Với mong muốn, có những đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng GDĐĐ của Trung tâm GDTX Ba Đình, đồng thời thể hiện sự quan tâm, lo lắng trước một thực trạng đáng báo động ở nướ
Trang 1THƯỜNG XUYÊN BA ĐÌNH, HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn: PGS.TSKH NGUYỄN KẾ HÀO
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên về sự tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các đồng chí giáo viên và Ban thường vụ ĐoànTrung tâm GDTX Ba Đình về sự phối hợp, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TSKH.Nguyễn Kế Hào, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn lãnh đạo cơ quan thường trực Quận đoàn Ba Đình cùng các đồng chí đồng nghiệp, bạn bè, những người thân trong gia đình về sự khích lệ, động viên và tạo mọi điều kiện hỗ trợ tôi học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu và viết luận văn, song không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến chỉ dẫn, góp
ý của các chuyên gia, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012
TÁC GIẢ
Hoàng Công Cường
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng, biểu đồ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp mới của đề tài 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ QUẢN LÝ GIÁO ĐỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GDTX BA ĐÌNH 6
1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu về giáo dục đạo đức 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Giáo dục đạo đức 9
1.2.2 Vị trí của giáo dục đạo đức 12
1.2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức 13
1.2.4 Phương pháp, hình thức và nguyên tắc giáo dục đạo đức 14
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX 17
1.3.1 Trung tâm GDTX Ba Đình trong hệ thống giáo dục quốc dân 17
1.3.2 Đặc điểm lứa tuổi HS THPT 20
1.3.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh Trung tâm GDTX 21
Trang 41.4 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX 26
1.4.1 Khái niệm quản lý giáo dục 26
1.4.2 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX 28
1.5 Các yếu tố cơ bản tác động đến việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX 30
Kết luận chương l 33
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GDTX BA ĐÌNH 34
2.1 Vài nét khái quát về Trung tâm GDTX Ba Đình 34
2.1.1 Về tổ chức 34
2.1.2 Về học sinh 34
2.1.3 Về cơ sở vật chất 35
2.1.4 Về chất lượng học tập của học sinh trong các năm học 35
2.2 Thực trạng Quản lý giáo dục đạo đức và hoạt động GDĐĐ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở Trung tâm GDTX Ba Đình (Năm học 2008 - 2009, 2009 - 2010, 2010-2011) 36
2.2.1 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trung tâm GDTX Ba Đình 36
2.2.2 Thực trạng hoạt động GDĐĐ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trung tâm GDTX Ba Đình 43
2.2.3 Kết quả giáo dục đạo đức 45
2.2.4 Nguyên nhân những hạn chế trong giáo dục đạo đức 64
Kết luận chương 2 67
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QLGDĐĐ Ở TRUNG TÂM GDTX BA ĐÌNH THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 68
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 68
Trang 53.1.1 Đảm bảo các hoạt động GDĐĐ phải phù hợp với mục tiêu
đào tạo 68
3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục ĐĐ ở Trung tâm GDTX Ba Đình theo hướng tăng cường vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 69
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của GDĐĐ và vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công tác GDĐĐ cho HS 69
3.2.2 Thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá việc QLGDĐĐ cho học sinh của Đoàn trường 72
3.2.3 Quản lý việc xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động GDĐĐ cho học sinh của Đoàn trường 73
3.2.4 Xây dựng tập thể chi đoàn thanh niên tự quản 75
3.2.5 Phối hợp các lực lượng GD, tăng cường vai trò của Đoàn trong tổ chức các hoạt động GDĐĐ cho HS 76
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.4 Kiểm chứng về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 82
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 87
2.1 Đối với Trung tâm GDTX Ba Đình 87
2.2 Đối với Đoàn trường 88
2.3 Đối với phụ huynh học sinh 88
2.4 Đối với chính quyền, đoàn thể ở địa phương 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 93
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDTX : Giáo dục thường xuyên
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Chất lượng văn hoá của học sinh Trung tâm GDT Ba Đình 35 Bảng 2.2 Kết quả thi học sinh giỏi của HS Trung tâm GDTX Ba Đình 36 Bảng 2.3 Kế hoạch QLGDĐĐ cho HS ở Trung tâm GDTX Ba Đình 37
Trung tâm GDTX Ba Đình 38 Bảng 2.5 Các hình thức GDĐĐ cho HS ở Trung tâm GDTX Ba Đình 40 Bảng 2.6 Các phương pháp GDĐĐ cho HS Trung tâm GDTX Ba Đình 42 Bảng 2.7 Hình thức và mức độ triển khai, tổ chức các hoạt động GDĐĐ
cho HS của Đoàn Trung tâm GDTX Ba Đình 44 Bảng 2.11 Đánh giá về thực trạng ĐĐ của HS Trung tâm GDTX Ba Đình 46 Bảng 2.12 Kết quả xếp loại đạo đức của học sinh Trung tâm GDTX Ba
Đình ỷ các năm học ( 2008 - 2009; 2009 -2010, 2010-2011) 47 Bảng số 2.8 Mức độ tham gia các hoạt động GDĐĐ của HS - ĐVTN 53 Bảng 2.9 Hiệu quả GDĐĐ đạt được từ việc triển khai các chương trình
hoạt động của Đoàn trường Trung tâm GDTX Ba Đình 57
hoạt động GDĐĐ của Đoàn Trung tâm GDTX Ba Đình 59
GDTX Ba Đình trong các năm học 63
HS ở Trung tâm GDTX Ba Đình 65 Biểu đồ 2.1 Mức độ học sinh tham gia hoạt động GDĐĐ do Đoàn
trường tổ chức 54 Biểu đồ 2.2 Mức đồ đánh giá hiệu quả tham mưu với cấp uỷ 59
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử đã chứng minh sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia do yếu tố con người quyết định, trong đó, thanh niên, HS, sinh viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng - là lực lượng đông đảo bổ sung nguồn nhân lực cho đất nước Với cách nhìn khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, vị trí, khả năng của thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc Người cho rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà
Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”
Vì thế, trước khi Người đi xa, Người không quên căn dặn Đảng ta: “Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”
Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và ĐĐ cách mạng Trong Di chúc của
mình, Người lưu ý: “Đảng cần phải chăm lo, giáo dục đạo đức cách mạng
cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa, xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng, vừa chuyên”
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: "Có tài mà không có đức thì là
người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Thấm
nhuần tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ chí Minh, Nghị quyết Đại hội Đảng khoá
VIII đã xác định Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Tại điều 2 chương I, luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2005 đã xác định: "Mục tiêu giáo dục là đào tạo người Việt
Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc"
Trang 9Như vậy, GDĐĐ là một trong những mặt GD quan trọng trong GD ở nhà trường của nước ta hiện nay GDĐĐ có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người, là yêu cầu cấp bách và khách quan của công cuộc đổi mới đất nước Việc GDĐĐ cho HS THPT giúp họ vững bước vào đời, lập thân, lập nghiệp là việc làm trọng yếu và cần thiết của các cấp, các ngành và toàn XH
Trong những năm qua, Trung tâm GDTX Ba Đình đã rất quan tâm đến công tác GDĐĐ cho HS Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên chất lượng GDĐĐ vẫn còn có những hạn chế nhất định
Bản thân tôi là cố vấn Đoàn nhiều năm ở Trung tâm GDTX Ba Đình,
Hà Nội Với mong muốn, có những đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng GDĐĐ của Trung tâm GDTX Ba Đình, đồng thời thể hiện sự quan tâm, lo lắng trước một thực trạng đáng báo động ở nước ta hiện nay, đó là sự suy thoái về ĐĐ của một bộ phận không nhỏ các tầng lớp nhân dân trong XH,
trong đó có TN, HS, SV nên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho HS của tổ chức Đoàn TNCS HCM ở Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra sát thực trạng QLGDĐĐ cho HS ở Trung tâm GDTX Ba Đình,
Hà Nội vài đề xuất một số biện pháp QLGDĐĐ ở Trung tâm GDTX Ba Đình,
Hà Nội theo hướng tăng cường vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ ở Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GDĐĐ và QLGDĐĐ cho HS THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ ở Trung tâm GDTX Ba Đình
Trang 104 Giả thuyết khoa học
GDĐĐ cho HS THPT giữ vai trò quan trong trong việc hình thành và phát triển nhân cách và nâng cao chất lượng GD toàn diện cho học sinh Nếu xác lập được các biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS theo hướng tăng cường vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh một cách phù hợp sẽ góp phần nâng cao kết quả công tác GDĐĐ cho HS Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDĐĐ và QLGDĐĐ cho HS lứa tuổi THPT 5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng ĐĐ và QLGDĐĐ cho HS
Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
5.3 Đề xuất một số biện pháp QLGDĐĐ theo hướng tăng cường vai
trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu Biện pháp QLGDĐĐ
ở Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội theo hướng tăng cường vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong QLGDĐĐ
6.2 Về địa bàn: Đề tài được triển khai nghiên cứu ở Trung tâm GDTX
Ba Đình, Hà Nội
6.3 Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu, khảo sát, đánh giá trong
khoảng thời gian 3 năm học liền kề (năm học 2008-2009, năm học
2009-1010 và năm học 2010 - 2011)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài: Các Chỉ thị, Nghị quyết, các văn bản của Đảng và Nhà nước; các tài liệu, bài giảng của các thầy
Trang 11cô giáo dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khoá 18- Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên
- Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hoá các vấn đề lý luận có liên quan đến nội dung biện pháp QLGDĐĐ cho HS ở các Trung tâm GDTX
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, Luật giáo dục, Điều lệ và hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn, Điều lệ trường phổ thông, Chỉ thị số 06-CT/TW,
ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; kế hoạch triển khai, thực hiện cuộc
vận động: “Học tập và làm theo lời Bác” của Thành đoàn Hà Nội, các văn
bản chỉ đạo của Sở GD&ĐT Hà Nội
- Phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm các phương pháp: Phân tích, tổng hợp các tài liệu, văn kiện rút ra những luận điểm quan trọng, có tính chất chỉ đạo trong quá trình nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Sử dụng phương pháp này nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng ĐĐ và thực trạng QLGDĐĐ ở Trung tâm GDTX Ba Đình, Hà Nội và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.3 Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê toán học
nhằm xử lý số liệu, thông tin đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu
8 Những đóng góp mới của đề tài:
8.1 Chỉ ra thực trạng ĐĐ của HS Trung tâm GDTX Ba Đình, đó là bên
cạnh đã số HS có ĐĐ tốt, có ý thức học tập và tu dưỡng cao, có ý chí vươn lên, thực hiện tốt các quy định của trường, của lớp thì vẫn có một số HS có
Trang 12những biểu hiện sai phạm về ĐĐ và số lượng đó ngày càng có xu hướng gia tăng làm ảnh hưởng đến chất lượng GD của nhà trường
8.2 Chỉ ra thực trạng công tác QLGDĐĐ cho HS Trung tâm GDTX Ba
Đình, Hà Nội còn có nhiều bất cập như: Bộ máy tổ chức QL GDĐĐ thiếu đồng bộ, thiếu sự phối hợp trong công tác; việc xây dựng và tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch chưa thật tốt; việc kiểm tra, đánh giá chưa tiến hành thường xuyên, quy định thiếu chặt chẽ; việc tổ chức phối hợp các lực lượng
GD thiếu chặt chẽ, không thường xuyên; chưa phát huy được vai trò của Đoàn thanh niên trong công tác GDĐĐ cho học sinh; tổ chức công tác thi đua, khen thưởng chưa được quan tâm đúng mức Do đó, chất lượng GDĐĐ của nhà trường vẫn chưa cao được như mong muốn
8.3 Đề xuất một số biện pháp QLGDĐĐ ở Trung tâm GDTX Ba Đình,
Hà Nội theo hướng phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hoạt động này
9 Cấu trúc của luận văn: Luận văn gồm mở đầu, 3 chương, kết luận và kiến
nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
VÀ QUẢN LÝ GIÁO ĐỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Ở TRUNG TÂM GDTX BA ĐÌNH
1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu về giáo dục đạo đức
Từ xa xưa, khi bàn về vấn đề GD, các nhà hiền triết Trung Hoa đã nói:
''Tiên học lễ, hậu học văn" và ''Một chữ tâm dể duy trì thế giới - Một chữ tài để tô điểm càn khôn''; Các bậc tiền nhân của nước ta cũng đã nói: ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì nước yếu rồi xuống thấp'';
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: ''Có tài mà không có đức
thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó'' Bác
cũng đã có quan điểm về GD toàn diện con người: ''Giáo dục con người Việt Nam
thành những con người có lý tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật và kỹ năng lao động cao, có súc khoẻ dồi dào, có ý chí vươn tới cái hay, cái đẹp, cái cao cả; đó là những người có đức, có tài'', ''Vừa hồng vừa chuyên '' [27, tr3] Tư tưởng của Người
chính là cơ sở, là kim chỉ nam cho mục tiêu GD toàn diện thế hệ trẻ
Ở nước ta hiện nay, vấn đề GDĐĐ đang là vấn đề nóng bỏng và đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm nói chung và các nhà QLGD nói riêng Trên thực tế, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề ĐĐ và GDĐĐ, các nghiên cứu thường đi sâu vào việc xác định các nội dung
ĐĐ, các định hướng về giá trị ĐĐ, các biện pháp GDDĐ HS và QLGDĐĐ Phạm Minh Hạc, trong nhiều nghiên cứu chuyên luận của ông về con người Việt Nam đã nêu lên các định hướng giá trị ĐĐ con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH và bàn về thực trạng cũng như các giải pháp ở tầm vĩ mô
Trang 14về việc giáo dục và đào tạo con người Việt Nam Trên cơ sở phân tích khoa học về thực trạng chất lượng GDĐĐ cho HS, sinh viên hiện nay, Phạm Minh Hạc đã nêu lên sáu giải pháp GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH đất nước:
''Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học; củng
cố ý tưởng giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho mọi người; kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy trò các trường học Xây dựng một cơ chế tổ chức và cha đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ; nâng cao nhận thức cho mọi người '' [12, tr 171 - 176]
Cùng mục đích nghiên cứu với Phạm Minh Hạc về ĐĐ và GDĐĐ, có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề trên dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình GDĐĐ cho sinh viên;
- Tác giả Trần Thế Hùng lại tập trung vào việc tăng cường QL các hoạt động GDĐĐ thông qua các hoạt động dạy học, hoạt động ngoài giờ lên lớp và
hoạt động Đoàn, Đội với luận văn: ''Những biện pháp đổi mới quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh'';
- Tác giả Phạm Trung Thanh từ nghiên cứu thực trạng ĐĐ của sinh viên đã đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho sinh viên hiện nay cũng như yêu cầu của các nhà giáo, các nhà QLGD phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong việc tổ chức đa dạng các hoạt động
để thu hút sinh viên vào việc giáo dục rèn luyện ĐĐ Tác giả đã lý giải cho mỗi ý kiến của mình một cách thuyết phục
Trang 15Bên cạnh đó, còn có một số luận văn cũng nghiên cứu về vấn đề ĐĐ
và GDĐĐ:
- Luận văn ''Một số giải pháp tổ chức quản lý nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục đạo đức học sinh trường trung học công nghiệp II - Bộ Công nghiệp trong giai đoạn mới'' của Nguyễn Thị Vây - 2000
- Luận văn ''Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh sinh viên trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật Nam Định'' của Hoàng
Thị Kim Liên - 2005
- Luận văn ''Tổ chức hoạt động, giáo dục đạo đức cho sinh viên trường
ĐHSP Huế trong tình hình hiện nay'' của Nguyễn Văn Phước - 2003
- Luận văn ''Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường
Trung cấp nghề Bắc Ninh '' của Trịnh Thị Hiền - 2007
Về cơ bản, những luận văn trên là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị Song, do giới hạn và phạm vi nghiên cứu của mỗi một đề tài cho nên đối với các mô hình nhà trường có những đặc điểm và điều kiện khác nhau thì những luận văn trên chỉ có giá trị dùng để tham khảo
Chính vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở 1ý luận về GDĐĐ và QLGDĐĐ cho HS THPT; thực trạng QTGDĐĐ cho HS ở Trung tâm GDTX Ba Đình
để tìm ra những biện pháp QL phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao kết quả GDĐĐ cho HS ở Trung tâm GDTX Ba Đình trong giai đoạn hiện nay
là rất cần thiết, nhất là khi việc nghiên cứu các biện pháp QLGDĐĐ theo hướng phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS ở các Trung tâm là vấn đề hầu như còn chưa được
đề cập đến
Trang 161.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Giáo dục đạo đức
1.2.1.1 Đạo đức
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, ĐĐ xét đến cùng
là sự phản ánh của các quan hệ xã hội Giá trị ĐĐ được xác định ở chỗ nó
phục vụ cho tiến bộ XH vì hạnh phúc của con người ''Đạo đức giúp cho xã
hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động"
[40, tr.371,V.I.Lê nin toàn tập] Bàn về ĐĐ cộng sản chủ nghĩa, Lê nin cho
rằng: "Đó là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp
phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản'' [41, tr.214, V.I Lê nin,
Bàn về thanh niên]
Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về ĐĐ mà quan niệm của các tôn giáo và các nền ĐĐ khác không thể đạt tới
Nói chuyện tại đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng "Thanh niên phải có đức có tài Có tài mà không có đức ví như
một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi thụt két thì chẳng những không làm lợi ích cho xã hội mà còn làm hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại ai nhưng cũng không có lợi gì cho loài người'' Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập nâng cao
trình độ năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
Như vậy, ĐĐ trong quan niệm của Hồ Chí Minh được hiểu là toàn bộ
những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Dựa vào những chuẩn mực đó, người ta
đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không được làm và nghĩa vụ phải làm
Trang 17Vậy ĐĐ là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐĐ
Xét dưới góc độ Triết học, ĐĐ là một trong những hình thái sớm nhất của
ý thức XH, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [19, tr 145]
Xét dưới góc độ ĐĐ học, ĐĐ là một hình thái ý thức XH đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực XH [19, tr12]
Xét dưới góc độ GD học, ĐĐ là một hình thái ý thức XH đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [12, tr 170-171]
Theo nghĩa rộng, khái niệm ĐĐ liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống ĐĐ là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được XH hoá ĐĐ được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận ĐĐ là một hình thái ý thức XH thì ĐĐ
của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong XH cũng phản
ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [19, tr 153-154]
Như vậy, ''Đạo đức là một hình thái thức xã hội đặc biệt bao gồm một
hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội '' [19, tr 12]
Trang 181.2.1.2 Giáo dục đạo đức
- Khái niệm về giáo dục đạo đức
GDĐĐ là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực, giá trị ĐĐ theo yêu cầu của XH thành những phẩm chất, giá trị ĐĐ cá nhân, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của XH
GDĐĐ là quá trình tác động tới đối tượng GD để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin ĐĐ, cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho
họ hành vi ĐĐ, thói quen ĐĐ GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống những chuẩn mực ĐĐ từ những đòi hỏi của XH đối với mỗi cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu thói quen của đối tượng GD
GDĐĐ là bộ phận quan trọng có tính nền tảng của GD, có nhiệm vụ rèn huyện lý tưởng, ý thức, thói quen và hình thành ở HS các phẩm chất ĐĐ như lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm GDĐĐ gắn chặt với GD tư tưởng chính trị, GD pháp luật,
GD trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động hướng nghiệp [19, tr 120]
- Cấu trúc quá trình giáo dục đạo đức
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cấu trúc của quá trình GDĐD Nếu xét theo tiếp cận lý thuyết hệ thống và lý thuyết hoạt động (đây là những cách tiếp cận gần hơn với QL) thì quá trình GDĐĐ được vận động, vận hành theo một hệ thống tích hợp các thành tố chủ yếu sau đây:
+ Mục đích, yêu cầu về chuẩn mực GDĐĐ
Trang 19+ Các điều kiện, phương tiện GDĐĐ
+ Các mối quan hệ trong GDDĐ
+ Kết quả quá trình GDĐĐ
Mỗi thành tố trong hệ thống này đều có những nét đặc trưng riêng, nhưng chúng đều có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm tối ưu hoá quá trình GDĐĐ
- Những đặc điểm của giáo dục đạo đức
+ Có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình dạy học trên lớp và hoạt động GDNGLL
+ Có định hướng thống nhất các yêu cầu, mục đích GD giữa các tổ chức GD trong và ngoài nhà trường
+ Tính biện chứng, phức tạp trong quá trình phát triển, biến đổi về nhân cách của HS về mặt ĐĐ
+ Tính lâu dài của quá trình hình thành, phát triển các phẩm chất ĐĐ + Tính đột biến và khả năng tự biến đổi
+ Phát triển thông qua hoạt động và giao lưu tập thể
+ Tính cá thể hóa cao
+ Chứa nhiều mâu thuẫn
+ Có sự tương tác hai chiều giữa nhà GD và đối tượng được GD
+ Tính chất khó khăn trong việc đánh giá kết quả, sự phát triển ĐĐ của
cá nhân
1.2.2 Vị trí của giáo dục đạo đức
Là một mặt GD bắt buộc, một bộ phận cấu thành của quá trình GD trong trường học
Quá trình GD trong nhà trường được chia ra làm nhiều quá trình bộ phận như:
+ GD ĐĐ (đức dục)
+ GD trí tuệ (trí dục)
Trang 20+ GD thể chất
+ GD thẩm mỹ (mỹ dục)
+ GD lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp
Trong đó, GDĐĐ được coi là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt GD khác
Quá trình GDĐĐ tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường với XH, con người với cuộc sống
1.2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức
1.2.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Mục tiêu của GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn các
giá trị của ĐĐ, biết hành động theo các chuẩn mực ĐĐ, công bằng và nhân ái, biết sống vì mọi người, vì sự tiến bộ của xã hội Trong đó, mục tiêu cơ bản của GDĐĐ là hình thành cho mọi người thới quen sống và làm việc theo các chuẩn mực ĐĐ
1.2.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức
GDĐĐ là hình thành cho đối tượng GD nhu cầu, động cơ, tình cảm, hành vi, thói quen ĐĐ phù hợp với nền tảng ĐĐ mới, ĐĐ XHCN, bao gồm:
- GD ý thức ĐĐ: Giáo dục cho mọi người nhận thức đúng đắn các
chuẩn mực ĐĐ, những giá trị chân chính của các chuẩn mực đó và có ý chí
ĐĐ vững vàng
- GD tình cảm ĐĐ: Khơi dậy ở đối tượng GD những rung động, những
tình cảm đối với hiện thực xung quanh, có thái độ rõ ràng đối với những hành
vi DĐ của bản thân và của mọi người trong XH
- GD hành vi và thói quen ĐĐ: Hình thành cho đối tượng GD có hành
vi và thói quen ĐĐ phù hợp với các chuẩn mực ĐĐ trong mỗi cộng đồng, mỗi
XH, chúng được thể hiện trạng các hoạt động hàng ngày: Trọng học tập, trong lao động, trong quan hệ với mọi người và môi trường xung quanh
Trang 211.2.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức
Những nội dung GDĐĐ được thể hiện ở những chuẩn mực ĐĐ Theo Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực ĐĐ của cơn người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH (có thể xác định một cách tương đối) được chia thành 5 nhóm, phản ánh
các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết:
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như: Có
lý tưởng XHCN, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: Tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ thể hiện quan hệ với mới người và dân tộc khác: Nhân nghĩa, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọi người, thuỷ chung, giữ chữ tín
- Nhóm chuẩn mực ĐĐ thể hiện quan hệ đối với công việc đó là: trách nhiệm cao, có lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết
- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống (môi trường
tự nhiên, môi trường văn hoá - xã hội) như: Xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng XH dân chủ bình đẳng Mặt khác, có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người và môi trường sống; bảo vệ hoà bình, bảo vệ và phát huy truyền thống,
di sản văn hoá của dân tộc và của nhân loại
1.2.4 Phương pháp, hình thức và nguyên tắc giáo dục đạo đức
1.2.4.1 Phương pháp giáo dục đạo đức
Phương pháp GDĐĐ được thể hiện ở các nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp thuyết phục: Thuyết phục là các phương pháp tác
động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người để hình thành cho họ ý
Trang 22thức, thái độ tốt đẹp đối với cuộc sống đối với cơn người và công việc Nhóm này bao gồm có các phương pháp khuyên giải, tranh luận, nêu gương
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: GDĐĐ không có gì hiệu quả
hơn là đưa con người và hoạt động thực tiễn, tập dượt, rèn luyện tạo nên những hành vi, thói quen Điều này phù hợp với nguyên tắc hình thành và phát triển tâm lý của cá nhân Muốn hình thành hành vi ĐĐ, cần tổ chức các hoạt động tập thể phong phú đa dạng, lôi cuốn họ tham gia, từ đó hướng dẫn
để họ luyện tập để trở thành thói quen trong hành vi hàng ngày
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi: Đây là nhóm phương pháp tác
động vào mặt tình cảm của các đối tượng GD nhằm tạo ra những phẩm chất, thúc đẩy tích cực hoạt động, đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm Nhóm này gồm các phương pháp khen thưởng, trách phạt, thi đua
Phương pháp GDĐĐ rất đa dạng Nhà GD và QLGD cần phải vận dụng linh hoạt cho phù hợp với mục đích, đối tượng và từng tình huống cụ thể Chính vì thế mà người ta nói rằng phương pháp GD đòi hỏi nhà sư phạm phải
Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần GDĐĐ Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất XH như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân
Trang 23quả và ý thức nâng cao kiến thức XH Các môn khoa học khác như: GD thể chất, GD quốc phòng tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân
- Thông qua các hoạt động GDNGLL như các hoạt động đoàn thể và hoạt động XH Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng GD trong
và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các Câu lạc bộ Mỗi
tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc GDĐĐ cho HS
- GDĐĐ cho HS thông qua con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mới HS Mỗi HS từ chỗ và đối tượng của quá trình GDĐĐ sẽ trở thành chủ thể của quá trình GDĐĐ Đặc biệt đối với HS đã trưởng thành, có những hiểu biết nhất định về những kiến thức tự nhiên, XH,
về mối quan hệ giữa con người với con người thì nhà GD cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính
- GDĐĐ cho HS thông qua sự gương mẫu của người thầy Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày và những ứng xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa GDĐĐ cho HS thiết thực nhất Chính vì
vậy, ''mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học, tự rèn'' cho HS noi theo
Như vậy, các hình thức GD trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà Các cực tượng GD phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm vụ của mình Trong đó, GD cho HS tự giác thực hiện việc tự GD và hình thức cơ bản Có như vậy những mục tiêu của GD nói chung và GDĐĐ nói riêng mới đạt kết quả cao
1.2.4.3 Nguyên tắc giáo dục đạo đức
Một trong những yếu tố quan trọng để hoạt động GDĐĐ có thể đạt hiệu quả cao là phải đảm bảo các nguyên tắc GDĐĐ, đó là:
Trang 24- Phải bảo đảm tính mục đích, tính thống nhất trong toàn bộ hoạt động GD
- Phải thông qua hoạt động thực tiễn
- Phải phù hợp với lứa tuổi giới tính và đặc điểm riêng của từng HS
- Phải phát huy tính tích cực, sáng tạo, khắc phục thiếu sót, nhược điểm
- GD trong tập thể và bằng tập thể
- GD gắn với đời sống XH và thực tiễn của đất nước và địa phương
- Tôn trọng nhân cách và yêu cầu cao đối với HS
- Liên kết ba môi trường nhà trường - gia đình - XH trong GD HS
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
1.3.1 Trung tâm GDTX Ba Đình trong hệ thống giáo dục quốc dân
Luật GD năm 2005 quy định các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống GD quốc dân bao gồm: GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp,
GD đại học và sau đại học Trong đó, GDTX bao gồm tiểu học, BT THCS và
BT THPT Như vậy, GDTX là bộ phận cấu thành nên hệ thống GD quốc dân,
và phân hệ trọng cơ cấu của hệ thống GD quốc dân thống nhất Trung tâm
GDTX có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
- Trung tâm GDTX có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
a) Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
Trang 25d) Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông
2 Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng
3 Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của Điều này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương
4 Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
5 Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên
- HSTHPT có những nhiệm vụ sau:
1 Kính trọng thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường; Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện điều lệ, nội quy nhà trường; chấp hành pháp luật của nhà nước;
2 Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường;
3 Rèn luyện thân thể giữ gìn vệ sinh cá nhân, giữ gìn và bảo vệ môi trường;
4 Tham gia các hoạt động tập thể của trường, của lớp, của Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, giúp đỡ gia đình và tham gia công tác XH
5 Giữ gìn, bảo vệ tài sản chung của nhà trường, nơi công cộng; góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường
Bên cạnh 5 nhiệm vụ nêu trên thì HS THPT không được có các hành vi sau:
Trang 26Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, người khác và học sinh khác;
2 Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử và tuyển sinh;
3 Đánh nhau, gây rối trật tự, an ninh trong nhà trường và nơi công cộng;
4 Làm việc khác; nghe, trả lời bằng điện thoại di động; hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học, khi đang tham gia các hoạt động GD của nhà trường
5 Đánh bạc; vận chuyển, mang đến trường, tàng trữ, sử dụng ma tuý, hung khí, vũ khí, chất nổ, chất độc; lưu hành, sử đụng văn hoá phẩm độc hại, đồi truỵ; tham gia tệ nạn XH
- Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDTX
1 Đối với trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện:
a) Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc;
b) Cơ cấu tổ chức của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện gồm các tổ: tổ hành chính - tổng hợp, tổ giáo vụ, tổ dạy văn hoá, tổ dạy nghề, ngoại ngữ và tin học, tổ chuyên đề và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một
tổ trưởng, một tổ phó do giám đốc trung tâm bổ nhiệm Chức năng, nhiệm vụ
và cơ cấu tổ chức của các tổ này do giám đốc trung tâm quy định
2 Đối với trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh:
a) Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc;
b) Cơ cấu tổ chức của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh gồm có: phòng tổ chức hành chính, phòng quản lý đào tạo, phòng bồi dưỡng nâng cao trình độ, phòng dạy văn hóa và các phòng, tổ chuyên môn khác; mỗi phòng có 1 trưởng phòng, 1 hoặc 2 phó trưởng phòng; mỗi tổ có 1 tổ trưởng,
1 hoặc 2 tổ phó do giám đốc trung tâm bổ nhiệm Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các phòng, tổ này do giám đốc trung tâm quy định
Trang 271.3.2 Đặc điểm lứa tuổi HS THPT
Xét về góc độ tâm lý lứa tuổi
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) độ tuổi vị thành niên từ 10 đến 19 tuổi, ở Việt Nam quy định độ tuổi vị thành niên từ 10 đến 18 tuổi Như vậy, học sinh THPT là lứa tuổi cuối của lứa tuổi vị thành niên, giai đoạn này, các
em phát triển mạnh về thể chất, tâm lý, sinh lý Đây và thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, các em luôn có xu hướng tự khẳng định mình, có ý thức vươn lên làm chủ bản thân Ở giai đoạn này, sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của người lớn làm các em luôn buôn cảm thấy khó chịu, thấy bực bội và
dễ nổi nóng Trong lứa tuổi này, các em muốn tìm tòi, phát hiện, khám phá những điều chưa biết của cuộc sống, các em muốn có quyền tự quyết định trong các công việc và việc làm của mình và muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc của bố mẹ, gia đinh và những người lớn tuổi
Xét về góc độ xã hội
Ở lứa tuổi này, tình bạn phát triển mạnh mẽ, tình yêu nam nữ nảy nở,
sự giao tiếp với bạn bè là một nhu cầu rất lớn của các em, các em có xu hướng tụ tập thành từng nhóm có cùng sở thích, phù hợp với tình hình để vui choi, đùa nghịch Có lúc, có nơi, các em có những hành vi, hành động không đúng, không phù hợp với lứa tuổi của mình Trong giai đoạn này, quá trình phát triển sinh lý ảnh hưởng nhiều đến tính cách của các em: Các
em dễ bị xúc động trước một tác động nào đó, các em dễ bị lôi kéo, dễ bị kích động, lòng kiên trì và khả năng tự kiềm chế yếu Các em có tính tình không ổn định, dễ nổi cáu, khi thì quá sôi nổi nhiệt tình nhưng hễ có trở ngại lại dễ chán nản, buông xuôi Các em rất hiếu thắng hoặc tự ti và dễ dàng đi đến những hành động thiếu suy nghĩ chín chắn, có lúc vi phạm mà không tự ý thức được
Trang 28Như vậy, HS ở lứa tuổi này dồi dào về thể lực, phong phú về tinh thần, phức tạp về tính cách và hành vi Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ nhận thức và hiểu biết các phẩm chất ĐĐ của nhân cách sâu sắc hơn trước.Vấn đề và phải
có định hướng những giá trị ĐĐ phù hợp với sự phát triển của XH để có hình thức, phương pháp GD đa dạng, biện chứng và thích ứng trong quá trình GDĐĐ cho HS
1.3.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh Trung tâm GDTX
1.3.3.1 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
Quán triệt các quan điểm tư tưởng chỉ đạo GD của Nghị quyết Trung ương
2 khoá VIII, nỗ lực phấn đấu toàn diện làm cho GD thực sự là quốc sách hàng đầu, trong đó GDĐĐ là cái gốc Nhiệm vụ của quá trình giáo GDĐĐ cho HS THPT bao gồm:
+ GD khái niệm ĐĐ, niềm tin ĐĐ
+ GD tình cảm ĐĐ
+ GD hành vi ĐĐ và thói quen ĐĐ
GDĐĐ chính là GD cho HS những phẩm chất ĐĐ được hình thành từ các yếu tố trên
1.3.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
GDĐĐ cho HS Trung tâm GDTX bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
* Giáo dục tư tưởng - chính trị, đạo đức
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định mục tiêu phát triển
giáo dục và đào tạo chủ yếu, là: ''Thực hiện GD toàn diện đức dục, trí dục, thể
dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học; hết sức coi trọng GD chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy, sáng tạo và năng lực thực hành '' Nội dung GD
tư tưởng chính trị ĐĐ cần tập trung vào những vấn đề sau:
- Tăng cường giáo dục thế giới quan khoa học
Thế giới quan quyết định xu hướng lý tưởng, ĐĐ và các phẩm chất tư tưởng của con người Vì vậy, việc tăng cường GD thế giới quan khoa học cho
HS sẽ giúp cho các em có những hiểu biết đúng đắn và niềm tin khoa học
Trang 29Trong điều kiện hiện nay, cần đặc biệt giúp các em biết phân tích, đánh giá các hiện tượng XH, các thang giá trị đang có những biến đổi không đơn giản; biết ủng hộ, bảo vệ, làm theo cái đúng; biết phản đối và ngăn chặn cái sai; biết chống lai sự thâm nhập của thế giới quan của giai cấp bóc lột; biết chống mê tín, dị đoan và các tư tưởng duy tâm khác
- Tăng cường giáo dục tư tưởng cách mạng cho học sinh
Lý tưởng cách mạng mà ta bồi dưỡng cho HS THPT nhằm giúp cho các
em có mơ ước, hoài bão cao đẹp, có phương hướng sống đúng đắn và sẽ phấn đấu không mệt mỏi để trở thành con người lao động chân chính
Trong điều kiện hiện nay, cần đặc biệt quan tâm giáo dục cho HS có ý thức và khả năng chống lại với sống thực dụng, sáng ngày hôm nay không biết đến ngày mai, chạy theo đời sống vật chất, hưởng thụ; ngăn ngừa tình trạng sống không phương hướng hoặc ước mơ hão huyền đến một "thế giới xa lạ" bên ngoài tổ quốc
- Nâng cao lòng yêu nước XHCN
Lòng yêu nước XHCN là một tràng những phẩm chất cơ bản cần được
GD cho HS, nhất là khi đất nước đang phải vượt qua muôn vàn khó khăn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chúng ta cần đặc biệt quan tâm giúp HS ý thức sâu sắc hơn giữa lòng yêu nước với tinh thần tự hào dân tộc;
tự hào và tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc, ngăn ngừa, chống lại các biểu hiện của tâm lý tự ty dân tộc, ỷ lại vào sự viện trợ của nước ngoài, các biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cũng như các biểu hiện của ý chí yếu ớt, buông trôi cuộc sống, thờ ơ với đất nước
- Tăng cường giáo dục ý thức lao động và tự lao động
Quan tâm, giúp cho các em nâng cao ý thức với lao động, đối với người lao động, đối với sản phẩm lao động; có ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công, sẵn sàng tham gia xây dựng trường, địa phương, đất nước với năng suất và
Trang 30hiệu quả cao; có ý thức chọn ngành nghề theo yêu cầu của XH, phù hợp với nguyện vọng, khả năng của cá nhân
Bên cạnh đó, ý thức là công dân thể hiện trong học tập với động cơ, thái độ đúng đắn, chăm chỉ, nỗ lực vươn lên làm chủ được khoa học, tiết kiệm thời gian, công sức, đồ dùng học tập
Trong thời điểm hiện nay, cần đặc biệt quan tâm giúp cho các em ngăn ngừa và khắc phục các biểu hiện sai trái như: chậy lười lao động, học tập, ỷ lại vào người khác; muốn xoay sở làm ăn bất chính, chạy theo các nghề để ''kiếm chác''
- Tăng cường giáo dục pháp luật, kỷ luật
Việc tăng cường GD kỷ luật, pháp luật đối với HS hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng Nó góp phần tích cực và việc bồi dưỡng các em hiểu biết về nghĩa vụ, quyền lợi người công dân, cũng như nghiã vụ, quyền lợi của người
HS đã được pháp chế hoá Từ đó GD các em ý thức và thói quen sống, làm việc và học tập theo pháp luật, có kỷ luật ở mọi nơi, mọi lúc
Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, cần quan tâm GD các em có ý thức ngăn ngừa và khắc phục tình trạng tự do vô kỷ luật, không chấp hành nghiêm chỉnh các điều đã được nhà nước, nhà trường, tập thể quy định; phạm pháp dưới nhiều hình thức khác nhau (ăn cắp, cướp giật, đánh người ); thờ ơ hoặc không dám đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật hoặc a dua, làm theo kẻ xấu
- Tăng cường giáo dục lòng yêu thương con người và hành vi ứng xử
có văn hóa
GD HS biết yêu quý và kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị em, những người thân thích trong gia đình, họ hàng, thầy cô giáo, bạn bè, những người xung quanh ; biết thông cảm và giúp đỡ người khác, nhất và những người già
cả, những người tàn tật, những người gặp tai nạn rủi ro, phụ nữ có thai, trẻ em; biết đem lai niềm vui cho người khác, biết hy sinh quyền lợi cá nhân, biết ứng
Trang 31xử lễ phép, tế nhị, lịch sự, biết và dám đấu tranh với những biểu hiện coi thường, hạ thấp và chà đạp lên nhân phẩm
Trong điều kiện hiện nay, cần chú ý GD cho HS có ý thức và khả năng ngăn ngừa và khắc phục nhiều biểu hiện sai trái như: Ích kỷ, chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, nặng về đòi hỏi người khác quan tâm đến mình, thờ ơ, lạnh lùng với người khác, bắt nạt bạn bè, em nhỏ, ăn nới cục cằn, thô lỗ, thiếu lễ
độ, và thiếu tôn trọng người khác đặc biệt là với thầy cô giáo
- Giáo dục đạo đức trong mối quan hệ xã hội
- Quan hệ cá nhân với xã hội, cộng đồng
+ Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
+ Yêu nước XHCN
+ Yêu hòa bình, tự hào dân tộc
+ Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc
+ Biết ơn các bậc tiên liệt có công dựng nước và giữ nước
+ Tin yêu Đảng Cộng sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ
- Quan hệ cá nhân với lao động
Đó là các phẩm chất yêu lao động, tính cần cù, chăm chỉ học tập, say
mê khoa học, kỹ thuật, quý trong người lao động, quý trung thành quả lao động XH, các di sản văn hoá, tiết kiệm trong tiêu dùng (vật tư, thời gian), tuân thủ kỷ luật lao động; là con người năng động, sáng tạo trong lao động và vinh dự, là hạnh phúc; kiên quyết đoạn tuyệt với thái độ chây lười, khinh lao động, thích sống ăn bám, coi thường kỷ luật lao động, nói dối, làm dối
- Quan hệ cá nhân với người khác (người ruột thịt, thân yêu, bạn bè, thầy cô giáo, những người khác trong xã hội)
Đó là các phẩm chất: Thương yêu, quý trọng, thông cảm, đoàn kết, tương trợ, tôn trọng lợi ích của người khác và của tập thể Tinh thần tập thể và
ý thức cộng đồng là phẩm chất ĐĐ cơ bản, điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân
Trang 32với XH, với tập thể Yêu cầu của tinh thần tập thể là luôn luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lơi ích cá nhân; hăng hái tham gia những công việc ích nước, lợi dân, vì lợi ích chung của tập thể, của công đồng, của XH; tôn trọng ý kiến của tập thể, tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực do tập thể đề ra
* Giáo dục đạo đức gia đình:
- Gia đình là tế bào XH, là đơn vị cơ sở XH đầu tiên, trong đó con
người sinh ra và lớn lên, là môi trường có tác dụng to lớn đến sự hình thành
và phát triển của con người về thể chất cũng như tinh thần, đặc biệt là ĐĐ Gia đình cũng là nơi con người được XH hoá, con người mang tính cá nhân trở thành con người mang tính XH Quan hệ trong gia đình là quan hệ huyết thống, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thể hiện qua thái độ, hành vi cư xử trong gia đình Nội dung GDĐĐ gia đình gồm:
+ Với người trên phải tôn kính, lễ độ, khiêm tốn, quan tâm chăm sóc + Với người cùng thế hệ: Tôn trọng, khiêm nhường, chân thành giúp đỡ + Với người dưới phải thương yêu, giàu lòng vị tha
* Giáo dục tình bạn: Tình bạn là một bại tình cảm gắn bó tự nguyện
hai hoặc nhiều người với nhau trên cơ sở hợp nhau về tính tình, giống nhau về
sở thích hoặc xu hướng (thế giới quan, lý tưởng) và một số nét nhân cách mà qua đó mỗi người có thể tìm thấy ở bạn mình một ''cái tôi'' thứ hai Tình bạn
là một nhu cầu lớn của con người trong giao tiếp với XH kể từ tuổi ấu thơ, khi mới biết bước chân ra khỏi ngưỡng cửa của gia đình Vì vậy, bất cứ lứa tuổi nào cũng có những tình bạn với nhiều đặc điểm khác nhau: Bạn bè cùng giới, bạn khác giới; bạn cùng công tác, bạn đồng nghiệp, bạn cùng tuổi; bạn bè cùng trường, cùng lớp, cùng tổ, tình bạn chân thành, trong sáng, tôn trọng lẫn nhau và quan hệ bình đảng trong tình bạn
* Quan hệ cá nhân với bản thân
Đó là các phẩm chất: Tự trọng, thật thà, giản dị, khiêm tốn, kiên trì, dũng cảm, lạc quan, vượt khó
Trang 331.3.3.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh ớ Trung tâm GDTX
GDĐĐ cho học sinh ở Trung tâm GDTX được thực hiện thông qua một
số các hoạt động chủ yếu sau:
- Các bài giảng bộ môn giáo dục công dân;
- Các bài giảng của các bộ môn khác;
- Các buổi thực hành;
- Các buổi sinh hoạt lớp, chi Đoàn;
- Các hoạt động của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
- Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, lễ hội
- Hoạt động thể thao, quân sự, tuyên truyền;
- Các đợt phát động thi đua;
- Các hoạt động GDNGLL
1.4 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
1.4.1 Khái niệm quản lý giáo dục
GD là một bộ phận quan trọng của xã hội, vì vậy QLGD là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống QL XH
QLGD là QL mọi hoạt động GD trong XH và như vậy theo nghĩa tổng quát, QLGD là hoạt động phối hợp các lực lượng XH nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH Ngày nay, hoạt động GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành các
cơ sở giáo dục và đào tạo trong hệ thống GD quốc dân
Có rất nhiều định nghĩa về QLGD nhưng theo chúng tôi: ''QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể Qt nhằm đa dạng hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất''
Như vậy, bản chất của QLGD là quá trình tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD
Trang 34QLGD cũng có bốn chức năng cơ bản chung của QL, cụ thể là:
- Lập kế hoạch về QLGD:
Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng QL, bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của hệ thống QLGD
+ Xác định mục tiêu, phân tích thực trạng của đơn vị Xác định một
bộ máy hợp lý, cấu trúc tối ưu trong nhà trường: Đó là các phòng, khoa, các bộ môn
+ Dự báo đánh giá triển vọng, lựa chọn và phân công cán bộ vào các nhiệm vụ trên cơ sở tính toán kỹ càng đúng người, đúng việc, phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân để phát huy được năng lực của mọi người
+ Xác định cơ chế QL bao gồm các chủ trương, chính sách đối với CBGVNV trong nhà trường, khuyến khích động viên CBGVNV trong hoạt động GD
- Tổ chức thực hiện các hoạt động GD:
+ Tổ chức trong QLGD là triển khai các hoạt động GD một cách khoa học, huy động được sức mạnh của tất cả các bộ phận trong bộ máy GD để đạt tới mục tiêu GD
+ Nội dung của tổ chức trong QLGD bao gồm các công việc: xác định biên chế, sắp xếp nhân sự và liên kết các bộ phận trong bộ máy GD
- Chỉ đạo việc triển khai các hoạt động GD:
Chỉ đạo, điều khiển, hướng dẫn, động viên, khuyến khích nhằm tác động đến các thành viên của các tổ chức trong nhà trường làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu GD
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD:
Kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm các hoạt động giúp cho các nhà QLGD thâu tóm được các hoạt động giáo dục và (đào tạo của nhà
Trang 35trường qua mỗi thời kỳ Trên cơ sở đó có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời, mặt khác thấy được các mặt mạnh, tích cực để phát huy Tổng kết sư phạm phải dựa trên cơ sở của phân tích sư phạm, phải nêu được các kinh nghiệm, bài học cho các hoạt động sau Muốn làm được như vậy, nhà QL phải theo dõi sát cả quá trình thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận
Các chức năng QL gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ khác nhau Ngoài ra, trong mỗi hoạt động QLGD, thông tin QLGD đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là ''mạch máu'' của hoạt động QLGD
1.4.2 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
1.4.2.1 Quản lý giáo dục đạo đức
QLGDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể QL tới đối tượng QL để công tác GDĐĐ đạt kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất
Về bản chất, QLGDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể
QL lên các thành tố tham gia vào quá trình GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ Như vậy, QLGDĐĐ là hoạt động điều hành việc GDĐĐ để đạo đức vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của nền GD
1.4.2.2 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
QLGDĐĐ bao gồm QL mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp và kiểm tra, đánh giá trong công tác GDĐĐ của nhà trường
- Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức
GDĐĐ nói chung và trong nhà trường nói riêng là hướng tới việc thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học
QL mục tiêu GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐ vận hành đồng bộ, theo đúng hướng để đạt mục tiêu đã đề ra nhằm nâng cao chất lương GDĐĐ cho HS Muốn vậy, phải làm sao cho các đối tượng của quá trình GDĐĐ (cả chủ thể và khách thể) nắm vững mục tiêu GDĐĐ của nhà trường,
có thái độ ủng hộ và quyết tâm phấn đấu thực hiện
Trang 36- Quản lý nội dung giáo dục đạo đức
QL nội dung GDĐĐ cho học sinh nhằm đảm bảo cho nội dung GDĐĐ được xây dựng thực hiện được mục tiêu, bao gồm:
+ QL việc xác định nội dung GDĐĐ sao cho vừa bao quát, vừa cụ thể + QL việc xây dựng chương trình phù hợp với từng đối tượng khác nhau + QL quá trình GD đảm bảo thực hiện nội dung GDĐĐ đã xác định
- Quản lý hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức
QL hình thức và phương pháp GDDĐ nhằm làm cho việc tổ chức và triển khai các hoạt động GDĐĐ diễn ra một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo thực hiện nội dung GDĐĐ để đạt mục tiêu
Việc lựa chọn hình thức và phương pháp GDĐĐ phải được dựa trên mục tiêu và nội dung đã xác định, đồng thời phải đảm bảo đúng nguyên tắc GDĐĐ
- Quản lý kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
QL kiểm tra, đánh giá GDĐĐ để đảm bảo việc kiểm tra, đánh giá được tiến hành thường xuyên, liên tục, đúng nguyên tắc, đồng thời đối chiếu kết quả đạt được với mục tiêu nhằm rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy quá trình GDĐĐ phát triển đạt hiệu quả
Mục đích của kiểm tra là tìm hiểu việc thực hiện kế hoạch và các quyết định QL nhằm phát hiện các sai lệch, tìm ra nguyên nhân của nó Từ đó, kịp thời điều chỉnh các sai lệch làm cho bộ máy vận hành có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đề ra Kiểm tra và đánh giá luôn gắn bó hữu cơ với nhau Qua kiểm tra, đánh giá mức độ công việc thực hiện so với tiêu chuẩn, nội quy, quy chế và các chỉ tiêu kế hoạch như thế nào, đến đâu từ đó có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời
Công tác thanh tra, kiểm tra nhằm tăng cường kỷ cương, nền nếp hoạt động trong nhà trường, nâng cao ý thức trách nhiệm của giáo viên, khuyến khích giáo viên, HS nâng cao chất lượng GDĐĐ, kịp thời điều chỉnh các hoạt động GDĐĐ phù hợp với yêu cầu, điều kiện thực tế đặt ra, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho các năm sau
Trang 371.5 Các yếu tố cơ bản tác động đến việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm GDTX
Việc QL GDĐĐ cho HS chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, bao gồm những yếu tố khách quan và những yếu tố chủ quan, đó là:
- Kinh tế - xã hội
Sự đổi mới đường lối kinh tế - XH ở nước ta chính là sự lựa chọn mới
về hệ thống giá trị cơ bản của XH đã đem lại sự phát triển toàn diện, mạnh mẽ
và sâu sắc trong đời sống XH, kéo theo sự biến đổi hệ thống định hướng giá trị trong mỗi con người Bên cạnh việc hình thành những giá trị mới tích cực,
sự phát triển, mở cửa, hội nhập nền kinh tế thị trường và sự phát triển quá nhanh về khoa học công nghệ cũng làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong XH, ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, chính trị, tình cảm ĐĐ, lối sống của một bộ phận HS
- Môi trường giáo dục
+ Yếu tố GD nhà trường: Nhà trường với cả một hệ thống GD được tổ chức QL chặt chẽ là yếu tố quan trọng nhất trong việc GDĐĐ cho HS Với định hướng mục tiêu GDĐĐ theo những chuẩn giá trị tiến bộ, đúng đắn, với
hệ thống chương trình khoa học, các tài liệu, sách giáo khoa, sách thanh khảo phong phú, các phương tiện hỗ trợ GD ngày càng hiện đại và đặc biệt là với một đội ngũ cán bộ, giáo viên được đào tạo cơ bản, có đầy đủ phẩm chất và năng lực sẽ là yếu tố có tính quyết định hoạt động GDĐĐ cho HS
+ Yếu tố GD gia đình: Gia đình với những quan hệ mật thiết, là nơi nuôi dưỡng HS từ bé đến lúc trưởng thành Nếu ví tâm hồn học sinh như trang giấy trắng thì gia đình ghi những nét đầu tiên trên trang giấy đó Nó là cội nguồn của mọi cội nguồn hình thành nhân cách HS
Trang 38+ Yếu tố GD XH: Ở đây muốn nới đến môi trường GD rộng lớn hơn đó
và cộng đồng cư trú của HS Từ xóm làng, khối phố đến các tổ chức Đoàn thể
XH, các cơ quan nhà nước đều có ảnh hưởng rất lớn đến việc GDĐĐ cho
HS Nếu môi trường XH trong sạch, cộng đồng XH tốt đẹp, văn minh thì chắc chắn hoạt động GDĐĐ cho HS sẽ rất thuận lợi
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường
Đây là những người có ảnh hưởng trực tiếp đến HS, do vậy, ''Mỗi thầy
cô giáo phải là một tấm gương sáng về ĐĐ và tự học, tự rèn'' Đồng thời, mỗi giáo viên có ý thức trong việc GDĐĐ cho HS, tận tâm với nghề nghiệp của mình, như vây mới có tác động tích cực trong việc GDĐĐ cho HS
- Hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Điều lệ Đoàn khẳng định ''Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính
trị xã hội của thanh niên Việt Nam, do Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện''; Đoàn là "Trường học
XHCN'' của thanh niên, tạo môi trường đưa thanh niên vào các hoạt động,
giúp thanh niên học tập, rèn luyện và phát triển nhân cách, năng lực của người lao động mới, phù hợp với yêu cầu của XH hiện nay Đoàn là người đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tuổi trẻ
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, Đoàn quan tâm hàng đầu đến công tác tuyên truyền, GD truyền thống, GD ĐĐ cho Đoàn viên, thanh niên thông qua nhiều hoạt động phong phú và đa dạng, trong đó, Đoàn đã và đang
triển khai, thực hiện hai phong trào lớn, đó là: ''Năm xung kích phát triển kinh tế
- xã hội và bảo vệ Tổ quốc '' và ''Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp '', đặc biệt là cuộc vận động ''Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác '' bằng những việc làm cụ thể Những hoạt động đó đã có ảnh hưởng rất
lớn đến việc GDĐĐ cho Đoàn viên, thanh niên (HS) THPT
Trang 39- Các điều kiện đảm bảo cho GDĐĐ
Các điều kiện đảm bảo như cơ sở vật chất, nguồn tài chính của nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng trong việc QL hoạt động GDĐĐ cho HS
vì nó tạo nên cảnh quan sư phạm, cung cấp các phương tiện cho các hoạt động học tập, rèn luyện của HS, tạo các điều kiện cần thiết để HS có thể thực hiện được những hành vi cần được GD theo mục tiêu của nhà trường
- Đặc điểm tâm lí của HS THPT
Như đã phân tích ở trên thi HS là nhân vật trung tâm trong các nhà trường, HS ở lứa tuổi này đang hình thành và phát triển mạnh mẽ những phẩm chất nhân cách có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự GD, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực như khả năng tự đánh giá, lòng tự trọng, tự tin, tự ý thức Đồng thời, họ cũng muốn được khẳng định vai trò của mình trong XH, trong gia đình, trong tập thể, trong công việc và trong các mối quan hệ Có thể khẳng định, kết quả GD nói chung và GDĐĐ nói riêng phụ thuộc vào việc tiếp nhận của đối tượng GD Dù chủ thể GD có tích cực, nhiệt tình mà đối tượng GD không tiếp nhận thì quá trình GD sẽ không có kết quả
- Vai trò của tập thể HS
Tập thể HS và môi trường và phương tiện GDĐĐ quan trọng vì vậy cần xây dựng thành tập thể HS tốt có mục đích thống nhất, có tinh thần trách nhiệm cao đối với XH, yêu cầu chặt chẽ đối với mỗi thành viên Mọi thành viên phải phục tùng quyết định của tập thể và phải bình đẳng trước tập thể
- Công nghệ thông tin và truyền thông
Vai trò và lợi ích của công nghệ thông tin và truyền thông đem lai cho
GD là không thể phủ nhận Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực,
nó cũng gây không ít khó khăn cho công tác QLGDDĐ cho HS của những nhà QL vì chính tính phong phú, hai mặt của thông tin
Trang 40Kết luận chương l
GDDĐ được xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt GD khác Quá trình GDĐĐ tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường với XH, con người với cuộc sống GDĐĐ là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của GD nói chung trong nhà trường Mục tiêu GĐĐĐ trong nhà trường là hình thành nên những phẩm chất ĐD mới cho HS trên cơ sở có nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi ĐĐ Nội dung của GDĐĐ là góp phần hướng tới sự phát triển con người, phát triển nhân cách của từng HS, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhất là trong thời kỳ CNH - HĐH Chất lượng của GDĐĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng GD của các nhà trường Do đó, tuỳ vào điều kiện thực tế của mình, mỗi cơ sở GD, mỗi trường học phải lựa chọn được một hệ thống các biện pháp QLGDĐĐ thích hợp và có hiệu quả để áp dụng tại đơn vị
Để xây dựng được hệ thống các biện pháp QLGDĐĐ phù hợp, hiệu quả, đặc biệt là các biện pháp theo hướng tăng cường vai trò của Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, ở chương 2 chúng tôi sẽ nghiên cứu, phân tích thực trạng QLGDĐĐ, phân tích vai trò và đóng góp của tổ chức Đoàn trong GDĐĐ cho
HS Trung tâm GDTX trong những năm gần đây