1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

179 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tác giả Trần Thị Minh Huế
Người hướng dẫn PGS. TS. Đặng Quốc Bảo, PGS. TS. Phạm Hồng Quang
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý kiến sinh viên về vai trò của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường sư phạm .... Tuy nhiên, thực tiễn công tác giáo dục B

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ MINH HUẾ

GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

THÁI NGUYÊN, 2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ MINH HUẾ

GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan danh dự đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công

bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Thị Minh Huế

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ và đồ thị

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

8 Những luận điểm bảo vệ 4

9 Những đóng góp mới của luận án 4

10 Cấu trúc luận án 5

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

1.2 Những khái niệm công cụ 15

1.3 Một số vấn đề về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên sư phạm hiện nay 21

1.4 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường sư phạm 31

1.5 Tiểu kết chương 1 36

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

CHO SINH VIÊN THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG SƯ

PHẠM MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC 38

2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 38

2.2 Thực trạng nhận thức về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL ở các trường sư phạm miền núi Đông Bắc 40

2.3 Thực trạng giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường sư phạm miền núi Đông Bắc 48

2.4 Nghiên cứu trường hợp trong giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL 63

2.5 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục BSVHDT cho SVSP miền núi Đông Bắc thông qua tổ chức HĐGDNGLL hiện nay 66

2.6 Tiểu kết chương 2 68

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 69

3.1 Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 69

3.2 Biện pháp giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường sư phạm 70

3.3 Khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm 82

3.4 Bàn luận 103

3.5 Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

1 Kết luận 105

2 Khuyến nghị 107

DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 111

TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 116

Trang 6

PHỤ LỤC 117

Phụ lục 1 Phiếu trưng cầu ý kiến 117

Phụ lục 2 Phiếu khảo sát sinh viên trước và sau thực nghiệm 133

Phụ lục 3 Biên bản quan sát hoạt động của SV trong TNSP 140

Phụ lục 4 Một số bản thiết kế hoạt động sử dụng trong TNSP 141

Phụ lục 5 Một số nội dung giáo dục giá trị BSVHDT sử dụng trong thực nghiệm sư phạm 157

Phụ lục 6 Hình ảnh văn hoá của 54 dân tộc Việt Nam 164

Phụ lục 7 Thiết kế, tổ chức HĐGDNGLL nhằm giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm 167

Phụ lục 8 Hình thức tổ chức HĐGDNGLL theo chủ đề “Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc” 169

Trang 7

CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

GV : Giảng viên, nhà giáo dục GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo HĐGDNGLL: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp KH&CN : Khoa học và công nghệ

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức của SV về khái niệm văn hoá, bản sắc văn hoá, giáo dục

bản sắc văn hoá, HĐGDNGLL 40 Bảng 2.2 Đánh giá của sinh viên về lĩnh vực thể hiện BSVHDT 42 Bảng 2.3 Ý kiến sinh viên về vai trò của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc

thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường sư phạm 43 Bảng 2.4 Giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đánh giá về ý nghĩa của giáo

dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên sư phạm 44 Bảng 2.5 Đánh giá của sinh viên về khả năng giáo dục giá trị bản sắc văn hoá

dân tộc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 46 Bảng 2.6 Đánh giá của GV, CBQLGD về khả năng giáo dục giá trị bản sắc

văn hoá dân tộc qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 47 Bảng 2.7 Đánh giá của sinh viên về mức độ tổ chức các hoạt động giáo dục

ngoài giờ lên lớp trong nhà trường 49 Bảng 2.8 Đánh giá của CBQLGD, GV về các HĐGDNGLL đã tổ chức

trong nhà trường nhằm giáo dục BSVHDT cho SV 50 Bảng 2.9 Mức độ hứng thú của SV đối với các HĐGDNGLL do nhà

trường tổ chức 52 Bảng 2.10 Mức độ tổ chức, tham gia các HĐGDNGLL của SV 53 Bảng 2.11 Hiệu quả phối hợp, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

cho sinh viên của các lực lượng giáo dục 56 Bảng 2.12 Đánh giá của GV, CBQLGD về thái độ và hành vi của SV liên

quan đến các giá trị BSVHDT 58 Bảng 2.13 Tự đánh giá của SV về tác dụng của các HĐGDNGLL đã tổ chức

trong giáo dục BSVHDT 59 Bảng 2.14 Tự đánh giá của SV về thái độ và hành vi liên quan đến các giá trị

bản sắc văn hoá dân tộc 61

Trang 9

Bảng 2.15 Nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục BSVHDT cho SVSP

thông qua tổ chức HĐGDNGLL 63

Bảng 3.1 Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính cấp thiết của các biện pháp giáo dục 84

Bảng 3.2 Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính hiệu quả của các biện pháp giáo dục 85

Bảng 3.3 Nhận thức của sinh viên trước thực nghiệm 92

Bảng 3.4 Kết quả nhận thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 1 92

Bảng 3.5 Kết quả nhận thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 2 93

Bảng 3.6 Mức độ nhận thức của sinh viên sau hai lần thực nghiệm 94

Bảng 3.7 So sánh chênh lệch về nhận thức của sinh viên trước và sau thực nghiệm 95

Bảng 3.8 So sánh các tham số đặc trưng của lớp thực nghiệm trước và sau thực nghiệm sư phạm 96

Bảng 3.9 Các tham số đặc trưng của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau thực nghiệm sư phạm 96

Bảng 3.10 Hứng thú của sinh viên khi tham gia các hoạt động giáo dục

ngoài giờ lên lớp trong chương trình thực nghiệm 100

Bảng 3.11 Đánh giá của sinh viên sau thực nghiệm về ý nghĩa của HĐGDNGLL trong chương trình thực nghiệm sư phạm 102

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV

thông qua tổ chức HĐGDNGLL 82

Đồ thị 3.1 Kết quả nắm tri thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 1 93

Đồ thị 3.2 Kết quả nắm tri thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 2 94

Đồ thị 3.3 Kết quả nắm tri thức của sinh viên sau hai lần thực nghiệm 95

Đồ thị 3.4 So sánh kết quả nhận thức của sinh viên lớp thực nghiệm 97

Đồ thị 3.5 So sánh kết quả nhận thức của sinh viên lớp đối chứng trước và trước và sau thực nghiệm sư phạm 98

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, quan hệ quốc tế đã chuyển từ phương châm “cân bằng sức mạnh” sang phương châm “cân bằng lợi ích” Trên bình diện giáo dục, các quan hệ mới thúc đẩy giáo dục mở ra cộng đồng Xu hướng quốc tế hoá càng phát triển thì càng đòi hỏi mỗi dân tộc phải trau dồi bản sắc của mình Không có BSDT, văn hoá dân tộc độc đáo thì con người sẽ mất ý thức Tổ quốc Lịch sử đang đòi hỏi chúng ta phải tạo ra được một lớp người mới hoà nhập được vào cộng đồng thế giới mà vẫn giữ lại được những giá trị bản sắc của con người Việt Nam

Trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Đảng ta coi văn hoá và con người vừa

là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế, xã hội Từ đó, vấn đề phát triển văn hoá, phát triển con người thông qua hệ thống giáo dục đã được đặc biệt quan tâm Hội nghị lần thứ II-BCHTƯ Đảng khoá VIII (12.1998) xác định: "Mục tiêu của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH-HĐH đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn

hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; , là những

người thừa kế xây dựng xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn của Bác Hồ"[27] Từ định hướng đó, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hướng dẫn con người từ lối sống chưa có giá trị đến lối sống có giá trị; giáo dục để tạo ra giá trị của con người, phát huy và phát triển giá trị của dân tộc Điều lệ Trường ĐH cũng xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục ĐH là “Giữ gìn và phát triển những di sản và BSVHDT” [65, Chương 1, Điều 9]; “Nội dung giáo dục trong các trường ĐH phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn,

các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền

thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc ” [9, Điều 40, Mục 1]

Trang 12

Trường SP là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, CBQLGD - những người giữ vị trí chủ thể của quá trình chuyển giao văn hoá ở mọi cấp, bậc, ngành học; chủ thể thực hiện và hướng dẫn lối sống văn hoá cho nhân dân Do đặc thù của mục tiêu đào tạo, các trường SP cần hình thành, phát triển ở SV năng lực và phẩm chất nghề nghiệp, hình thành khả năng kế thừa và phát triển nền văn hóa dân tộc để giúp họ thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của nhà giáo dục ở các bậc học sau này Trong nhà trường SP, HĐGDNGLL là hoạt động có nhiều ưu thế để giáo dục BSVHDT, phát triển nhân cách cho SV Tuy nhiên, thực tiễn công tác giáo dục BSDT ở các trường SP chưa được chú trọng, chưa phát huy được ảnh hưởng tích cực của HĐGDNGLL trong phát triển nhân cách nghề cho SV, cơ hội để SV được trực tiếp tham gia, tổ chức HĐGDNGLL cho chính mình chưa nhiều; nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ học đã được tổ chức nhưng còn mang tính hình thức, khó

đo được hiệu quả Trong khi đó, những biểu hiện tiêu cực của đời sống xã hội; sự suy đồi về đạo đức của một bộ phận sinh viên và giáo viên trong hệ thống giáo dục

đã ảnh hưởng xấu đến định hướng giá trị nhân cách nghề nghiệp và lối sống của SVSP Chính vì vậy mà công tác giáo dục đạo đức, giáo dục BSVHDT cho thế hệ trẻ nói chung, SVSP nói riêng càng trở nên cấp thiết

Từ định hướng giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL ở trường SP, chúng tôi nghiên cứu đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức HĐGDNGLL nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục BSVHDT cho SV, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường SP miền núi Đông Bắc Việt Nam hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục BSVHDT cho SVSP

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP miền núi Đông Bắc thông qua tổ chức HĐGDNGLL

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học

Nếu các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV khai thác được tiềm năng sư phạm của HĐGDNGLL, phát huy những ưu điểm xã hội của SVSP, phù hợp với đặc thù văn hóa các dân tộc miền núi Đông Bắc; dựa vào những điều kiện về nhận thức đúng đắn của cộng đồng, môi trường vật chất và văn hóa nhà trường thì sẽ nâng cao được kết quả giáo dục BSVHDT, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục toàn diện nhân cách cho SV ở các trường SP miền núi Đông Bắc hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức HĐGDNGLL

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục BSVHDT cho SVSP miền núi Đông Bắc thông qua tổ chức HĐGDNGLL

5.3 Đề xuất, thực nghiệm một số biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua

tổ chức HĐGDNGLL

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Nội dung: Luận án đi sâu nghiên cứu về giá trị BSVHDT Tày, Nùng khu vực

miền núi Đông Bắc Việt Nam và những cơ sở khoa học của công tác giáo dục để xây dựng các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL ở trường SP

6.2 Khách thể điều tra: Quá trình nghiên cứu thực tiễn được tiến hành trên 826 SV

năm thứ 2 (200 SV hệ ĐH, 626 SV hệ CĐ) và 240 GV, CBQLGD tại các trường: ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, CĐSP Thái Nguyên, CĐSP Bắc Kạn, CĐSP Hà Giang

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Cơ sở phương pháp luận

Vận dụng quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hoá, giáo dục phát triển toàn diện nhân cách con người thời kì CNH-HĐH

Nghiên cứu giáo dục BSVHDT trong sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho SV trên quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử; quan điểm giáo dục giá trị, quan điểm tâm lý học hoạt động

Trang 14

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, gồm: Phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm: Phương pháp điều tra bằng ankét, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm, phương pháp nghiên cứu trường hợp và phương pháp tổng kết kinh nghiệm

7.2.3 Các phương pháp khác: phương pháp thống kê, phương pháp kiểm định giả thuyết

8 Những luận điểm bảo vệ

8.1 Trong xu thế phát triển ngày nay, BSVHDT được coi là vấn đề sống còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Để đáp ứng yêu cầu mới, những tri thức văn hoá bản địa, địa phương cần được nghiên cứu xây dựng thành chương trình GD&ĐT, sử dụng phương pháp và biện pháp tác động phù hợp để hình thành cho người học

8.2 Trong trường SP, HĐGDNGLL cùng với những bài giảng nội khóa là một sự bổ sung lẫn nhau hình thành cho người học nhân cách văn hoá, nhân cách nghề dạy học 8.3 Để đảm bảo hiệu quả giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức HĐGDNGLL trong nhà trường SP thì hoạt động này phải phục vụ mục tiêu giáo dục nhân cách nghề dạy học cho SV, mục tiêu giáo dục nhân cách văn hoá; đảm bảo tính kế hoạch, tính thiết thực, quán triệt được đặc trưng vùng và yêu cầu của đất nước, biết xã hội hoá và có cơ chế phối hợp hài hoà các nguồn lực, không làm cho nhiệm vụ GD&ĐT của nhà trường bị quá tải

9 Những đóng góp mới của luận án

9.1 Về lý luận

- Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản về BSVHDT Việt Nam và BSVHDT dân tộc Tày - Nùng vùng Đông Bắc Việt Nam; góp phần khẳng định giáo dục BSVHDT

là nhiệm vụ cấp thiết của quá trình đào tạo giáo viên ở các trường SP hiện nay

- Xây dựng được nhiệm vụ, nội dung giáo dục BSVHDT cho SV trong nhà trường SP nói chung, nội dung giáo dục BSVHDT cho SVSP vùng Đông Bắc nói riêng và chỉ ra được HĐGDNGLL là con đường hiệu quả để giáo dục BSVHDT cho

Trang 15

SVSP, góp phần làm phong phú thêm lý luận về giáo dục BSVHDT thông qua các HĐGDNGLL trong nhà trường

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm tư liệu để các trường SP tổ chức tốt hơn công tác giáo dục BSVHDT cho SV Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong tổ chức HĐGDNGLL và hoạt động tập thể nói chung

Ngoài ra, luận án còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 16

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về văn hóa

1.1.1.1 Ở phương Tây

Thuật ngữ văn hóa (tiếng Anh là “culture”) đã được sử dụng từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại Theo nghiên cứu của W.Vundt (nhà ngôn ngữ học người Đức), thuật ngữ này xuất hiện từ thời cổ đại ở châu Âu; bắt nguồn từ động từ “cultus” tiếng Latin, được dùng theo hai nghĩa: Nghĩa đen là “cultus agri”-“trồng trọt ngoài đồng” (canh tác trong nông nghiệp) và nghĩa bóng là “cultus animi” - “trồng trọt tinh thần” (giáo dục, vun trồng lý trí, bồi dưỡng tâm hồn con người) Cũng theo các nghiên cứu, Ciceron (106-43TCN) (nhà chính trị, nhà hùng biện thời Lamã) đã nói

tới thuật ngữ này trong thành ngữ nổi tiếng: “Filosofia cultura animi est”, nghĩa là:

“Triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần” [64], [73]

Người đầu tiên sử dụng khái niệm văn hóa với nghĩa một khái niệm khoa học

là Puferdorf-nhà nghiên cứu pháp luật người Đức Theo ông, văn hóa là cái đối lập với tự nhiên, là toàn bộ những gì con người tạo ra và đề xuất trong hoạt động của chính mình [34, tr26]

Văn hóa chỉ được coi là đối tượng nghiên cứu của khoa học bắt đầu từ năm

1855, khi Klemm (Đức) cho xuất bản cuốn “Khoa học chung về văn hóa” (The Science of Culture) Trong cuốn sách này, ông đã trình bày sự phát sinh, phát triển toàn diện của loài người như là sự phát triển văn hóa của một cá thể đơn nhất Lần đầu tiên, lịch sử được nghiên cứu như là lịch sử xã hội, lịch sử văn hóa Nhờ đó, văn hoá hiện diện như một đối tượng của khoa học riêng biệt Klemm được coi là người đặt nền móng đầu tiên cho môn “Lịch sử văn hóa” trong khoa học

Cùng với Klemm (Đức), ở các nước Anh-Mỹ, E.B.Taylor được coi là ông tổ sáng lập ra môn “Nhân học văn hóa” khi ông cho xuất bản cuốn “Văn hóa nguyên thủy” (Primitive Culture) tại Luân Đôn năm 1871 Thuật ngữ “văn hoá học” (tiếng

Trang 17

Đức là Kulturkunde, tiếng Anh là Culturology) xuất hiện vào năm 1898 tại Đại hội các giáo viên sinh ngữ họp tại Viên (nước Áo), nhưng đến khi công trình The Science of Culture của L.White xuất bản tại Mỹ năm 1949, mới trở thành phổ biến [64, tr21] Cho đến nay, ở phương Tây đã có trên 400 định nghĩa về văn hoá của các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, có uy tín khoa học thuộc các trường phái như: Trường phái nhân học Mỹ; Trường phái tiến hoá-văn hoá; Trường phái “khoa học lịch sử mới” (Pháp); Trường phái Amxtécđam (Hà Lan); Trường phái nhân học - địa lý và trường phái lịch sử - tinh thần (Đức); Trường phái lịch sử - văn hoá

Trong các nghiên cứu về vấn đề này thời gian gần đây có thể kể đến tác phẩm Future Shock (New York.1970) của Toffer Alvin-nhà xã hội học người Mỹ, hai tác phẩm của nhà báo Thomas L.Friedman là The Lexus and the Olive Tree (New York.2000) [24] và The World is Flat (New York.2005) [23] như là những tác phẩm tiêu biểu Các tác giả đã phân tích và đưa ra một cái nhìn xuyên suốt về hệ thống toàn cầu hoá hiện đại đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hoá, truyền thống của các quốc gia, dân tộc Ở đây, khái niệm văn hóa được nhìn nhận, phân tích sâu ở tầng bậc sự thay đổi các giá trị cũng như hình thức biểu hiện của nó trong cuộc sống đương đại và xu thế phát triển của văn hoá trong tương lai

Nhìn chung, văn hoá với tính chất là một thuộc tính của con người đã được nghiên cứu từ rất sớm Mặc dù đã hình thành văn hoá học thì trong nghiên cứu về khoa học này ở phương Tây vẫn thể hiện mối quan hệ rất chặt chẽ giữa nó với các khoa học liên cận như lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, văn học

1.1.1.2 Ở phương Đông

Chữ “Văn” trong ngôn ngữ cổ Trung Quốc không chỉ nói tới vẻ ngoài, cái được biểu hiện ra bên ngoài (quần áo, diện mạo, ngôn ngữ) mà chủ yếu nhấn mạnh vào những cái được biểu hiện trong đời sống xã hội như điển chương, chế độ, phong tục, đạo đức

“Văn hóa thời xưa là văn trị giáo hóa, lễ nhạc, điển chương, chế độ” [35, tr1-17]

1.1.1.3 Nghiên cứu về văn hóa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác

Lý luận về văn hóa của chủ nghĩa Mác lấy con người làm hạt nhân cơ bản Trong cuốn “Bản thảo kinh tế học”, C.Mác viết: “Chúng ta nhận thấy lịch sử của

Trang 18

công nghiệp và sự tồn tại của nền công nghiệp là quyển sách mở cửa của các lực lượng bản chất người” [42,tr3] Ở tác phẩm khác, tác giả nhận định: “Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người” [43, tr578] Như vậy, văn hóa trước hết là sự đối tượng hóa lực lượng bản chất người, trung tâm là toàn bộ hoạt động lao động sáng tạo, giao tiếp và

sự phát triển nhân cách Trên cơ sở lý luận về thực tiễn và lý luận về hình thái ý thức xã hội, C.Mác đã nêu lên các chức năng nhận thức và biến đổi thế giới của văn hóa Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng triết học, C.Mác đã xây dựng mối quan hệ nhiều chiều của văn hóa: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; truyền thống và đổi mới trong văn hóa Sau này, Lênin đã phát triển ý tưởng của C.Mác vào thực tiễn cụ thể của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga và xây dựng học thuyết về cuộc cách mạng văn hóa trong đó khẳng định văn hóa mới là văn hóa có tính Đảng vô sản Văn hóa được tách khỏi tự nhiên để xác lập các quan hệ nhân tính song văn

hóa không nằm ngoài tự nhiên C.Mác cũng đã nói rằng: “Có thể xét đoán trình độ

văn hóa chung của con người khi bản chất người trở thành tự nhiên đối với con người, hoặc tự nhiên trở thành bản chất của con người” [44, tr115] Hệ tư tưởng triết học, văn

hóa học Mác-Lênin đã tạo ra một khuynh hướng mới trong nghiên cứu lý luận về văn hóa và hoạt động văn hóa của loài người

1.1.2 Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc ở một số nước trên thế giới

1.1.2.1 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc ở Trung Quốc

Về mục tiêu của giáo dục BSVH: Mục tiêu quan trọng hàng đầu của giáo dục

BSVHDT ở Trung Quốc là làm phấn chấn tinh thần dân tộc Sở dĩ như vậy là do

địa vị đặc thù của Trung Quốc trong tiến trình hiện đại hóa thế giới Trong lịch sử mấy nghìn năm của loài người, đã từng tồn tại một nền văn minh Trung Hoa nở rộ Tuy nhiên, do tiến hành CNH-HĐH muộn nên hiện nay, Trung Quốc vẫn còn là một nước đang phát triển, tình hình này đã tạo ra một áp lực to lớn trong tâm lý dân tộc,

sự tồn tại lâu dài của áp lực này rất dễ làm cho lòng tự tôn, tự hào dân tộc bị suy giảm, ảnh hưởng xấu đến tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc Bởi vậy, làm phấn chấn tinh thần dân tộc là mục tiêu giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc ở Trung Quốc

Trang 19

Tinh thần của văn hoá dân tộc Trung Hoa là một hệ thống tư tưởng bao gồm các mặt “trời - người” hợp một (thiên nhân hợp nhất), “người là gốc” (dĩ nhân vi bản), “vững mạnh làm nên công tích” (cương kiện hữu quy), “quý chuộng khoan hòa và trung dung” (quý hòa thượng trung), trong đó thì “vững mạnh làm nên công tích” là hạt nhân cơ bản Tinh thần này chính là tinh thần tiến thủ không ngừng, nó có lợi cho việc thúc đẩy sự biến đổi xã hội, đây cũng chính là phương châm của giáo dục truyền thống văn hoá cho người học ở Trung Quốc

Nội dung giáo dục BSVH ở Trung Quốc: Văn hóa Trung Quốc có nhiều đặc

điểm nhưng nói chung, nó là văn hóa thuộc loại hình luân lý (hay văn hóa đạo đức),

đây là đặc trưng có tính điển hình và tiêu biểu nhất Trong nội dung giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc, Trung Quốc quan tâm đến giáo dục các giá trị đạo đức chi phối mối quan hệ giữa quân -thần, cá nhân và Nhà nước, với bản thân: “Thiên hạ hưng vong, kẻ sất phu có trách nhiệm” (thiên hạ hưng vong, sất phu hữu trách); “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc; “cái gì mình không muốn thì đừng làm điều đó cho người khác” (kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân); “quý phú không thể làm chìm đắm, uy vũ không thể buộc khuất phục, bần tiện không thể làm chuyển di” (phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di) Ngoài ra, Trung Quốc còn quan tâm giáo dục cho người học những đức tính tốt đẹp như nhân ái, hiếu đễ, khiêm tốn, hòa nhã, chuộng lễ; thành thực, kiềm chế bản thân để phụng sự sự nghiệp chung, thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa, trung trinh yêu nước và Trung Quốc quan tâm đúng mức đến quá trình tiếp biến và thích ứng với các giá trị văn hoá phương Tây để hội nhập và phát triển Đây cũng chính là đường hướng giáo dục phù hợp với quy luật phát triển xã hội và phát triển văn hoá mà hầu hết các nước trên thế giới đã lựa chọn hiện nay

Phương pháp giáo dục BSVH của Trung Quốc: nền giáo dục Trung Quốc đã

phát huy những ảnh hưởng tích cực của các phương pháp giáo dục truyền thống và tiếp thu các phương pháp giáo dục của phương Tây trên cơ sở tâm lý học hiện đại như phương pháp trò chơi, phương pháp thảo luận, phương pháp diễn đàn,…bằng việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ học và chương trình dạy

Trang 20

học các môn học có ưu thế trong nhà trường như môn Ngữ văn, Lịch sử; ngay cả việc giảng dạy môn Vật lý cũng có nhiều nội dung được đưa vào như 4 phát minh lớn của Trung Quốc cống hiến cho thế giới (về thuốc nổ, la bàn, giấy, kỹ thuật in ấn), trí tuệ trong “phép tính cửu chương”, việc ghi chép về sao chổi Halay từ thời Tiên Tần… Đây đều là những nội dung tốt để giáo dục chủ nghĩa yêu nước và bồi

dưỡng lòng tự hào, tự tin dân tộc cho người học [11], [12]

1.1.2.2 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc ở Nhật Bản

Do sớm nhận thức được vai trò của yếu tố nội lực đối với sự phát triển đất nước Nhật Bản đã rất quan tâm đến việc phát hiện và khai thác những giá trị văn hoá truyền thống để cố kết sức mạnh của toàn cộng đồng vào mục tiêu CNH-HĐH đất nước

Ở giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH, sự hấp dẫn của văn minh phương Tây đã hình thành nên xu hướng “phương Tây hoá” ồ ạt, ảnh hưởng đến lối sống của một bộ phận lớn người dân Nhật đặc biệt là giới trẻ Tuy nhiên, tác hại của nó

đã được nhận thức và hàn gắn bởi đạo luật bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá ban hành năm 1897 Kể từ đó, các yếu tố văn hoá ngoại lai trở thành chất men kích thích sức sáng tạo và năng động của văn hoá truyền thống Các yếu tố bản địa được phục hồi trong sự hấp dẫn của nó với những định hướng giá trị mới Việc chính phủ Nhật Bản ban hành bộ luật “Bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá” (năm 1950) và “Chính sách văn hoá Nhật Bản, những vấn đề hiện tại và tương lai” (năm 1991) đã có ý nghĩa pháp lý cho việc thực thi các hoạt động bảo tồn, sáng tạo và phát triển văn hoá

Để thực hiện tốt công tác giáo dục BSVHDT cho cộng đồng, chính phủ Nhật Bản cho thành lập Cục văn hoá Nhật Bản vào năm 1960 (chữ viết tắt tiếng Anh là ACA) Đây là cơ quan trực thuộc MEXT (Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học Nhật Bản), là bộ máy hành chính được tổ chức theo chiều dọc với nhiệm vụ và chức năng điều hành các hoạt động văn hoá từ TƯ đến địa phương Hoạt động của ACA được thực hiện thông qua các chương trình văn hoá, giáo dục trong và ngoài nhà trường Công tác giáo dục BSVHDT trong trường học được thúc đẩy thông qua các hoạt động giáo dục trong và ngoài giờ học Với chủ trương phát triển đất nước trong

sự kết hợp của truyền thống Nhật Bản và kỹ thuật phương Tây, nội dung giáo dục

Trang 21

BSVHDT dựa trên luân lý Nho gia gắn với những giá trị BSVH hình thành trong tiến trình phát triển lịch sử đã được xây dựng thành chương trình lồng ghép vào các môn học và những hoạt động giáo dục phong phú Hoạt động bảo tồn và phát triển văn hoá ở Nhật Bản trong những năm qua còn đặc trưng bởi những nỗ lực đẩy mạnh quá trình giao lưu, trao đổi, hợp tác quốc tế về văn hóa [13]

1.1.2.3 Giáo dục truyền thống văn hoá ở Singapore

Để phát triển đất nước, Singapore chủ trương xây dựng một nền văn hóa vừa phải kế thừa được truyền thống và phù hợp với đặc điểm đất nước lại vừa phải thu hút được tinh hoa của nhiều nền văn hóa khác Trong bài viết “Phát triển kinh tế của Singapore với văn hóa Nho gia”, tác giả WangHanDi đã dẫn lời tổng thống Lý Quang Diệu nói về vấn đề này trước người dân Singapore: “Chúng ta kết hợp đặc trưng sáng kiến, sức sáng tạo và sức sản xuất của người Mỹ, chúng ta cũng học tập kinh nghiệm của người Nhật Bản nhưng tuyệt đại đa số nhân dân chúng ta phải giữ được đặc tính của chúng ta không giống như người Mỹ hoặc người Nhật Bản” [11]

Để thực hiện quan điểm chiến lược đó, về nội dung giáo dục, Singapore đã phát huy các giá trị cốt lõi được coi là tinh hoa của văn hóa Nho gia, gồm tám đức tính: “Trung, hiếu, nhân, ái, lễ, nghĩa, liêm, sỉ” Đây là những phẩm chất cơ bản chi phối các mối quan hệ của con người về phương diện xã hội và gia đình Bằng các nội dung phù hợp với đặc điểm của từng loại đối tượng, nhiều hình thức khác nhau

đã được sử dụng để giáo dục rộng rãi các đức tính đó Ở cấp độ xã hội, các cuộc vận động về giao tiếp lễ độ, tuần trung thành, tuần yêu kính người già, tuần ý thức quốc dân đã được tổ chức thường niên Chương trình giáo dục quốc gia được xây dựng

và đưa vào thực hiện trong hệ thống giáo dục chính quy và phi chính quy ngay từ bậc học mầm non đến giáo dục cho người lớn Ở các trường tiểu học và trung học, bên cạnh những chương trình giáo dục kĩ năng sống và tinh thần hiện đại, bao giờ cũng chú ý đặc biệt đến giáo dục đạo đức truyền thống với những sách giáo khoa như “Luân lý Nho gia”… Trong các chương trình giáo dục bậc trung học và đại học, tuỳ vào từng chuyên ngành đào tạo, nội dung giáo dục truyền thống văn hoá cũng được xây dựng thành các chuyên đề và học phần bắt buộc hay tự chọn; các

Trang 22

chương trình đáp ứng nhu cầu và hứng thú cá nhân giúp người học tìm hiểu và phát triển nền văn hoá Nhà trường bắt tay với trung tâm văn hoá, thiết chế nhà nước về văn hoá, chính trị, lịch sử để tổ chức hoạt động văn hoá cho thanh thiếu niên và mở các trung tâm, câu lạc bộ hoạt động văn hoá nghệ thuật trong các đơn vị giáo dục để tạo môi trường và điều kiện hoạt động cho người học Ngoài ra, Singapore còn kiểm soát chặt chẽ các sản phẩm văn hoá nước ngoài, đặc biệt là phim ảnh đến từ phương Tây [11] 1.1.2.4 Một số nhận xét về công tác giáo dục BSVHDT ở các nước

Trong thời đại toàn cầu hoá và CNH-HĐH, những nước có truyền thống văn hoá phát triển hết sức quan tâm đến việc giáo dục giá trị bản sắc văn hoá cho người học, đặc biệt là thế hệ trẻ Nhìn chung, các nước đều chủ trương xây dựng một nền văn hóa vừa phải kế thừa được truyền thống dân tộc lại vừa phải thu hút được tinh hoa của nhiều nền văn hóa khác, đặc biệt là văn hoá phương Tây Giáo dục văn hoá cho thế hệ trẻ ở các nước trên thế giới được thực hiện thông qua nhiều con đường:

Thứ nhất, ở cấp độ nhà nước, ban hành luật, bộ luật và chính sách định hướng quá

trình tổ chức hoạt động văn hoá; thành lập tổ chức chuyên trách có chức năng quản

lý điều hành từ TƯ đến địa phương Thứ hai, thực hiện HĐGDNGLL trong chương

trình GD&ĐT từ bậc mầm non đến trung học (lồng ghép nội dung giáo dục BSVHDT trong trò chơi dân gian để tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo và học sinh ở các bậc học; xây dựng và tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, thể hiện và sáng tạo giá trị văn hóa truyền thống và giá trị văn hóa mới gắn với các chủ đề, chủ điểm

ưu thế của HĐGDNGLL) Thứ ba, xây dựng chuyên đề và học phần bắt buộc hay tự

chọn; chương trình đáp ứng nhu cầu, hứng thú cá nhân của người học về tìm hiểu và

phát triển nền văn hoá Thứ tư, nhà trường bắt tay với trung tâm văn hoá, chính trị

tổ chức hoạt động cho thanh thiếu niên; tổ chức những hoạt động văn hóa ở cấp độ

xã hội Thứ năm, đẩy mạnh quá trình giao lưu, trao đổi, hợp tác quốc tế để giới thiệu và quảng bá văn hoá ra thế giới Thứ sáu, kiểm soát chặt chẽ các sản phẩm văn

hoá được nhập khẩu từ nước ngoài, đặc biệt là phim ảnh đến từ phương Tây

Kinh nghiệm ở các nước cho thấy công tác giáo dục BSVHDT cho người học không chỉ là nhiệm vụ, chức năng của giáo dục nhà trường mà còn là hoạt động có ý

Trang 23

nghĩa chung của các tổ chức giáo dục xã hội và mọi người dân Việc thực hiện đồng

bộ và phối hợp thống nhất các lực lượng từ trung ương đến địa phương là điều kiện cần thiết, đảm bảo cho quá trình phát triển văn hoá trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển bền vững nền kinh tế, xã hội

1.1.3 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu ra đời nước Việt Nam mới, công tác giáo dục văn hoá đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta chú trọng thực hiện Trong chương trình GD&ĐT ở các cấp bậc học, những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đã được lựa chọn, xây dựng thành các hoạt động hữu ích và tổ chức cho người học Giáo dục BSVHDT nhấn mạnh vào các giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, đoàn kết, lòng yêu thương con người, cần cù trong lao động, kiên cường trong đấu tranh với thiên nhiên và các thế lực thù địch Bên cạnh đó, những giá trị văn hoá bản sắc của từng dân tộc, tộc người, từng vùng văn hoá cũng được coi trọng, lựa chọn và giáo dục cho thanh thiếu niên

Con đường cơ bản để giáo dục BSVHDT cho người học là tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường như hoạt động dạy học, hoạt động sinh hoạt tập thể Cùng với công tác giáo dục của hệ thống nhà trường đã hình thành phong trào xây dựng

và thực hiện lối sống văn hoá trong toàn xã hội Nhờ đó, các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của của dân tộc được bảo tồn, phát triển song song với quá trình tiếp nhận và cải biến các giá trị văn hoá mới và loại bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời đã

và đang đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng của Đảng và nhà nước

Song song với quá trình giáo dục về văn hoá, công tác nghiên cứu về giáo dục BSVHDT cũng được quan tâm Những năm gần đây, nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu về giáo dục giá trị cho học sinh thông qua tổ chức HĐGDNGLL ở trường phổ thông Tiêu biểu là giáo trình chuyên khảo về Giáo dục học được sử dụng trong các trường cao đẳng và đại học sư phạm như: Giáo dục học (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1987) và Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học cơ

sở (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003) của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt; Thực hành tổ

Trang 24

chức hoạt động giáo dục (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002); Tổ chức hoạt động giáo dục (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995) của tác giả Hà Nhật Thăng và Lê Tiến Hùng Đây là những nghiên cứu cơ bản về lý luận giáo dục và thực hành tổ chức HĐGDNGLL ở trường phổ thông Tuy nhiên, tiếp cận hệ thống về lý luận tổ chức HĐGDNGLL thì chưa được những công trình này thể hiện rõ Một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Thành, Bùi Ngọc Diệp về tổ chức HĐGDNGLL

ở trường phổ thông bảo vệ tại Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Trường ĐHSP

Hà Nội cũng thể hiện những nghiên cứu về lĩnh vực này

Năm học 2006 - 2007, chương trình HĐGDNGLL được đưa vào thực hiện chính thức ở bậc trung học phổ thông Đây là sự khẳng định về lý luận và thực tiễn vai trò của HĐGDNGLL trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống về tổ chức HĐGDNGLL ở các trường CĐ và ĐH đặc biệt là ở các trường sư phạm Những công trình khoa học sau đây vừa là kết quả tổng kết kinh nghiệm, vừa là định hướng cho quá trình nghiên cứu luận án từ lý luận đến thực tiễn:

Tài liệu của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Hồ Chí Minh có ý nghĩa cơ sở phương pháp luận Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành TW Khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II,V Ban chấp hành TW Khoá VIII, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, văn hoá, giáo dục Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ

Chí Minh như: “Về giáo dục thanh niên” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992), “Bàn về công tác

giáo dục” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970) cùng những tác phẩm khác đã được công bố

trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995-1996)

Các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn vấn đề văn hoá, giáo dục

BSVHDT của nhiều tác giả đã xuất bản như: “Mấy vấn đề xây dựng và phát triển

nền văn hoá ở nước ta hiện nay” (1999) của tác giả Hoàng Vinh; “Từ hiện đại đến truyền thống” (1996) của tác giả Trần Đình Hượu; “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (2001) của Nguyễn Khoa Điềm; “Văn hoá, truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ” (1976) của tác giả Phan Ngọc

Liên và Nguyễn Cảnh Minh; “Về nguồn bản sắc dân tộc” (2001) của Đông Phong;

Trang 25

“Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” (2001) của tác giả Trần Ngọc Thêm; “Giáo dục

hệ giá trị đạo đức nhân văn” (1998) của tác giả Hà Nhật Thăng; “Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc” (2002) của tác giả Phạm Hồng Quang; “Thực trạng và giải pháp giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kì CNH-HĐH đất nước” (9/2001) của tác giả Trần Kiều và cộng sự Một số công trình của tác giả

Phạm Minh Hạc như: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào

CNH-HĐH” (2001); “Nghiên cứu con người” (2001) Trong đó, công trình “Giáo dục bản

sắc văn hoá dân tộc” (2002) của tác giả Phạm Hồng Quang đã thể hiện một số nghiên cứu cơ bản về giáo dục BSVHDT cho SVSP Tác giả đã đề cập đến ý nghĩa của giáo dục BSVHDT và các con đường để giáo dục BSVHDT cho sinh viên trong nhà trường SP Ở những mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã tổng hợp một số kinh nghiệm cụ thể, khái quát thành những nguyên tắc lý luận, cung cấp cho chúng tôi cơ sở khoa học về vấn đề văn hoá, BSVHDT, giáo dục BSVHDT trên các mặt phương pháp luận, giáo dục học

Tóm lại: Trong những công trình khoa học trên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức HĐGDNGLL Những điểm còn thiếu này đã thu hút sự quan tâm của chúng tôi, nhằm tạo lập cơ sở khoa học để đề xuất khuyến nghị và biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường SP hiện nay

1.2 Những khái niệm công cụ

cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… Theo

Trang 26

nghĩa hẹp, văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu tượng, kí hiệu chi phối cách ứng

xử và giao tiếp trong một cộng đồng khiến cho cộng đồng ấy có đặc thù riêng

Văn kiện Hội nghị lần thứ IV BCHTƯ khóa VII nêu: “Có nhiều định nghĩa về

văn hóa, nhưng tựu chung có ba loại: Một là, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao gồm

cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần; Hai là, văn hóa hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kĩ thuật, giáo dục, văn học, nghệ thuật; Ba là, văn hóa đặt trong

phạm vi nếp sống, lối sống, đạo đức xã hội, văn học nghệ thuật Bộ Chính trị đề nghị TƯ bàn và ra nghị quyết về vấn đề này theo quan điểm thứ ba” [17]

Mở rộng khái niệm, xét theo quan điểm cấu trúc, văn hóa là sự hiểu biết, sự

sáng tạo thể hiện trong nhận thức, giao tiếp, ứng xử, ngôn ngữ, tình cảm và hành vi

của con người; theo quan điểm giá trị, văn hóa là trình độ phát triển các quan hệ

nhân tính của một xã hội, của mỗi cá nhân, nó được cộng đồng khẳng định thành một hệ giá trị trên cơ sở của Chân - Thiện - Ých - Mỹ

Về ý nghĩa của văn hóa, năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phải sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở, và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [64,tr35]

GS.VS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nói đến văn hoá là phải nói đến con người,

mà nói đến con người trước hết phải nói đến tình cảm, tư tưởng, tâm lý, tư duy, chính trị

Đó là cốt lõi của văn hoá [29,tr.10)

Những định nghĩa về văn hóa trong các nghiên cứu có thể đưa về các quan điểm cơ bản như: Văn hóa như giá trị vật thể; Văn hóa như hoạt động; Văn hóa như

kí hiệu thông tin; Văn hóa như phẩm chất nhân cách; Văn hóa như thuộc tính của xã hội; Văn hóa như một hệ thống Tìm kiếm một khái niệm đúng đắn nhất về văn hoá

là một việc làm không dễ Tuy nhiên, để có một khái niệm phản ánh được nội hàm tối ưu, chúng tôi thống nhất với cách hiểu: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống giá trị

Trang 27

vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội

Nó không chỉ là thuần tuý bó hẹp trong các hoạt động sáng tác nghệ thuật mà bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” Văn hoá là cái riêng của con người, nó được tạo nên từ chính giá trị của loài người, của các khối cộng đồng người [62] Từ cách hiểu trên, theo tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa có bốn đặc trưng cơ bản là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Văn hoá tồn tại được là nhờ có giáo dục, chức năng giáo dục là chức năng quan trọng của văn hoá - nhờ có chức năng này mà văn hoá đảm bảo được tính kế thừa, tính phát triển [64]

1.2.2 Bản sắc văn hoá dân tộc

1.2.2.1 Dân tộc

Thuật ngữ “dân tộc” được hiểu ở hai cấp độ [74]: Thứ nhất, dân tộc (nation) là một

quốc gia hay một cộng đồng chính trị - xã hội rộng lớn mà đa số gồm nhiều cộng đồng

tộc người Ở đây, “dân tộc” đồng nghĩa với “quốc gia” hay “đất nước”, “tổ quốc” Thứ

hai, khái niệm dân tộc (ethnie) là một cộng đồng mang tính tộc người Cộng đồng này có

thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) [25],[54]

1.2.2.2 Bản sắc văn hoá dân tộc

Theo từ điển Tiếng Việt, “bản sắc” có nghĩa là “màu sắc, tính chất riêng tạo

thành đặc điểm chính [69, tr29] “Bản sắc văn hoá” được hiểu là “hệ thống những đặc tính bên trong, những sắc thái riêng có tính nguồn gốc, gắn với những đặc tính của chủ thể, trở thành nguồn cội, khuôn mặt, nền tảng, bản thể của một nền văn hoá; là căn cước, chứng minh thư của văn hoá bất kỳ dân tộc nào” [2, tr26-27]

Theo cách tiếp cận từ góc độ bản chất, BSVHDT là cái ổn định, cái hồn, giá trị hạt nhân, tiêu biểu nhất, bản chất nhất của đời sống văn hoá dân tộc Theo cách tiếp cận từ góc độ đặc thù, BSVHDT là những nét văn hoá ưu trội, đặc thù của dân tộc này so với dân tộc khác Theo cách tiếp cận từ góc độ cấu trúc, BSVHDT là hoa văn, kết quả của quá trình tiếp biến; là sự kết hợp, một kiểu kết hợp các yếu tố văn hoá nội sinh và ngoại sinh nhất định nào đó tạo ra chất mới trong lịch sử

Trang 28

BSVHDT được thể hiện một cách sâu sắc và cô đọng nhất trong hệ giá trị của dân tộc trên các lĩnh vực: Triết học, chính trị, văn học, nghệ thuật, đạo đức, phong tục tập quán, lối sống Hệ giá trị đó được cả dân tộc chấp nhận, được vận dụng và được phổ biến nhằm thoả mãn nhu cầu sống và phát triển của dân tộc trong điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội tương ứng BSVHDT không phải là giá trị bên ngoài, là trạng thái xuất hiện một lần và “đứng im” vĩnh viễn, mà thể hiện sức sống bền vững của dân tộc, có những nét ưu trội hơn một số dân tộc khác, mang tính ổn định trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó BSVHDT phát triển theo quy luật thừa kế và tái tạo với chiều hướng làm phong phú hơn, sâu sắc hơn các giá trị vốn có trong tiến trình phát triển của dân tộc cùng với các dân tộc khác BSVHDT khi đạt đến giá trị đỉnh cao sẽ trở thành tài sản, vốn văn hoá chung

của nhân loại Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Phát triển hết

cái hay, cái đẹp của dân tộc tức là ta đã đi đến cùng cho nhân loại” [49, tr50]

Như vậy, BSVHDT gắn với mọi mặt đời sống của con người, đó không phải là cái riêng tư của riêng một dân tộc Trong BSVH của một dân tộc có tính nhân loại, tính khu vực được đa dạng hoá, được biến dạng một cách lịch sử cụ thể, được kết hợp với cái riêng dân tộc mà làm thành bản sắc dân tộc của văn hoá [71, tr24] 1.2.2.3 Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số miền núi Đông Bắc Việt Nam

Miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm trên vùng địa lý Việt Bắc thuộc vùng văn hoá Việt Bắc, gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn Đây là vùng có biên giới quốc gia với Trung Quốc, là nơi cư trú tập trung của nhiều dân tộc như Mông, Dao, LôLô, Sán Chay, Tày, Nùng Cư dân Việt Bắc chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng Đây là hai dân tộc chiếm số dân đông nhất

và gắn bó với vùng này từ lâu đời Chính vì thế, văn hoá của hai tộc người này có thể coi là tiêu biểu của vùng văn hoá Việt Bắc (còn gọi là vùng văn hoá Tày, Nùng) Trong việc canh tác kiếm sống, người Việt Bắc vừa phát triển theo hướng văn hoá nước vừa theo hướng văn hoá khô cạn tạo thành dấu nối văn hoá giữa miền ngược và miền xuôi Họ sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng nước Ngoài lúa nước,

họ còn trồng ngô, khoai, sắn trên nương và các loại đậu, bầu, bí trong vườn cạnh

Trang 29

nhà Người Tày, Nùng ở Việt Bắc trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả; tiêu biểu là cây vải, nhãn, quế, hồi Các ngành thủ công như dệt, đan lát, rèn, gốm, mộc phát triển đạt đến đỉnh cao của kỹ thuật thủ công Chăn nuôi gia súc như trâu,

bò để cày; nuôi lợn, chó, gà, vịt làm nguồn thức ăn và trao đổi

Bản của người Tày, Nùng dựng dựa lưng vào sườn đồi, núi, tiện cho sản xuất Mỗi bản có miếu thờ thổ công Bản là đơn vị xã hội cơ sở của người Tày, Nùng trong đó có đầy đủ các mối quan hệ xã hội, kinh tế, văn hoá Người Tày, Nùng chủ yếu sống ở nhà sàn, số ít dọc biên giới Lạng Sơn sống ở nhà đất

Bộ quần áo được may từ vải bông, do họ tự sản xuất từ khâu trồng đay đến khâu dệt vải, nhuộm màu chàm và may Bộ quần áo nam giới gồm áo ngắn xẻ ngực, cài cúc và quần chân què Phụ nữ Tày, Nùng mặc áo năm thân, cài cúc dưới nách phải, áo dài đủ để chùm hết thân người, mặc quần, đội khăn chít mỏ quạ, dùng thắt lưng vải Trang sức có khuyên tai, vòng cổ, xà tích, vòng tay, vòng chân, chất liệu trang sức bằng bạc, vừa đẹp vừa có tác dụng kị gió

Người Tày, Nùng ăn cơm rau là chính; thịt, cá thường dùng khi có khách hoặc vào các dịp lễ tết, hội; ngày ăn ba bữa, những ngày bận rộn, làm việc với cường độ cao có thể ăn thêm bữa phụ; uống rượu rất phổ biến, nhiều khi uống quá mức vui

vẻ, trở thành tập quán không bình thường

Tiếng Tày và tiếng Nùng cùng hệ ngôn ngữ Tày - Thái, trong lịch sử đã phát triển đến chữ viết Năm 1961, nhà nước chủ trương xây dựng bộ chữ Tày, Nùng theo bộ chữ cái Latinh dùng để biên soạn sách giáo khoa cấp 1, được giới văn nghệ

sỹ dùng làm phương tiện sáng tác, các nhà khoa học dùng để ghi chép, văn bản hoá văn học dân gian Tín ngưỡng của người Tày, Nùng là tín ngưỡng đa thần Đồng bào tin vạn vật hữu linh, tục thờ cúng thần linh thổ địa, thần núi, thần sông, thần nước, tin vào số mệnh Tín ngưỡng của đồng bào chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo Thờ cúng tổ tiên là nét văn hoá truyền thống tốt đẹp trong từng gia đình Văn học dân gian của dân tộc Tày, Nùng rất phong phú, đa dạng, nổi bật là các làn điệu dân ca như Sli, Lượn, truyện thơ dài hàng trăm câu và các bài cúng, ngoài

ra còn có ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Lễ hội nổi tiếng của đồng

Trang 30

bào là hội “Lồng Tổng” (hay Lồng Tồng) Đây là nét sinh hoạt văn hoá tinh thần mang tính cộng đồng sâu sắc Trong các lễ hội thường tổ chức các trò chơi tập thể như ném còn, đánh quay, đánh yến, trình diễn võ thuật, ảo thuật

Người Tày, Nùng có nền y học dân gian truyền thống quý giá, chữa được một

số bệnh nan y như gãy xương, lên đinh chỉ cần bó lá cây ở bên người là lành lặn Đồng bào thường phòng sẵn một số thuốc kháng sinh chữa bệnh như rễ dó, mật gấu để dùng khi cần thiết

Gia đình người Tày, Nùng là gia đình phụ hệ, con cái lấy họ cha, con trai có quyền thừa kế những tài sản do bố, mẹ để lại Trong tục lệ cưới xin, người Tày, Nùng tin vào số; số hợp mới lấy được nhau, phải chọn ngày lành tháng tốt cho đám cưới Tang ma của người Tày, Nùng được tổ chức rất nghiêm túc, thể hiện đầy đủ những nghi lễ, quan niệm tín ngưỡng dân gian Trong tang ma, lễ tế đưa hồn người chết về với tổ tiên và chữ hiếu của con cái đối với cha mẹ được đề cao [33]

Đây là những nét văn hóa nổi bật của dân tộc Tày - Nùng ở vùng Đông Bắc

Việt Nam Có thể nhận định, BSVHDT thiểu số miền núi Đông Bắc Việt Nam là một hệ

giá trị văn hóa ổn định, giá trị hạt nhân, tiêu biểu nhất, bản chất nhất của đời sống văn hoá, tạo nên tính cách riêng của các dân tộc miền núi Đông Bắc Việt Nam Hệ giá trị này

được hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc tộc người vùng Đông Bắc, gắn với những điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội nơi đây

1.2.3 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc

Theo nghĩa rộng, giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc là một quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có kế hoạch Trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, đối tượng giáo dục tích cực, chủ động tiếp nhận, bổ sung và hoàn thiện hệ thống giá trị BSVH truyền thống, tinh hoa của dân tộc và nhân loại đồng thời gạt bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời để những giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn

Từ đó, khái niệm giáo dục BSVHDT Tày - Nùng cho SVSP vùng Đông Bắc được hiểu là quá trình nhà giáo dục xây dựng nội dung, sử dụng phương pháp và biện pháp giáo dục phù hợp để nâng cao nhận thức; hình thành thái độ, tình cảm tích cực; hình thành và phát triển hành vi và thói quen phù hợp với giá trị văn hoá

Trang 31

truyền thống tốt đẹp cho SVSP Đây là quá trình dưới vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, SVSP biết giữ gìn và phát huy các giá trị BSVHDT trong cuộc sống, biết lựa chọn và loại bỏ những giá trị không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn, làm cho vốn văn hoá Tày, Nùng nói riêng, nền văn hoá Việt Nam nói chung thêm giàu đẹp Trong đó, khái niệm "biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP" được hiểu là những cách thức tác động

cụ thể của nhà giáo dục đến SVSP nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục BSVHDT

1.2.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường sư phạm

Xuất phát từ mục đích quá trình GD&ĐT trong nhà trường SP, từ tính chất cơ bản của HĐGDNGLL và mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định

“HĐGDNGLL trong nhà trường SP là những hoạt động giáo dục của SV được tổ

chức, thực hiện ngoài giờ học trên lớp dưới sự chỉ đạo của các tổ chức chính trị, xã hội trong trường, có sự cố vấn của GV nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách nghề dạy học cho SV”

1.3 Một số vấn đề về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên sư phạm hiện nay

1.3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước

Trên thế giới, cuộc cách mạng KH&CN tiếp tục phát triển mạnh mẽ Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông, toàn cầu hóa là cơ hội cho giao lưu và hội nhập văn hoá nhưng cũng tạo điều kiện cho quá trình du nhập các giá trị không phù hợp với văn hoá truyền thống của mỗi nước Toàn cầu hóa kinh tế hình thành

xu hướng toàn cầu hóa về văn hóa: Giá trị toàn cầu, công dân toàn cầu, con người toàn cầu Các nước đều đang phải đối mặt với cuộc đấu tranh gay gắt để ngăn chặn những yếu tố ảnh hưởng đến an ninh văn hoá Giáo dục trong thế kỉ 21 được đặt vào

vị trí mới - giáo dục thực hiện sứ mệnh nhân văn hoá tiến trình toàn cầu hoá, biến toàn cầu hoá trở thành điều có ý nghĩa nhân bản đối với từng con người, quốc gia

Trong nước, sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đang bước vào thời kì HĐH Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo thêm động lực cho nước ta tham gia tích cực, chủ động vào quá trình toàn cầu hóa; tạo đà cho bước phát triển mới trước yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trang 32

CNH-Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ tạo cho chúng ta nhiều cơ hội phát triển mà còn chứa đựng nhiều hiểm hoạ, đặc biệt chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ xâm nhập của các giá trị văn hoá và lối sống xa lạ dễ làm xói mòn bản sắc dân tộc, BSVHDT khó được bảo toàn Chính vì những vấn đề thực tế trên mà công tác GD&ĐT cần phải được định hướng lại một cách cụ thể Chưa bao giờ, vấn đề giáo dục giá trị BSVHDT cho thế hệ trẻ lại được quan tâm nhiều như hiện nay

1.3.2 ý nghĩa của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho SVSP

1.3.2.1 Giáo dục BSVHDT cho SV là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa

Văn hóa theo nghĩa rộng của khái niệm cần được xem xét ở cả khía cạnh sáng tạo giá trị và khía cạnh giữ gìn, truyền lại các giá trị Chức năng của giáo dục chính

là ở việc truyền giá trị, bao hàm cả nghĩa giữ gìn, sáng tạo và phát triển các giá trị Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 về bảo tồn di tích, BSVHDT trên toàn đất nước Việt Nam Kể từ

đó đến nay, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, chỉ thị về công tác bảo vệ và phát triển BSVHDT Trong Nghị quyết của các kì đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII và IX [17],[18],[20] đã chú trọng tới nội dung xây dựng

và phát triển nền văn hóa trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, xã hội Nghị

quyết hội nghị Trung ương IV khóa VII đã xác định nền văn hoá mà Đảng lãnh đạo

nhân dân ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Phát triển

văn hoá dân tộc đi đôi với mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, tiếp thu tinh hoa nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam; ngăn chặn các loại hình văn hoá độc hại; có chính sách toàn diện bảo vệ và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Nghị quyết cũng nêu rõ “Công tác giáo dục cần chú trọng giáo dục ý thức nhân văn và BSDT, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ” [17]

Khẳng định lại quan điểm trên, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao BSVHDT, kế thừa và phát huy truyền thống đạo

Trang 33

đức, tập quán tốt đẹp, tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới” [18, 112] Đặc biệt Nghị quyết hội nghị lần thứ V BCHTƯ khoá VIII đã xác định một trong mười nhiệm vụ quan trọng để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc là: “Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý tốt đẹp của dân tộc do cha ông để lại”[19] Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

tr110-IX của BCHTƯ Đảng, giáo dục văn hóa được nêu lên trong sự kết hợp liên ngành:

“Các ngành văn hóa, nghệ thuật, thông tấn, báo chí có trách nhiệm cung cấp những sản phẩm tinh thần có nội dung tốt cho việc giáo dục thế hệ trẻ, không để các sản phẩm văn hóa tư tưởng độc hại, các tệ nạn xã hội thâm nhập trường học” [20,tr38] 1.3.2.2 Giáo dục BSVHDT là góp phần phát triển bền vững nhân cách cho thế hệ trẻ nói chung, SV nói riêng

Sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc gắn liền với sự phát triển bền vững nhân cách từng con người của quốc gia, dân tộc đó Hội nghị lần thứ II BCHTƯ Đảng khóa VIII (tháng 12 năm 1996) bàn về GD&ĐT, KH&CN xác định: "Nhiệm vụ và mục tiêu của GD là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, CNH-HĐH đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, là những người thừa kế xây dựng xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn của Bác Hồ" Con người phát triển toàn diện trong điều kiện CNH-HĐH đất nước phải là con người công nghiệp, hiện đại, thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn

Để đạt được mục tiêu đó, trường ĐH có nhiệm vụ giúp cho SV hình thành hệ thống tri thức khoa học chuyên ngành, kĩ năng nghề nghiệp, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng; phát triển ý thức văn hoá, thái độ văn hoá và đặc biệt là hành vi văn hoá để giúp SV trên cơ sở đó biết giữ gìn, phát triển các giá trị BSVHDT Đây là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cần thiết để đáp ứng yêu cầu mới, trước xu thế phát triển của thời đại

Trang 34

1.3.2.3 Giáo dục BSVHDT cho SVSP là thực hiện mục tiêu xây dựng nhân cách, môi trường văn hóa trong nhà trường SP, chuẩn bị đội ngũ cho việc chuyển giao, phát triển hệ giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc cho thế hệ sau

Nhà giáo dục, người được giao trách nhiệm sáng tạo nên giá trị cho con người

Về phương diện xã hội, vị trí của nhà giáo dục có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển nhân cách con người và phát triển xã hội

SVSP hôm nay sẽ là chủ thể của hệ thống giáo dục ngày mai, có chức năng

“cầu nối” trong việc chuyển giao hệ thống giá trị văn hoá dân tộc thành nhân cách của học sinh Họ có vị trí quyết định sự thành bại của chiến lược văn hoá - giáo dục của đất nước Sứ mệnh của trường SP là hình thành, vun tỉa những giá trị cá nhân ở người SV để chính họ sẽ làm việc hướng dẫn học trò của mình tạo ra giá trị Bởi vì, khi ý thức được về giá trị văn hoá, ý thức được về vị trí và trách nhiệm của bản thân, họ nêu cao tinh thần đạo đức, lối sống văn hoá tốt đẹp; họ trở thành lực lượng trực tiếp tuyên truyền, hướng dẫn thị hiếu, giáo dục lối sống văn hoá cho nhân dân Như vậy, giáo dục BSVHDT cho SVSP là góp phần quan trọng trong việc định hướng cho hoạt động nghề nghiệp của SV sau này

1.3.2.4 Giáo dục BSVHDT cho SP là con đường để bảo tồn nền văn hóa dân tộc tộc người (ở khu vực miền núi Đông Bắc), góp phần giữ vững và nâng cao sự thống nhất mà

đa dạng của BSVHDT trong xây dựng và phát triển văn hoá ở nước ta hiện nay

Nền văn hóa càng phát triển thì càng đa dạng Sự đa dạng văn hoá là biểu hiện của một nền văn hóa sáng tạo, sự phát huy các tiềm năng của con người và của sự phát triển chính con người [62] Đặc trưng cơ bản của các trường SP vùng Đông Bắc là có tỷ lệ khá đông SV người dân tộc thiểu số Vì thế, giáo dục BSVHDT cho SVSP miền núi Đông Bắc nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần duy trì và thể hiện những đặc trưng, nét văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, làm nên tính đa dạng văn hoá trong nhà trường; tạo nên tình đoàn kết và tôn trọng tính dân tộc trong SV; phát huy bản sắc của SVSP miền núi Đông Bắc gắn với những nét đặc trưng văn hóa của các dân tộc nơi đây

Trang 35

1.3.3 Nhiệm vụ giáo dục BSVHDT cho sinh viên sư phạm

Về nhận thức: Giáo dục nhận thức đúng đắn về BSVHDT Việt Nam và

BSVHDT vùng Đông Bắc; Nâng cao ý thức cá nhân của SVSP về vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị BSVHDT Việt Nam nói chung, BSVHDT Tày – Nùng nói riêng trong xu thế hội nhập hiện nay

Về thái độ: Giáo dục SV có thái độ đúng đắn đối với giá trị BSVHDT; Củng

cố và phát triển lòng yêu quý, trân trọng giá trị BSVH của dân tộc Việt Nam nói chung và dân tộc Tày - Nùng vùng Đông Bắc nói riêng; có động cơ và nhu cầu tích cực trong tiếp nhận, lĩnh hội, thể hiện các giá trị BSVHDT trong lối sống, sáng tạo các giá trị văn hóa phù hợp và truyền bá các giá trị đó đến người khác, đến cộng đồng; giáo dục thái độ tôn trọng BSVH của các dân tộc, các nước trên thế giới trong

xu thế hội nhập hiện nay

Về hành vi và thói quen: Giáo dục SVSP có hành vi và thói quen phù hợp với

chuẩn mực văn hóa vùng Đông Bắc trong mối quan hệ cộng đồng; hình thành và phát triển các hành vi và thói quen đúng đắn trong giữ gìn, thể hiện và truyền bá giá trị BSVHDT Việt Nam và BSVH vùng Đông Bắc; có hành vi và thói quen tốt trong tiếp nhận và thể hiện các giá trị văn hóa mới

Trong quá trình giáo dục BSVHDT cho SV, các nhiệm vụ giáo dục trên cần được thực hiện đồng bộ và thống nhất

1.3.4 Nội dung giáo dục BSVHDT cho sinh viên sư phạm

Ở cấp độ rộng nhất, nội dung giáo dục BSVHDT cho SVSP tập trung vào các giá trị bản sắc truyền thống và hiện đại, mang tính nhân bản, đóng góp vào sự phát triển ổn định, bền vững của dân tộc và nhân loại Dựa trên các thành tựu nghiên cứu của khảo cổ học, dân tộc học, lịch sử học, chúng tôi xác định những giá trị tiêu biểu nhất và bản chất nhất trong hệ giá trị văn hóa Việt Nam cần giáo dục cho SVSP gồm: (1) Tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩ xã hội, ý thức dân tộc, lòng tự hào dân tộc; (2) Kiên nhẫn, giản dị, cần cù rõ nhất là trong lao động; (3) Dũng cảm, mưu trí; (4) Kiên cường, kiên quyết trong khắc phục và chinh phục thiên nhiên, đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược để giành độc lập - tự do cho dân tộc; (5) Tinh thần

Trang 36

đoàn kết, ý thức tập thể, tính cộng đồng (nhà-làng-nước) Đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế; (6) Truyền thống nhân ái, nhân đạo, khoan dung Lòng nhân

ái Việt Nam là “đối xử với nhau có tình, có nghĩa”; (7) Trọng đạo đức, học thức và yêu cái đẹp Đây là yếu tố cơ bản để đề cao dân trí, trọng dụng nhân tài, xây dựng nền giáo dục nhân văn; (8) Nhớ ơn tổ tiên, hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ [18],[57]

Bên cạnh những giá trị chung trên, do trọng tâm nghiên cứu của luận án, trên cơ sở tiếp cận quan điểm của tác giả Phạm Hoàng Gia về hệ thống cấu trúc BSVHDT (Phụ lục

5, tr161) và các thành tựu nghiên cứu về BSVHDT vùng Đông Bắc, những nội dung BSVHDT cần giáo dục cho SVSP miền núi Đông Bắc gồm các giá trị BSVHDT Tày - Nùng được thể hiện cụ thể trong ba lĩnh vực: lối sống, tâm thức và ngôn ngữ như sau: (1) Lối sống:

- Lối cư trú - Lối cư trú định cư với các kiểu nhà sàn và nhà đất (tường chình,

bưng ván, nhà tầng - hiện đại) và cách sinh hoạt trong gia đình; - Người dân sống thành từng làng, bản với những đặc thù về địa lý kinh tế và cấu trúc xã hội của người Tày, Nùng;

- Ăn uống - Thức ăn chính là cơm, các loại rau rừng (ngót, bồ khai, măng) và

rau trồng; thịt cá ăn vào dịp lễ tết và khi có khách

- Các loại bánh vào những dịp lễ tết: bánh chưng, bánh gai, bánh cuốn, bún, bánh khảo, chè lam, khẩu sli, xôi nếp,

- Thức uống chính là hai loại rượu: rượu cất (lẩu sliêu) và rượu làm từ gạo nếp (lẩu van) Rượu thường dùng khi có khách, ngâm thuốc, lễ tết, hội, ma chay, cưới hỏi

- Trang phục - Trang phục làm từ vải chàm Phụ nữ vấn khăn, mặc áo năm thân,

cài sang bên phải, thắt lưng, mặc quần hay váy Điểm khác cơ bản

là người Tày mặc áo dài và ống tay hẹp hơn người Nùng

- Y phục cổ truyền của nam giới Tày là chiếc áo dài quá đầu gối,

Trang 37

ống tay hẹp, đầu quấn khăn hay chít khăn kiển chữ nhân Nữ mặc

áo dài hơn, mặc váy hay quần, thắt lưng vắt ra đằng sau, đầu vấn khăn Nữ đeo vòng cổ, vòng tay, khuyên tai bằng bạc; nam ít đeo

đồ trang sức Y phục của nam giới Nùng và Tày về cơ bản giống nhau với chiếc áo tràng vạt, ống tay rộng Đồ đội là nón lá thường

sử dụng khi đi làm Kiểu cắt may tuy giống nhau nhưng độ dài, rộng, hẹp và gam màu có những nét riêng Người Nùng Quý Rịn (Ngân Sơn- Bắc Kạn) thích gam màu đen nhánh, các nhóm ngành Nùng khác lại thích gam màu xanh nhạt Quần nam, nữ Nùng đều cắt may cùng kiểu chân què, cạp lá tọa, đũng và ống rộng Quần nam khác quần nữ ở chỗ cạp quần nữ làm bằng vải màu đen, cạp quần nam làm bằng vải màu xanh

(2) Tâm thức:

- Phong tục

tập quán

- Thờ cúng tổ tiên: ý nghĩa tôn giáo và tâm linh, nghi lễ

- Thờ cúng thần linh phù hộ cho gia đình, bản làng (Thờ thổ công, phật bà Quan âm, bà mụ, vua bếp, thần thành hoàng )

- Một số tục lệ xã hội: Tục cưới xin, lễ ăn mừng trẻ đầy tháng, lệ buộc cót (Nùng), tang ma

-Thế giới quan,

tín ngưỡng

- Tín ngưỡng dân gian của đồng bào Tày, Nùng là tín ngưỡng đa thần xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có linh hồn;

- Đồng bào tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo

Tết 14 tháng 7 là tết to thứ hai trong năm; Tết mùng 5 tháng 5 (Đoan ngọ); Tết cơm mới (mùng 10 tháng 10)

- Lễ hội nổi tiếng là lễ hội Lồng Tổng với ý nghĩa cầu mùa

Trang 38

- Dụng cụ âm nhạc: Đàn tính,

Trong hệ thống giá trị văn hóa trên có những giá trị tích cực, cần giáo dục cho thế hệ trẻ; đồng thời, những giá trị lạc hậu, cổ hủ, không còn phù hợp với đời sống đương đại cần được nhận diện, loại bỏ Quá trình giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua HĐGDNGLL là quá trình cùng với việc lựa chọn các giá trị văn hóa tốt đẹp (trang phục truyền thống; tục thờ cúng tổ tiên, các làn điệu dân ca; kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc kháng sinh tự nhiên; các lễ hội truyền thống của dân tộc Tày - Nùng vùng Đông Bắc) để giáo dục, hình thành cho SV, cần giúp SV có cách nhìn nhận, đánh giá và thái độ, hành vi đúng đắn trong việc loại bỏ các giá trị cổ hủ, lạc hậu, không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay (như tục cúng bái trừ tà ma, cúng để chữa bệnh là biểu hiện của tín ngưỡng đa thần, tin rằng có ma dữ, hại người dẫn đến lối sống mê muội, không tin vào khoa học; )

Với mỗi nội dung trên, căn cứ vào nhiệm vụ giáo dục nhận thức; thái độ hay hành vi, thói quen là ưu trội hơn đối với từng hoạt động mà nhà giáo dục xác định các yêu cầu giáo dục cần đạt trong tổ chức HĐGDNGLL cho SVSP

Trang 39

1.3.5 Con đường giáo dục BSVHDT cho sinh viên sư phạm

1.3.5.1 Tổ chức dạy học trên lớp theo hướng tích hợp nội dung giáo dục BSVHDT vào các học phần, môn học có ưu thế

Hoạt động giáo dục trên lớp là hoạt động giữ vai trò chủ đạo ở các trường đại học hiện nay Đây là hoạt động giáo dục mà người giảng viên chủ yếu dùng lời nói

và các thao tác nghiệp vụ SP để kích thích tính chủ thể tiếp nhận kiến thức cơ bản một cách độc lập, sáng tạo và rèn luyện các kĩ năng thực hành ứng dụng trong chương trình dạy học cho SV; qua đó, thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng

Thực tiễn chương trình đào tạo ở trường SP được xây dựng theo cách tiếp cận chương trình cứng, rất khó thay đổi về cấu trúc và nội dung các khối/đơn vị kiến thức Để phát triển chương trình đào tạo, cách làm hiệu quả là xây dựng chiến lược tích hợp, lồng ghép nội dung mới vào môn học/học phần có ưu thế hiện có trong chương trình Giáo dục BSVHDT cho SVSP theo cách làm này là tích hợp nội dung giáo dục BSVHDT vào các môn/học phần như Cơ sở văn hóa Việt Nam, Lịch sử, Địa lý, Mỹ học, Văn học, Tâm lý học, Giáo dục học Bản chất của con đường này

là hòa trộn nội dung giáo dục BSVHDT vào nội dung môn học/học phần tạo thành một khối thống nhất để giáo dục SV Qua đó, không chỉ thực hiện được các mục tiêu vốn

có của môn học/học phần mà còn thực hiện được nhiệm vụ giáo dục BSVHDT cho SVSP Để thực hiện tốt, cần đảm bảo một số điều kiện sau:

Thứ nhất, giảng viên phải có kĩ năng thiết kế bài giảng theo hướng liên môn,

tích hợp Muốn vậy, giảng viên cần: Biết xác lập các mục tiêu của bài giảng (là mục tiêu chung của nội dung bài học (vốn có) và phần nội dung giáo dục BSVHDT định đưa vào); Biết phân tích, rà soát chương trình môn học/học phần để phát hiện những

"địa chỉ" có thể tích hợp nội dung giáo dục BSVHDT theo các mức độ tích hợp toàn bài, tích hợp từng phần hoặc liên hệ bổ sung; Xác định phù hợp các nội dung giáo dục BSVHDT tích hợp vào nội dung bài học của môn học/học phần ưu thế; đảm bảo tính lôgic, tính hệ thống, tránh trùng lặp, thích hợp với trình độ của SV, không làm cho cấu trúc của bài học bị phá vỡ; Có đủ các tài liệu tham khảo và phương tiện dạy học bổ trợ Cấu trúc bản kế hoạch dạy học có thể theo định hướng sau:

Trang 40

Mẫu 1: Bản hướng dẫn kế hoạch chi tiết:

Chương Tên bài

lên lớp

Mục tiêu bài học

Thời gian thực hiện

Nội dung bài học có thể kết hợp giáo dục BSVHDT

Nội dung giáo dục BSVHDT đưa vào bài

Giới thiệu nguồn tài liệu tham khảo cho

GV và SV

Dự kiến kết quả giáo dục, dạy học

Rút kinh nghiệm

Mẫu 2: Dành cho giảng viên đã có kĩ năng thuần thục

STT Nội dung bài học có thể kết

hợp giáo dục BSVHDT

Nội dung giáo dục BSVHDT đưa vào bài Kiến thức Thái độ Hành vi

Thứ hai, giảng viên phải có kĩ năng tổ chức dạy học trên lớp theo hướng hoạt

động hóa người học, dạy học tích hợp trên cơ sở tạo lập và duy trì môi trường học

tập tích cực cho SV Thứ ba, GV phải có trình độ sâu về chuyên môn, trình độ kiến thức nhất định về văn hóa và giáo dục BSVHDT Thứ tư, SV cần có thái độ, hứng

thú tích cực; tích cực hình thành kĩ năng, hành vi và thói quen phù hợp với nội dung của bài học và nội dung giáo dục BSVHDT đưa vào bài

1.3.5.2 Tổ chức hoạt động ngoại khóa gắn với môn học, học phần có ưu thế

Đặc trưng của hoạt động ngoại khóa là sự liên kết, kết hợp chặt chẽ về mục

tiêu, nội dung với các bài học chính khóa trên lớp Với các hình thức thể hiện như thảo luận, diễn đàn, nói chuyện chuyên đề; sưu tầm tài liệu, tư liệu, hiện vật; dạ hội văn hóa Những ảnh hưởng của hoạt động ngoại khóa đến SV một cách tự nhiên, hình thành hứng thú, phát huy được tính tích cực, độc lập trong tham gia của SV vào các hoạt động này, qua đó mà thực hiện được các nhiệm vụ giáo dục BSVHDT Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên thì giáo dục BSVHDT cho SVSP qua dạy học trên lớp và hoạt động ngoại khóa gắn với môn học/học phần lại không thể tiến hành một cách hệ thống mà chỉ kết hợp lồng ghép trong các chương, bài, đề mục có liên quan trực tiếp đến giáo dục giá trị BSVH Đây chính là những hạn chế của hai con đường này trong giáo dục BSVHDT cho SVSP

Ngày đăng: 17/09/2014, 18:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Toffler (Nguyễn Lộc dịch, Phan Ngọc hiệu đính), 2007, Đợt sóng thứ ba, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đợt sóng thứ ba
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
2. Đào Duy Anh, (2002), Việt Nam Văn hoá sử cương, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nộị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2002
3. Đặng Quốc Bảo, (Số 127/2004), Quan điểm phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và việc vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, Thông tin khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và việc vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam
4. Nguyễn Trần Bạt, Văn hoá và con người, (2005), Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và con người
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt, Văn hoá và con người
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2005
5. Phan Kế Bính, (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
6. Bộ GD&ĐT, (2003), Điều lệ trường đại học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường đại học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Huy Cận, (1995), Giữ gìn BSVHDT trong bối cảnh hội nhập cộng đồng quốc tế, Tạp chí Công tác tư tưởng - văn hoá, Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Số 9, Tr19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn BSVHDT trong bối cảnh hội nhập cộng đồng quốc tế
Tác giả: Huy Cận
Năm: 1995
8. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, (2007), Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
9. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, (2005), Luật Giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
10. Hoàng Chúng, (1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
11. WangHanDi, (1995), Phát triển kinh tế của Singapore với văn hóa Nho gia, Tạp chí “Fujian shifan daxue xu chao”, N.Z Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế của Singapore với văn hóa Nho gia", Tạp chí “Fujian shifan daxue xu chao
Tác giả: WangHanDi
Năm: 1995
13. Nguyễn Nhƣ Diệm, (1999), Truyền thống và hiện đại trong văn hóa, Trung tâm Khoa học và Nhân văn quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống và hiện đại trong văn hóa
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Diệm
Năm: 1999
14. Jacques Delors (Trịnh Đức Thắng dịch), (2002), Học tập - Một kho báu tiềm ẩn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập - Một kho báu tiềm ẩn
Tác giả: Jacques Delors (Trịnh Đức Thắng dịch)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
15. Trần Kim Dung, (26/06/1998), Văn hoá Việt Nam và thế giới trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, Báo Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam và thế giới trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
16. Nguyễn Lân Dũng, (2001), Xã hội văn minh và con người Văn hoá, Tài hoa trẻ, Số 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội văn minh và con người Văn hoá
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Năm: 2001
17. Đảng cộng sản Việt Nam, (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
18. Đảng cộng sản Việt Nam, (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng cộng sản Việt Nam, (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Nhận thức của SV về khái niệm văn hoá, bản sắc văn hoá, giáo dục  bản sắc văn hoá, HĐGDNGLL - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.1. Nhận thức của SV về khái niệm văn hoá, bản sắc văn hoá, giáo dục bản sắc văn hoá, HĐGDNGLL (Trang 50)
Bảng 2.2. Đánh giá của sinh viên về lĩnh vực thể hiện BSVHDT - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.2. Đánh giá của sinh viên về lĩnh vực thể hiện BSVHDT (Trang 52)
Bảng 2.3. ý kiến sinh viên về vai trò của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc  thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường sư phạm - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.3. ý kiến sinh viên về vai trò của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường sư phạm (Trang 53)
Bảng 2.5. Đánh giá của sinh viên về khả năng giáo dục giá trị bản sắc văn  hoá dân tộc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.5. Đánh giá của sinh viên về khả năng giáo dục giá trị bản sắc văn hoá dân tộc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Trang 56)
Bảng 2.6. Đánh giá của GV, CBQLGD về khả năng giáo dục giá trị  bản sắc văn hoá dân tộc qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp  T - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.6. Đánh giá của GV, CBQLGD về khả năng giáo dục giá trị bản sắc văn hoá dân tộc qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp T (Trang 57)
Bảng 2.8. Đánh giá của CBQLGD, GV về các HĐGDNGLL đã tổ chức trong  nhà trường nhằm giáo dục BSVHDT cho SV - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.8. Đánh giá của CBQLGD, GV về các HĐGDNGLL đã tổ chức trong nhà trường nhằm giáo dục BSVHDT cho SV (Trang 60)
Bảng 2.9.  Mức độ hứng thú của SV đối với các HĐGDNGLL do nhà trường tổ chức - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.9. Mức độ hứng thú của SV đối với các HĐGDNGLL do nhà trường tổ chức (Trang 62)
Bảng 2.10. Mức độ tổ chức, tham gia các HĐGDNGLL của SV - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.10. Mức độ tổ chức, tham gia các HĐGDNGLL của SV (Trang 63)
Bảng 2.12. Đánh giá của GV, CBQLGD về thái độ và hành vi  của SV liên quan đến các giá trị BSVHDT - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.12. Đánh giá của GV, CBQLGD về thái độ và hành vi của SV liên quan đến các giá trị BSVHDT (Trang 68)
Bảng 2.13.  Tự đánh giá của SV về tác dụng của các HĐGDNGLL đã tổ chức trong giáo dục BSVHDT - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.13. Tự đánh giá của SV về tác dụng của các HĐGDNGLL đã tổ chức trong giáo dục BSVHDT (Trang 69)
Bảng 2.14. Tự đánh giá của SV về thái độ và hành vi liên quan  đến các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.14. Tự đánh giá của SV về thái độ và hành vi liên quan đến các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc (Trang 71)
Bảng 2.15. Nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục BSVHDT cho SVSP  thông qua tổ chức HĐGDNGLL - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.15. Nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức HĐGDNGLL (Trang 73)
Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV thông  qua tổ chức HĐGDNGLL - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL (Trang 92)
Bảng 3.1. Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính cấp thiết của các biện pháp giáo dục  Tỷ lệ %,  Điểm - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 3.1. Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính cấp thiết của các biện pháp giáo dục Tỷ lệ %, Điểm (Trang 94)
Bảng 3.2. Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính khả thi của các biện pháp giáo dục  Tỷ lệ %,  Điểm - giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 3.2. Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính khả thi của các biện pháp giáo dục Tỷ lệ %, Điểm (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w