Đào tạo theo nhu cầu xã hội - những định hướng và giải pháp
Trang 1MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
Chương I 6
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU 6
1 Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu 7
2 Phân loại đào tạo theo nhu cầu 7
3 Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu 8
4 Phân loại nhu cầu đào tạo 9
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường 10 6 Kinh nghiệm 11
Chương II 18
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 18
1 Những hạn chế của quá trình đào tạo theo nhu cầu 21
2 Những thành tựu đạt được từ đào tạo theo nhu cầu 29
Chương III 33
GIẢI PHÁP CHO ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở NƯỚC TA 33
1 Giải pháp 33
2 Lộ trình thực hiện từ 2007 đến 2010 39
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 2NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Một căn bệnh cốt tử trong nền Giáo dục và Đạo tạo (GD-ĐT) của ta hiệnnay là sự cách biệt quá lớn giữa đào tạo và sử dụng, giữa cung và cầu về nhânlực, hay nói cách khác là hiệu quả GD-ĐT thấp Đây là căn bệnh đã được nóiđến từ hàng chục năm qua, từ ngày Đảng và Nhà nước bắt đầu đề cập đến chủtrương xã hội hóa giáo dục, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa được khắc phục,nếu không nói là có xu hướng trầm trọng hơn trước áp lực của hội nhập quốc tế.Căn bệnh nói trên chính là hậu quả "kép" của một nền giáo dục vừa nặng về hưdanh, khoa cử, sính bằng cấp theo kiểu giáo dục phong kiến xưa kia lại vừamang tính "tháp ngà", tách biệt đào tạo với xã hội, với thực tiễn sản xuất kinhdoanh theo mô hình của Liên Xô trước đây
Biểu hiện rõ nhất của tình trạng nêu trên chính là sự mất cân đối trầmtrọng trong cơ cấu nguồn nhân lực được đào tạo mà lâu nay vẫn được gọi là tìnhtrạng "thừa thầy thiếu thợ", là tình trạng một bộ phận không nhỏ sinh viên ratrường không tìm được việc làm trong khi các doanh nghiệp, các khu côngnghiệp lại thiếu trầm trọng lao động đã qua đào tạo theo đúng nhu cầu của họ,đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao…Cùng với quá trình phát triển củanền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc chúng ta chính thức gia nhập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) với cam kết mở cửa thị trường giáo dục đạihọc đã tạo áp lực trực tiếp buộc chúng ta phải đổi mới tư duy GD-ĐT mà bằngchứng cụ thể là việc chấp nhận khái niệm thị trường giáo dục với đầy đủ ýnghĩa của nó, một khái niệm mà lâu nay vẫn bị coi là kiêng kỵ Rõ ràng, với áplực mở cửa thị trường đại học theo cam kết WTO, nếu chúng ta không khẩntrương đổi mới triệt để tư duy đào tạo, đặt GD-ĐT vào trung tâm của dòng chảyphát triển và hội nhập thì khủng hoảng, tụt hậu trong GD-ĐT và nguồn nhân lựcnói chung tất yếu sẽ xảy ra Một khi nguồn nhân lực đã được khẳng định là chìakhóa thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế thì hậu quả của khủng hoảng, tụt hậutrong GD-ĐT mà trực tiếp là đào tạo ĐH đối với phát triển kinh tế là vô cùngnặng nề
Trang 4Do đó chủ trương hướng toàn bộ nền ĐH, CĐ, THCN cho mục tiêu đápứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu cầu của doanh nghiệp, đối tượng cónhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo, hay nói nôm na là chuyển từ "đàotạo cái mình có" sang "đào tạo cái mà xã hội (doanh nghiệp) cần" và việc vậndụng các nguyên tắc của của thị trường trong đào tạo và sử dụng là cần thiết.
Nó không nhanh chóng giải quyết vấn đề nguồn nhân lực của hiện tại mà còntrở thành một động lực to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế khi nước ta trongtương lai
Trong bài viết này, em đi sâu vào việc làm rõ thực trạng đào tạo theo nhucầu ở nước ta hiện nay và kết quả mà chúng ta nhận được từ những gì mà chúng
ta thực hiện Vậy liệu có nên chăng tiếp tục con đường mà chúng ta đang đi hayphải đổi mới, hoàn thiện nó lên một bước cao hơn để GD – ĐT thực sự xuấtphát từ nhu cầu xã hội, để sản phẩm của nó thực sự đáp ứng nhu cầu về nguồnlao động chất lượng cao tăng lên không ngừng của xã hội
Mô hình này không còn phải là mới trên thế giới, nó đã được thực hiện từrất lâu rồI, ở rất nhiều quốc gia trên thế giới Việc Việt Nam đến nay mới nhận
ra và đi theo con đường này tuy là quá muộn song việc thực hiện nó không phải
là không có ý nghĩa bởi lẽ nếu không thực hiện thì không biết nền giáo dụcnước nhà sẽ còn đi đến đâu đặc biệt là hiện nay nước ta đã là thành viên củaWTO thì nhu cầu về nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường là rất lớn Tuy nhiên
để có thể đi đến đích thành công của nó không phải điều dễ dàng, thực tế trênthế giới cho thấy rõ không phải nước nào cũng thành công khi đi theo conđường này
Với tính cấp thiết và quan trọng của vấn đề này nên em đã chọn đề tài:
“Đào tạo theo nhu cầu xã hội - Những định hướng và giải pháp”
Nội dung chính của bài viết gồm có 3 phần:
Chương I : Lý luận chung về đào tạo theo nhu cầu
Chương II : Thực trạng việc đào tạo theo nhu cầu ở Việt Nam
Trang 5Chương III : Giải pháp cho đào tạo theo nhu cầu ở nước ta
Do những hạn chế về mặt kiến thức và nguồn tài liệu tìm kiếm được nênbài viết của em khó tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được những sự góp
ý của thầy và những ai quan tâm đến vấn đề mà em nghiên cứu
Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Đức Thọ đã hướng dẫn emhoàn thành đề án này
Trang 6Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU
Quan điểm đào tạo theo nhu cầu xã hội ở nước ta đã xuất hiện từ rất lâu.Ngay trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII tạiĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), Đảng ta đã khẳngđịnh: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hang đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả 3 mặt mở rộng quy mô, nâng cao dântrí và phát huy hiệu quả Phương hướng chung của lĩnh vực đào tạo trong nhữngnăm tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá (CNH – HĐH)
Hay trong bài phát biểu của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại Hộinghị giáo dục đào tạo, Bà đã nhấn mạnh: “Ở thời đại CNH – HĐH hiện nay sựphát triển kinh tế - xã hộI (KT – XH) trước mắt và tương lai đòi hỏi cấp báchnhững năng lực mới như năng lực thích ứng với sự thay đổi, năng lực tư duyđộc lập, năng lực tự học và tự cập nhập thường xuyên kiến thức mới, năng lựcsang tạo và nâng cao sự cạnh tranh của nền kinh tế … đó là những năng lực cầnthiết để tìm ra những cách làm rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước đitrước nhằm đạt muc tiêu CNH – HĐH Để có được những năng lực đó thì ngay
từ bây giờ các trường, các cơ sở đào tạo phải chuyển hướng đào tạo theo hướngđáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng giáo dục đào tạo phải trở thành một hệthống mở: mở đối với đại chúng, mở đối với thực tế kinh tế xã hội, mở đối vớithế giới và thời đại có như vậy chúng ta mới có thể hy vọng trong tương laikhông xa chúng ta có được nguồn lao động đáp ứng được các yêu cầu của xãhội”
Như vậy vấn đề đào tạo theo nhu cấu thực sự trở thành một vấn đề cấpthiết với nước ta không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai đặc biệt khinước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giớiWTO thì vấn đề này lại càng trở nên quan trọng bội phần nó giúp ta có được
Trang 7một lượng lớn nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của các doanhnghiệp trong nước và cả các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam,giảm bớt được một lượng đáng kể số người thất nghiệp trên thị trường đồngthời còn hạn chế được tình trạng trong khi số lượng người thất nghiệp trongnước tăng mà vẫn phải thuê lao động từ nước ngoài về làm việc.
1 Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu
Hiện nay, khái niệm đào tạo theo nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận vàchưa đi đến thống nhất Có quan điểm cho rằng: Đào tạo theo nhu cầu xã hộigồm: đào tạo theo nhu cầu của Nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sửdụng lao động và nhu cầu của người học Song cũng có quan điểm cho rằng:Đào tạo theo nhu cầu là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn
Những quan niệm trên đều chưa đầy đủ và sát với ý nghĩa của bản thân
nó Dưới đây tôi xin nêu ra cách khái niệm sau về đào tạo theo nhu cầu theo tôi
là phù hợp nhất
Đào tạo theo nhu cầu xã hội là phương thức đào tạo mà ở đó chỉ rõ: Đào
tạo cái gì? Đào tạo như thế nào? Đào tạo bao nhiêu? được định hướng bởi nhucầu đào tạo xã hội
2 Phân loại đào tạo theo nhu cầu
Hiện nay trên thị trường tồn tại 2 loại hình đào tạo theo nhu cầu:
- Đào tạo theo nhu cầu hiện tại của thị trường: tức là căn cứ vào nhu cầu
hiện tại của thị trường đang thiều lao động trong những ngành nghề gì thì đàotạo những ngành nghề đó và việc đào tạo này thường được tổ chức thành cáclớp đào tạo ngắn hạn (từ 3 đến 6 tháng) Ưu điểm của loại hình đạo tạo này làđáp ừng ngay được nhu cầu lao động của thị trường, tuy nhiên nó có nhượcđiểm lớn là những lao động được đào tạo ra thường có tay nghề không cao nênsau một thời gian làm việc nều không có sự bổ sung kiến thức thì dễ bị đào thải
do không còn đáp ứng được yêu cầu cao hơn của công việc
Trang 8- Đào tạo đáp ứng nhu cầu tương lai của thị trường: theo hình thức này
thì căn cứ vào tình hình phát triển hiện tại của nền kinh tế trong nước và xu thếphát triển của thế giới để đưa ra nhưng dự đoán về những ngành nghề sẽ pháttriển trong tương lai Việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đàotạo dài hạn (từ 3 đến 6 năm), những lao động được tạo ra từ đây thường có trình
độ cao; khả năng học hỏi, tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ,thích ứng với sự thay đổi là nhanh.Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là do thờigian đào tạo là dài nên đòi hỏi việc dự báo phải có tính chính xác cao để tránh
sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
3 Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu
a) Vai trò
Đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển của quốc gia, dân tộc Ý nghĩa của nó không chỉ tồn tại trong một giaiđoạn phát triển nhất định nào đó mà nó xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triểncủa mỗi quốc gia, dân tộc bởi lẽ xã hội luôn luôn đi lên, nhu cầu của con ngườinày càng cao, khoa học công nghệ phát triển từng ngày từng giờ … khiến chonhu cầu về nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở có đức tính tốt, cần cù, trungthành, có trách nhiệm nữa mà họ còn phải có tính sáng tạo, có khả năng xử lývần đề, có khả năng phân tích, có tinh thần đồng độI, có khả năng ăn nói diễnđạt …
Như vậy đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai trò rất to lớn, cụ thể là:
- Nó khắc phục sự thiếu hụt trình độ và kỹ năng của từng cá nhân so vớiyêu cầu cụ thể do công việc hiện tại và trước mắt của chính mỗi cá nhân đó đặtra
- Đáp ứng sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực chất lượng cao chocác đơn vị tuyển dụng
- Tăng khả năng cạnh tranh của lao động trong nước so với nguồn nhânlực từ nước ngoài chảy vào
Trang 9- Làm giảm nhu cầu nhập khẩu lao động từ các nước của các đơn vị tuyểndụng trong nước
- Tiết kiệm chí phí và thời gian cho cơ quan tuyển dụng cũng như ngườilao động khi phải đào tạo lại
b) Đặc điểm
Đào tạo theo nhu cầu xã hội không phải là một loại hình đào tạo mới trênthế giới, nhưng đối với Việt Nam thì đây còn là một bài toàn khó cần giải quyếttrong giai đoạn hiện nay để có thể có một nguồn nhân lực tốt đáp ứng nhu cầuhiện tại và tương lai của đất nước
Đào tạo theo nhu cầu có những đặc điểm sau:
- Chi phí cho đào tạo là khá lớn cả về tiền bạc và công sức bởi nó thườngđòi hỏI cơ sở đào tạo phải nghiên cứu kỹ nhu cầu của thị trường cũng như phảiđầu tư mua sắm những trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy và nghiên cứutheo đúng những gì đang có trên thị trường, tiếp cận những phương pháp giảngdạy tiên tiến trên thế giới
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đa dạng phù hợp với nhu cầu củangười học và của các cơ quan sử dụng lao động
- Luôn tồn tại sự chênh lệch giữa nhu cầu đào tạo và cung ứng đào tạo donhu cầu luôn biến đổi còn quy trình đài tạo thì lại có sức ỳ lớn
- Nội dung đào tạo phải luôn gắn với thực tiễn
4 Phân loại nhu cầu đào tạo
Hiện nay có 3 nhóm nhu cầu sau đây:
- Nhu cầu của nhà nước: là chiến lược phát triển nguồn nhân lực với tầm
xa 15 đến 20 năm với các ngành nghề đặc biệt, đảm bảo cho sự phát triển lâudài của đất nước Nhu cầu đào tạo này thường chọn mục tiêu đi trước, đón đầu
về khoa học, công nghệ, vượt trước nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp cũng nhưnhu cầu của người học Có thể thấy nhu cầu đào tạo này trong việc phát triểnnguồn nhân lực cho các ngành điện hạt nhân, công nghệ Nano, công nghệ sinhhọc, cơ điện tử và một số ngành công nghệ quan trọng khác Nhu cầu đào tạo
Trang 10này có số lượng lớn, có căn cứ và cơ sở để dự đoán hàng năm Những ngànhnghề đặc biệt về an ninh, quốc phòng và chế độ cử tuyển do nhà nước dự báonhu cầu.
- Nhu cầu của doanh nghiệp: về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bao
gồm đào tạo cán bộ quản lý và lao động chuyên môn trực tiếp đòi hỏi người họcsau khi tốt nghiệp có thể làm được việc ngay, phù hợp với yêu cầu cụ thể củadoanh nghiệp Nhu cầu đào tạo này phù hợp với các trình độ: đại học theohướng nghề nghiệp ừng dụng, kỹ thuật viên trình độ cao đẳng, trung cấp chuyênnghiệp và dạy nghề Tuy nhiên nhu cầu này chưa được tổng hợ, thiều thông tinnhu cầu dự báo hang năm Đặc biệt trong các doanh nghiệp ở các nước hiện nayđang phải nhập khẩu lao động thì việc đào tạo theo nhu cầu của họ để xuất khẩulao động là hoàn toàn cần thiết
- Nhu cầu của người học: là nhu cầu cá nhân của học sinh, sinh viên Nhu
cầu này thường thay đổi theo nhu cầu của thị trường lao động rất khó xác địnhnhưng phải được nghiên cứu và tôn trọng Đó là nhu cầu của bản than ngườihọc để nâng cao trình độ, học để tìm việc làm, để làm một nghề có thể sốngđược, học để tự tạo việc lamg cho bản than và cho người khác Bên cạnh đó lànhu cầu của gia đình hướng cho con em mình lựa chọn ngành nghề theo truyềnthống của gia đình
Ba nhóm nhu cầu này thường xuyên biến động, thay đổi theo từng giaiđoạn, phụ thuộc vào sự phát triển của KT – XH của đất nước tạo ra một tập hợp
có các vùng giao thoa với nhau Tuỳ theo tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, nhàtrường sẽ điều chỉnh số người học, ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với
xu thế phát triển, thoả mãn nhu cầu đào tạo của nhà nước, của doanh nghiệp vànhu cầu của bản thân người học
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường
Việc đào tạo theo nhu cầu là rất quan trọng tuy nhiên có rất nhiều nhân tốảnh hưởng làm cho kết quả của quá trình đào tạo có thể hoặc không thể theo ý
Trang 11muốn chủ quan của người đào tạo và người sử dụng sản phẩm qua đào tạo.Trong đó bao gồm cả những nhân tố tích cực và những nhân tố tiêu cực
- Những nhân tố tích cực:
+ Có nhiều chính sách, chương trình, dự án của Nhà nước khuyến khíchcác trường học, cơ sở đào tạo tiến hành đào tạo theo nhu cầu của xã hội như:tăng nguồn vốn cấp phát cho các trường, cơ sở đào tạo đầu tư các trang thiết bịhiện đại phục vụ cho dạy và học, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanhnghiệp …
+ Nhận thức của người dân về nhu cầu học của cá nhân ngày càng theohường đáp ứng nhu cầu của xã hội hơn là chạy theo thị hiếu
+ Ngày càng có nhiều loại hình, phương tiện giảng dạy mới giúp họcsinh, sinh viên nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, công nghệ hiện đại như:giảng dạy bằng máy chiếu, phương pháp trao đổI thông tin qua mạng …
- Những nhân tố tiêu cực:
+ Tài chính Nhà nước cấp cho các trường và khoản thu của nhà trường(học phí và các khoản thu khác) có tăng qua từng năm nhưng vẫn là quá ít sovới nhu cầu của một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng
+ Sự can thiệp, chỉ đạo chưa hợp lý của Bộ GD - ĐT
+ Cơ sở vật chất cho giảng dạy còn nhiều hạn chế nhất là các ngành thuộckhối kỹ thuật do đầu tư vào trang thiết bị quá tốn kém
+ Nội dung giáo trình còn lạc hậu so với thế giới
6 Kinh nghiệm
Sự tăng trưởng của khu vực Đông Á trong những thập kỷ qua là kết quảcủa nhiều nhân tố khác nhau, trong đó không thể không kể đến chiến lực pháttriển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT nhằm mục tiêu đưa đất nước thoátkhỏi đói nghèo, trở thành nước công nghiệp sánh vai cùng các nước phát triểntrên thế giới (như Anh, Mỹ, Đức…) là mục tiêu hàng đầu và phải kiên quyếtthực hiện Cho đến nay, sau những chặng đường dài của sự phát triển thì những
Trang 12thành tựu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Á có được từchính sách phát triển chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục vàđào tạo của họ vẫn là những bài học quý giá mà chúng ta cần học tập mặc dùviệc thực hiện chính sách này ở nước ta là muộn so với nhu cầu thực tại của đấtnước.
Ngay từ thời kỳ đầu bước vào công nghiệp hoá (CNH), các nền kinh tếĐông Á đã nhận thức một cách sâu sắc rằng con người là vốn quý nhất của xãhội, là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất Điều đáng lưu ý là nhận thứcnày không chỉ của Chính phủ mà đã trở thành nhận thức chung, thống nhất của
cả chính quyền các cấp lẫn người dân và các tầng lớp với các giới có liên quan
Ở các nền kinh tế Đông Á, chiến lược phát triển nguồn nhân lực thôngqua GD – ĐT với chiến lược CNH có tính bổ xung và phù hợp khá cao Hai loạichính sách này không thể thành công được nếu như chính sách phát triển NNLthông qua GD – ĐT không được hoạch định nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thểđặt ra cho mỗi giai đoạn của CNH Cụ thể là vào thời kỳ chuẩn bị cất cánh côngnghiệp, các nền kinh tế Đông Á (ngay cả Nhật Bản) thường bị lạc vào tụt hậu xa
so với các nền kinh tế Tây Âu và Mỹ Các nền nước ở Đông Á có nguồn nhânlực dồi dào và rẻ mạt song lại rất thiếu các nguồn lực để có thể cùng mọt lúcđáp ứng được rất nhiều nhu cầu cấp bách Để có thể sớm rút ngắn khoảng cách
đó và đuổi kịp các nước phát triển, các nước Đông Á không có cách nào khác
để tiến hành thành công CNH là phải tiến hành tiếp thu công nghiệp nướcngoài Muồn làm được điều này, các nước này cần phải nhanh chóng nâng caotrình độ dân chúng và tạo ra được một đội ngũ lao động có trình độ đồng đều vàphù hợp để có thể tiếp thu và cải tiến được các công nghệ nhập khẩu Trong tìnhthế đó do nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục tiểu học, nên các nềnkinh tế này đã ưu tiên đầu tư cao nhất cho giáo dục tiểu học Nhiều nền kinh tếtrong khu vực đã giành một nửa kinh phí giáo dục cho giáo dục tiểu học Nhờ
đó, hầu hết các nền kinh tế này đã sớm thực hiện thành công quá trình phổ cậpgiáo dục tiểu học, tạo nền tảng quan trọng cho việc chuyển dịch trôi chảy lao
Trang 13động giản đơn từ nông nghiệp sang công nghiệp cũng nhơ cho việc xây dựng vàphát triển thành công các ngành công nghiệp xuất khẩu sử dụng nhiều lao động.
Đó thực sự là một chuyển đổi thành công từ sự gia tăng trình độ giáo dục sang
sự gia tăng năng xuất lao động xã hội và sự gia tăng mức độ CNH của nền kinhtế
Vào thời kỳ chuyển dịch cơ cầu công nghiệp từ các hoạt động giá trị giatăng thấp lên các hoạt động có giá trị gia tăng cao, nhu cầu nhân lực lúc nàykhông chỉ là lao động giản đơn tốt nghiệp tiểu học nhơ giai đoạn trước nữa màđòi hỏi lao động phải có trình độ cao hơn Do đó ngay sau khi đạt được phổ cậpgiáo dục tiểu học, các nền kinh tế Đông Á đã chuyển sang mở rộng giáo dụctrung học, ban hành chính sách phổ cập giáo dục trung học và ưu tiên đầu tưcho cấp học này Nhật Bản và các nước công nghiệp đã rất thành công trongviệc thực hiện chính sách mới này là do họ đã có chính sách mở rộng và ưu tiênđầu tư thích hợp khiến quy mô mở rộng giáo dục trung học đủ lớn; đồng thờichính sách CNH thích hợp được đưa ra sau khi các nền kinh tế này thực hiệnthành công phổ cập giáo dục tiểu học, đã thu hút được hầu hết lực lực lượng lapđộng vào quá trình sản xuất, do vậy đã giúp nền kinh tế nhanh chóng chuyểnsang hoạt động công nghiệp có giá trị giá tăng cao Trong những năm 1970,giáo dục trung học trong các nền kinh tế này đã nhận được phần đầu tư đáng kểtrong các khoản đầu tư cho 3 cấp giáo dục : tiểu học, trung học, đại học Đồngthời chính sách mở rộng giáo dục trung học đã nhấn mạnh không chỉ khía cạnhvăn hoá của giáo dục trung học mà còn cả khía cạnh giáo dục nghề nghiệp cấptrung học
Trong khi đó ở các nước ASEAN, việc mở rộng hệ thống giáo dục trunghọc lại không theo sát quá trình CNH đã gây ra một vài rối loạn trên thị trườnglao động Philippin mở rộng giáo dục vượt quá nhu cầu của CNH, hay không đikèm với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã gây ra tình trạng thất nghiệp có họclớn.Do đó trên thực tế Philippin đã phải chọn giải pháp xuất khẩu lao động đểgiải quyết việc làm cho số lao động dư thừa Ngược lại, ở một cực khác các
Trang 14nước như Thái Lan, Indonexia, Malayxia giáo dục trung học lại không đáp ứngđược nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao của nền kinh tế.
Như vậy, điểm mấu chốt khiến cho chính sách mở rộng giáo dục trunghọc của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới hiệu quả hơn các nước ASEAN
là họ đã kịp thời nhận thấy được nhu cầu về lao động có kỹ năng cao ngày càngtăng cho phát triển và nhanh chóng có những đổi mới trong quá trình đào tạo đểtạo ra những con người đáp ứng các nhu cầu đó
Từ những năm 1980, do toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xuthế nổi trội và do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nên khối lượng kiến thứcđược sản sinh ra ngày càng nhiều và đổi mới ngày càng nhanh, đồng thời tínhcạnh tranh giữa các nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt Thực
tế này đòi hỏi các nền kinh tế phải chuẩn bị được nguồn nhân lực chất lượngcao không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải cập nhập thườngxuyên các thành tựu khao học và có đầu óc sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ dámlàm, năng động, chấp nhận mạo hiểm Trước những yêu cầu đòi hỏi đó các nềnkinh tế Đông Á đã tập trung nguồn lực tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thồnggiáo dục và đào tạo cả về cơ cấu, nội dung giảng dạy, tạo điều kiện tốt nhất chomọi người tham gia học tập và đổi mới kiến thức suốt đời
Bên cạnh vấn đề giáo dục phổ thông, thì các nước trong khu vực Đông Ácòn quan tâm đến giáo dục nghề ban đầu, Các nước này cho rằng lực lượng laođộng có tay nghề là cầu nối giữa các nhà khoa học và sản xuất, là lực lượng chủchốt cho sản xuất Các nước này thường kết hợp giáo dục nghề nghiẹp ban đầu
ở các cấp trung học, lẫn sau trung học Trong các phương thức đào tạo nghề ởcác nước Đông Á thì phương thức nổi trọi nhất là đào tạo nghề ngay tại nơi làmviệc (phát triển nhất ở Đài Loan, Nhật bản, Hàn Quốc) Phương thức đào tạonày đảm bảo được nguyên tắc gắn học với hành và hầu như không có sự bất cậpgiữa cung và cầu lao động được đào tạo vì các công ty thực hiện đào tạo chủyếu cho và từ nhu cầu của chính mình
Trang 15Gần đây, Nhật Bản đã đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm đào tạo ranhững con người năng động, sáng tạo hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học
và công nghệ của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu Những hướngcải cách chủ yếu là loại bỏ dần tính thống nhất và bình đẳng thái quá trong giáodục; giảm thiểu kiến thức, nhất là phần lý thuyết suông trong các trường phổthông và tăng thêm phần thực hành; chuyển cách dạy và học từ chỗ nặng về
"thày dạy, trò ghi nhớ một cách máy móc" sang chỗ "thày chủ yếu khơi gợi vấn
đề, trò chủ động tham gia thảo luận"; giảm dần sự can thiệp quá mức của Nhànước, đề cao tính chủ động và tự quản của các địa phương, các nhà trường trongcác vấn đề giáo dục; và đa dạng hoá các loại hình trường lớp, linh hoạt hoá cácchương trình giảng dạy để tạo cho mọi người có thể chủ động tham gia vào quátrình học tập bất cứ lúc nào trong đời
Để khắc phục sự chậm trễ của mình trong công nghệ thông tin và cũng đểnhanh chóng phổ cập tin học đến mọi người dân, tháng 12 năm 1999 Chính phủNhật Bản đã đưa ra Dự án thiên niên kỷ "Millennium Project" trong đó có mục
"Digitalization of Education" (số hoá giáo dục) nhằm phổ cập máy tính vàInternet tại tất cả các cấp học phổ thông, kể cả các trường dành cho ngườikhuyết tật vào năm tài chính 2001, và chuẩn bị môi trường và điều kiện để cóthể sử dụng được máy tính vào việc dạy và học ở tất cả các trường công lập vàonăm 2005
Đồng thời, chính phủ Nhật Bản cũng đang xúc tiến mở các khoá tiếngAnh trên khắp cả nước và tăng cường mời các thầy giáo tiếng Anh bản xứ vàodạy học tại các trường Nhật Bản ngay từ tiểu học, phấn đấu tạo cho mọi côngdân đều có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh vào công việc chuyên môn củamình khi đến tuổi trưởng thành trong tương lai không xa Về lâu dài, tiếng Anh
sẽ dần được coi là ngôn ngữ chính thức thứ hai sau tiếng Nhật
Cùng với việc cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, Nhật Bản cũng tiếnhành đổi mới hệ thống quản lý xí nghiệp theo hướng chuyển từ chế độ coi trọngthâm niên và kinh nghiệm công tác, coi trọng tính tập thể và phục tùng cấp trên
Trang 16sang chế độ coi trọng hơn năng lực và thành tích cá nhân, đề cao tính độc lập vàsáng tạo của công nhân, khuyến khích mọi người hăng hái học tập để nâng caotrình độ hơn là ỷ lại vào thâm niên phục vụ công ty và kinh nghiệm "sống lâulên lão làng"
Ở châu Âu, các doanh nghiệp thường kết hợp chặt chẽ với ngành giáodục để tạo thuận lợi cho các sinh viên từ nhà trường đến làm việc ở các doanhnghiệp Để phổ cập Internet trong dân chúng, Hội nghị thượng đỉnh EU tạiLisbon, Bồ Đào Nha (23/3/2000) nhất trí quyết định tăng cường đầu tư đào tạonhân tài, thúc đẩy cải cách kinh tế xã hội, để EU thích ứng hơn nữa với "xã hộitin học dựa trên cơ sở tri thức và đổi mới" Các nước này đã đặt mục tiêu, trongvòng 10 năm tới, đuổi kịp nền kinh tế Internet Mỹ, xây dựng châu Âu thành khu
"khu vực kinh tế có sức sống mạnh nhất, có sức cạnh tranh nhất thế giới", vớimột số biện pháp cụ thể như hoàn tất khung pháp lý cho thương mại điện tử, tất
cả các trường học đều có thể truy cập Internet; năm 2002, kết nối mạng với tốc
độ cao cho tất cả các trường đại học, thư viện và viện nghiên cứu
Còn ở Trung Quốc thì trong nhiều năm qua, Đảng và chính phủ TrungQuốc đã coi việc hỗ trợ, thu hút và sử dụng nhân tài là một nhiệm vụ chiến lượcquốc gia, trong đó giáo dục được coi là khâu quan trọng nhất Trung Quốc đãtiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ quá trình phát triển giáo dục và hướnggiáo dục theo nhu cầu của hiện đại hoá, của thế giới và của tương lai, có nhiềubiện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, khuyến khích tinh thần sáng tạo vàkhả năng thực tiễn Ngoài việc cải cách và phát triển giáo dục phổ thông, TrungQuốc còn đặc biệt chú ý đến việc phát triển giáo dục đại học và coi đó là mộtbiện pháp quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao Cụ thể,Trung Quốc đã đưa ra Dự án 21 nhằm nâng cấp 100 trường đại học của mìnhtrong một số lĩnh vực trọng điểm như cơ khí, phát triển nông thôn và công nghệthông tin lên ngang tầm thế giới Đồng thời, ngoài việc nâng cao chất lượng đàotạo trong nước, Trung Quốc còn có chính sách khuyến khích thanh niên đi duhọc và nghiên cứu ở nước ngoài để sau đó trở về xây dựng đất nước
Trang 17Trên đây là những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đào tào theonhu cầu xã hội ở một số nước trên thế giới Tuy nhiên không phải mọi bài học
đó đều có thể áp dụng vào Việt Nam một cách thành công Vì vậy trong quátrình học hỏi chúng ta phải xác định rõ những bài học nào phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh của đất nước ta để vận dụng một cách tốt nhất, tránh tình trạng saochép một cách máy móc
Trang 18Chương II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Đào tạo theo nhu cầu là mục tiêu của đổi mới giáo dục nghề nghiệp, giáodục đại học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho quátrình CNH – HĐH đất nước Nó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường; của
Bộ, ngành trung ương, địa phương mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.Trong mối quan hệ đa chiều này nhà nước đóng vai trò điều phối dẫn đườngthúc đẩy các mối quan hệ giữa nhà trường và nhà tuyển dụng, các ngành kinh tế
mà đại diện là các doanh nghiệp làm cho cung cầu xích lại gần nhau vì lợi íchchung
Sở dĩ vấn đề đào tạo theo nhu cầu hiện đang nổi lên nhu một vấn đề có ýnghĩa thời sự cũng chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường lao động Cụ thểlà:
- Sự hình thành những ngành nghề mới đặt ra những yêu cầu mới đối vớilực lượng lao động, đòi hỏi người lao động phải được đào tạo, đào tạo lại hoặcthường xuyên bồi dưỡng theo những chương trình được cá biệt
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, do môi trường hoạt động của các loạilao động, các doanh nghiệp và cá nhân người lao động có những nhu cầu đàotạo, bồi dưỡng rất riêng biệt, thường đòi hỏi phải có những chương trình đượcthiết kế riêng Đối với cá nhân người lao động, các yếu tố chủ quan và kỳ vọngphát triển cá nhân cũng đòi hỏI được đáp ứng bằng những chương trình đào tạo,bồI dưỡng riêng biệt
- Thị trường lao động ngày càng hoàn thiện và có quy mô rộng hơn Nókhông chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia, mà đã vươn ra phạm vi quốc tế Cùngvới sự phát triển của thị trường này, sức ép đối với người lao động cũng tănglên, đòi hỏi họ phải không ngừng được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng khichuẩn bị cho bước phát triển tiếp hoặc khi chuyển sang công việc khác
Trang 19- Sự luân chuyển ngày càng nhanh và với quy mô ngày càng rộng làmnhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trở nên ngày càng lớn Xuất phát từ trình độ, kinhnghiệm và kỹ năng khác nhau, sự chuyển đổi kiến thức, kỹ năng của các cánhân, nhóm người lao động khác nhau sẽ khác nhau, khiến các chương trình đàotạo, bồi dưỡng cũng phải đa dạng để có thể đáp ứng để có thể đáp ứng đượcnhững yêu cầu này.
- Bản thân người lao động có những điều kiện, đặc điểm riêng khiến cho
họ có những trình độ chuyên môn, tay nghề khá khác nhau dù có cùng một điểmxuất phát giống nhau về đào tạo cơ bản, về môi trường và điều kiện làm việc…
Do đó, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của mỗi người sẽ ngày càng khác biệt
Hiện nay, do tính chất của thị trường lao động, do những yêu cầu kiếnthức và kỹ năng tổng hợp đối với sinh viên tốt nghiệp mới ra trường, thậm chí
cả do yêu cầu về hiệu quả kinh tế - tài chính đối với quá trình đào tạo, sức épđòi hỏi phải đào tạo kiến thức phổ thông trên quy mô đại trà cũng còn khá nặng
nề Riêng ở Việt Nam, trong nhiều năm, do nhận thức “đào tạo để hình thànhcon người toàn diện”, nên thường có xu hướng đào tạo đại trà cho nhiều họcsinh Lượng kiến thức và kỹ năng cũng được cung cấp cho học sinh theo hướng
mở rộng ra nhiều lĩnh vực ngày càng chiếm ưu thế hơn so với đào tạo chuyênsâu các kiến thức, kỹ năng thuộc chuyên ngành hẹp Chính vì thế, trong các cơ
sở đào tạo hiện nay, việc cá biệt hóa đào tạo trong các trường học nếu có đượcthực hiện cũng luôn được gắn với việc đào tạo chung trên diện rộng, có vị tríthứ yếu hơn so với đào tạo đại trà theo kiểu “trăm hoa đua nở, trăm nhà đuatiếng” Điều này làm cho sinh viên khi ra trường có thể làm việc trong nhiềungành nghề khác với ngành nghề được coi là chuyên ngành của mình, nhưnghầu hết đều chỉ phát huy tác dụng được sau khi đã được bổ túc nghiệp vụ, tậphuấn thêm về các kỹ năng, kiến thức chuyên ngành đặc trưng Theo Bộ Giáodục Đào tạo, khảo sát về việc làm của sinh viên (năm 2006) sau khi tốt nghiệpcác chương trình đào tạo cho thấy chỉ 50% sinh viên có việc làm khi tốt nghiệp,trong đó chỉ 30% là làm đúng ngành nghề đào tạo Điều này cho thấy một thựctrạng khá phổ biến hiện nay là đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội, sinh viên
Trang 20ra trường không đáp ứng các yêu cầu cơ bản của nghề nghiệp ở trình độ tươngứng từ đó gây lãng phí lớn cho bản thân người học, nhà trường và xã hội
Điều này cũng dẫn đến thực trạng là ở nước ta lao động phổ thông thì quáthừa trong khi đó lao động chất lượng cao còn rất thiếu do không đáp ứng đượcyêu cầu của nhà tuyển dụng buộc họ trong nước phải tìm kiếm nguồn lao độngnày từ bên ngoài Tôi xin đơn cử một ví dụ sau:
Đầu tháng 3 năm 2007, Công ty Thực phẩm Vilad (thuộc FG Group) tứctốc đăng thông báo tuyển dụng các chức danh giám đốc và trợ lý giám đốc nhãnhàng để phục vụ nhu cầu kinh doanh Chỉ một tuần sau, với hy vọng có chỗ làmtriển vọng và khả năng thăng tiến, số người nộp hồ sơ dự tuyển ở bộ phận nhân
sự của hãng đã lên tới 700 người, trong đó ứng viên người nước ngoài chiếm10% và đặc biệt có đến 40% là số sinh viên khối ngành kinh tế mới tốt nghiệp.Sau khi đọc kỹ hồ sơ, săm soi từng chi tiết bảng thành tích “bạch” theo kiểu
“vào từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, rốt cuộc công ty cũng lựa ra 50người có nhiều ưu điểm hơn cả để mời đến phỏng vấn Và kết cục dù nhu cầunhân lực còn rất cao, Vilad cũng chỉ “gật” được 2 người… đã từng có kinhnghiệm làm giám đốc nhãn hàng của 2 công ty lớn của nước ngoài tại Việt Nam
và số lượng nhân lực thiếu còn lại phải tuyển dụng bằng cách thuê người nướcngoài làm
Tình trạng này hiện nay khá phổ biến ở các công ty khi có nhu cầu tuyểndụng Như vậy công việc dành cho người lao động là rất lớn song chính ngườilao động đã bỏ mất cơ hội của mình Sở dĩ lao động nước ta luôn gặp khó khăntrong vấn đề tìm việc làm phù hợp với những gì đã học và phù hợp vớI nhu cầucủa nhà tuyển dụng chính là xuất phát từ hệ thống giáo dục của nước ta cònnhiều bất cập mà mà yếu tố chính là do giáo dục nước ta chủ yếu đào tạo cáimình có chứ không quan tâm đến cái thị trường cần Hay nói cách khác cung vàcầu lao động ở nước ta còn quá vênh
Một điều đáng buồn nữa là theo điều tra trong quý II/2007, nhu cầu laođộng của 45/56 ngành nghề tăng cao đáng kể, tập trung vào những ngành nghềđòi hỏi chuyên môn và trình độ cao Trong khi đó, theo khảo sát, nếu nguồn
Trang 21cung tăng khoảng 30%, thì nhu cầu nguồn lao động lại tăng đến 142% so vớiquý trước Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới (năm 2007)thì tạiViệt Nam, khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các trường dạy nghề vàtrường cao đẳng cần được đào tạo lại ngay sau khi tuyển dụng Một số doanhnghiệp phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 năm cho khoảng 80%-90% sinh viêntốt nghiệp vừa được tuyển dụng
TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp VN lýgiải: “Bán cái khách hàng cần, thay vì bán cái mình có” là câu châm ngôn tưởngnhư đơn giản nhưng không phải dễ thực hiện Bản chất của nó là các đơn vị đàotạo phải xuất phát từ phân tích nhu cầu của khách hàng trước khi bắt tay vào
“sản xuất” Và chất lượng của “sản phẩm” cũng do khách hàng đánh giá vàquyết định! Thiết kế nội dung đào tạo hiện nay vẫn đang gặp nhiều trở ngại dothiếu tư duy “định hướng khách hàng” và do đó, chất lượng đào tạo cũng đươngnhiên chưa đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng
1 Những hạn chế của quá trình đào tạo theo nhu cầu
a) Từ phía nhà trường và người học
Thứ nhất: Nhận thức của các trường cũng như của người dân về đạo tạo
theo nhu cầu xã hội còn hạn chế Nhiều trường đã đánh đồng quan điểm đào tạotheo nhu cầu là đào tạo những ngày đang “nóng” Đây chỉ là giảI pháp tạm thờIcho nhu cầu hiện tạI chứ không phảI là cốt lõi của vấn đề đào tạo theo nhu cầu.kết quả là nếu như những năm trước, các thí sinh chen chúc đua tranh “nhất y,nhì dược, tạm được bách khoa…” rồi lại “nhất kinh, nhì thương,…” thì nay ưutiên số 1 được chuyển qua các ngành “thị trường chứng khoán”, “đầu tư chứngkhoán” Và “sàn” tuyển sinh năm nay dưới áp lực của “sàn chứng khoán” đãchuyển hướng qua “nguyện vọng cổ phiếu” với mong muốn… đáp ứng nhu cầu
xã hội Khi dân tình nô nức “lên sàn” thì các cơ sở đào tạo cũng vội vã trưngbiển, dán thông báo đào tạo “cấp tốc” để sau 8 tuần học… là có thể đầu tưchứng khoán có lãi!