia vào kênh tiêu thụ thịt lợn ở tỉnh Nghệ An Trong các tác nhân này, hộ chăn nuôi và hộ tiêu dùng có số lượng đông nhất Hộ chăn nuôi tạo ra giá trị gia tăng nhỏ nhất và cũng chịu nhiều rủi
ro, bất lợi nhất so với các tác nhân khác Phân phối VA, thu nhập thực tế giữa các tác nhân chưa thực sự hợp lý, người bán lẻ và lò mổ thu được lợi ích cao hơn các tác nhân khác Phân tích tài chính cho thấy, hộ nuôi lợn thịt đang bị thua thiệt do phải sử dụng yếu tố đầu vào cao hơn giá xã hội Có rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động của các tác nhân và của cả kênh tiêu thụ thịt lợn, trong đó hộ chăn nuôi chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là giá thức ăn chăn nuôi Để kênh tiêu thụ thịt lợn ở Nghệ An phát triển tỉnh Nghệ An cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, nhất là các giải pháp kinh tế
- "Nghiên cứu các hình thức trong chăn nuôi lợn ở Miền Bắc Việt Nam” do Nguyễn Tuấn Sơn và cộng sự (2009) [11] thực hiện Nghiên
cứu đã đưa ra kết luận ở miền Bắc Việt Nam tồn tại 3 hình thức chính trong hợp tác chăn nuôi lợn: hợp đồng chính thống, hợp đồng không chính thống và chăn nuôi độc lập Các hộ chăn nuôi có liên kết với tư thương có thu nhập cao hơn các hộ không có liên kết và liên kết với hợp tác xã lại càng có ưu thế hơn Chăn nuôi lợn ngoại chỉ phù hợp với các hộ có quy mô chăn nuôi từ trung bình trở lên
- “ Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ - tỉnh Hà Tây” của tác giả Nguyễn Thị Thắm (2005) [13]
Công trình này đã chỉ ra được thực trạng chăn nuôi lợn về sản xuất cũng như tiêu thụ của ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, đồng thời
đề xuất ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau:
- Đánh giá một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Việt Yên – Tỉnh Bắc Giang
- Mô tả thực trạng ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn huyện Việt Yên – Tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá một số tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công trên địa bàn Huyện Việt Yên - Bắc Giang
- Phân tích chi phí, lợi nhuận của các tác nhân tham gia trong chuỗi ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công để thấy được sự phân chia lợi nhuận của các tác nhân
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công tại huyện Việt Yên - Bắc Giang
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị chăn nuôi lợn gia công trên địa bàn huyện Việt Yên phát triển
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu được lựa chọn dựa trên các thông tin sẵn có về tình hình sản xuất chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công tại Bắc Giang Huyện Việt Yên là một huyện có hình thức chăn nuôi lợn gia công khá phát triển, trên địa bàn huyện có rất nhiều các trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa
và nhỏ hoạt động theo hình thức nuôi gia công Do đó đề tài lựa chọn Huyện Việt Yên làm địa điểm nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo nghiên cứu có sẵn, các tài liệu, số liệu liên quan đến ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia
công ở Bắc Giang và Việt Nam
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
2.2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Thu thập các thông tin sơ cấp thông qua tiếp cận, phỏng vấn các tác nhân trong chuỗi giá trị (bằng bộ câu hỏi)
Bộ câu hỏi phỏng vấn: Sẽ phân chia theo các tác nhân:
+ Một bộ dành cho các hộ dân (trang trại) tham gia chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công Đối với tác nhân là các hộ gia công chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ các trang trại hiện đang thực hiện chăn nuôi gia công lợn cho công ty C.P trên địa bàn huyện Theo khảo sát hiện nay trên địa bàn huyện Việt Yên có 7 trang trại nuôi gia công lợn cho công ty C.P, trong đó gia công lợn nái có 3 trang trại đó là trang trại của Ông Thân Văn Hùng ở Thôn Nguộn xã Tự Lạn, trang trại của Nguyễn Văn Nguyệt ở xã Thượng Lan và trang trại của ông Nguyễn Đức Hiển ở xã Việt Tiến và gia công lợn thịt có 4 trang trại đó là trang trại của bà Vũ Thị Oanh ở xã Tự Lạn, trang trại của ông Chu Bá Thơ ở xã Tự Lạn, trang trại của ông Chu Thế Văn ở xã Tự Lạn và trang trại của ông Nguyệt ở xã Thượng Lan (mới xây dựng và đi vào hoạt động năm 2012)
+ Một bộ phỏng vấn tác nhân là công ty CP Đối với tác nhân này chúng tôi tiến hành điều tra, thu thập thông tin qua các cán bộ quản lý, cán bộ
kỹ thuật của công ty C.P tại các trang trại trên địa bàn huyện Như vậy, số cán
bộ được phỏng vấn là 07 người
+ Một bộ phiếu phỏng vấn các hộ giết mổ, bán buôn Đối với tác nhân này chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 30 hộ đang hoạt động giết mổ, bán buôn với nguồn nguyên liệu lấy từ các trang trại gia công lợn cho C.P trên địa bàn
+ Một bộ phiếu phỏng vấn các hộ chế biến Đối với tác nhân này chúng tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 20 hộ đang hoạt động chế biến các sản phẩm từ thịt lợn của các trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện Việt Yên
+ Một bộ phiếu phỏng vấn những người bán lẻ Đối với tác nhân này chúng tôi chọn ngẫu nhiên 20 hộ để tiến hành điều tra, phỏng vấn lấy thông tin, số liệu tính toán phục vụ nghiên cứu
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
+ Một bộ phiếu phỏng vấn người tiêu dùng Đối với tác nhân này chúng tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 30 người tiêu dùng thịt lợn để lấy thông tin, số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài
Ngoài ra còn kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin sâu, các thông tin về các tác nhân thị trường
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Đề tài có tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu chuỗi giá trị, đồng thời sử dụng một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến phạm trù nghiên cứu một cách linh hoạt, hợp lý và cần thiết
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có tham khảo ý kiến của các chuyên gia thông qua các buổi thảo luận nhóm, thành phần tham gia là một số nhà nghiên cứu đã từng nghiên về lĩnh vực chuỗi giá trị, các đại diện các tác nhân tham gia trong chuỗi để lấy ý kiến, và đưa ra những gợi ý giải pháp hỗ trợ thiết thực cho đề tài
2.2.4 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận trong chuỗi
Kaplinsky và Morris (2001) đã đưa ra công thức tính lợi nhuận trong chuỗi: Lợi nhuận = Tổng tài sản có (tổng vốn + lợi nhuận tái đầu tư + thu chưa đòi)
- các khoản nợ (vay ngắn hạn + vay dài hạn + nợ chưa trả)
Cách tính toán lợi nhuận, chi phí, sử dụng các chi phí từng phần, được minh họa dưới đây Số liệu chi phí gồm tất cả các thông tin về lao động, vật tư đầu vào, nhiên liệu, khấu hao và chi phí khác
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 2.1 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận theo Kaplinsky và Morris (2001)
Tác nhân
Chi phí đơn vị
Chi phí tăng thêm
% Chi phí tăng thêm Giá đơn vị
Lợi nhuận % lợi nhuận Lợi nhuận
biên
% giá bán lẻ
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel