1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay

166 1,6K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, hoạt động thực hiện và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, như: các quyền dân sự, chính trị của mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm, việc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG CÔNG CƯỜNG

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI- 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG CÔNG CƯỜNG

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp

Mã số: 62 38 10 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS THÁI VĨNH THẮNG

2 TS TÔ VĂN HÒA

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

hiện bởi bản thân tác giả Nội dung và các số liệu được sử dụng trong luận án trung thực Các luận điểm, nội dung của Luận án chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu độc lập nào khác

Tác giả luận án

Đặng Công Cường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3 Phương pháp nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Những đóng góp mới của Luận án 6

6 Kết cấu của Luận án 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN 8

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 15

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài của luận án 21

1.4 Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu 24

1.5 Hướng nghiên cứu của Luận án 25

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 26

2.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo vệ quyền con người bằng tòa án 26

2.2 Khái niệm, nội dung vai trò của tòa án trong việc bảo vệ quyền con người 38

2.3 Những yếu tố cơ bản bảo đảm vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 51

2.4 Các tiêu chí cơ bản đánh giá vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 67

Chương 3 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ 74

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 74

3.1 Đảng, Nhà nước và người dân chưa nhận thức đúng đắn vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người của cá nhân 74

3.2 Pháp luật chưa ghi nhận đầy đủ vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người 78

3.3 Tòa án chưa bảo vệ hiệu quả quyền con người của cá nhân trong quá trình xét xử 86

Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 110

4.1 Sự cần thiết phải nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 110

4.2 Các quan điểm nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 114

4.3 Một số giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 118

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ quyền con người là một trong những trách nhiệm pháp lý quan trọng của Nhà nước Trong xu thế hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền con người không chỉ là nghĩa vụ của nhà nước đối với người dân mà còn là nghĩa vụ của một quốc gia trước cộng đồng quốc tế Nghĩa vụ pháp lý này được ràng buộc chặt chẽ bởi các công ước quốc tế về quyền con người mà trực tiếp là quy định của Điều 8 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người: “Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định”[34] Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người đồng thời là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên bảo vệ quyền con người trở thành nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ pháp lý đặc biệt quan trọng của các

cơ quan nhà nước

Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước mà trong đó mọi hoạt động của nó phải hướng đến việc bảo đảm quyền con người được tôn trọng và thực thi đầy đủ trong thực tiễn đời sống xã hội Chính vì thế, trong các quan điểm của Đảng về chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đều khẳng định rằng: Đảm bảo quyền con người là mục tiêu cao nhất của hoạt động tổ chức quyền lực nhà nước Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm

1991, Đảng đã khẳng định quan điểm cơ bản để xây dựng đất nước là phải hướng đến xã hội “vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”; đồng thời yêu cầu “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”[20] Tư tưởng xây dựng một nhà nước bảo vệ tối đa quyền con người còn được thể hiện rõ trong các định hướng của Đảng

về cải cách các hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị

“về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Quá trình quá độ lên

Trang 7

2

chủ nghĩa xã hội phải đặt “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”[21]; và yêu cầu “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”[21]

Trên cơ sở các quan điểm của Đảng về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu thụ hưởng quyền con người của các cá nhân trong đời sống xã hội Trong những năm qua, hoạt động thực hiện và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, như: các quyền dân sự, chính trị của mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm, việc thụ hưởng các quyền này của người dân ngày càng toàn diện

và đầy đủ; các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, được thể hiện rõ trong các chính sách phát triển đất nước của Chính phủ và được thực thi trên thực tế, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước; Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương được nội luật hóa đầy đủ trong Hiến pháp và các văn bản luật tương ứng với từng nhóm đối tượng cụ thể theo các chuẩn mực pháp lý quốc tế mà Việt Nam cam kết tham gia, như: Quyền trẻ em, quyền không phân biệt về giới tính, quyền của người khuyết tật, quyền bình đẳng của người dân tộc thiểu số[3] Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay vẫn gặp nhiều thách thức cần được giải quyết trong thời gian tới đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền con người

Bảo vệ quyền con người là nghĩa vụ của Nhà nước vì thế hoạt động bảo vệ quyền con người phụ thuộc vào năng lực bảo vệ quyền con người của các hệ thống

cơ quan nhà nước mà trước hết là Tòa án Tòa án là hệ thống cơ quan nhà nước được pháp luật trao quyền nhân danh Nhà nước để áp dụng các biện pháp cưỡng chế pháp lý nhằm trừng trị hành vi xâm hại quyền con người đã trở thành hệ thống

cơ quan giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo năng lực bảo vệ quyền con người của Nhà nước Tòa án bảo vệ quyền con người chủ yếu thông quan hoạt động xét xử nên chất lượng và hiệu quả của hoạt động này thể hiện rõ ràng nhất khả năng và hiệu quả bảo vệ quyền con người của TAND Vì thế, nhằm đảm

Trang 8

3

bảo năng lực bảo vệ quyền con người của TAND thì yếu tố tiên quyết là phải nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, bảo đảm hoạt động xét xử của TAND phải độc lập, khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Trong những năm qua, TAND đã có những chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức, năng lực xét xử, chất lượng xét xử, đáp ứng được nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân khi có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra cũng như nhu cầu trừng trị các hành vi xâm hại, tước đoạt các quyền con người, quyền công dân Vì thế TAND đã tạo được niềm tin cho người dân về công lý, công bằng và bình đẳng xã hội

Tuy nhiên, hoạt động xét xử của TAND trong những năm qua vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế, đó là: "Một số Toà án chưa khắc phục triệt để việc để các vụ việc dân sự quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật; tỷ lệ giải quyết các vụ

án hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu; tỷ lệ bản án, quyết định hành chính bị huỷ, sửa còn cao; còn nhiều trường hợp Toà án áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của TAND tối cao; vẫn còn có bản án, quyết định của Toà án tuyên không rõ ràng, thiếu tính khả thi Hiệu quả công tác kiểm tra, giám đốc việc xét xử ở một số địa phương chưa cao, TAND cấp tỉnh chưa kiên quyết kháng nghị để sửa chữa, khắc phục những sai lầm của Tòa án cấp dưới"[95, tr.16]; "Vẫn còn tình trạng một số cán bộ, Thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm, sa sút về phẩm chất, thiếu ý thức rèn luyện, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm pháp luật hình sự"[96, tr.3] Những hạn chế này đã khiến cho năng lực bảo vệ quyền con người của TAND bị ảnh hưởng nghiêm trọng, niềm tin của người dân vào công lý bị xói mòn và có lúc,

có nơi, những hạn chế của TAND đã bị một số thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc và bôi nhọ chủ trương, chính sách cũng như năng lực lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Ngoài ra, trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, những bất cập pháp lý của Tòa án Việt Nam cũng đã tạo ra những rào cản pháp lý dẫn đến hạn chế năng lực bảo vệ quyền con người của Tòa án Việt Nam đối với người nước ngoài cũng như trường hợp công dân Việt Nam có quan hệ với người nước ngoài

Trên cơ sở quan điểm của Đảng về mục tiêu và động lực của chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và thực trạng năng lực bảo vệ quyền con người của TAND hiện nay, chúng tôi nhận thấy, việc tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận,

Trang 9

4

luận giải những tồn tại, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực bảo vệ quyền con người của TAND, đồng thời xây dựng những giải pháp khoa học phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa chính trị Việt Nam nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trên đây là việc làm có ý nghĩa xã hội sâu sắc góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thành công Đó là lý do để tác giả chọn đề tài "Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ luật học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án phân tích và chứng minh các phương diện lý luận thể hiện vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người Trên cơ sở lý luận đã được chứng minh, luận án đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở các tiêu chí nhất định và đề xuất một số giải pháp khoa học nhằm nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích và chứng minh những phương diện cơ bản thể hiện vai trò của Tòa

án trong việc bảo vệ quyền con người;

- Phân tích và làm rõ thực trạng của “bảo vệ quyền con người bằng Tòa án án” đặc biệt là những tồn tại, hạn chế của hoạt động này;

- Nghiên cứu và làm rõ nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến vai trò của Tòa

án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay;

- Xây dựng phương hướng và đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người

3 Phương pháp nghiên cứu

(1) Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tư liệu, nhất là các tư liệu sơ cấp, so sánh các vấn đề nghiên cứu giữa các đối tượng được chọn lựa;

(2) Phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu, những người phụ trách và nghiên cứu lĩnh vực chính trị và pháp luật;

Trang 10

5

(3) Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, liên ngành khoa học xã hội và nhân văn đặc biệt chú trọng đến luật học (chủ yếu là phương pháp tiếp cận của chuyên ngành luật Hiến pháp, Lý luận nhà nước và pháp luật, luật Tố tụng hình sự,

- Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng trong quá trình chứng minh tính phổ biến của “vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người” (chủ yếu

so sánh quy phạm của Hiến pháp một số nước và các công ước quốc tế về quyền con người); phương pháp này cũng được sử dụng trong việc luận chứng cơ sở khoa học của các giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

- Phương pháp mô tả và phân tích quy phạm chủ yếu được sử dụng trong quá trình làm rõ những hạn chế của pháp luật về vị trí, vai trò; chức năng; thẩm quyền

và trình tự, thủ tục xét xử của Tòa án; những hạn chế của pháp luật bảo đảm độc lập của hoạt động xét xử, tổ chức hệ thống Tòa án và quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu thống kê được sử dụng để chứng minh những hạn chế trong thực tiễn xét xử của Tòa án (chủ yếu sử dụng ở chương 3) Ngoài ra, để bảo đảm cơ sở thực tiễn, tính cấp thiết của vấn đề khoa học cần giải quyết, đặc biệt để nâng cao tính thuyết phục của các giải pháp khoa học, phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu thống kê được sử dụng trong các luận điểm thể hiện các phương diện của giải pháp đề xuất

- Phương pháp phân tích- dự báo khoa học nhằm dự báo xu hướng phát triển nhu cầu của xã hội về vị trí, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

và các yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN đối với Tòa án trong tương lai gần

Trang 11

6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề khoa học liên quan đến vị trí, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản, như sau:

- Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người;

- Thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử của Tòa án ở Việt Nam hiện nay;

- Phương hướng cải cách tư pháp hiện nay và giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Từ năm 1945 đến nay

5 Những đóng góp mới của Luận án

Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

Thứ nhất, luận án đã xây dựng được các phương diện lý luận cơ bản bổ sung

vào hệ thống lý luận về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, gồm:

- Khái niệm “bảo vệ quyền con người bằng Tòa án”;

- Phân tích và chứng minh những đặc điểm cơ bản của bảo vệ quyền con người bằng Tòa án;

- Luận chứng các phương diện cơ bản thể hiện vai trò quan trọng của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người;

- Làm rõ các yếu tố cơ bản bảo đảm vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

Thứ hai, luận án đánh giá một cách toàn diện những hạn chế của Tòa án Việt

Nam trong việc bảo vệ quyền con người trên cơ sở các phương diện thể hiện vai trò của Tòa án trong lĩnh vực này, dồng thời chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của những bất cập và tồn tại đó

Thứ ba, Luận án đã xây dựng hệ thống các giải pháp khoa học phù hợp với

điều kiện và định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN nhằm nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, bao gồm các giải pháp như sau:

Trang 12

7

- Hoàn thiện pháp luật ghi nhận vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, gồm: Hiến định quyền xét xử hành vi vi hiến xâm hại quyền con người được thực hiện bởi quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp; trao cho Tòa án quyền giải thích Hiến pháp, luật

- Nâng cao tính độc lập của hoạt động xét xử thông qua việc mở rộng nội dung hiến định tính độc lập của tư pháp trong Hiến pháp; xây dựng đạo luật bảo đảm độc lập xét xử; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với hoạt động xét xử; xây dựng bộ quy tắc chuẩn mực đạo đức nghề Thẩm phán; và xóa bỏ quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình xét xử

vụ án hình sự

- Xây dựng trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp khoa học, toàn diện và phù hợp với pháp luật quốc tế về quyền con người, như: Sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng hình sự; sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng dân sự; sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng hành chính

- Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, gồm: Xây dựng quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm Thẩm phán (mới); cải cách chương trình đào tạo cử nhân luật

- Nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và người dân về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con ngườ

- Nâng cao chất lượng hoạt động thi hành án dân sự

6 Kết cấu của Luận án

Luận án bao gồm:

Mở đầu;

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài của luận án;

Chương 2 Cơ sở lý luận về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người;

Chương 3 Đánh giá vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay;

Chương 4 Phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam;

Kết luận và kiến nghị nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

8

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Quyền con người là giá trị tinh thần cao quý của xã hội; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phát triển là mục tiêu và động lực cuối cùng của tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Vì thế, vấn đề bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phát triển là vấn đề được nhiều ngành khoa học khác nhau quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau

Trong khoa học pháp lý quốc tế, nghiên cứu quyền con người được nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau nghiên cứu ở nhiều phương diện, nhiều góc nhìn khác nhau Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quyền con người và đảm bảo quyền con người mà tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án, gồm các tác phẩm và bài viết: "Nhân quyền, bảo vệ nhân quyền theo Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị" của Lippman Matther, tạp chí Quốc tế California, số 10-1980; "Tòa án nhân quyền châu Âu và việc bảo vệ quyền

tự do dân sự - khái quát chung" của Gearty CA, tạp chí Luật Cambridge, số 1993; "Việc áp dụng Hiệp ước châu Âu về nhân quyền của Tòa án Pháp" của Steiner Eva, tạp chí Luật kings Collages, số 6, 1996; "Nhân quyền và đánh giá tư pháp tại Đức" của Grimm Dicter; "Các đảm bảo quyền cá nhân theo Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ" của Scialia Antomin, nhà xuất bản Martinus Nijhoff publishers, Dordrecht 1994; "Luật nhân quyền quốc tế liên quan đến phụ nữ, các ghi nhớ từ các

52-vụ án và bình luận" của Cook Rebeca J, tạp chí Vanderbilt Journal of Tran national law, số 23, 1990); "Culture and development: A critical introduction" (Văn hóa và phát triển: những bình luận gợi mở) của Suasane Schech, 2000; tác phẩm "The Impact of Technology on Human Rights: Global case studies" (Sự ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến quyền con người: nghiên cứu tiếp cận hệ thống) của Anthony Woodwiss, Nhà xuất bản UN University Press 1993; "Democracy as Human Rights freedom and equality in the Age of Globalization" (Dân chủ là quyền

tự do và công bằng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa) của Goodhart Micheal, Nhà xuất bản New York Routledge, 1988; "International human rights in context: Law, Politics, Morals" (Nhân quyền quốc tế trên các bình diện: Luật, Chính trị, Đạo đức)

Trang 14

9

của Henry J.Steiner, Nhà xuất bản Oxford, 2000; "Human rights in Asia: A comparative legal study of twelve Asian jurisdictions, France and the USA" (Quyền con người ở châu Á: Nghiên cứu so sánh tư pháp của 12 quốc gia châu Á, Pháp và Hoa Kỳ) của Randal Peerenboom, Carole J Peterson , Alber H.Y Chen, Nhà xuất bản NewYork Routledge, 2006; "Effective strategies for protecting human rights: Economic sanctions, use of national courts and international fora and coercive power" (Chiến lược bảo vệ quyền con người có hiệu quả: Hợp tác kinh tế, sử dụng Tòa án quốc gia và sức ép của cộng đồng quốc tế) của David Barnhizer, Nhà xuất bản Dartmouth Publishing company, 2001; "State violence and human rights- state" (Lạm dụng quyền lực nhà nước và tình trạng quyền con người) của Andrew M, Nhà xuất bản Routledge, 2009

Đối với lĩnh vực bảo vệ quyền con người bằng tư pháp, các tài liệu nghiên cứu

ở nước ngoài dưới góc độ luật học cho thấy bức tranh đa màu sắc về cách thức hiến định vị trí, vai trò của Tòa án cũng như thực tiễn hoạt động của Tòa án trong việc bảo

vệ quyền con người Tùy thuộc vào truyền thống văn hóa pháp lý, những quốc gia, khu vực khác nhau có sự khác nhau trong việc đánh giá vị trí, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

Luận án tiến sĩ luật học "Victim satisfaction: A model of the Crimminal Justice System" (2003), “Sự bồi thường cho nạn nhân tội phạm: Một mô hình của

hệ thống tư pháp hình sự" của John William Stickels, trường đại học Texas, Hoa

Kỳ Luận án phân tích quyền và nghĩa vụ của người bị hại khi tham gia giải quyết

vụ án hình sự Đóng góp lớn nhất của luận án đối với vấn đề bảo vệ quyền con người là đề xuất mô hình tư pháp hình sự trong đó lấy nạn nhân (người bị hại) là trung tâm và luận giải sự hợp lý của việc coi mục đích chính của tư pháp hình sự là

cố gắng đạt được sự thỏa mãn của người bị hại trong quá trình truy tố và xét xử tội phạm

Nghiên cứu tài liệu này đã giúp cho tác giả có một góc nhìn toàn diện hơn về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Hoa Kỳ Tòa án không chỉ bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo mà còn bảo vệ quyền con người cho những người bị hại trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, tác giả không đồng ý với John Villiam khi quan niệm mục đích của hình phạt là nhằm bồi thường cho người bị hại

Trang 15

và Tòa án thường với hoạt động bảo vệ quyền con người Trên cơ sở những thông tin, luận điểm đã được phân tích, chứng minh, tác giả đã khái quát vai trò quan trọng của Tòa án hiến pháp và Tòa án thường đối với hoạt động bảo vệ quyền con người

Bài viết “A typology the economic and social rights adjudication: Exploring the catalytic function the judicial review” (Một dạng xét xử quyền kinh tế và xã hội: Giải thích chức năng xúc tác của tư pháp phục hồi) , Young KG (Young, Katharine G.), Tạp chí Icon – International journal of constitutional law, số 8, năm 2010 Trong bài báo, tác giả đã phân tích vai trò bảo vệ các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội bằng hoạt động xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án tối cao Nam Phi; phân tích các yếu tố tác động vào Tòa án của cơ quan lập pháp và hành chính chính trị trong quá trình thực hiện hoạt động này Trên cơ sở đó, tác giả kết luận: Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án và nhận thức của Tòa án về bản chất và ý nghĩa của hoạt động xét

xử các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội là những yếu tố quyết định đến vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Tòa án

Bài viết “Human rights and the courts in Canada” (Quyền con người và Tòa án

ở Canada) của Nancy Holmes, Tạp chí Law and Government Division, tháng 11-

1991 Trong tác phẩm này, tác giả phân tích nội dung của pháp luật Canada về quyền con người, các cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phát triển trong thời đại toàn cầu hóa Theo tác giả, cùng với Hiến pháp, Luật về quyền con người

và Tòa án là những yếu tố pháp lý giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phát triển ở Canada

Trang 16

11

Bài viết “Role of court in promoting harmonious development and prosperity

of society” (Vai trò của Tòa án trong việc nâng cao sự phát hiển hài hòa và thịnh vượng của xã hội), Honorable Vyacheslav M Lebedev Trong tác phẩm này, tác giả

đã phân tích những tiền đề xã hội cơ bản nhằm bảo đảm xã hội phát triển và thịnh vượng; các cơ chế pháp lý, vai trò của các thiết chế xã hội đặc biệt là vai trò của Tòa trong mối quan hệ với các tiền đề bảo đảm xã hội phát triển thịnh vượng, như tiền đề về nhà nước pháp quyền, tiền đề về quyền tự do, dân chủ của cá nhân và các quyền tự do sáng tạo, lao động của cá nhân cũng như các giá trị về công bằng, bình đẳng, trong đó tác giả đề cao vai trò quan trọng của Tòa án trong việc xây dựng xã hội phát triển và thịnh vượng

Bài viết “Extending the Role of the Courts: The Human Rights Act 1998” (Mở rộng vai trò của Tòa án: Đạo luật Nhân quyền 1998), David Feldman, Article first published online: 24 JAN 2011 (© The Parliamentary History Yearbook Trust 2011) Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích và chứng minh những nguyên nhân đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Nhân quyền 1998 (của Châu Âu) và sự xuất hiện của Tòa án nhân quyền châu Âu đã khiến cho phạm vi thẩm quyền của các Tòa án quốc gia (ở châu Âu) ngày càng được mở rộng, như: quyền giải thích luật, Hiến pháp; thẩm quyền xét xử…vì thế vai trò của Tòa án quốc gia trong đời sống pháp luật cũng ngày càng phát triển

Bài viết “The role of the courts in the recognition of the language rights” (Vai trò của Tòa án trong việc hiện thực hóa các quyền ngôn ngữ), Marie Eve Hudon, publication 2001-68-E, tháng 6 năm 2011 Trong tác phẩm này, tác giả phân tích nội hàm của quyền ngôn ngữ trong Bộ luật quyền con người của Canada, những phương diện thực tiễn thể hiện vai trò của Tòa án trong việc hiện thực quyền ngôn ngữ của cá nhân Trong quá trình thực hiện quyền này, hoạt động của Tòa án đặc biệt là sự giải thích luật, Hiến pháp của Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa quyền này trong thực tiễn xã hội mà trước tiên là trong quá trình Tòa

án giải quyết các vụ án

Bài viết “The role of indian judiciary in protection of rights of the children” (Vai trò của Tòa án Ấn Độ trong việc bảo vệ quyền của trẻ em) Trong tác phẩm này, trên cơ sở những tư tưởng cơ bản của Hiến pháp và pháp luật về vị trí, vai trò

Trang 17

12

của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, và những nội dung pháp lý cụ thể quy định về những hành vi xâm hại đến quyền của trẻ em; các cơ chế nhằm hạn chế

và tiến đến loại trừ hành vi xâm hại quyền của trẻ em, tác giả đã phân tích, lý giải

và chứng minh về vai trò đặc biệt quan trọng của Tòa án trong việc bảo vệ các quyền của trẻ em ở Ấn Độ

Tác phẩm “The role of national courts in preventing of torture suspected terrorists” (Vai trò của Tòa án quốc gia trong việc ngăn chặn sự tra tấn đối với nghi phạm khủng bố), Eyal Benveniti, Tạp chí EJIL, số 8-1997 Trong công trình này, tác giả phân tích hai cơ chế pháp lý tư pháp cơ bản nhằm ngăn chặn các hành vi tra tấn dã man, so sánh và phân tích những phương diện thể hiện vai trò cần thiết của Tòa án quốc gia trong việc ngăn chặn các hành vi tra tấn tàn bạo, dã man của nhà nước trong các trường hợp Nhà nước tuyên bố tình trạng khẩn cấp

Tác phẩm “The right to an independent court of law Theoretical aspects The european court of human rights case-law” (Quyền tiếp cận tư pháp độc lập Những vấn đề lý luận và án lệ của Tòa án nhân quyền châu Âu), Mircea Damaschin, Tạp chi Lex et Scientia, số 18-2011 Trong bài báo này, tác giả đã phân tích hai phương diện cơ bản thể hiện vị trí, vai trò của Tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt của Tòa án trong việc bảo đảm tính dân chủ và pháp quyền của xã hội

Bài báo cáo “The role of national courts and regional courts in protecting human rights and developing human rights jurisprudence” (Vai trò của Tòa án quốc gia và Tòa án khu vực trong việc bảo vệ quyền con người và phát triển quyền con người trong lĩnh vực tư pháp), Hon Justice Harold R Nsekela, (A Paper for

này, tác giả đã phân tích, luận giải cơ sở lý luận và trích dẫn một số vụ án điển hình nhằm chứng minh vai trò quan trọng, không thể thiếu của Tòa án quốc gia, cũng như Tòa án khu vực trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phát triển ở các quốc gia châu Phi hiện nay

Bài viết “The protecting human rights by district court in India” (Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án quận ở Ấn Độ), tác giả Chandrashekharayya N., M

Trang 18

13

Com, LL.B - Advocate, Raichur Trong bài báo này, các tác giả đã phân tích những

kỳ vọng tốt đẹp và thuận lợi của hoạt động bảo vệ quyền con người khi quyền xét

xử hành vi vi phạm quyền con người được trao cho Tòa án nhân quyền cấp quận, đồng thời phân tích những khó khăn, hạn chế của một số quy định trong Luật Nhân quyền năm 1993 của Cộng hòa liên bang Ấn độ trong đó nhấn mạnh đến những khó khăn mà Tòa án cấp quận ở Ấn Độ có thể phải đối diện khi tiến hành thụ lý và giải quyết các vụ việc, hành vi vi phạm nhân quyền theo quy định của pháp luật Ấn Độ Bài viết “Health as Human Right - Role of courts in realisation of the rights” (Sức khỏe là một quyền con người – Vai trò của Tòa án trong việc hiện thực hóa các quyền) của tác giả Justice R K Abichandani Trong bài báo, tác giả đã phân tích các phương diện thể hiện yếu tố “sức khỏe” là một quyền con người cơ bản và

là quyền con người mang tính nền tảng không thể thiếu để các cá nhân có thể thực hiện các quyền con người khác Ngoài ra, tác giả còn liên hệ sự tương tác giữa cơ sở

lý luận đó với những quyền hiến định cụ thể nhằm bảo đảm sức khỏe của cá nhân, vai trò của Tòa án Ấn Độ đối với việc thực hiện và thụ hưởng các quyền cụ thể nhằm bảo đảm sức khỏe của cá nhân Từ những hoạt động bảo vệ quyền cụ thể hướng đến mục đích bảo đảm sức khỏe của cá nhân, tác giả khái quát và chứng minh vai trò quan trọng của Tòa án Ấn Độ trong việc bảo vệ và hiện thực hóa quyền sức khỏe của cá nhân

Tác phẩm “The fundamental rights jurisprudence of the european court of justice: Protection for human rights within the european uinon legal order” (Thẩm quyền tư pháp về quyền cơ bản của Tòa án công lý châu Âu: Sự bảo vệ quyền con người trong khuôn khổ pháp luật của liên minh châu Âu), Yaser Dogan, Tạp chí Ankara law review, số 6-2009 Trong bài báo này, tác giả đã đưa ra các dẫn chứng, các phương diện chứng minh hoạt động bảo vệ quyền con người của Tòa án công lý châu Âu đã tạo ra cơ chế bảo đảm pháp lý đầy đủ hơn trong việc bảo vệ quyền con người bằng quyền tư pháp cơ bản

Bài viết “Vai trò của tư pháp độc lập” của Philippa Strum (Trong sách về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến: Một số tiểu luận của học giả nước ngoài, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Nxb Lao động – xã hội, Hà nội) Trong tiểu luận này, Philippa Strum đã chứng minh những đóng góp quan trọng của ngành tư pháp

Trang 19

14

Hoa Kỳ trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phát triển ở Hoa Kỳ Đồng thời, tác giả lý giải yếu tố cơ bản mang lại những thành tựu to lớn của ngành tư pháp Hoa Kỳ trong việc thúc đẩy quyền con người phát triển chính là sự độc lập của ngành tư pháp với quyền lực hành pháp và quyền lực lập pháp Theo tác giả, tư pháp độc lập và có quyền xét xử các đạo luật vi hiến của Nghị viện là một thành tựu pháp lý vĩ đại của lịch sử Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cần được giữ gìn và phát triển Bài viết “Tầm quan trọng của độc lập tư pháp” của Sandra Day O’Connor (Trong sách về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến: Một số tiểu luận của học giả nước ngoài, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Nxb Lao động – xã hội,

Hà nội) Bài viết chú trọng chứng minh tính phổ biến của độc lập tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử Theo tác giả, độc lập tư pháp không còn là một đặc tính riêng biệt của Tòa án Hoa Kỳ mà đã trở thành đặc điểm phổ biến của Tòa án ở hầu hết các quốc gia mong muốn thúc đẩy nhân quyền phát triển Ngoài ra, trong bài viết, tác giả đã đề cập đến những thách thức đe dọa sự độc lập của tư pháp và những yêu cầu pháp lý nhằm bảo đảm độc lập cho tư pháp Tác phẩm “Phương thức hoạt động của Tòa án Hoa Kỳ”, Tạp chí điện tử của

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tháng 9/1999 Ấn phẩm này bao gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả về các phương diện cơ bản của hệ thống tư pháp Hoa Kỳ trong đó chủ yếu đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của nền tư pháp Hoa Kỳ, những thành tựu của Tòa án Hiến pháp Hoa Kỳ trong việc bảo vệ Hiến pháp và thúc đẩy quyền con người phát triển (đặc biệt bài viết giới thiệu về quyết định lịch sử của Tòa án tối cao Hoa Kỳ đối với vụ án Brown kiện Sở Giáo dục Topeka ngày 17/5/1954 đã xóa bỏ hoàn toàn tệ phân biệt chủng tộc trong môi trường giáo dục ở Hoa Kỳ) Bên cạnh đó, bài viết của Anthony Kennedy về mối quan hệ giữa “đạo đức tư pháp và pháp quyền” đã cung cấp những kinh nghiệm quý báu trong việc bảo đảm sự vô tư, khách quan của Thẩm phán bằng hệ thống đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán và phương thức kỷ luật Thẩm phán của hệ thống tư pháp Hoa Kỳ

Có thể khẳng định, trên thế giới hoạt động nghiên cứu về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người đã diễn ra ở nhiều quốc gia Các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp đáng kể trong việc làm rõ vị trí, vai trò của Tòa

án trong việc bảo vệ quyền con người và những yếu tố cơ bản bảo đảm địa vị pháp

Trang 20

15

lý này của tòa án Các kết quả nghiên cứu đó là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng làm nền tảng khoa học để tác giả xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam Trong các giá trị khoa học được luận án kế thừa thì vấn đề bảo đảm độc lập tư pháp và quyền xét xử hành

vi vi hiến của quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp được đặc biệt quan tâm 1.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Đề tài cấp nhà nước “Cải cách cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” do TS Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm bảo vệ thành công năm 2006 Công trình đã xây dựng khái niệm quyền tư pháp trên cơ sở lý luận về nhà nước và pháp luật được thừa nhận phổ biến ở Việt Nam, cơ sở lý luận cho sự tồn tại hệ thống cơ quan tư pháp, chức năng nhiệm vụ của từng thiết chế tư pháp và mối quan hệ giữa các thiết chế tư pháp này Vấn đề xác định vị trí, vai trò và chức năng của Tòa án được đặc biệt quan tâm phân tích làm rõ ở nhiều phương diện,trong đó, các tác giả đã làm rõ được vị trí, vai trò của Tòa án trong quá trình thực hiện quyền tư pháp nói riêng, thực hiện quyền lực nhà nước nói chung Ngoài ra, công trình đã phân tích những yếu tố tác động tiêu cực đến năng lực xét xử của Tòa án và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền

Tác phẩm “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung đề cập đến vấn đề lý luận về thể chế tư pháp, thể chế tư pháp ở nhà nước pháp quyền dân chủ và thể chế tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Tác phẩm “Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của Tòa án, phạm vi của hoạt động xét xử cũng như tầm quan trọng của độc lập

tư pháp trong xã hội pháp quyền Trên cơ sở lý luận về vị trí, vai trò và những yêu cầu của Tòa án trong xã hội pháp quyền, quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền dân chủ và thực trạng xét xử, tổ chức và pháp luật tố tụng tư pháp Việt Nam, tác giả

đã xây dựng những giải pháp khoa học nâng cao vị trí, vai trò và bảo đảm chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp

Trang 21

16

quyền XHCN ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này

đã cung cấp hệ thống lý luận tương đối toàn diện về quyền tư pháp, vị trí, vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền, hiện trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án Việt Nam hiện nay nên được luận án kế thừa và sử dụng trong quá trình luận chứng vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam cũng như đối chiếu, so sánh và tham khảo trong quá trình xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực, hiệu quả bảo vệ quyền con người của Tòa án hiện nay

Bài viết “Cải cách tư pháp ở Canada, Trung Quốc và Nhật Bản” của Ths Nguyễn Hải Ninh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 2008 Trong bài báo, tác giả phân tích, so sánh và đưa ra những mục tiêu, cách thức và nội dung tương đồng trong quá trình cải cách tư pháp ở các nước Canada, Trung Quốc và Nhật Bản cũng như những điểm khác biệt do nhu cầu của nền tư pháp mỗi nước, như: đối với nền tư pháp Canada, nội dung cải cách chú trọng đến việc thực hiện chế độ bổ nhiệm không thời hạn đối với Thẩm phán; cải cách chế độ lương của Thẩm phán; bảo đảm việc quản lý hành chính của Tòa án được tách ra khỏi công việc xét xử của Thẩm phán; Trong khi hoạt động cải cách tư pháp Nhật Bản thì hướng đến tăng cường các điều kiện để hệ thống tư pháp trở nên dễ tiếp cận, dễ hiểu và dễ sử dụng đối với công chúng; chú trọng phát triển nguồn nhân lực hỗ trợ cho hệ thống tư pháp; còn Trung Quốc thì tiếp tục kiện toàn và hoàn thiện thể chế tư pháp theo yêu cầu của tư pháp công bằng, nghiêm minh và thi hành đúng pháp luật, trong đó chú trọng cải cách và hoàn thiện chế độ tố tụng, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cá nhân và pháp nhân; thực hiện yêu cầu của tư pháp vì dân, giải quyết có hiệu quả vấn

đề quần chúng nhân dân khiếu kiện bức xúc, kéo dài; tăng cường công tác kiểm sát làm trọng điểm, cải cách và hoàn thiện thể chế kiểm sát tư pháp của viện kiểm sát; cải cách và hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ tư pháp, nâng cao chất lượng của đội ngũ tư pháp; cải cách và hoàn thiện cơ chế bảo đảm kinh phí tư pháp, tăng cường bảo đảm tư pháp độc lập

Trên cơ sở so sánh những định hướng về chiến lược cải cách tư pháp Việt Nam đến năm 2020, sự tương đồng về mục tiêu cải cách tư pháp của Việt Nam với mục tiêu cải cách tư pháp của Trung Quốc, Canada, Nhật Bản Qua những mô tả, phân tích các chương trình và mục tiêu cải cách tư pháp của các nước Canada, Nhật

Trang 22

17

Bản và Trung Quốc, mục tiêu cải cách tư pháp (ở Trung Quốc), cải cách Tòa án ở Nhật Bản và Canada có sự tương đồng nhất định với mục tiêu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay Điều này đã củng cố thêm tính thuyết phục những nội dung cơ bản công trình này hướng đến là tiếp tục cải cách tư pháp Việt Nam (đặc biệt là Tòa án) theo quan điểm, định hướng trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 02/06/2005

Bài viết “Tổ chức Tòa án hành chính của Cộng hòa Pháp và một số kinh nghiệm có thể áp dụng cho Tòa hành chính ở Việt Nam” của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03 năm 2008 Trong công trình nghiên cứu này tác giả phân tích cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và cơ chế pháp lý giải quyết

vụ việc hành chính của hệ thống Tòa án Hành chính pháp và những đặc điểm của hệ thống Tòa án hành chính này Trên cơ sở đó, tác giả rút ra những hạt nhân hợp lý có thể vận dụng vào việc xây dựng hệ thống Tòa án Hành chính Việt Nam, như: mô hình xây dựng một hệ thống Tòa án Hành chính độc lập, tách biệt khỏi Tòa án Tư pháp và không phụ thuộc vào các đơn vị hành chính lãnh thổ Những quy định về thẩm quyền của Tòa án Hành chính Pháp cũng được tác giả phân tích và lý giải những điểm hợp lý có thể áp dụng ở Việt Nam

Bài viết “Nâng cao năng lực xét xử các vụ án dân sự của Tòa án trong quá trình cải cách tư pháp” của TS Đoàn Đức Lương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số

2 năm 2007 Nội dung của bài viết chú trọng đến những hạn chế của hoạt động xét

xử dân sự và vai trò của hoạt động kiểm sát hoạt động xét xử dân sự trong việc nâng cao năng lực hoạt động xét xử dân sự Thông qua việc phân tích những hạn chế bộc

lộ trong một số bản án cụ thể của Tòa án tỉnh Thừa Thiên Huế trong mối tương quan với những yêu cầu đặt ra trong quá trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49/NQ của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tác giả cho rằng “việc nâng cao năng lực của Tòa án và kiểm sát hoạt động tư pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng , nhằm bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể và tạo niềm tin của họ vào cơ quan pháp luật” [43, tr38]

Bài viết “Tòa án phong tục: Một kiểu vận dụng luật tục có hiệu quả” của GS.TSKH Phan Đăng Nhật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 năm 2007 Trong

Trang 23

18

bài báo, tác giả giới thiệu về sự ra đời, tồn tại và các nội dung đã được Tòa án phong tục (thời Pháp thuộc) áp dụng nhằm giải quyết một số tranh chấp mâu thuẫn trong đời sống xã hội Trên cơ sở những nội dung đó, tác giả đã phân tích và chỉ ra những ưu điểm của Tòa án phong tục trong việc áp dụng phong tục tập quán và những hiệu quả xã hội do cơ chế này mang lại

Bài viết “Một số vấn đề về xác định thẩm quyền của Tòa án trong tư pháp quốc tế” của Ths Đồng Thị Kim Thoa, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 năm

2006 Trên cơ sở phân tích các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong tư pháp quốc tế và một

số phương pháp, tiêu chí xác định thẩm quyền của Tòa án theo Công ước Lahaye năm 2005, như: cơ chế xác định thẩm quyền trong thỏa thuận chọn Tòa án riêng biệt, thẩm quyền công nhận, thi hành phán quyết của Tòa án trong thỏa thuận chọn Tòa án riêng biệt, tác giả đã gợi mở một số yếu tố về lý luận nhằm xây dựng cơ chế xác định thẩm quyền xét xử quốc tế của Tòa án ở Việt Nam

Bài viết “Tiếp cận quyền lực tư pháp và việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án từ góc độ lịch sử” của Ths Chu Thị Trang Vân đăng trên Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật, số 10 năm 2006 Trong bài nghiên cứu, tác giả phân tích ngữ nghĩa, nội hàm của khái niệm quyền tư pháp và lịch sử phát triển của khái niệm này Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến vị trí, vai trò trung tâm của hoạt động xét xử trong tiến trình thực hiện quyền tư pháp Tác giả cho rằng, hoạt động xét xử không chỉ là hoạt động cơ bản của quá trình tố tụng tư pháp mà còn là hoạt động đảm bảo cho sự thống nhất, liên tục của quyền lực tư pháp

Tác phẩm “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” của GS.TSKH Lê Cảm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004 Trong tác phẩm, các tác giả trình bày những vấn đề cơ bản cần đặt ra trong quá trình cải cách tư pháp trong mối quan hệ với những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN về tổ chức và hoạt động của quyền lực tư pháp, vị trí, vai trò và đặc điểm của mối quan hệ giữa các thiết chế bên trong cũng như mối quan hệ giữa quyền lực tư pháp với quyền lực hành pháp và quyền lực lập pháp Từ yêu cầu của thực tiễn pháp luật và nhu cầu của xã hội, các tác giả đã nhấn mạnh và

đi sâu phân tích những vấn đề cần ưu tiên thực hiện trong quá trình cải cách tư pháp trong lĩnh vực hình sự, tư pháp dân sự và cải cách tư pháp trong lĩnh vực tố tụng kinh tế, lao động và đất đai

Trang 24

19

Luận án tiến sĩ “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án ở nước ta hiện nay” của TS Lê Thành Dương được bảo vệ năm 2006 Trong công trình này, tác giả đã xây dựng hệ thống lý luận về vị trí, vai trò và chức năng của Tòa án trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xác định vai trò trọng yếu của Tòa án trong

bộ máy nhà nước; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của TAND trong những năm qua, xác định được những mặt mạnh, mặt yếu của TAND cùng với những nguyên nhân của nó, làm cơ sở thực hiện việc cải cách tổ chức và hoạt động của TAND Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đổi mới

tổ chức và hoạt động của TAND đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

Luận án tiến sĩ “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của TS Trần Huy Liệu được bảo

vệ năm 2006 Luận án đã phân tích, bổ sung và làm rõ các khái niệm, “quyền tư pháp”, “hoạt động tư pháp”, “hệ thống các cơ quan tư pháp” và vị trí, vai trò, đặc điểm cơ bản của các cơ quan tư pháp ở Việt Nam Đồng thời, tác giả đã xây dựng những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động hoạt động của các cơ quan tư pháp khoa học, khả thi và phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Bài báo cáo hội thảo “Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án” của Ths Đinh

Thế Hưng được trình bày tại Hội thảo cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người

trong khuôn khổ Dự án: Diễn đàn giáo dục về quyền con người ở bậc đại học và sau đại học thuộc Chương trình Quản trị công và Cải cách hành chính theo Hiệp định tài trợ giữa Chính phủ Đan Mạch và Chính phủ Việt Nam do VKHXH Việt Nam tổ chức ngày 26- 27/11/2010 Trong bài báo cáo này, tác giả đã phân tích

những đặc điểm của cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án, thực trạng và những yếu tố tác động tiêu cực đến hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng Tòa án, như: Tòa án chưa thực sự độc lập, thẩm quyền của Tòa án bị hạn chế, thủ tục tố tụng chưa rõ ràng, phức tạp

Bài viết “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử - cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự” của TS Nguyễn Quang Hiền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,

số 169 tháng 4 -2010 Trong bài viết, tác giả đã phân tích các quy định của pháp

Trang 25

20

luật hiện hành về thẩm quyền xét xử của các cấp xét xử và hoạt động xem xét lại bản án và cách hiểu, tâm lý và nhận thức của các chủ thể pháp luật khi tham gia vào quá trình tố tụng dân sự Tác giả đã chỉ ra những hạn chế của pháp luật, sự nhìn nhận chưa đúng đắn của các chủ thể pháp luật về bản án sơ thẩm dẫn đến nhiều vụ

án phải xét xử nhiều lần, khiến cho việc bảo vệ quyền con người bằng hoạt động tố tụng dân sự chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số định hướng nhằm bảo đảm và phát huy hiệu quả xã hội của hoạt động xét xử dân sự của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

Bài viết “Bảo đảm quyền con người của người bị tình nghi phạm tội trong các

vụ án áp dụng thủ tục rút gọn” của Ths Nguyễn Sơn Hà được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong quá trình xét xử vụ án hình sự ở một số Tòa án địa phương, tác giả đã phân tích những bất cập của pháp luật về thủ tục xét xử rút gọn và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm hạn chế nguy cơ một số Tòa án sử dụng thủ tục xét xử rút gọn tùy tiện dẫn đến vi phạm quyền của trẻ em trong quá trình tố tụng tư pháp hình sự

Trong thời gian gần đây, nhằm phục vụ hoạt động xây dựng Hiến pháp năm

2013, khoa học pháp lý Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc nghiên cứu chủ nghĩa lập hiến, vị trí, vai trò của Hiến pháp trong việc thúc đẩy quyền con người phát triển; tổ chức bộ máy nhà nước trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và đẩy mạnh hội nhập quốc tế; lịch sử lập hiến Việt Nam và những hạn chế của Hiến pháp năm 1992 cũng như những giải pháp khoa học phục vụ cho việc xây dựng bản Hiến pháp mới khoa học, tiến bộ và phù hợp với nhu cầu phát triển trong thời đại mới Tòa án cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu được khoa học pháp lý đặc biệt quan tâm Những công trình có liên quan đến Tòa án, như: “Bàn về quyền

tư pháp trong Hiến pháp Việt Nam sửa đổi” của GS.TSKH Lê Cảm; “Tổ chức quyền lực tư pháp bảo đảm công lý cho người dân – Một góc nhìn sửa đổi Hiến pháp Việt Nam” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa; “Nâng cao sự độc lập tư pháp: Một trọng tâm của việc sửa đổi Hiến pháp” của TS Đặng Minh Tuấn; “Tổ chức Tòa án theo cấp xét xử trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí

Trang 26

21

Những công trình nghiên cứu đã được khảo cứu chủ yếu đề cập đến yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với quyền tư pháp, vị trí và vai trò của Tòa án trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ công lý cho người dân Đồng thời, chúng đã phân tích những hạn chế của pháp luật và thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án hiện hành Trong các bài viết, các tác giả đã đề xuất những giải pháp khoa học nhằm nâng cao độc lập của Tòa án, Thẩm phán cũng như việc cải cách hệ thống Tòa án theo cấp xét xử đã được định hướng trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài của luận án

Thông qua việc khảo cứu các công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền con người bằng hoạt động tư pháp (chủ yếu là hoạt động xét xử) ở cả hai cấp độ quốc tế

và trong nước như đã đề cập ở trên, tác giả có một số nhận xét, đánh giá các kết quả nghiên cứu như sau:

1.3.1 Những ưu điểm và kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển

Các công trình nghiên cứu (đặc biệt là ở trong nước) đã đề cập và phân tích cơ

sở lý luận của việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng tư pháp trước hết là xuất phát từ mối quan hệ giữa quyền con người và bảo đảm quyền con người trong các quan hệ pháp luật phát sinh trong tố tụng tư pháp Hoạt động xét xử có đặc thù là mang tính tài phán và được bảo đảm bằng quyền lực cưỡng chế của nhà nước, do đó gắn liền với các hoạt động xét xử luôn là sự phát sinh, hạn chế hoặc chấm dứt một

số quyền cơ bản của cá nhân Trong tố tụng Tòa án, các biện pháp bảo đảm pháp lý quyền của các chủ thể tham gia tố tụng bao gồm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; các quy định về thủ tục, trình tự tố tụng, các giai đoạn của tố tụng hình sự, các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật

và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Đây là điểm xuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính tiền đề để tác giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích

cơ sở lý luận về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài đã cung cấp cho tác giả bức tranh toàn diện về khái niệm bảo đảm quyền con người, bảo vệ quyền con người và hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử Những tri thức

Trang 27

22

này (chủ yếu là từ các công trình nghiên cứu nước ngoài) là cơ sở để tác giả luận giải, phân tích những ưu điểm của hoạt động bảo vệ quyền con người bằng Tòa án theo góc nhìn của luật học so sánh và khoa học luật hiến pháp

Một trong những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả của Luận án là các công trình nghiên cứu nói trên đã khái quát khá đầy đủ thực trạng pháp luật quốc tế và Hiến pháp của nhà nước pháp quyền dân chủ về vị trị, vai trò của Tòa án quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người, từ đó giúp tác giả có cơ

sở khoa học để nghiên cứu so sánh với thực trạng vị trí, vai trò của Tòa án Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người cũng như việc xây dựng những giải pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã bước đầu tiếp cận và phân tích một số khía cạnh (góc độ) thể hiện vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người Các phân tích này tiếp tục được tác giả luận án đánh giá, bình luận và từ đó đưa ra nhận định riêng của mình về khái niệm, đặc điểm và nội dung của bảo vệ quyền con người bằng Tòa án cũng như những phương diện cơ bản thể hiện vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người

Các tác phẩm đã luận giải và phân tích các phương diện cơ bản thể hiện vị trí, vai trò của Tòa án trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp khác cũng như trong mối quan hệ giữa quyền lực tư pháp với quyền lực hành pháp và quyền lực lập pháp Dù đặt trong mối quan hệ bên ngoài (quan hệ với quyền lập pháp và quyền hành pháp) hay trong mỗi quan hệ bên trong (quan hệ với các cơ quan tư pháp khác), Tòa án vẫn là thiết chế quan trọng nhất trong việc thực hiện quyền tư pháp; là thiết chế giữ vai trò quyết định đến năng lực, hiệu quả của quyền tư pháp nói riêng, quyền lực nhà nước nói chung

Ngoài ra, các công trình đã đề cập đến những yếu tố tác động tiêu cực đến hiệu quả bảo vệ quyền con người của Tòa án nói riêng, hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và cũng đã đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả bảo vệ quyền con người của hệ thống cơ quan tư pháp, của Tòa án trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

Những đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án Việt Nam trong các công trình nghiên cứu là những tư liệu khoa học quan trọng để luận án tổng

Trang 28

Việc khảo cứu các công trình nghiên cứu đã được đề cập ở trên cho thấy vấn

đề nghiên cứu về vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay còn có những hạn chế và bất cập cần được nghiên cứu, gồm các vấn đề sau:

- Khái niệm bảo vệ quyền con người chưa được các công trình nghiên cứu ở Việt Nam giải quyết thấu đáo, thuyết phục;

- Sự khác biệt giữa bảo vệ với bảo đảm quyền con người chưa được làm rõ;

- Khái niệm “bảo vệ quyền con người bằng Tòa án” đã được sử dụng nhưng chưa được làm rõ nội hàm nên cần được phân tích, chứng minh và làm rõ nội hàm

và đặc điểm "bảo vệ quyền con người bằng Tòa án";

- Việc phân tích và chứng minh những ưu điểm của bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử trên cơ sở so sánh với hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực này vẫn cần được nghiên cứu làm rõ;

- Vị trí và vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người;

- Các yếu tố cơ bản bảo đảm vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế chưa được chứng minh làm rõ nên cần được tiếp tục nghiên cứu;

- Hệ thống tiêu chí đánh giá vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người chưa được xây dựng toàn diện;

- Thực trạng bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử cần được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, cần nghiên cứu đánh giá thực trạng bảo vệ quyền của Tòa

án ở Việt Nam từ năm 1945 đến 2012

Các nghiên cứu nước ngoài đã phân tích và chứng minh hiệu quả thực tiễn của việc bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử của Tòa án Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện hiệu quả bảo vệ quyền con người của Tòa án

Trang 29

- Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

- Các quan điểm của Đảng, Nhà nước về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân;

- Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về "Công tác nhân quyền trong tình hình mới" theo Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí Thư;

- Luận án cũng tiếp thu có chọn lọc các tư tưởng tinh hoa của nhân loại về pháp luật, dân chủ và quyền con người, như thuyết "Giới hạn quyền lực" của Jonh Locke; lý thuyết về phân quyền của Montesquieu (1689-1715)

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, Tòa án là “khiên đỡ cuối cùng” của quyền con người

Nhằm chứng minh giả thuyết khoa học trên, Luận án trực tiếp giải quyết các vấn đề khoa học, gồm:

1 Tại sao trong Nhà nước pháp quyền XHCN, Tòa án có vai trò tối cao và đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quyền con ngươi?

2 Nghiên cứu và làm rõ các yếu tố bảo đảm vai trò tối cao của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong tình hình hiện nay và hướng phát triển đến năm 2020?

Trang 30

25

3 Nghiên cứu, phân tích và làm rõ những hạn chế của Tòa án trong việc bảo

vệ quyền con người, nguyên nhân và giải pháp khắc phục những hạn chế trên để bảo đảm Tòa án là “khiên đỡ cuối cùng” của quyền con người”

1.5 Hướng nghiên cứu của Luận án

Luận án chứng minh giải thuyết nghiên cứu “Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, Tòa án là “khiên đỡ cuối cùng” của quyền con người” trên cơ sở phân tích, luận giải và chứng minh những ưu điểm của hoạt động xét xử trong việc bảo vệ quyền con người trong mối quan hệ với những đặc trưng cơ bản của quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp Trên cơ sở định hướng nghiên cứu đã được xác định, luận án giải quyết các luận điểm khoa học theo các cách tiếp cận, cụ thể:

- Tiếp cận hệ thống: phân tích và đánh giá các vấn đề về quyền lực nhà nước, quyền tư pháp và vị trí và vai trò của Tòa án trong hệ thống cơ quan tư pháp, trong

bộ máy nhà nước được đặt trong một phức hợp những yếu tố có liên quan, tác động qua lại với nhau tạo ra một chỉnh thể thống nhất;

- Tiếp cận liên ngành: Có sự kết hợp tri thức của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn, như khoa học chính trị, khoa học triết, khoa học luật (khoa học luật hình

sự, khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học luật hành chính, khoa học lý luận nhà nước và pháp luật, khoa học luật hiến pháp, khoa học quyền con người)

- Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử được nhất quán sự dụng trong quá trình nghiên cứu đặc biệt là trong quá trình đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người bằng Tòa án ở Việt Nam

- Tiếp cận luật so sánh được sử dụng (chủ yếu so sánh Hiến pháp) trong việc làm rõ các vai trò cơ bản của hoạt động xét xử trong việc bảo vệ quyền con người trong xã hội pháp quyền dân chủ

Trang 31

26

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ

QUYỀN CON NGƯỜI 2.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo vệ quyền con người bằng tòa án

2.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng tòa án

Bảo vệ quyền con người là một khái niệm pháp lý tương đối phức tạp, bởi nội hàm của thuật ngữ quyền con người được hiểu không thống nhất trong các ngành khoa học khác nhau cũng như giữa các nhà khoa học nghiên cứu về nó Nhằm bảo đảm sự thống nhất nội hàm của quyền con người trong luận án, khái niệm quyền con người được sử dụng trong quá trình nghiên cứu được hình thành trên cơ sở đối chiếu và so sánh các khái niệm đã được sử dụng trong các công trình khoa học pháp

lý quốc tế và Việt Nam (đặc biệt là khái niệm được trình bày trong Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Từ điển luật học), quyền con người, trong

luận án được hiểu: là quyền của thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất

cả mọi người Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia[101, tr.648]

Khái niệm trên cho thấy “tự nhiên tính” là đặc trưng cơ bản của quyền con người Tất cả các cá nhân sinh ra đều có quyền con người và đều có quyền được tôn trọng, được bảo vệ trước những hành vi vi phạm các quyền ấy Nhu cầu bảo vệ quyền con người cũng chính là nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân khi họ lâm vào hoàn cảnh bị đe dọa thiệt hại (hoặc bị thiệt hại) nhân phẩm, lợi ích và năng lực của bản thân Sự ra đời của các cơ chế bảo vệ quyền bên ngoài cá nhân (trong đó có cơ chế bảo vệ quyền con người của nhà nước) cũng không nhằm bất kỳ một mục đích nào khác ngoài việc cung cấp cho cá nhân phương thức và biện pháp bảo vệ hiệu quả khi họ nhận thấy bản thân khó chống lại được các hành vi hoặc nguy cơ đe dọa gây thiệt hại quyền của họ Chính vì, hình thành trên cơ sở nhu cầu (ý chí) của cá nhân mang quyền nên cách thức, biện pháp và cơ chế bảo vệ quyền con người đa dạng và phong phú Cá nhân, vì bảo vệ quyền của mình, có thể thực hiện bất kỳ hoạt động bảo vệ nào mà họ cho là hữu hiệu Họ có thể bảo vệ quyền của mình bằng cơ chế bảo vệ phi quyền lực nhà nước hoặc cơ chế quyền lực nhà nước

Trang 32

27

Bên cạnh tính tự nhiên, quyền con người mang tính pháp lý “được ghi nhận trong pháp luật” Tính pháp lý là phương diện thể hiện bản chất xã hội của quyền con người trong điều kiện xã hội tồn tại nhà nước và pháp luật Tính pháp lý là cơ

sở để xã hội cung cấp các cơ chế bảo vệ quyền con người cho cá nhân Thông qua việc ghi nhận các quyền con người trong pháp luật, nhà nước và pháp luật cung cấp những cơ chế pháp lý để bảo vệ những chuẩn mực pháp luật về quyền con người được tôn trọng và thực hiện trong đời sống xã hội Nhằm bảo đảm nội dung tính pháp lý của quyền con người không mâu thuẫn với tính tự nhiên của quyền con người, pháp luật ghi nhận quyền con người luôn có sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu

và lợi ích phổ biến của tất cả các thể nhân với những nhu cầu và lợi ích đặc thù của những nhóm người, dân tộc cụ thể Do đó, cơ sở pháp lý bảo vệ quyền con người không chỉ là pháp luật quốc gia mà còn cả pháp luật quốc tế về quyền con người

Sự đa dạng của pháp luật ghi nhận quyền con người dẫn đến có nhiều cơ chế pháp lý khác nhau bảo vệ quyền con người Bên cạnh các cơ chế quốc gia bảo vệ quyền thì vai trò của các cơ chế quốc tế (gồm: Cơ chế khu vực và cơ chế toàn cầu) trong việc bảo vệ quyền con người ngày càng được khẳng định Trong các cơ chế bảo vệ quyền con người cơ chế quốc gia có lịch sử lâu đời và đã chứng minh được hiệu quả bảo vệ trong thực tiễn nên tiếp tục được thừa nhận là cơ chế đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con người

Bên cạnh sự phức tạp của nội hàm quyền con người thì nội dung của thuật ngữ bảo vệ cũng làm cho khái niệm bảo vệ quyền con người càng khó khái quát Trong ngôn ngữ tiếng Anh, bảo vệ được dùng bởi từ protect (v) có nội hàm là một người hoặc một thực vật, động vật thực hiện một hành vi phản ứng nhằm giữ an toàn cho

bản thân; chống lại sự xâm hại của một người hay một sự vật nào đó (st/sb

(against/from sth) to keep sb/sth safe; to defend sb/sth)[115, tr.558] Theo từ loại

danh từ là protection (n): The act of keeping sb/sth safe so that they or it are not harmed or damaged [115, tr.558] (đó là những hoạt động nhằm giữ cho người hoặc

sự vật an toàn vì thế mà những hoạt động đó không gây hại hoặc hủy hoại người hoặc sự vật được bảo vệ) Trong ngôn ngữ tiếng Việt, bảo vệ có nghĩa là (1) chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho được nguyên vẹn; (2) bênh vực bằng

lý lẽ để giữ vững ý kiến hay quan điểm [55, tr.64] Theo nội dung ngữ nghĩa của

Trang 33

28

thuật ngữ bảo vệ thì “bảo vệ quyền con người” là những hoạt động chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm nhân phẩm, lợi ích, nhu cầu và năng lực để giữ gìn cho quyền con người được nguyên vẹn

Từ nội dung của thuật ngữ “bảo vệ” và những tính chất, nội dung của quyền con người cho thấy “bảo vệ quyền con người” có nội dung cốt lõi là chống lại mọi

sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho “nhân phẩm, lợi ích, nhu cầu và năng lực” của tất cả mọi người trong xã hội được “nguyên vẹn” và tồn tại an toàn Điều này dẫn đến đối tượng được bảo vệ đa dạng và phong phú; nội dung, tích chất và chủ thể thực hiện bảo vệ cũng vì thế mà khó giới hạn được Chính vì thế, tương tự như khái niệm quyền con người, khái niệm bảo vệ quyền con người cũng được diễn giải

và khái quát khác nhau trong các lĩnh vực khoa học khác nhau Bởi Luận án là công trình nghiên cứu thuộc khoa học luật hiến pháp nên việc nhận diện “bảo vệ quyền con người” được giới hạn bởi đặc tính pháp lý của quyền con người cũng như sự ràng buộc của pháp luật đối với những hành vi chống lại sự hủy hoại, xâm phạm quyền con người Điều này có nghĩa là:

Thứ nhất, trong khoa học pháp lý, hoạt động chống lại sự hủy hoại, xâm phạm

quyền con người không bao hàm tất cả hành vi tồn tại trong xã hội có mục đích trên

mà chỉ là những hành vi được pháp luật thừa nhận cho cá nhân, tổ chức và nhà nước được thực hiện khi nhận biết được hành vi hủy hoại, xâm phạm quyền con người Hay nói cách khác, hành vi bảo vệ phải là những hành vi không bị pháp luật cấm, không trái pháp luật mà phải là những hành vi hợp pháp được thực hiện nhằm chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho quyền con người được nguyên vẹn

Thứ hai, trong khoa học pháp lý, chủ thể bảo vệ quyền con người không bao

hàm tất cả các chủ thể có khả năng bảo vệ quyền con người trong xã hội mà chỉ là những chủ thể được pháp luật yêu cầu phải bảo vệ khi cá nhân, tổ chức và Nhà nước nhận thấy cần thiết Điều này có nghĩa chủ thể bảo vệ quyền con người là những cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước được pháp luật quy định có nghĩa vụ pháp lý thực thi hoạt động bảo vệ quyền con người trước những hành vi xâm hại quyền hoặc những nguy cơ đe dọa hạn chế, tước đoạt quyền con người

Trang 34

29

Thứ ba, hành vi bảo vệ không bao hàm tất cả các hành vi do ý chí chủ quan

của người thực hiện quyết định mà được giới hạn bởi những quy định của pháp luật

về nội dung, hình thức và phương thức thực hiện

Trên cơ sở các phương diện đã được giới hạn, “bảo vệ quyền con người” được hiểu là tổng thể những hoạt động phòng ngừa, trừng trị hành vi vi phạm quyền con người và khôi phục quyền đã bị hạn chế, tước bỏ bởi hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người được thực hiện bởi những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền con

người

Nội hàm khái niệm bảo vệ quyền con người cho thấy việc bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng nhiều cơ chế pháp lý khác nhau và do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, việc bảo vệ quyền con người chủ yếu do nhà nước thực hiện Trong các cơ quan thực hiện hoạt động bảo vệ quyền con người thì tòa án (cơ quan được trao thực hiện quyền tư pháp) giữ vị trí và vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người Tòa án bảo vệ quyền con người như thế nào là một trong những vấn đề pháp lý còn nhiều quan điểm khác nhau Việc xác định nội hàm của hoạt động bảo vệ quyền con người bằng Tòa án phụ thuộc vào quan niệm của pháp luật về chức năng của Tòa án

Ở những nước quan niệm quyền tư pháp do tòa án thực hiện thì có sự đồng nhất giữa khái niệm bảo vệ quyền con người bằng tòa án với khái niệm bảo vệ quyền con người bằng quyền tư pháp Ở những nước quan niệm quyền tư pháp (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thì hoạt động tư pháp được trao cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện trong đó tòa án -chủ thể trung tâm của quyền tư pháp thực hiện hoạt động xét xử cho nên bảo

vệ quyền con người bằng toàn án được hiểu là bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử

Mặc dù có sự khác nhau về thuật ngữ thể hiện phương thức bảo vệ quyền con người của tòa án, hai quan niệm này có sự thống nhất về mặt nội dung bên trong của bảo vệ quyền con người bằng tòa án Đó là, đều coi hoạt động xét xử là phương thức cơ bản để tòa án bảo vệ quyền con người Như vậy, nội dung cơ bản của bảo

vệ quyền con người bằng tòa án chính là bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử

Trang 35

30

Xét xử là việc tòa án nhân danh quyền lực nhà nước, nhân danh công lý phán quyết tính hợp pháp của hành vi pháp lý đã xảy ra trên cơ sở những chứng cứ, lập luận do các bên cung cấp và trên cơ sở pháp luật buộc cá nhân, tổ chức hay nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý hoặc được thụ hưởng những quyền nhất định nhằm bảo vệ công lý và quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước và xã hội đồng thời bảo vệ trật tự pháp luật

Trên cơ sở nội dung của hoạt động xét xử và nội dung của khái niệm bảo vệ quyền con người thì “bảo vệ quyền con người bằng tòa án” là hoạt động trừng phạt những hành vi vi phạm quyền con người, khôi phục lại những quyền con người đã

bị hạn chế, tước đoạt được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng tư pháp nhằm bảo đảm cho các quyền của cá nhân được tôn trọng và thực hiện trong đời sống xã hội

2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của bảo vệ quyền con người bằng tòa án Nội hàm của khái niệm bảo vệ quyền con người bằng tòa án cho thấy hoạt động bảo vệ này có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án là hoạt động mang tính quyền lực cưỡng chế mạnh mẽ

Quyền lực tư pháp là một bộ phận của quyền lực nhà nước Quyền lực tư pháp được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều có nội dung cốt lõi là xét xử cho nên xét xử chính là một loại hoạt động quyền lực nhà nước Nhằm bảo đảm cho hoạt động quyền lực nhà nước này có hiệu quả, pháp luật đã trao cho nhiều cơ quan nhà nước thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ Trong các hoạt động quyền lực nhà nước, xét xử là loại hoạt động quyền lực mang tính cưỡng chế nghiêm khắc Thông qua hoạt động xét xử, tòa án khẳng định tính hợp pháp của hành vi pháp lý và quyết định áp dụng chế tài pháp lý đối với những người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Chế tài pháp lý là một trong những đối tượng thể hiện mạnh mẽ nhất quyền lực cưỡng chế của quyền lực nhà nước Các biện pháp chế tài được áp dụng sẽ hạn chế, thậm chí tước quyền và lợi ích thiết yếu nhất của người vi phạm pháp luật, như: quyền sở hữu (tương ứng chế tài phạt tiền), quyền tự do (tương ứng hình phạt tù, chung thân), quyền sống (tương ứng với hình phạt tử hình) Bên cạnh đó, tính cưỡng chế của hoạt động xét xử còn được thể hiện rõ ràng qua các cơ chế bảo đảm

Trang 36

31

thi hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong các hình thức

áp dụng chế tài pháp lý thì áp dụng chế tài pháp lý thông qua hoạt động xét xử được pháp luật bảo đảm thi hành nghiêm minh và triệt để nhất Nghĩa vụ chấp hành phán quyết của tòa án không chỉ là nghĩa vụ pháp lý thông thường mà là một loại nghĩa

vụ hiến định Vì dụ: Ở Việt Nam, nhằm bảo đảm việc thi hành nghiêm minh các bản

án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Hiến pháp quy định: “Các bản án

và quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước,

tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 136 Hiến pháp năm 1992) Đồng thời, Bộ luật Hình sự quy định rõ những hành vi

“không chấp hành án”, “không thi hành án” hoặc “cản trở thi hành án” đều có thể bị trừng trị nghiêm khắc bằng chế tài hình phạt nếu những hành vi đó cấu thành các tội quy định trong Bộ luật Hình sự như: “không chấp hành án” (Điều 304), “không thi hành án” (Điều 305), “cản trở thi hành án” (Điều 306)[63]

- Bảo vệ quyền con người bằng tòa án chịu sự chi phối toàn diện của pháp

luật

Thứ nhất, địa vị pháp lý của tòa án được Hiến pháp ghi nhận và trao quyền tối

cao cho tòa án trong việc xét xử hành vi vi phạm pháp luật, ví dụ: Điều 127 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam, Điều 66, Hiến pháp Công hòa Pháp năm 1958; Điều

31 Hiến pháp Nhật Bản (1946) Sự bảo đảm của Hiến pháp về địa vị xét xử tối cao của Tòa án là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền lực nhà nước mạnh mẽ của hoạt động xét xử đồng thời là phương diện thể hiện rõ ràng nhất tính pháp lý của hoạt động xét

xử

Thứ hai, hoạt động xét xử là loại hoạt động quyền lực có tính hình thức pháp

lý nghiêm ngặt Toàn bộ tiến trình và thủ tục tiến hành xét xử đều được pháp luật quy định và được pháp luật yêu cầu tuân thủ nghiêm minh Thẩm quyền và cơ cấu

tổ chức hệ thống tòa án cũng được giới hạn bởi những quy định của pháp luật Nội dung và căn cứ phán quyết của tòa án phải dựa trên cơ sở nội dung của các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi pháp lý được xét xử Tòa án không có quyền xét

xử những hành vi không thuộc phạm vi thẩm quyền pháp luật quy định Phán quyết

Trang 37

32

của tòa án không được trái với nội dung của pháp luật điều chỉnh hành hành vi pháp

lý được xét xử

Thứ ba, nội dung của bản án, quyết định của tòa án chịu sự chi phối của pháp

luật ghi nhận quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vụ việc nếu là dân sự) đang giải quyết Theo quy định của pháp luật, Tòa án không được vì bất kỳ một lý do nào

mà đưa ra phán quyết trái (hoặc khác) với quy định của pháp luật, bởi tinh thần của Hiến pháp đã chỉ rõ: “trong quá trình xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”[61] Chính vì chịu sự ràng buộc toàn diện và nghiêm ngặt như vậy nên hoạt động xét xử có khả năng tiệm cận với công bằng và công lý xã hội Như vậy, bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử là loại hoạt động bảo vệ quyền con người được thực hiện trên cơ sở pháp luật và chịu sự ràng buộc toàn diện của pháp luật về mặt nội dung, thể chế và hình thức pháp lý của nó

- Bảo vệ quyền con người bằng tòa án được hình thành trên cơ sở nhu cầu của

cá nhân, nhà nước

Bảo vệ quyền con người chủ yếu được thực hiện khi các chủ thể của quyền con người hoặc xã hội mà đại diện là nhà nước nhận thấy cần thiết phải tiến hành các hoạt động bảo vệ nhằm bảo đảm cho quyền con người được tôn trọng Trong trường hợp chủ thể của quyền con người và nhà nước không có nhu cầu bảo vệ quyền con người thì bảo vệ quyền con người khó được thực hiện trong đời sống xã hội Điều này cho thấy nhu cầu cần được bảo vệ là yếu tố trực tiếp thúc đẩy các chủ thể của quyền con người, nhà nước thực hiện hoạt động bảo vệ quyền con người Nhà nước cũng như cá nhân chỉ thực hiện hoạt động bảo vệ quyền con người khi họ nhận thức được những nguy cơ đe dọa gây thiệt hại quyền con người hoặc những hành vi hạn chế, tước đoạt quyền con người Nếu nhận thức được những nguy cơ tất yếu sẽ đe dọa đến sự an toàn của quyền con người thì nhà nước, cá nhân sẽ thực hiện những hoạt động cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của những nguy cơ đó đến quyền con người Trong trường hợp nhà nước, chủ thể của quyền con người bị những hành vi vi phạm quyền con người hạn chế, tước đoạt quyền thì nhà nước, chủ thể của quyền con người sẽ thực hiện những hoạt động mang tính phản kháng, chống cự lại hành vi xâm hại quyền để bảo vệ sự

an toàn của quyền hoặc khôi phục lại quyền bị xâm hại

Trang 38

33

Việc phòng ngừa các hành vi gây hại quyền con người được thực hiện bởi nhiều hoạt động pháp lý khác nhau trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật Xây dựng pháp luật là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa hành vi gây hại quyền con người vì pháp luật có tính dự báo và có khả năng tác động mạnh

mẽ đến việc lựa chọn hành vi pháp lý của cá nhân, tổ chức trong xã hội Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, những hành vi có khả năng gây thiệt hại quyền, lợi ích của cá nhân sẽ bị pháp luật hạn chế bằng việc cấm thực hiện và biện pháp trừng phạt nếu thực hiện Những quy định đó tác động đến tâm lý và ý chí của cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước khiến họ từ bỏ ý định thực hiện hành vi xâm hại quyền con người Hiệu quả của pháp luật trong việc phòng ngừa hành vi xâm hại quyền con người còn được bảo đảm bởi tính quyền lực nhà nước của pháp luật Pháp luật được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thi hành bằng quyền lực cưỡng của nhà nước nên cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nước khó trốn trách được trách nhiệm pháp lý nếu thực hiện hành vi vi phạm

Hoạt động bảo vệ có tính phản kháng, chống cự lại hành vi vi phạm quyền con người được thực hiện khi có hành vi xâm hại quyền con người xảy ra Ở phương diện tâm lý, việc phản kháng, chống cự lại hành vi xâm hại quyền con người là một nhu cầu của thể nhân nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của thể nhân Dù xã hội có cung cấp cơ chế bảo vệ hay không thì bản thân các cá thể cũng tự mình kháng cự, chống lại những hành vi tước đoạt, xâm hại quyền của họ Hoạt động này, vì thế, gắn liền với tính chủ động của cá nhân Khi nào cá nhân nhận thức được những quyền của mình bị hành vi của người khác tước đoạt hoặc xâm hại thì lúc đó

họ mới kháng cự lại, chống lại chúng Trong trường hợp cá nhân không nhận biết được hành vi nào đó đã, đang xâm hại quyền của mình hoặc họ nhận thức được nhưng không muốn kháng cự lại, không muốn chống lại thì hoạt động bảo vệ khó xảy ra Vì thế, ý chí và mong muốn được bảo vệ của người bị xâm hại quyền là yếu

tố cơ bản dẫn đến việc thực thi hành động bảo vệ quyền có tính chất phản kháng, chống cự lại hành vi vi phạm quyền con người

Trong xã hội tự nhiên, bảo vệ quyền con người là hoạt động tự thân của các cá nhân nhằm bảo đảm cho cá nhân được an toàn và phát triển Trong xã hội có nhà nước, nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực công cộng tỏ ra có hiệu quả trong

Trang 39

34

việc trừng trị những hành vi vi phạm quyền con người của các thành viên trong cộng đồng Tuy nhiên, nguồn gốc ra đời và bản chất của nhà nước cho thấy nhà nước khó chủ động bảo vệ quyền của cá nhân riêng lẻ nếu công việc này không hề gắn liền với lợi ích thiết thân của nhà nước Nhà nước chỉ thực hiện hoạt động bảo

vệ quyền con người cho cá nhân khi cá nhân yêu cầu hoặc trong trường hợp nhà nước thấy thật cần thiết (trường hợp nhà nước nhận thấy hành vi đó đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước) Tòa án -thông qua hoạt động xét xử- được nhà nước trao quyền trừng phạt hành vi vi phạm pháp luật, phục hồi quyền và lợi ích của cá nhân, lợi ích của nhà nước, xã hội Lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội cho thấy tòa án hiếm khi tự mình xét xử để trừng phạt hành vi nào đó xâm hại đến quyền của cá nhân mà hành vi đó không hề xâm hại hay ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà nước Những cá nhân bị hành vi vi phạm pháp luật đe dọa gây hại nếu muốn được tòa án xét xử để trừng phạt, phục hồi quyền và lợi ích của mình thì phải có yêu cầu tòa án xét xử Chính vì thế, hoạt động bảo vệ quyền con người của tòa án là loại hoạt động bảo vệ bằng quyền lực nhà nước đề cao tính tự giác và chủ động của người cần được bảo vệ

Bên cạnh việc tôn trọng và đề cao tính chủ động, tích cực của chủ thể bị xâm hại quyền trong việc thể hiện nhu cầu cần được cung cấp hành vi chống lại hành vi xâm hại Tính chủ động của người có quyền bị xâm hại còn được tiếp tục thể hiện trong quá trình tòa án thực hiện hoạt động xét xử Trong quá trình xét xử, các bên yêu cầu bảo vệ quyền phải tự mình thu thập chứng cứ, xây dựng các lập luận, nghiên cứu căn cứ pháp lý để chứng minh những thiệt hại của mình cũng như tính bất hợp của của hành vi xâm hại quyền Phán quyết của tòa án được hình thành trên

cơ sở những chứng cứ, tình tiết và những lập luận do các bên cung cấp Trong các hoạt động bảo vệ quyền con người, xét xử là hoạt động bảo vệ đề cao tính chủ động, tích cực của cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện Thuộc tính này tác động tích cực đến hiệu quả bảo vệ quyền con người của tòa án Ở phương diện tâm lý, những

gì con người đã nhận thức được mình đang bị thiệt hại, đang bị tước đoạt một cách bất công thì họ có động lực để đấu tranh và ý chí đấu tranh sẽ kiên quyết hơn trong việc giành lại, khôi phục lại những quyền, lợi ích vốn thuộc về mình Sự chủ động của cá nhân bị xâm hại quyền con người trong quá trình bảo vệ quyền còn thể hiện

Trang 40

35

được bản chất vốn có của quyền con người Quyền con người là quyền tự nhiên của

cá nhân nên ở mức độ nào đó, cá nhân phải có nghĩa vụ bảo vệ quyền của mình và phải chứng minh, thuyết phục người khác là quyền của mình đang bị những hành vi của chủ thể khác xâm hại Quyền là của cá nhân thì nhu cầu khôi phục quyền, nhu cầu loại trừ hành vi xâm hại quyền tất yếu có khởi nguồn từ mong muốn của cá nhân đó Chính vì thế, giáo dục và nâng cao nhận thức quyền con người cho người dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao ý thức đấu tranh phòng, chống hành vi xâm hại quyền con người của các cá nhân trong xã hội Ý thức về quyền con người và ý thức đấu tranh chống lại hành vi xâm hại quyền con người của người dân là một trong những nên tảng xã hội quan trọng bảo đảm cho tòa án phát huy được vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền con người

- Bảo vệ quyền con người bằng tòa án được thực hiện công khai, độc lập và bảo đảm công bằng

Quyền con người là quyền tự nhiên của cá nhân Quyền con người do tư cách làm người quy định hay là do Tạo hóa ban tặng cho cá nhân Điều này không có nghĩa quyền con người tồn tại bên ngoài xã hội, bên ngoài các mối quan hệ xã hội

Sự nhận thức về quyền và nhu cầu bảo vệ quyền chỉ thực sự tồn tại trong đời sống

xã hội thông qua việc các cá nhân tham gia các quan hệ xã hội Các cá nhân tham gia quan hệ xã hội luôn ý thức về những quyền và lợi ích mà mình được hưởng, đồng thời cũng nhận thức được nghĩa vụ mà mình phải thực hiện Nếu các bên luôn tôn trọng quyền và lợi ích của những bên còn lại trong các quan hệ xã hội và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình thì quyền con người khó bị xâm hại Quyền con người và những lợi ích do quyền mang lại bị xâm hại khi có một (hoặc nhiều bên) trong quan hệ xã hội không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện không đầy

đủ nghĩa vụ của mình Điều này cho thấy sự thiệt hại về quyền con người của một trong các bên chỉ xảy ra khi có hành vi vi phạm của chủ thể có nghĩa vụ tương ứng trong quan hệ xã hội Và do vậy, người có quyền bị xâm hại có thể đấu tranh, đòi hỏi quyền và lợi ích của mình từ những chủ thể đã vi phạm quyền ấy Nhưng thực tiễn cho thấy, các bên mâu thuẫn với nhau khó tự mình giải quyết được, bởi bên nào cũng ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích của mình Chính vì thế, các bên luôn cần đến

Ngày đăng: 17/09/2014, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Đăng Dung và Vũ Công Giao, Độc lập tư pháp – Lý luận và thực tiễn, đăng trên http://www.nclp.org.vn/, truy cập ngày 23/4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.nclp.org.vn/
14. Lưu Tiến Dũng (2012), Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Tác giả: Lưu Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Tư pháp. Hà nội
Năm: 2012
15. Trịnh Hồng Dương (1996) chủ nhiệm đề tài “Vị trí, vai trò và chức năng của Toà án nhân dân trong bộ máy nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam” MS: 95-98-048/ĐT. Quyễn 1, Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò và chức năng của Toà án nhân dân trong bộ máy nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, IX, X, XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, IX, X, XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
21. Đảng cộng Sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sửa đổi và phát triển năm 2011, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sửa đổi và phát triển năm 2011
Tác giả: Đảng cộng Sản Việt Nam
Năm: 2011
22. Phạm Hoàng Giang (2007), Vai trò của án lệ với sự phát triển của pháp Luật hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phạm Hoàng Giang
Năm: 2007
23. Võ Trí Hảo (2003), Vai trò giải thích pháp luật của Tòa án, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Võ Trí Hảo
Năm: 2003
24. Nguyễn Đức Hiệp (2004), Những yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đối với họat động xét xử của tòa án, Tạp chí Pháp lý, số 09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Hiệp (2004), Những yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đối với họat động xét xử của tòa án, "Tạp chí Pháp lý
Tác giả: Nguyễn Đức Hiệp
Năm: 2004
25. Hội luật gia Việt Nam (2013), Chỉ số công lý: Thực trạng công bằng và bình đẳng dựa trên ý kiến của người dân năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số công lý: Thực trạng công bằng và bình đẳng dựa trên ý kiến của người dân năm 2012
Tác giả: Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2013
26. Nguyễn Thị Hồi (2011), Câu hỏi ôn tập môn lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi ôn tập môn lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Hồi
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2011
27. Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức Bộ máy nhà nước ở một số nước, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức Bộ máy nhà nước ở một số nước
Tác giả: Nguyễn Thị Hồi
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
28. Tô Văn Hoà (2007), Tính độc lập của toà án- Nghiên cứu pháp lý về khia cạnh lý luận, thực tiến ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính độc lập của toà án- Nghiên cứu pháp lý về khia cạnh lý luận, thực tiến ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam
Tác giả: Tô Văn Hoà
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
29. Khoa luật- Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người – Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của Ủy ban công ước Liên hợp quốc, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người – Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của Ủy ban công ước Liên hợp quốc
Tác giả: Khoa luật- Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2010
30. Vũ Đức Khiển (2006), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN vủa dân, do dân, vì dân, MS:KX.04.05, Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN vủa dân, do dân, vì dân
Tác giả: Vũ Đức Khiển
Năm: 2006
31. Hoàng Thế Liên (2006), Xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật phục vụ cải cách tư pháp một nhiệm vụ trong tâm của ngành tư pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Năm: 2006
32. Trần Huy Liệu (2005), Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Trần Huy Liệu
Năm: 2005
33. Trương Đắc Linh (2009), Bàn về tài phán hiến pháp và thẩm quyền của cơ quan tài phán hiến pháp ở Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tài phán hiến pháp và thẩm quyền của cơ quan tài phán hiến pháp ở Việt Nam
Tác giả: Trương Đắc Linh
Năm: 2009
120. www.sotaythamphan.gov.vn/view_index.php?hidEvent=selectChapter&hidChapter=270 Link
121. www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=5454, truy cập lúc 15h, ngày 05/9/2013, 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW trong ngành Tòa án: Tranh tụng tại phiên tòa tiếp tục là khâu đột phá Link
122. www.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_th%E1%BA%A7n_C%C3%B4ng_l%C3%BD Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w