PHAN THỊ PHƯƠNG THÙY HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MIỀN NÚI SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG "CÁC ĐỊNH LUẬT
Trang 1PHAN THỊ PHƯƠNG THÙY
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MIỀN NÚI SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG "CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN" VẬT LÍ LỚP 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, 2011
Trang 2PHAN THỊ PHƯƠNG THÙY
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MIỀN NÚI SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG "CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN" VẬT LÍ LỚP 10
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học vật lí
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN ĐỨC VƯỢNG
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý Thầy, Cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý Thầy, Cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các Thầy, Cô giáo
tổ Vật lý trường THPT Đầm Hồng, THPT Hòa Phú, THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn: TS
Trần Đức Vượng, thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cảm ơn tập thể lớp cao học LL&PPDH Vật lí khóa 17 trường ĐHSP Thái Nguyên đã đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả để hoàn thành luận văn này
Tác giả
Phan Thị Phương Thùy
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Phương Thùy
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Bảng ghi chú các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Vật lí ở trường phổ thông 9
1.1.2 Tự học và năng lực tự học 11
1.1.3 Đọc sách - một dạng tự học quan trọng và phổ biến 22
1.1.4 Việc hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa trong hệ thống các hình thức dạy học ở trường THPT miền núi 26
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Mục đích điều tra 29
1.2.2 Phương pháp điều tra 30
1.2.3 Kết quả điều tra 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 34
CHƯƠNG II: SOẠN THẢO VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 36
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương "Các định luật bảo toàn" trong chương trình Vật lí 10 THPT 36
Trang 62.1.1 Phân phối chương trình và nội dung kiến thức chương "Các định luật
bảo toàn" 36
2.1.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh cần đạt được khi học chương "Các định luật bảo toàn" 38
2.2 Một số nội dung và hình thức hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa nhằm bồi dưỡng năng lực tự học 39
2.2.1 Giới thiệu chung về bộ sách giáo khoa 39
2.2.2 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh hoạ của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho học sinh tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 44
2.2.3 Sử dụng sách giáo khoa như thế nào? 45
2.2.4 Sử dụng bản đồ tư duy 50
2.3 Soạn thảo tiến trình dạy học bài “Động năng” Vật lí 10 cơ bản 53
2.3.1 Sơ đồ biểu đạt lôgic của tiến trình khoa học giải quyết vấn đề dạy học bài "Động năng" 53
2.3.2.Thiết kế bài soạn bài "Động năng" 55
2.4 Soạn thảo tiến trình dạy học bài “Thế năng” Vật lí 10 cơ bản 67
2.4.1 Sơ đồ biểu đạt lôgic của tiến trình khoa học giải quyết vấn đề dạy học bài "Thế năng" 67
2.4.2.Thiết kế bài soạn bài "Thế năng" 69
2.5 Phương án kiểm tra đánh giá 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 83
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 84
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 84
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 84
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 84
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 84
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 84
Trang 73.3 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 85
3.3.1 Phương pháp phân tích định tính dựa trên theo dõi hoạt động của học sinh trong giờ học 85
3.3.2 Phương pháp phân tích định lượng dựa trên kết quả bài kiểm tra 85
3.3.3 Khống chế các tác động ảnh hưởng đến thực nghiệm sư phạm 86
3.4 Các giai đoạn thực nghiệm sư phạm 86
3.4.1 Công tác chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 86
3.4.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 87
3.5 Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 87
3.5.1 Phân tích diễn biến cụ thể trên lớp của tiến trình dạy học các bài học đã soạn thảo 87
3.5.2 Đánh giá hiệu quả của tiến trình dạy học thông qua bài kiểm tra 88
3.6 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 94
KẾT LUẬN CHUNG 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các kỹ năng cần rèn luyện để bồi dưỡng năng lực tự học Vật lí
cho HS 21
Bảng2.1: Ma trận đề kiểm tra 83
Bảng 3.1: Số liệu học sinh ở nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng 86
Bảng 3.2: Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 90
Bảng 3.3: Xếp loại kiểm tra 90
Bảng 3.4: Phân phối tần suất kết quả kiểm tra 91
Bảng 3.5: Bảng phân phối tần suất lũy tích 92
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, thời đại của công nghệ, hội nhập và phát triển nhân loại đều hướng đến chân trời tri thức mà hạt nhân là giáo dục Thước đo quan trọng cho năng lực sáng tạo của mỗi người trong nền kinh tế tri thức chính là tốc độ tư duy, khả năng biến đổi thông tin thành kiến thức và từ kiến thức tạo ra giá trị cuộc sống Trong xu thế đó, sản phẩm đào tạo phải là những con người năng động, sáng tạo có khả năng học thường xuyên, học suốt đời, nhằm thích ứng những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và yêu
cầu của thị trường lao động Luật giáo dục (2005), điều 27.1 nêu rõ “mục tiêu
của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình Hội nghị lần
thứ 2 BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã nêu ra "Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi " Để đạt được mục tiêu đề ra, Hội nghị cũng đã chỉ rõ " Đổi mới mạnh mẽ phương
Trang 12pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học"[24] Kho tàng tri thức vô hạn, mỗi ngày lại có nhiều những thành tựu mới được phát minh Do đó dạy học hiện đại không chỉ là dạy cho học sinh nắm được kiến thức mà cần phải dạy cho học sinh (HS) cách tự lực chiếm lĩnh kiến thức, có tư duy sáng tạo và tích cực trong hoạt động nhận thức để phù hợp với yêu cầu của thời đại
Quán triệt tinh thần đổi mới nói trên, việc nghiên cứu các phương pháp giáo dục tích cực, tìm ra các biện pháp phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng HS
để nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết đối với mỗi giáo viên (GV) nói chung và những người nghiên cứu giáo dục nói riêng Đối với giáo dục miền núi vấn đề đó càng trở nên cấp thiết hơn Nguyên tổng bí thư BCH T.W Đảng Đỗ Mười nhận định: “ Thực trạng giáo dục miền núi đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục khẩn trương giải quyết, đặc biệt là việc đào tạo giáo viên và xây dựng lại chương trình, nội dung, phương pháp dạy học đối với HS miền núi, dạy những gì và dạy như thế nào để con em đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp thu được, hào hứng học tập và ứng dụng được kiến thức vào phát
triển kinh tế - xã hội tại quê hương mình”
Đặc điểm của HS THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cũng giống như học sinh ở các tỉnh miền núi khác, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, đa số là dân tộc ít người Việc đi lại, ăn ở, học tập gặp nhiều khó khăn, trình độ nhận thức còn nhiều yếu kém Bên cạnh đó, tài liệu học tập còn thiếu thốn, HS chỉ có trong tay bộ sách giáo khoa (SGK) làm tài liệu học tập duy nhất Thế nhưng, khi HS tự lực làm việc với SGK sẽ nảy sinh khó khăn ở chỗ GV không thể kiểm tra được ngay tức khắc xem HS có thực sự chú ý đọc SGK hay không Nhưng điều chủ yếu là HS không phải bao giờ cũng tự lực lọc ra được những vấn đề quan trọng trong khi đọc, đôi khi học sinh lại chú ý đến những vấn đề thứ yếu và để ra ngoài tầm mắt những luận đề cơ bản
Trang 13Để phòng ngừa điều đó GV cần phải hướng dẫn cho các em phương pháp sử dụng SGK sao cho hiệu quả để tìm ra được những nội dung quan trọng bằng cách đặt ra cho HS những câu hỏi có liên quan đến bài đọc đồng thời nêu ra các câu hỏi sớm và thích hợp có thể là trước khi đọc, trong khi đọc
và sau khi đọc Nhờ đó HS sẽ định hướng vào việc nghiên cứu vấn đề chủ yếu trong bài học Dần dần HS đạt được kỹ năng làm việc với sách một cách hoàn toàn tự lực, tìm thấy điều căn bản trong bài, phát hiện được mối liên hệ tương
hỗ giữa các hiện tượng được mô tả, hệ thống hóa tài liệu theo những dấu hiệu xác định, có thói quen làm việc lâu dài với sách Hình thức cao về tính tự lực, tích cực, sáng tạo của HS đạt được khi chính các em tự tìm thấy mục đích nghiên cứu một tài liệu nào đó[25]
Trên cơ sở những lý do đã trình bày ở trên và để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học, đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS THPT nói chung và học sinh THPT dân tộc miền núi nói riêng, tôi đã lựa
chọn đề tài "Hướng dẫn học sinh trung học phổ thông miền núi sử dụng sách giáo khoa nhằm bồi dưỡng năng lực tự học trong quá trình dạy học một số kiến thức chương "Các định luật bảo toàn" vật lí lớp 10 cơ bản"
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Trên thế giới, vấn đề sử dụng SGK và tài liệu học tập được đặt ra từ rất lâu Ở Liên Xô cũ, ngay từ những năm 1920, công tác tổ chức hoạt động độc lập của HS với SGK trong giảng dạy đã được đề cập đến Đến năm 1956-
1957, quyết định dùng SGK đã xâm nhập vào lý luận dạy học đại cương và lý luận dạy học bộ môn nhưng khi sử dụng vẫn còn hạn chế Theo nhà khoa học Liên Xô cũ E I Gô-Lan thì ông cho rằng: "Việc nghiên cứu SGK một cách
cơ bản ở các lớp được tiến hành không phải trong giờ lên lớp mà trong quá trình chuẩn bị các bài tập ở nhà"
- I A Cai-rốp chỉ mới đề cập đến một số hình thức sử dụng SGK trong giờ lên lớp mà chưa phải là một hình thức cơ bản, ông cho rằng nếu tài liệu và
Trang 14SGK quá khó hiểu thì GV cùng HS tìm ra dàn ý của đoạn đó và nên tiến hành dùng SGK ở những phần nào khó tiếp thu của bài học
- B P Exipop đã lưu ý GV sử dụng SGK để phát huy tính tích cực, tự lực của HS Tác giả cũng đề cập đến yêu cầu để làm việc với SGK "đòi hỏi một sự kết hợp đúng đắn giữa sự chỉ đạo của GV và tính tự lập của HS"
- Ở Việt Nam, vấn đề sử dụng tài liệu như một phương pháp trong dạy học ít được đề cập đến Nhưng để nói về vai trò, vị trí quan trọng của sách, tài liệu trong giáo dục nhận thức thì cũng đã được bàn đến nhiều:
Trong cuốn "Giáo dục học - tập 1" tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
đã trình bày ý nghĩa của việc dùng sách: "Nếu được sử dụng đúng phương pháp, sách sẽ có tác dụng lớn như: mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết của mình một cách có hệ thống và sinh động; rèn luyện kỹ năng, thói quen sử dụng sách, bồi dưỡng ngữ pháp, kinh nghiệm viết văn, óc nhận xét, phê phán; bồi dưỡng hứng thú học tập, tình cảm và tư tưởng trong sáng" Hai tác giả cũng
đã hướng dẫn việc dùng sách ở trên lớp, việc dùng sách ở nhà và một số yêu cầu cơ bản về phương pháp sử dụng SGK
Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục ngày 11-1-1979
đã bàn đến vấn đề hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập cho HS trong dạy học:
"Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho
HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu SGK, thảo luận chuyên đề, ghi chép
tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học"
Vấn đề sử dụng SGK cũng được đề cập đến trong luận văn thạc sỹ của
Vũ Thị Nga (1994): "Sử dụng sách giáo khoa nhằm phát triển năng lực tự lực học tập của học sinh trong quá trình nắm vững kiến thức Vật lí"
- Tuy nhiên, từ khi có sự đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông vào năm 2006, đã làm thay đổi quan niệm về cách sử dụng SGK, SGK trở thành tài liệu định hướng và hỗ trợ cho quá trình tự học, tự
Trang 15phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và thực hành theo năng lực của người học Các thông tin trong SGK (qua kênh hình và kênh chữ) thường đa dạng, phong phú, đòi hỏi người học phải có tư duy linh hoạt, có đầu óc phê phán mới phát hiện và giải quyết được vấn đề Và từ đó đến nay, theo sự hiểu biết của tác giả thì có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể việc hướng dẫn HS sử dụng SGK nhằm bồi dưỡng năng lực tự học theo chương trình, SGK mới Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này
3 Mục tiêu của đề tài
Soạn thảo và xây dựng một số chủ đề nghiên cứu nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS THPT miền núi
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
* Khách thể: Quá trình dạy học một số kiến thức chương "Các định
luật bảo toàn", Vật lí lớp 10
* Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động dạy học chương "Các định luật
bảo toàn", Vật lí 10 cơ bản theo hướng sử dụng SGK để bồi dưỡng năng lực
tự học cho HS
5 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa thì sẽ góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu nội dung, chương trình và SGK Vật lí 10 cơ bản
- Khảo sát thực trạng việc GV hướng dẫn HS sử dụng SGK nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Trang 16- Một số nội dung và hình thức hướng dẫn HS sử dụng SGK nhằm bồi dưỡng năng lực tự học
- Thiết kế một số bài giảng chương "Các định luật bảo toàn" theo hướng sử dụng SGK để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS THPT miền núi
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả và rút ra kết luận
7 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ áp dụng cho chương
"Các định luật bảo toàn" Vật lí lớp 10 cơ bản
8 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận dạy học:
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các sách, báo, tạp chí chuyên ngành về dạy học và đổi mới phương pháp dạy học
Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học, tự học, các luận văn liên quan
Nghiên cứu SGK, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK lớp 10 THPT môn Vật lí
- Phương pháp điều tra:
Điều tra bằng phiếu thăm dò về việc sử dụng SGK và năng lực tự học của HS ở một số trường phổ thông trên địa bàn huyện Chiêm Hóa
Trang 179 Đóng góp của đề tài
Từ việc thực hiện đề tài tác giả hy vọng đóng góp một phần nhỏ công
sức của mình vào kho tàng phương pháp dạy học Vật lí với những nội dung thực tiễn cơ bản như sau:
- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về tự học
- Xác định được nội dung và hình thức hướng dẫn HS sử dụng SGK nhằm bồi dưỡng năng lực tự học, xây dựng được tiến trình dạy học một số kiến thức chương "Các đinh luật bảo toàn" Vật lí 10 cơ bản
- Góp phần đổi mới phương pháp, phối hợp các hình thức dạy học ở trường THPT miền núi
- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các trường THPT miền núi và cho các môn học khác
10 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được trình bày gồm các phần: Phần mở đầu, 3 chương, phần phụ lục và tài liệu tham khảo Các vấn đề cụ thể trong từng chương được trình bày như sau:
Mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh sử
dụng sách giáo khoa nhằm bồi dưỡng năng lực tự học
Trang 181.2.2 Phương pháp điều tra
1.2.3 Kết quả điều tra
Kết luận chương I
Chương II: Soạn thảo và xây dựng một số chủ đề nghiên cứu nhằm bồi
dưỡng năng lực tự học cho học sinh THPT miền núi
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương "Các định luật bảo toàn" trong chương trình Vật lí lớp 10 THPT
2.2 Một số nội dung và hình thức hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa nhằm bồi dưỡng năng lực tự học
2.3 Soạn thảo tiến trình dạy học bài "Động năng" Vật lí lớp 10 cơ bản 2.4 Soạn thảo tiến trình dạy học bài "Thế năng" Vật lí lớp 10 cơ bản 2.5 Phương án kiểm tra đánh giá
Kết luận chương II
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm
3.3 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
3.4.Các giai đoạn thực nghiệm sư phạm
3.5 Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm
Kết luận chương III
Kết luận chung
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 19CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƯỚNG
DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA NHẰM BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Vật lí ở trường phổ thông
1.1.1.1 Đặc điểm của môn học Vật lí ở trường phổ thông
Vật lí học là môn khoa học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên Môn học Vật lí
ở trường phổ thông có các đặc điểm cơ bản sau:
- Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí học thực nghiệm Phương pháp nghiên cứu của nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm Đó là phương pháp nhận thức có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan
- Vật lí nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiều kiến thức Vật lí liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của Triết học, tạo điều kiện thuận lợi phát triển thế giới quan khoa học của HS
- Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất
- Vật lí học là khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kỹ năng quan sát tinh tế, và sự khéo léo khi tác động vào các dụng cụ thí nghiệm, vừa phải có
tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi lý luận để khẳng định chân lý [12]
1.1.1.2 Mục tiêu dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Mục tiêu xuyên suốt của giáo dục phổ thông là giáo dục toàn diện, coi trọng mặt trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo những con người lao động có trí tuệ,
có nhân cách, năng động và sáng tạo, chủ động thích ứng với nền kinh tế tri thức và sự phát triển của thời đại Trong đó mục tiêu dạy học Vật lí cụ thể được xác định như sau:
Trang 20- Các đại lượng, các định luật, các nguyên lý Vật lí cơ bản
- Những nội dung chính của một số thuyết Vật lí quan trọng nhất
- Các ứng dụng phổ biến của Vật lí trong đời sống và trong sản xuất
- Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và các phương pháp đặc thù của Vật lí, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình
b Về kĩ năng:
Khi học môn Vật lí HS cần phải đạt được các kĩ năng cơ bản sau đây:
- Biết quan sát các hiện tượng và các quá trình Vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hàng ngày hoặc trong các thí nghiệm; Biết điều tra, sưu tầm, tra cứu các tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin cần thiết
- Sử dụng được các dụng cụ đo phổ biến của Vật lí, biết lắp ráp, tiến hành các thí nghiệm Vật lí cơ bản
- Biết phân tích, tổng hợp và xử lý các thông tin thu được, từ đó rút ra kết luận hoặc đưa ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất hiện tượng hoặc quá trình Vật lí
- Vận dụng kiến thức để mô tả, giải thích các hiện tượng và các quá trình Vật lí, các bài toán Vật lí hay các vấn đề đơn giản trong đời sống lao động sản xuất
- Sử dụng các thuật ngữ Vật lí, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác các hiểu biết cũng như những kết quả thu được
c Về thái độ
- Có hứng thú học tập Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học, trân trọng những đóng góp của Vật lí học cho sự tiến bộ xã hội cũng như công lao của các nhà khoa học
Trang 21- Có thái độ khách quan, trung thực, có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần hợp tác trong việc học tập cũng như trong sinh hoạt, trong làm việc
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết Vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như bảo vệ môi trường tự nhiên
- Có thế giới quan, nhân sinh quan, tư duy khoa học và những phẩm chất, năng lực theo mục tiêu giáo dục phổ thông [12], [17]
1.1.1.3 Nhiệm vụ dạy học vật lí ở trường phổ thông
- Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại,
có hệ thống, bao gồm:
+ Các khái niệm Vật lí
+ Các định luật Vật lí cơ bản
+ Nội dung chính của các thuyết Vật lí
+ Các ứng dụng quan trọng nhất của Vật lí trong đời sống và trong sản xuất + Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong Vật lí
- Phát triển tư duy khoa học ở HS: rèn luyện những thao tác, hành động, phương pháp nhận thức cơ bản nhằm chiếm lĩnh kiến thức Vật lí, vận dụng sáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này
- Trên cơ sở kiến thức Vật lí vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho
HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động
- Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho HS nắm được những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của máy móc được dùng phổ biến trong nền kinh tế quốc dân[12]
1.1.2 Tự học và năng lực tự học
1.1.2.1 Tự học
*Khái niệm về tự học (Self Directed Learning - SDL) bắt nguồn từ việc giáo dục cho người trưởng thành, là một giải pháp thực hiện bởi học viên
Trang 22người lớn ở tiểu học và trung học Hiện nay, việc định nghĩa về tự học đã có nhiều thay đổi nhưng tựu chung lại có một số quan điểm như sau:
- Theo Bolhuis và Garrison thì "Tự học là sự tích hợp của việc tự quản
lý với tự kiểm soát của người học, đó là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chiến lược nhận thức của mình Người học là chủ thể trong sự hợp tác chặt chẽ của GV và các bạn cùng lớp" [3]
- Tác giả GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng "Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết mới nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình" [16]
- Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng "Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định"[13]
- Nguyễn Kỳ viết "Tự học nghĩa là người học tích cực, chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp " [11]
Như vậy có thể hiểu, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức,
kĩ năng, kĩ xảo , kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học Đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác, phát huy cao độ vai trò của người học với sự hợp tác của thầy
cô, bạn bè và các điều kiện học tập
*Có nhiều cách tự học khác nhau như [13]:
- Tự học giáp mặt: Những hoạt động học như nghe giảng, ghi chép bài,
thảo luận nhóm, làm việc với sách, làm thí nghiệm, quan sát của HS, được
Trang 23HS thực hiện một cách chủ động, tích cực thì đều được gọi là hoạt động tự học, hoạt động này diễn ra ngay trong quá trình dạy học với sự điều khiển trực tiếp của GV đứng lớp nên gọi là tự học giáp mặt
- Tự học không giáp mặt: Đó là sự tự học không có sự điều khiển trực
tiếp của GV mà do HS tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập để tự mình chiếm lĩnh tri thức và tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức:
+ Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện
thông tin Người học tự học tập một cách độc lập hoàn toàn
+ Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có SGK,
có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương tiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti-vi, mạng internet, các phần mềm dạy học Sự hướng dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức, hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm Dưới sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoàn thành các nhiệm vụ học tập Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khích nhưng chất lượng của nó là vấn
đề cần quan tâm
+ Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HS nhận nhiệm vụ và tự
học ở nhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập Có thể gọi hình thức này là tự học có hướng dẫn hay tự học sau giờ lên lớp
Đối với người học nói chung và đối với HS nói riêng thì tự học có vai trò rất quan trọng, tự học là chìa khóa tiến vào thế kỷ XXI, một thế kỷ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập [4] Tự học là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung [13]:
- Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệu quả học tập: Khi tự học, người học phải vận dụng các năng lực
trí tuệ tới mức tối đa để tự mình giải quyết vấn đề Điều này đòi hỏi người học
tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động não từ đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu
Trang 24kiến thức sâu sắc hơn Lê-nin đã viết: "Không có sự lao động tự lực thì không thế tìm thấy chân lý trong bất kỳ vấn đề hệ trọng nào và ai sợ tốn công sức thì
không sao tìm ra sự thật được"
- Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học: Như đã nói , kết quả của tự học bao giờ cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức,
biến kiến thức chung của nhân loại thành kiến thức riêng của mình Người biết tự học là người có khả năng thu thập và xử lý thông tin, biết vận dụng thông tin và biết tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình Vì thế, người biết tự học là người có khả năng tự giải quyết vấn đề tốt, có khả năng
tự làm giàu kiến thức cho mình
- Tự học góp phần rèn luyện kỹ năng, cách học: Khi tự học, các thao
tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành kĩ năng, phương pháp học cho người học Tự học là cốt lõi của cách
học Bác Hồ đã từng nói: "Về cách học phải lấy tự học làm cốt"
- Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy: Khi tự học,
người học phải sử dụng các thao tác tư duy để giái quyết vấn đề, vì thế tư duy được rèn luyện một cách thường xuyên Các nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao cùng với lượng kiến thức, kĩ năng, năng lực thu được ngày càng nhiều sẽ góp phần nâng cao dần khả năng tư duy của HS
- Tự học có vai trò lớn trong sự sinh tồn của mỗi người: Ngày nay
nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú, từ sách, mạng internet, băng, đĩa CD nên nếu có kĩ năng tự học tốt thì sẽ tận dụng được nguồn thông tin phong phú, đa dạng đó trong việc thu nhận kiến thức cho mỗi cá nhân Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, tự học là điều kiện quyết định sự thành công của mỗi người Một triết gia đã từng nói: "Anh đang tư duy nghĩa là anh đang tồn tại" Vì thế
con người muốn tồn tại đúng nghĩa thì phải tự học, tự học là tự cứu lấy mình
Trang 251.1.2.2 Năng lực tự học
- Theo từ điển Tiếng Việt thì: "Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý
tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao" [14]
Xét theo sự chuyên môn hóa, năng lực gồm hai loại: năng lực chung và năng lực riêng Năng lực chung là những năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau; năng lực riêng là những năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một lĩnh vực chuyên biệt nào đó
Ví dụ, năng lực sư phạm của một GV sẽ có những đặc điểm sau: có kiến thức chuyên môn sâu, rộng, vững vàng, có lòng yêu nghề, yêu trẻ, biết ứng xử nhanh nhạy trong những tình huống sư phạm, ngôn ngữ phong phú, phong cách tự tin, có đầu óc tổ chức, cần mẫn, kiên trì
- Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đó Cấu trúc của năng lực gồm ba bộ phận cơ bản: tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ đó; kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; những điều kiện tâm lý để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng
Như vậy, có thể nói năng lực là sự kết hợp linh hoạt, độc đáo của nhiều đặc điểm tâm lý, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi, giúp cá nhân tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chóng và hoạt động hiệu quả trong một lĩnh
vự nào đó
- Theo PGS.TS Lê Công Triêm: " Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao" [4]
- Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất tâm sinh lý của con người, vừa như là cái tự nhiên bẩm sinh "vốn có", vừa như là sản phẩm của lịch sử, hơn nữa là sản phẩm của lịch sử phát triển xã hội Năng lực tự học là
Trang 26cái vốn có của mỗi con người nhưng phải được đào tạo, phải được rèn luyện trong hoạt động thực tiễn mới trở nên một sức mạnh thật sự của người học
Như vậy, năng lực tự học có thể được hiểu là: phẩm chất sinh lý và tâm lý tạo cho con người khả năng hoàn thành hoạt động học tập với chất lượng cao
Chúng ta đã biết, quá trình đào tạo ở trường phổ thông chỉ là sự đào tạo ban đầu, là nền tảng cho những quá trình đào tạo tiếp theo như đào tạo Đại học, Sau đại học Trong quá trình đào tạo đó thì tự học và năng lực tự học của mỗi HS sẽ đóng vai trò quyết định đến sự thành đạt của các em trong tương lai Vì vậy, năng lực tự học của HS nếu được hình thành trên cơ sở nắm vững các kiến thức trong chương trình đào tạo ở phổ thông sẽ là tiềm lực để các em tự học suốt đời
1.1.2.3 Kỹ năng tự học
- Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng
những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [10]
- Kỹ năng có bản chất tâm lý nhưng có hình thức vật chất là hành vi hoặc hành động Kỹ năng chính là biểu hiện của năng lực vì dựa vào kỹ năng
có thể biết được năng lực của người học một cách cụ thể
Vậy kỹ năng tự học là khả năng tự thu nhận, chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng chúng vào trong một lĩnh vực thực tiễn nào đó của người học
Thực tế cho thấy một kỹ năng nào đó thường là tổ hợp của nhiều kỹ năng con hợp thành Kỹ năng tự học cũng không nằm ngoài quy luật đó, cũng bao gồm nhiều kỹ năng khác hợp thành, mà có thể chỉ ra là: Kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng xử lí thông tin, kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn,…[3]
Từ hai khái niệm trên cho thấy, giữa kỹ năng và năng lực có mối liên hệ mật thiết với nhau Có thể nói, kỹ năng là dạng năng lực hành động, là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Kỹ năng chính là biểu hiện của năng lực, vì thế dựa vào kĩ năng có thể biết được năng lực một cách cụ thể
Trang 271.1.2.4 Bồi dƣỡng năng lực tự học cho học sinh
a Sự cần thiết
- Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS là điều rất quan trọng và cần thiết trong điều kiện hiện nay Thật vậy, thời gian tự học là lúc các em có điều kiện
tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc
độ thích hợp Điều đó không những giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri
thức, mà còn là dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo là những điều mà không ai cung cấp được nếu các em không thông qua
hoạt động bản thân, là những phẩm chất cần thiết cho sự phát triển và thành
đạt lâu dài của mỗi con người
- Trong thời đại mà khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và
đang phát triển của cuộc sống Vì vậy, chỉ có tự học, tự bồi dưỡng mỗi người
mới có thể bù đắp được cho mình những lỗ hổng về kiến thức để thích ứng với yêu cầu cuộc sống đang phát triển
Như vậy, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trường hiện đại cần trang bị cho HS, vì nó có ích không chỉ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi đã bước vào cuộc sống
b Nội dung hoạt động tự học
Để tự học có hiệu quả cần phải làm gì? Theo quy trình nào? Đó là những vấn đề, những câu hỏi đặt ra cho người tự học, cho các thầy cô giáo là những người đang hướng dẫn các em tự học
Đây là câu hỏi khó, vì nội dung tự học phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể, nhưng ta có thể nêu lên những nội dung cơ bản cần thiết cho mọi đối tượng như sau:
*Chuẩn bị cho hoạt động tự học: Giai đoạn này gồm những bước cơ bản
sau đây:
Trang 28- Xác định nhu cầu và động cơ, kích thích hứng thú học tập:
Việc làm đầu tiên nhằm khởi phát hoạt động tự học là người học phải
làm sao tự kích thích, động viên mình, làm cho mình tự cảm thấy cần thiết và
hứng thú bắt tay vào việc học, qua việc xác định ý nghĩa quan trọng của vấn
đề nghiên cứu, tinh thần trách nhiệm đối với công việc, có cảm giác hứng thú đối với nội dung vấn đề và phương pháp làm việc Đây là việc làm rất quan trọng đối với các em nhỏ ở độ tuổi thanh thiếu niên, vì đối với họ đình chỉ những trò chơi yêu thích để bắt tay vào học tập là điều không phải dễ Giây
phút đó tuy ngắn nhưng nó đòi hỏi sự quyết tâm và phải vận dụng sức mạnh
đã giao Vấn đề này chỉ đặt ra với một số không nhiều HS khá, giỏi khi họ muốn tự học thêm những điều yêu thích
- Xây dựng kế hoạch
Để việc học tập có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải chọn đúng trọng tâm công việc, phải xác định học cái gì là chính, là quan trọng nhất, có tác động trực tiếp đến mục đích Bởi vì nội dung cần phải học thì nhiều, mà sức lực và thời gian thì có hạn, nếu việc học tập dàn trải, phân tán thì việc học
sẽ không có hiệu quả
Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp công việc cho hợp lý về logic nội dung cũng như về thời gian Điều đó sẽ giúp cho công việc trôi chảy
Trang 29*Tự lực nắm nội dung học vấn
Đây là giai đoạn quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian nhất, là giai đoạn quyết định khối lượng kiến thức, kỹ năng tích lũy được cũng như sự phát triển của con người, nghĩa là quyết định sự thành công của tự học.Giai đoạn này gồm các bước cơ bản sau đây:
- Lựa chọn tài liệu và hình thức tự học
Đây là bước đi đầu cần thiết, vì nếu không lựa chọn được sách vở, tài liệu tốt thì việc tích lũy tài liệu sẽ hết sức chậm và nhiều khi sai lệch Tuy nhiên, trong thức tế nhiều người không thấy hết tầm quan trọng của vấn đề này, thấy tài liệu nào cũng đọc, đọc không có hệ thống, làm lãng phí thời gian
và chất lượng thấp
- Tiếp cận thông tin
Quá trình tự nhận thức thực sự được bắt đầu từ đây và thường diễn ra dưới các dạng chủ yếu sau:
+ Đọc sách
+ Nghe giảng
+ Xemina, hội thảo
+ Làm thí nghiệm
+ Tham quan, điều tra, khảo sát thực tiễn
Đối với HS thì nghe giảng là dạng thường được sử dụng nhất, nhưng nghe giảng ở đây cũng phải tiến hành theo tinh thần chủ động, độc lập Càng học lên cao thì chủ yếu lại là đọc sách, làm thí nghiệm
- Xử lý thông tin
Thông tin đã được tiếp nhận cần phải có sự gia công, xử lý mới có thể
sử dụng được Việc xử lý có nhiều giai đoạn, những giai đoạn đầu thường tập trung vào việc làm cho nó gọn lại và có hệ thống để dễ lưu giữ và bao gồm các khâu:
Trang 30+ Trừu tượng hóa, khái quát hóa
- Vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của quá trình tự học Các vấn đề thường gặp đối với người học là:
Từ khái niệm năng lực tự học ở trên, có thể hiều về năng lực tự học Vật
lí là khả năng tự tìm tòi, nhận thức kiến thức Vật lí (khái niệm, hiện tượng, quy tắc, định luật, thuyết, các phương pháp nhận thức Vật lí và các ứng dụng của Vật lí) và vận dụng chúng để giải quyết các tình huống mới hoặc tương tự của Vật lí với chất lượng cao hơn Chẳng hạn như, sau khi học về hiện tượng tán sắc ánh sáng thì HS có thể vận dụng kiến thức đó để giải thích được sự xuất hiện của cầu vồng trong tự nhiên
Từ mối liên hệ giữa năng lực tự học và kỹ năng tự học, có thể rút ra kết luận như sau: Muốn bồi dưỡng năng lực tự học cho HS thì cần rèn luyện cho các em các kỹ năng tự học như kỹ năng thu thập, xử lí thông tin, kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng vận dụng thông tin vào thực tiễn,…
Như vậy, có thể tóm tắt việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS như bảng sau:
Trang 31Bảng 1.1 Các kỹ năng cần rèn luyện để bồi dƣỡng năng lực tự học
Vật lí cho HS
Kỹ năng thu thập thông tin (kiến thức Vật lí) từ quan sát thực tế, từ
thí nghiệm; điều tra, sưu tầm tài liệu, khai thác mạng internet… Ngày
nay, với sự bùng nổ thông tin thì việc thu thập cần có sự lọc lựa cao
để mang lại hiệu quả cho việc tự học.
Kỹ năng lưu trữ, sắp xếp thông tin (kiến thức Vật lí) thu thập được
đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các thông tin, hỗ trợ cho
việc xử lý, truyền đạt cũng như vận dụng thông tin được dễ dàng
hơn
Kỹ năng xử lý thông tin như: người học thực hiện các thao tác tư duy
như so sánh, phân tích, tổng hợp,…để từ đó xây dựng biểu đồ; vẽ đồ
thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, khái quát hóa các thông tin
(kiến thức Vật lí) thu thập được
Kỹ năng truyền đạt thông tin: sau khi xử lý các kiến thức Vật lí thì
HS có thể trình bày chúng dưới dạng thuyết trình, thảo luận khoa
học, viết báo cáo….việc rèn luyện tốt kỹ năng này sẽ tạo được sự tự
tin cho HS
Kỹ năng vận dụng thông tin như: giải thích cấu tạo, nguyên tắc hoạt
động và ứng dụng của các thiết bị kỹ thuật; giải thích các hiện tượng
Vật lí; giải thích các bài toán Vật lí; …
Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá: kỹ năng này sẽ thực hiện chức năng
hỗ trợ là chẩn đoán, điều chỉnh cho những kỹ năng trước đó, từ đó sẽ
giúp cho quá trình tự học của HS trở nên có hiệu quả hơn
Kỹ năng thực hành Vật lí: rèn luyện cho HS sử dụng thành thạo các
dụng cụ đo lường Vật lí đơn giản, lắp ghép các thí nghiệm theo SGK,
tự tạo thí nghiệm Vật lí đơn giản
Trang 32ra khỏi hệ thống từ ngữ mà lĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức, một phương thức lĩnh hội khái niệm
Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đường đọc sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Trước hết, trình độ năng lực ngôn ngữ là yếu tố quan trọng hàng đầu Năng lực ngôn ngữ thể hiện ở khả năng nắm bắt được nghĩa của từ, tách được nghĩa ra khỏi từ, liên kết được nghĩa của chúng để hiểu được toàn bộ thông tin toát ra từ văn bản
- Thứ hai, năng lực tư duy có ý nghĩa quyết định đối với việc lĩnh hội khái niệm, thể hiện ở khả năng xử lý những thông tin cảm tính thu được từ sự tri giác bằng "mắt" và ở các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, trừu tượng hóa, hệ thống hóa một cách nhanh, nhạy, chính xác và linh hoạt
b Những ƣu điểm của đọc sách
So với các hình thức học tập khác, học tập bằng con đường đọc sách có nhiều ưu thế
- Trước hết, nguồn thông tin chứa đựng trong sách là ổn định đã được
lựa chọn, kiểm nghiệm nên có độ chính xác, độ tin cậy và giá trị khoa học
Trang 33cao Hơn nữa, thông tin đã được sắp xếp có hệ thống, trình bày ngắn gọn, ngôn ngữ được trau chuốt, văn phong, cú pháp phù hợp với logic nhận thức
và logic khoa học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS làm cho quá trình lĩnh hội chúng trở nên dễ dàng
- Thứ hai, đọc sách là nguồn thông tin phong phú, đa dạng Đặc biệt,
trong thời đại bùng nổ thông tin và sự phát triển của công nghệ thông tin như ngày nay thì sách báo rất nhiều về số lượng và chủng loại, có khả năng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu về thông tin của người học Họ có nhiều thuận lợi trong việc lựa chọn sách báo không bị gò ép vào khuôn khổ của tài liệu học tập hay giáo trình cơ bản
- Thứ ba, HS lúc đọc sách là chủ thể thực sự của hoạt động học tập Lúc
này, họ không chịu sự kiểm soát và tác động trực tiếp của người thầy, mà có thể độc lập tổ chức quá trình làm việc của mình theo điều kiện, khả năng và nhịp độ riêng Tính tích cực, tự giác, độc lập, sáng tạo .của cá nhân được phát huy ở mức độ cao
- Thứ tư, nguồn thông tin mà các em thu được qua con đường đọc sách
với sự nỗ lực trí tuệ và ý chí ở mức độ cao, sẽ làm cho việc thu nhận trở nên sâu sắc và vững chắc.Đó là những ưu điểm nổi trội của đọc sách so với các hình thức học tập khác
- Chức năng trau dồi và phát triển ngôn ngữ: Đọc sách là một con đường tốt để trau dồi và phát triển năng lực ngôn ngữ của HS Đó là công cụ
Trang 34quan trọng giúp cho mỗi cá nhân giao tiếp trong đời sống, trong công việc, trong quản lý, điều hành, trong tuyên truyền, trong giảng dạy
- Chức năng phát triển trí tuệ: Đọc sách giúp các em phát triển mạnh
mẽ các năng lực trí tuệ Đặc biệt là các năng lực tư duy, năng lực ghi nhớ, năng lực tri giác, năng lực chú ý, năng lực tổ chức, năng lực điều khiển, điều chỉnh, năng lực tự kiểm tra, đánh giá Cùng với nó là các phẩm chất trí tuệ và thể chất như kiên trì, bền bỉ, tính khoa học, tính tổ chức, tính ham hiểu biết được phát triển ở mức độ cao
- Chức năng giáo dục: Đọc sách là một con đường rèn luyện các phẩm chất nhân cách Chức năng này thể hiện ở việc hình thành, củng cố cho các em thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và tư tưởng đúng đắn Sách còn có chức năng định hướng giá trị, đặc biệt giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, giá trị thẩm mỹ
và hướng dẫn cho các em những phương thức để chiếm lĩnh giá trị Sách còn giúp rèn luyện thói quen, nề nếp sinh hoạt, lao động, học tập có khoa học
- Chức năng định nghề: Đọc sách có khả năng định hướng nghề cho các
em Qua đọc sách, những hứng thú, say mê khoa học về những lĩnh vực nào đó được hình thành, củng cố hay phát triển đến mức có thể lôi cuốn họ đi vào những lĩnh vực khoa học ấy một cách tự giác và đam mê, có niềm tin vững chắc
- Chức năng giải trí: Làm việc với sách là một phương thức giải trí hữu hiệu
Tóm lại, đọc sách nếu được tổ chức tốt sẽ làm giàu kho tàng tri thức, văn hóa, ngôn ngữ, phát triển tư duy cũng như các phẩm chất nhân cách cho người học ở mức độ cao
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa đọc sách với các loại hình học tập khác và hoạt động dạy
Đọc sách là một loại hình học tập có nhiều khác biệt so với các loại hình học tập khác
Trang 35- Đáng chú ý đặc biệt là mối quan hệ giữa đọc sách với họat động học tập trên lớp (nghe giảng) Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng, gắn
bó chặt chẽ với nhau như là hai mặt của một hoạt động, nếu như không có hoạt động này thì sẽ không có hoạt động kia, hoặc hoạt động kia sẽ gặp khó khăn, kém hiệu quả Đọc sách như là một khâu kéo dài của hoạt động học tập trên lớp
Trong mối quan hệ đó, hoạt động học tập trên lớp thể hiện vai trò chủ đạo và cơ bản nhất, vì đó là hoạt động học tập có tổ chức, điều khiển, giám sát một cách khoa học của thầy giáo Nhưng hoạt động học tập trên lớp dù có nỗ lực đến mấy thì mục đích học tập cũng không thể được giải quyết triệt để do những hạn chế về không gian và thời gian, về năng lực lĩnh hội của học sinh,
do ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh cũng như của các điều kiện học tập khác Điều đó đòi hỏi các em phải tiếp tục giải quyết và hoàn thiện chúng bằng những hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp, mà một trong số đó là đọc sách
- Song hoạt động ngoài giờ lên lớp được tiến hành như thế nào, mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết lại hoàn toàn do hoạt động học tập trên lớp chi phối, quyết định Nếu như yêu cầu, nhiệm vụ học tập đã được giải quyết trọn vẹn ở trên lớp thì không nhất thiết phải đọc sách thêm Ngược lại, nếu những mục đích, nhiệm vụ học tập trên lớp chưa được giải quyết tốt thì đó là những yếu tố kích thích, thúc đẩy các em nỗ lực hoạt động độc lập ở nhà bằng cách thực hiện những phương thức làm việc khác nhau để tìm kiếm tri thức, giải quyết tốt các yêu cầu, nhiệm vụ học tập đề ra, mà con đường cơ bản là đọc sách Những bài giảng theo kiểu cung cấp tri thức sắp sẵn, trọn vẹn làm thui trột và tàn lụi nhu cầu đọc sách, làm hạn chế hoạt động đọc sách cũng như hiệu quả của chúng Ngược lại, nếu như không có sự chuẩn bị ở nhà thông qua việc đọc thêm tài liệu, nghiên cứu giáo trình, nắm vững tri thức đã có thì việc học tập ở lớp sẽ không thể có kết quả tốt Vì vậy hoạt động độc lập nói chung và đọc sách nói riêng là khâu chuẩn bị, tạo cơ sở, tạo điều kiện hoạt động học tập trên lớp có hiệu quả
Trang 36- Bên cạnh đó, những hình thức hoạt động học tập khác như thảo luận xemina, thực hành, thí nghiệm, nghiên cứu khoa học cũng có mối qua hệ khăng khít với đọc sách Đọc sách như là khâu chuẩn bị nội dung, trang bị tri thức, lý luận cho việc thực hiện các hình thức học tập đó Đến lượt mình, các hình thức học tập đó nếu có hiệu quả, thì sẽ có tác động trở lại, kích thích các
em đọc sách một cách tích cực hơn, năng động hơn và có hiệu quả hơn
Hoạt động dạy và hoạt động học đã trở thành một thể thống nhất, trở thành một hoạt động mà người ta thường gọi là "hoạt động hợp tác" mà thầy và trò cùng là "chủ thể"
- Đọc sách là một hoạt động học tập cũng phải đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp hay gián tiếp của thầy Nếu hoạt động dạy cung cấp đầy đủ cho học sinh
hệ thống tri thức, làm cho họ thỏa mãn và không có nhu cầu tìm kiếm tri thức nữa thì đọc sách trở nên không cần thiết Ngược lại, hoạt động dạy thường xuyên tạo ra cho học sinh trạng thái không thỏa mãn tri thức "đói tri thức", thường xuyên tạo ra những hứng thú mới, thì sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy học viên tích cực tìm tòi tri thức bằng con đường đọc sách Như vậy, sự nảy sinh nhu cầu đọc sách cũng như mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương thức thực hiện hoạt động đó là hoàn toàn do mục đích, nhiệm vụ dạy học và tính chất của hoạt động dạy quy định
Nói tóm lại, với tư cách là bộ phận của hoạt động học tập đọc sách chịu
sự chi phối toàn diện của các hoạt động học tập và của hoạt động dạy
1.1.4 Việc hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa trong hệ thống các hình thức dạy học ở trường THPT miền núi
1.1.4.1 Sách giáo khoa
Sách giáo khoa là một trong những phương tiện dạy học quan trọng của dạy học vật lí ở trường phổ thông và thực hiện đồng thời hai chức năng: là phương tiện làm việc của HS (SGK là nguồn kiến thức, phương tiện củng cố
Trang 37kiến thức, kỹ năng của HS) và là phương tiện hỗ trợ GV hiểu và thực hiện chương trình dạy học đã quy định
- Trong SGK, nói chung các nội dung học tập của bậc học được trình bày một cách có hệ thống, phù hợp với chương trình quốc gia về bộ môn, phù hợp với các yêu cầu chung đối với SGK như: tính khoa học của nội dung, tính trực quan, tính dễ hiểu, tính logic của việc trình bày và phải có mối liên hệ hữu cơ với các môn học khác
- Ngoài ra, SGK vật lí còn phải đáp ứng những yêu cầu đặc thù khác như: sự cần thiết phải mô tả các thí nghiệm vật lí, xây dựng các kết luận khoa học từ lý thuyết hoặc thực nghiệm, nêu ra những ứng dụng cơ bản của vật lí trong kỹ thuật và đời sống, sử dụng hợp lý các công cụ toán học, đưa vào SGK hệ thống các bài tập đảm bảo hình thành ở học sinh những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết
1.1.4.2 Vị trí của sách giáo khoa trong hệ thống các hình thức dạy học ở trường THPT
Với các yếu tố cấu trúc khác nhau, SGK là phương tiện dạy học thích hợp cho việc GV sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học
a/ Có thể sử dụng SGK một cách có hiệu quả để đảm bảo trình độ xuất phát ban đầu (HS sử dụng SGK để tự ôn tập các kiến thức cũ trước khi nghiên cứu tài liệu mới), tạo động cơ học tập, đặt vấn đề nghiên cứu tài liệu mới Các đoạn trình bày lịch sử nảy sinh vấn đề sắp nghiên cứu, hiện tượng vật lí mà
HS thường gặp hàng ngày có liên quan tới kiến thức mới, những bức ảnh ờ đầu chương về các ứng dụng trong kỹ thuật và đời sống tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo động cơ học tập ở HS khi bắt đầu nghiên cứu một lĩnh vực mới, một chương cũng như các giờ học riêng biệt
b/ Trong giai đoạn làm việc với tài liệu mới, về cơ bản, có hai khả năng cho HS sử dụng SGK:
Trang 38- HS làm việc với SGK trong một khoảng thời gian ngắn của quá trình xây dựng kiến thức mới, ví dụ như:
+ HS làm việc với các đoạn văn, hình vẽ, sơ đồ để biết cách bố trí thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm sau khi đã đưa ra các dự đoán và trước khi GV hoặc HS tiến hành thí nghiệm
+ HS cũng có thể làm việc với các đồ thị tương ứng ở SGK trong giai đoạn xử lý kết quả thí nghiệm hoặc với sự giải thích chính xác, đầy đủ các kết quả thí nghiệm trong SGK
- HS tự lực làm việc trong một khoảng thời gian tương đối dài với SGK để lĩnh hội các kiến thức mới Khi đó, HS được tranh luận một cách gián tiếp với đối tượng cần nhận thức nhằm thu nhận hoặc chế biến các thông tin trong SGK GV có thể sử dụng khả năng làm việc này với SGK của HS trong những trường hợp HS cần thu nhận các thông tin về các định luật không thể
đề cập bằng thí nghiệm ở trường phổ thông, về cấu tạo, cách thức hoạt động của các máy móc phức tạp và các thông tin có nội dung lịch sử như cuộc sống
và sự nghiệp của các nhà bác học
c/ Trong giai đoạn củng cố các kiến thức, kỹ năng đã thu được, SGK cũng tạo điều kiện cho một sự lựa chọn các kiểu bài tập khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ việc chỉ sử dụng các kiến thức vừa học đến việc phải vận dụng nhiều kiến thức đã học từ trước Những lưu ý, tóm tắt, bản tổng kết các kiến thức cơ bản cuối mỗi chương ở SGK tạo điều kiện cho việc ôn tập,
hệ thống hóa các kiến thức mà HS đã học
d/ SGK cũng có thế được sử dụng ở giai đoạn kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS, thông qua việc GV ra cho HS các bài tập cuối chương trong SGK hoặc giao cho HS chuẩn bị một báo cáo khoa học về một chủ đề nào đó, trong đó SGK là một nguồn tài liệu Cần tập cho HS có thói quen trả lời các câu hỏi nêu trong SGK sau mỗi đoạn, mỗi bài học để tự kiểm tra kiến thức của mình
Trang 391.1.4.3 Những hoạt động học sinh cần tiến hành để làm việc có kết quả với sách giáo khoa
Để học sinh làm việc có kết quả với SGK điều quan trọng là phải bồi dưỡng cho HS ngày càng tự lực tiến hành các hoạt động sau:
- Tìm thông tin (ví dụ: tìm đoạn cần thiết trong sách nhờ mục lục)
- Tiếp nhận thông tin (đọc các đoạn văn, xem hình vẽ, tra cứu các bảng
số liệu trong sách)
- Định hình thông tin (gia công thành các ý hoặc gạch chân những ý quan trọng)
- Chế biến thông tin theo mục đích đề ra
- Vận dụng thông tin trong phạm vi nhất định (ví dụ: tham gia tranh luận ở giờ học, báo cáo trước lớp)
1.1.4.4 Những điểm giáo viên cần chú ý khi hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa
- Sự chuẩn bị của HS để làm việc với SGK là yếu tố quan trọng để HS làm việc có kết quả Công việc chuẩn bị đó phải được GV giao cho HS dưới dạng một nhiệm vụ học tập (trả lời câu hỏi), kích thích HS phải làm việc với SGK (tìm, tiếp nhận và chế biến thông tin)
- Trong giai đoạn mỗi HS làm việc tự lực trực tiếp với SGK, GV phải lưu ý HS thâu tóm nội dung của đoạn SGK, rút ra những phát biểu cô đọng (các câu trả lời) cho việc hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Ở giai đoạn đánh giá kết quả làm việc với SGK của HS, GV phải kiên nhẫn sửa chữa những cái sai, bổ sung những cái chưa đầy đủ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS, những khó khăn của GV và HS
Trang 40- Tìm hiểu nhận thức của GV và HS về vai trò của tự học và thực trạng của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
- Tìm hiểu thực tế việc hướng dẫn HS sử dụng SGK nhằm bồi dưỡng
năng lực tự học cho HS
- Trên cơ sở đó tìm hiểu nguyên nhân của các vấn đề cần khắc phục và
đề xuất hướng giải quyết nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
1.2.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra GV: Tác giả trao đổi trực tiếp với GV, xem giáo án cụ thể và
dự giờ dạy thực của GV, phát phiếu điều tra lấy thông tin từ các GV (tác giả
đã trao đổi với 13 GV trường THPT Hòa Phú, trường THPT Đầm Hồng và trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang)
- Điều tra HS: Trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra lấy thông tin từ
785 HS khối lớp 10 (trường THPT Hòa Phú, trường THPT Đầm Hồng và
trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang)
1.2.3 Kết quả điều tra
Tác giả đã tiến hành phát phiếu điều tra GV và HS tại một số trường phổ thông trung học (nội dung phiếu điều tra xem tại phụ lục 1 và 2) Kết quả
điều tra như sau:
1.2.3.1 Nhận thức của giáo viên và học sinh về tự học và thực trạng của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh các trường THPT miền núi hiện nay
- Khi được hỏi về khái niệm tự học và vai trò của tự học thì hầu hết HS
và GV đều hiểu đúng khái niệm đồng thời nhận thức đúng vai trò của tự học đối với quá trình học tập nhằm chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách chủ động Tuy nhiên, khi đặt ra câu hỏi: "Các em có nghe thầy, cô giáo
nói đến năng lực tự học không?" thì câu trả lời thu được hoặc là "ít khi", hoặc