Về phương diện thực tiễn Hát Xắng Cọ là một làn điệu dân ca cổ truyền của người Sán Chỉ - một sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn.. Nghiên cứu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HÁT XẮNG CỌ CỦA NGƯỜI SÁN CHỈ
Ở LỘC BÌNH, LẠNG SƠN - NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HÁT XẮNG CỌ CỦA NGƯỜI SÁN CHỈ
Ở LỘC BÌNH, LẠNG SƠN - NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Nguyễn Hằng Phương
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Khoa sau đại học; Ban chủ nhiệm; quý Thầy, Cô giáo khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý Thầy, Cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Hằng Phương, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong
suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn bà Hoàng Thị Phát, bà Ấu Thị Nga Sơn người đã giúp tôi trong quá trình sưu tầm tư liệu để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 08 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 10
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ - CƠ SỞ TÌM HIỂU HÁT XẮNG CỌ Ở LỘC BÌNH, LẠNG SƠN 10
1.1 Tổng quan về dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn 10
1.1.1 Vài nét về cộng đồng người Sán Chỉ ở Việt Nam 10
1.1.2 Vài nét về cộng đồng người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn 14
1.1.3 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn 16
1.2 Một số vấn đề chung về hát Xắng Cọ 23
1.2.1 Khái niệm Hát Xắng Cọ 23
1.2.2 Nguồn gốc của Hát Xắng Cọ 24
1.3 Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn 28
1.3.1 Hát Xắng Cọ trong đời sống văn hóa của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn 28
1.3.2 Hình thức diễn xướng và quy trình Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn 29
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HÁT XẮNG CỌ Ở LỘC BÌNH, LẠNG SƠN 40
2.1 Những bài chào hỏi, kết bạn 40
2.2 Những bài hát về tình yêu đôi lứa 46
2.2.1 Tình yêu và sự thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu 47
2.2.2 Tình yêu và lời ước hẹn thủy chung 51
Trang 62.2.3 Tình yêu và sự dang dở ngậm ngùi 54
2.3 Những bài hát thể hiện tri thức dân gian 57
2.3.1 Những bài hát về vòng giáp đời người 57
2.3.2 Những ứng xử của người Sán Chỉ trong cuộc sống 60
2.4 Những bài hát ca ngợi cuộc sống, con người, quê hương đất nước 64
2.4.1 Những bài hát truyền thống 64
2.4.2 Những bài hát thời hiện đại 67
Chương 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU CỦA HÁT XẮNG CỌ Ở LỘC BÌNH, LẠNG SƠN 71
3.1 Thể thơ, kết cấu 71
3.1.1 Thể thơ 71
3.1.2 Kết cấu 77
3.2 Một số biểu tượng tiêu biểu 83
3.2.1 Biểu tượng “hoa” 84
3.2.2 Biểu tượng “chim” 89
3.2.3 Biểu tượng “cá” 91
3.3 Thời gian và không gian nghệ thuật 94
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 95
3.3.2 Không gian nghệ thuật 100
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 119
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về phương diện khoa học
Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, nơi hội tụ văn hóa của các dân tộc Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Mông, Sán Chay
và một số dân tộc khác Chính điều này đã tạo nên vùng văn hóa xứ Lạng đặc sắc Một trong những nét đặc sắc của văn hóa xứ Lạng đó là Hát Xắng Cọ của dân tộc Sán Chỉ Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng vốn có của người Sán Chỉ ở huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn Hát Xắng Cọ còn ít người biết tới Do vậy, việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị của Hát Xắng Cọ là sự trăn trở của nhiều người có tâm huyết với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Thực tế từ trước tới nay, Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình đã được một số người sưu tầm và dịch nhưng với số lượng rất hạn chế, chưa có sự quan tâm, nghiên cứu một cách khoa học về giá trị nội dung và nghệ thuật Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điền dã và sưu tầm những bài Hát Xắng Cọ lưu truyền trong dân gian với số lượng đáng kể
1.2 Về phương diện thực tiễn
Hát Xắng Cọ là một làn điệu dân ca cổ truyền của người Sán Chỉ - một sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn Nghiên cứu những nét cơ bản về giá trị nội dung và nghệ thuật của Hát Xắng Cọ trong đời sống văn hóa dân gian của người Sán Chỉ ở địa phương Lộc Bình, Lạng Sơn sẽ góp phần khẳng định, gìn giữ, bảo lưu và phát huy nét đẹp truyền thống vốn có của văn hóa dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn nói riêng, các dân tộc thiểu số của Việt Nam nói chung trên con đường tìm về với bản sắc cội nguồn dân tộc
Xuất phát từ những phương diện nêu trên chúng tôi chọn “Hát Xắng
Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn - Những đặc điểm nội dung
Trang 8và nghệ thuật” làm đề tài nghiên cứu của mình Đề tài này không chỉ có giá
trị trong lĩnh vực nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian của các dân tộc ít người mà còn mang ý nghĩa thiết thực đối với tôi - một giáo viên dạy Ngữ văn
ở xứ Lạng Chúng tôi mong muốn được khám phá, tôn vinh, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa có sức sống bền bỉ của dân tộc Sán Chỉ nói riêng, các dân tộc thiểu số ở xứ Lạng nói chung
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ
Nhắc đến những giá trị văn hóa - nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta, trước hết phải nói đến những giá trị to lớn của vốn văn học dân gian
cổ truyền của mỗi dân tộc Trong đó, dân tộc Sán Chỉ có những đóng góp đáng kể Qua quá trình lao động sản xuất và chiến đấu, người Sán Chỉ đã sáng tạo nên một kho tàng vô cùng giàu có về văn nghệ dân gian Tuy vậy, trước Cách mạng tháng Tám, cũng như nhiều dân tộc khác, người Sán Chỉ không có kho lưu trữ, thư viện, nhà xuất bản Văn học chủ yếu được lưu chuyển thông qua hình thức truyền miệng Cũng do ưu thế của thể loại mà những bài hát Xắng Cọ được truyền cho các thế hệ nối tiếp nhau trong những dịp lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, … trong tâm hồn, trí tuệ và tình cảm của những người yêu mến thơ ca dân gian dân tộc
Từ sau Cách mạng tháng Tám, nhờ chính sách bảo tồn văn hóa các dân tộc của Đảng, nhà nước, việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy những giá trị truyền thống như Hát Xắng Cọ đã bươc đầu được quan tâm, chú ý Song do nhiều lý do khác nhau như: trình độ người nghiên cứu, hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, do nhận thức, quan niệm… mà công việc lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa bị mai một, chưa đạt được hiệu quả cao Trước những năm 1970, những công trình nghiên cứu, sưu tầm về Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ hầu như không có, hoặc giới thiệu rất sơ lược, khái quát Từ khi Bộ
Trang 9Văn hóa đã có chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể thì đã có nhiều công trình nghiên cứu, dự án, sưu tầm về Hát Xắng Cọ Theo trình tự thời gian và từng mảng nghiên cứu, một số công trình, dự án có liên quan đến đề tài xuất hiện như:
- Dự án điều tra, sưu tầm tục hát Soóng Cọ (tên gọi địa phương) của người Sán Chỉ ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh - Chủ nhiệm dự án Nguyễn Văn Sĩ - GĐ Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ninh (1998), dự án
có đoạn viết: “Soóng Cọ không chỉ là một hình thức văn hóa - nghệ thuật rất
có ý nghĩa trong đời sống tinh thần của người Sán Chỉ, mà còn thể hiện cả một thế ứng xử xã hội qua các quy định chặt chẽ trong thực hành Soóng Cọ, ở
đó thể hiện thẩm mĩ văn hóa trong giao lưu giữa các nhóm cộng đồng của tộc người Sán Chỉ” [43, tr 9] Tuy nhiên, dự án cũng mới chỉ đưa ra những nét
khái quát nhất về giá trị văn hóa truyền thống trong tục hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ ở Quảng Ninh nghĩa là thiên về nghiên cứu văn hóa mà chưa chú ý đến giá trị nội dung và nghệ thuật của Hát Soóng Cọ
- Đề tài Hát dân ca - Dân tộc Sán Chay – Nhóm Sán Chí xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ( Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Xuân Cần) năm
1999 đã bước đầu điều tra, khảo sát, tìm hiểu về dân ca của người Sán Chí ở
Kiên Lao - Lục Ngạn, Bắc Giang “Đó là ca ngợi cảnh đẹp quê hương, ca
ngợi lao động, mong muốn cuộc sống ấm no hạnh phúc và tính chất trữ tình, gửi gắm lời yêu thương ca ngợi cuộc sống lứa đôi Tất cả những bài thơ, lời
ca ấy theo năm tháng được gọt giũa và được hát lên với giai điệu êm ái, khoan thai nhẹ nhàng và làm lắng đọng trong lòng người một cái gì đó man mác, mênh mông nhưng hết sức gần gũi thiết tha Hát dân ca của người Sán Chí là một kho tàng di sản văn hóa đa dạng, phong phú về loại hình, có giá trị cao về nghệ thuật” [41, tr 107-108] Đề tài đã khảo sát về hát dân ca của
dân tộc Sán Chay- nhóm Sán Chí ở Kiên Lao - Lục Ngạn, Bắc Giang, bước
Trang 10đầu tìm hiểu ca từ dân ca Sán Chí và một số đề nghị về công tác bảo tồn dân
ca của người Sán Chí
- Năm 2002, Bảo tàng Bắc Giang xuất bản cuốn Dân ca Sán Chí ở Kiên
Lao – Lục Ngạn, Bắc Giang của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Cần - Trần Văn
Lạng Đây chính là cuốn sách được xuất bản từ đề tài Hát dân ca - Dân tộc
Sán Chay – Nhóm Sán Chí xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Cuốn sách này là công trình đầu tiên nghiên cứu về dân ca Sán Chí ở Kiên Lao – Lục Ngạn, Bắc Giang Cuốn sách đã khái quát phần lời của dân ca Sán Chí ở Lục Ngạn, Bắc Giang
- Năm 2002 Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản cuốn: “Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam” - Khổng Diễn chủ biên Cuốn sách giới thiệu về đời sống tinh thần của người Cao Lan và Sán Chí qua kho tàng văn hóa, văn nghệ dân
gian Đó là hát Sình ca (theo tiếng Cao Lan) hoặc Soong cộ (Theo tiếng Sán Chí), tác giả nhấn mạnh: Ở người Sán Chí cũng như Cao Lan, hát Soong cộ
hoặc Sắng cộ khá phổ biến, hầu như xưa kia làng nào cũng hát Hội hát dân ca
ở Kiên Lao diễn ra vào ngày 18 tháng 2 âm lịch tại đình làng gọi là đình Cống Trước một, hai ngày vào hội đã có nhiều khách cũng là người Sán Chí từ Lạng Sơn đến, họ cùng nhau bàn bạc công việc chuẩn bị cho ngày hội.[5, tr 394].
Cuốn sách còn giới thiệu các hình thức hát và trích dẫn lời một số bài hát
- Cuốn Ca thư do PGS.TS Đỗ Thị Hảo chủ biên (2008) có đoạn viết về những câu hát của người Sán Chay cho rằng: “Nó đã phản ánh những sinh
hoạt văn hóa độc đáo và rất riêng của từng tộc người, được truyền lại từ nhiều thế hệ nối tiếp nhau duy trì và gìn giữ” [12, tr 5] Về giá trị nội dung
của sách “Ca thư” thì đây là một cuốn sách sưu tầm và chép lại khá nhiều
những câu hát đối đáp của nam nữ (tựa như những câu hát giao duyên của
người Sán Chay nói chung và chủ yếu giới thiệu trên bình diện nội dung
Trang 11Các dự án, đề tài trên được thực hiện bởi chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của Bộ Văn hóa Đó mới là bước đầu điều tra, khảo sát về Hát Xắng Cọ Các dự án, đề tài, công trình khoa học của những nhà nghiên cứu tuy chưa khám phá hết những giá trị nội dung và nghệ thuật của loại hình Hát Xắng Cọ nhưng đây là những gợi mở, nguồn tư liệu rất đáng trân trọng và vô cùng quí giá để chúng tôi thực hiện luận văn
2.2 Những công trình nghiên cứu về Hát Xắng Cọ ở huyện Lộc Bình, Lạng Sơn
Đối với dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình, Hát Xắng Cọ là một làn điệu dân
ca cổ truyền – một sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc được kết tinh trong đời sống lao động, sản xuất, trong giao tiếp và ứng xử Dù đã được biết đến, nhưng Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình vẫn còn là mảnh đất nguyên sơ chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu
Ở Lạng Sơn, nhiều người Sán Chỉ như các ông, bà: Hoàng Văn Minh (85 tuổi), Trần Thị Khắm (85 tuổi), Hoàng Thị Thọ (77 tuổi), Lâm Văn Sằm (74 tuổi), Hoàng Văn Dầu (74 tuổi), Hoàng Thị Phát (61 tuổi), Hoàng Văn Pháp (68 tuổi), Hoàng Văn Sặn (56 tuổi), Hoàng Thị Giác (54 tuổi), Lý Thị
Cả (36 tuổi) được tôn vinh là những nghệ nhân Hát Xắng Cọ Vì yêu làn điệu dân ca của dân tộc mình nên họ đã sưu tầm ghi chép lại các quyển sách hát viết bằng chữ Hán và “dịch” ra để tiện cho việc dạy các con cháu Ông Hoàng Văn Pháp còn sáng tác và dàn dựng nhiều tác phẩm mang đậm nét văn hóa truyền thống dân tộc Sán Chỉ Có thể nói, những nghệ nhân Sán Chỉ có ý thức và có công rất lớn trong việc bảo tồn lưu truyền lại Hát Xắng Cọ cho con cháu Tuy nhiên, họ chủ yếu dừng lại ở việc bảo tồn, lưu truyền Hát Xắng Cọ bằng cách giải thích nội dung lời ca và dạy hát một cách tự phát
Trên cơ sở lòng nhiệt tình của các nghệ nhân, cuối thế kỷ XX đầu thế
kỷ XXI việc sưu tầm, biên soạn và dịch Hát Xắng Cọ đã được tiến hành với
quy mô khá rộng
Trang 12Công trình đề cập tới văn hóa Sán Chỉ trong cuốn Địa chí Lạng Sơn, ( 1999) có ghi: Trước kia vào ngày hội này (hội Háng Lắp) có hàng trăm đôi
thanh niên từ Lục Ngạn – Bắc Giang lên Hội tan lại hẹn gặp nhau ngày 18 tháng Hai ở Lục Ngạn Nội dung chủ yếu của hội là hát Sán cọ, hát theo bài hát lưu truyền hoặc sáng tác mới.[ 8, tr 837]
Hiện nay, tư liệu Hát Xắng Cọ chủ yếu là bản sưu tầm và dịch của ông Hoàng Văn Pháp (68 tuổi), một người Sán Chỉ ở thôn Hán Sài xã Nhượng
Bạn huyện Lộc Bình Tư liệu này đã được tập hợp trong cuốn “Báo cáo khoa
học Hát Xắng Cọ của dân tộc Sán Chỉ ở xã Nhượng Bạn - Lộc Bình,Lạng Sơn” (Chủ nhiệm dự án Ấu Thị Nga Sơn – PGĐ Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh Lạng Sơn, 2008) Bên cạnh những bài hát Xắng Cọ được sưu tầm và tập hợp thì dự án đã tìm hiểu những yếu tố của đời sống vật chất, đời sống tinh thần của dân tộc Sán Chỉ ở Nhượng Bạn có ảnh hưởng đến Hát Xắng Cọ, các loại hình Hát Xắng Cọ và đề xuất phương thức bảo tồn Tuy nhiên, nghiên cứu về phương diện nội dung và nghệ thuật của lời Hát Xắng Cọ thì dự án mới chỉ giới thiệu sơ lược chưa có sự phân tích, nghiên cứu Chính điều này
đã gợi ý cho tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
- Một số bài viết về Hát Xắng Cọ đăng tải trên báo Lạng Sơn, văn nghệ
xứ Lạng cũng chỉ mang tính chất giới thiệu về loại hình sinh hoạt văn hóa Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Các công trình nghiên cứu, những bài viết nói trên mới chỉ đưa ra một cách khái quát về những khía cạnh văn hoá của Hát Xắng Cọ Do vậy, việc tìm hiểu Hát Xắng Cọ ở địa phương Lộc Bình, Lạng Sơn là việc làm thiết thực trong đời sống hiện nay, góp phần bảo tồn gìn giữ và phát huy nền văn
hoá, văn học dân gian vô cùng quý giá của dân tộc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu Hát Xắng Cọ về phương diện nội dung và nghệ thuật, qua
Trang 13đó tìm hiểu đời sống tâm hồn, tình cảm của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn cùng tài năng nghệ thuật của các nghệ nhân dân gian
- Bước đầu lý giải cội nguồn của nét văn hóa dân ca Xắng Cọ trên cơ
sở tổng quan văn hóa của dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn và đề xuất
hướng bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp vốn có của Hát Xắng Cọ
3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê, phân tích, lý giải lời Hát Xắng Cọ và một số vấn
đề có liên quan đến giá trị nội dung, nghệ thuật của Hát Xắng Cọ
- Trong điều kiện có thể, sưu tầm, tìm hiểu thêm về lời Hát Xắng Cọ và một số loại hình văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng có liên quan đến đề tài ở Lộc Bình, Lạng Sơn
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tìm hiểu những đặc điểm nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn (có sự đối sánh với Hát Xắng Cọ ở Lục Ngạn, Bắc Giang)
- Phạm vi tư liệu nghiên cứu, khảo sát:
+ Phần văn bản trong Báo cáo khoa học Hát Xắng Cọ của dân tộc Sán
Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn, chủ nhiệm dự án Ấu Thị Nga Sơn – PGĐ Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn (2008)
+ Tư liệu sưu tầm thêm được trong quá trình tác giả đi điền dã từ tháng
3 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011 ở Lộc Bình, Lạng Sơn
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là những lời hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Trên bình diện phương pháp luận là tiếp cận chủ yếu theo quan điểm
Trang 14ngữ văn học, tức là dựa vào thành tố ngôn từ, cụ thể ở đây là lời hát Xắng Cọ
để phân tích
- Tuy nhiên, Hát Xắng Cọ là một loại hình dân ca, vì thế nó không thể tách rời đời sống văn hóa của dân tộc Sán Chỉ Xem xét Hát Xắng Cọ phải từ nhiều góc độ, ngành khoa học khác nhau và phải đặt văn bản trong môi trường diễn xướng cụ thể
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp cụ thể: + Phương pháp khảo sát thống kê
Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để cung cấp số liệu chính xác về các bài hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn, tạo cơ sở thực
tế tin cậy cho những nghiên cứu tiếp theo Sử dụng phương pháp này, chúng tôi đưa ra những con số thống kê về Hát Xắng Cọ, tần số xuất hiện những hình ảnh, biểu tượng và khả năng biểu đạt của chúng
+ Phương pháp điền dã văn học
Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để thu thập thêm những lời hát Xắng Cọ và bảo lưu Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
Từ kết quả khảo sát, thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích và đưa ra những nhận xét đánh giá về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình Lạng Sơn
+ Phương pháp đối chiếu so sánh
Chúng tôi tiến hành đối chiếu, so sánh Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ
ở Lộc Bình, Lạng Sơn với Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lục Ngạn, Bắc Giang để thấy được điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Trang 15Trong quá trình nghiên cứu, qua khảo sát điền dã, tác giả đề tài đã thu thập được một số lượng đáng kể những bài hát Xắng Cọ còn đang lưu truyền trong đời sống dân gian ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Kết quả khảo sát thực tế trên là cơ sở khoa học để tác giả luận văn bước đầu đề xuất hướng bảo tồn và phát huy giữ gìn nét đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc Sán Chỉ nói chung, trong đó có dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tế - Cơ sở tìm hiểu Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Chương 2 Nội dung cơ bản của Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn Chương 3 Những đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu của Hát Xắng Cọ
ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ - CƠ SỞ TÌM HIỂU HÁT XẮNG CỌ Ở LỘC BÌNH, LẠNG SƠN
1.1 Tổng quan về dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
1.1.1 Vài nét về cộng đồng người Sán Chỉ ở Việt Nam
S¸n ChØ là một trong hai ngµnh của dân tộc Sán Chay (Sán Chỉ, Cao Lan) vµ được xếp trong nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, cư trú chủ yếu ở một số tỉnh miền Bắc nước ta Theo số liệu thống kê năm 1999, dân tộc Sán Chay có 73.157 người, xếp thứ 13/54 dân tộc về dân số, chiếm tỷ trọng 0,2% dân số so với cả nước và chiếm tỷ trọng khoảng 1,4% trong tổng số nhân khẩu của các dân tộc thiểu số Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2001, dân tộc Sán Chay có 147.315 người Tộc người này cư trú chủ yếu ở các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ Người Sán Chay thường sống phân tán trên địa bàn các tỉnh, xen
kẽ với người Tày, Nùng Giữa cộng đồng tộc người này và các tộc láng giềng
có mối quan hệ gần gũi, hòa đồng khá rõ nét
Trang 17nghiªn cøu cña nhiÒu nhµ ng«n ng÷ häc, ng«n ng÷ cña ng-êi S¸n ChØ cã c¬ tÇng lµ ng«n ng÷ Tµy - Th¸i cæ Nh- vËy, ng«n ng÷ ban ®Çu, ng«n ng÷ xuÊt ph¸t lµ thuéc nhãm ng«n ng÷ Tµy cæ, yÕu tè ng«n ng÷ H¸n lµ yÕu tè cã sau, lµ biÓu tầng cña ng«n ng÷ Cao Lan - S¸n ChØ Trong quá trình tìm hiểu các tư liệu dân tộc học đã cho phép các học giả khẳng định hai dân tộc Cao Lan – Sán Chỉ đều là dân tộc Sán Chay
*Về nguồn gốc
Đề cập khá toàn diện về người Cao Lan – Sán Chỉ, nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Nam Tiến cho rằng: Địa bàn quần cư của người Cao Lan – Sán Chỉ khi còn ở Trung Quốc là Khâm Châu, Liêm Châu, Linh Sơn, Lộ Châu thuộc tỉnh Quảng Đông, Thường Tư, Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng Tây Hầu hết các gia phả và sách cúng hương hỏa, tổ tiên người Cao Lan – Sán Chỉ đều nói tới khu vực Bạch Vân Sơn và Thập Vạn Sơn, địa điểm cư trú cuối cùng trên đất Trung Quốc trước khi vào Việt Nam đoạn từ Lạng Sơn đến Móng Cái, sau đó chuyển sang các tỉnh Hà Bắc, Bắc Thái, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái Theo gia phả của họ Nịnh ở Đại Dực Động, Tiên Yên Quảng Ninh thì họ đến Việt Nam năm Cảnh Hưng thứ nhất tức năm 1743 Trước khi đến địa điểm như hiện đang cư trú, tổ tiên họ đã từng qua một số vùng khác như Trúc Bài Sơn, Linh Sơn, mỗi nơi ở đó ít nhất cũng khoảng hai,
ba đời Mả tổ của họ này vẫn thường nhắc đến ở vũng đó khi cúng bái Như vậy, rất có thể họ đến Việt Nam trước năm Cảnh Hưng I bốn, năm đời, tức một thế kỷ Theo ông Hoàng Ứng (Quảng Ninh) thì dòng họ của ông có mặt ở Việt Nam khoảng mười lăm, mười sáu đời [50, tr 59-75]
Năm 1905 Réverony đã cho công bố một số tài liệu dân tộc học khu vực Đông Bắc Bộ Việt Nam Nói đến Sán Chỉ ông cho rằng họ đã có mặt ở Việt Nam cách đây bốn trăm năm (Nguyễn Nam Tiến) tính đến nay thì đã gần năm năm Còn theo Đặng Nghiêm Vạn thì thời điểm di cư của người Sán Chỉ - Cao Lan còn có thể sớm hơn các niên đại vừa nhắc đến ở trên chừng một thế kỷ [25]
Trang 18Tại Thái Nguyên, phần lớn các sách cúng hương hỏa đều nói đến thời điểm di chuyển của người Sán Chỉ từ Trung Quốc sang Việt Nam vào thời Minh và thời nhà Thanh Trong sách cúng cũng nói rõ nguyên cớ của việc di
cư Đây là một đoạn trong sách cúng của ông Nịnh Văn Lợi ở xóm Cây Đa xã
Phấn Mễ huyện Phú Lương: Đại Minh quốc tỉnh Quảng Đông đạo lạc nghiệp
nhân vì đại loạn giặc giã nổi lên, cướp bóc thôn hương, giết hại đồng bào, cơ nghiệp hao tán, ăn không ngon, ngủ không yên mới đem con cái cùng là tổ tông hương hỏa vào rừng rú đến đất An Nam tỉnh Lạng Sơn, chém cây phá rừng, trồng trọt ngũ cốc để nuôi thân” [4, tr.20] Lại theo gia phả của một
dòng họ Lý ở xã Nhượng Bạn (Lộc Bình) thì dòng họ này đã cư trú tại đây được mười ba đời, tức khoảng ba trăm năm
Như vậy, có thể nghĩ rằng, người Sán Chỉ đã xuất hiện trên đất nước ta nói chung, ở Lạng Sơn nói riêng đã từ khoảng thế kỷ XVI – XVII
* Về mối quan hệ giữa Cao Lan và Sán Chỉ
Về mối quan hệ giữa Cao Lan và Sán Chỉ theo Đặng Nghiêm Vạn:
“Nhóm dân tộc Cao Lan và Sán Chỉ là một bộ phận trong khối cộng đồng
Cháng ở miền Khâm Châu, Lôi Châu, Dương Châu, và Quế Châu sang Việt Nam vào nhiều thế kỷ khác nhau, nhưng về mặt lịch sử, văn hóa phong tục, tập quán tâm lý dân tộc đều giống nhau” [25]
Trước hết, ta hãy cùng nhau xem xét “Sình ca” một lối hát ví của thanh niên nam nữ người Cao Lan – Sán Chỉ Trong các cuộc tổ chức hát Sình ca có
lẽ hầu như không bao giờ có sự tính toán rằng họ cùng là người Sán Chỉ hay không hoặc cùng là người Cao Lan hay không Với lối sinh hoạt của hình thức dân ca này không tự phân biệt với nhau về mặt tộc người nhưng họ phân biệt rõ họ với các dân tộc khác như Sán Dìu, Tày, Nùng, Dao,…là những láng giềng thân thiết của họ và hiếm có những cuộc sinh hoạt văn nghệ kiểu ấy giữa họ với các dân tộc xung quanh
Trang 19Mối quan hệ của người Cao Lan – Sán Chỉ còn thể hiện trong việc cúng bái Trình tự và các lễ nghi trong đám ma, đám chay giống nhau Sở dĩ như vậy là vì một phần do họ cùng sử dụng một thứ tiếng của người Sán Chỉ hiện nay Chẳng những thế, thày cúng của người Cao Lan có thể cúng cho người Sán Chỉ và ngược lại
Tính thống nhất của người Cao Lan – Sán Chỉ còn được củng cố bởi ý thức và cư trú về quê hương cũ và quá trình di cư của họ Từ khi đồng bào Cao Lan Sán Chỉ di cư sang Việt Nam họ đã trở thành công dân của quốc gia
đa dân tộc Việt Nam Tuy vậy, ý thức về quê hương cũ của họ còn khá mạnh
mẽ Họ cũng nhớ các loại sách cúng, sách truyện còn ghi trước đây họ đã từng
cư trú đông đảo ở Châu Khâm, Châu Liêm, Ninh Minh, Thương Tư… thuộc vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc Về quan hệ hôn nhân, quan hệ dòng họ giữa hai nhóm cao Lan – Sán Chỉ cũng có quan hệ chặt chẽ
Trong bài ''Về nguồn gốc và quá trình di cư của người Cao Lan -Sán Chỉ'', tạp chí dân tộc học (1), nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Tiến đã phân tích, khảo sát, so sánh văn hoá - đặc điểm sinh hoạt giữa tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chỉ) với người Tày - Nùng nói riêng và các tộc người - ngôn ngữ Tày - Thái khác và nêu lên những đặc trưng giống nhau hoặc gần giống nhau của các tộc người này như trong hoạt động kinh tế, văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, dòng họ và quan hệ dòng họ, nguyên tắc đặt địa danh, những đặc trưng này khác xa với người Dao và người Hán Ông cho rằng: "Cao Lan và Sán Chỉ là một cộng đồng không thể phân chia, nói cách khác, họ chỉ là một dân tộc Tuy vậy, bên cạnh chữ Sán Chấy, nên để trong ngặc đơn hai chữ Cao Lan
và Sán Chỉ" Ông đã đưa ra sơ đồ thể hiện quan hệ về người Sán Chấy (Cao Lan - Sán Chỉ) như sau:
Trang 20SƠ ĐỒ QUAN HỆ VỀ NGƯỜI SÁN CHAY (CAO LAN – SÁN CHỈ)
Cao Lan – Sán Chỉ cùng một nguồn gốc, có quan hệ dòng tộc khăng khít, tiếng nói không phân biệt nhau lắm, phong tục, tập quán, tục lệ, lễ nghi, cách làm ăn sinh hoạt giống nhau nên đây là một dân tộc Đã là một dân tộc thì nên thống nhất là Sán Chay là tên gọi có cơ sở và đúng hơn Từ những vấn
đề đã trình bày ở trên cho thấy Cao Lan – Sán Chỉ là một cộng đồng không thể phân chia, nói cách khác là Cao Lan – Sán Chỉ là một dân tộc song ngữ
1.1.2 Vài nét về cộng đồng người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Dân tộc Sán Chỉ hiện nay có mặt tại Lộc Bình ở các xã Quan Bản với
78 hộ, 385 khẩu cư trú tại hai thôn Nà Pè, Khau Phầy; xã Minh Phát có 117
hộ, 648 nhân khẩu, cư trú tại các thôn: Nà Nong, Khau Vài, Nà Tàng, Khuổi Luồng So với hai xã trên, dân tộc Sán Chỉ xã Nhượng Bạn chiếm nhiều hơn
cả với 320 hộ với 1585 nhân khẩu, cư trú tại năm thôn và một số rất ít là dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao đến Nhượng Bạn làm dâu, rể Còn lại người Sán Chỉ cư trú ở một số nơi như: Thị trấn Lộc Bình, Nam Quan, Xuân Dương, Đông Quan, Hiệp Hạ, thị trấn Na Dương [42, tr 4-5]
sử, sinh hoạt văn hóa, có quan hệ thân thích và có
ý thức tự giác tồn tại như 1 DT
Tên tự gọi là Sán Chấy (Sán Chấy bán)
SÁN CHẤY
(Cao Lan - Sán Chỉ)
Tên tự gọi là Sán Chấy Mộc Tên tự gọi là Sán Chấy Hà
Trang 21Theo các cụ cao niên truyền lại dòng họ Lý ở Nhượng Bạn, dòng họ đến sớm nhất đã cư trú tại đây được mười ba đời (khoảng ba trăm năm) Cùng các dòng họ: Hoàng, Lâm, Bùi, Ninh Trong quá trình định cư tại đây, bên cạnh những nét tương đồng về văn hóa, dân tộc Sán Chỉ ở đây có một số nét văn hóa riêng, chính những nét văn hóa này đã tạo cho diện mạo văn hóa xứ Lạng thêm phần độc đáo và đặc sắc
Cũng theo gia phả của dòng họ Lý ở Nhượng Bạn, người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn và người Sán Chỉ ở phía Bắc huyện Lục Ngạn (xã Kiên Lao và xã Xa Lý) có những quan hệ nguồn gốc và quan hệ hàng ngày mật thiết với nhau và cùng thuộc nhóm Sán Chí Hà [4, tr.20] Từ “Sán Chí Hà” theo người Sán Chí ở Lục Ngạn, Bắc Giang, đó là cái tên của dân tộc khác đặt cho họ Không phải cái tên họ tự nhận, họ chỉ nói rằng dân tộc họ chỉ dùng
hai từ Sán Chay là đủ “Chay” có nghĩa là “Tử: Con” “Chí” cũng có nghĩa là
“Tử: Con” nhưng mang âm nặng hơn và không đúng với âm bản địa của người Kiên Lao Sán Chay có nghĩa là “Sơn Tử” (người con của núi rừng) dân tộc sống ở gần rừng, sát rừng núi [4, tr.38]
Sán Chí Hà có nghĩa ở vùng thấp hơn, tiếng phát âm nặng hơn, một số từ
đã dùng tiếng Kinh trong dân tộc Sán Chí “Hà ”còn có nghĩa là pha trộn, dùng lẫn tiếng Sán Chí pha tiếng Kinh, rất cá biệt chỉ trong trường hợp Sán Chí không có thì mới dùng Người Cao Lan - Sán Chí sử dụng bản phiên âm 24 chữ cái của người Việt có bổ sung thêm 4 chữ (Z, CN, b, F) thành 28 chữ cái Dùng 5 dấu trong chữ Quốc ngữ phổ thông (không dùng dấu ngã) và có bổ sung thêm 1 dấu ( -) thành 6 dấu Việc sử dụng các dấu đó cho phép tiếp cận ngôn ngữ hệ Tày – Thái được dễ dàng [4, tr 38]
Người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn có lối sống thật thà, giản dị, trung thực, qua các thời kỳ càng gặp gian nguy càng gắn bó chặt chẽ, nhà nào
bị hoàn cảnh bất hạnh đều được mọi người cảm thông Người Sán Chỉ ở Lộc
Trang 22Bình, Lạng Sơn có quan hệ giao lưu rộng rãi với người Sán Chỉ ở Lục Ngạn ,Bắc Giang Từ thời kỳ phong kiến trở về trước, dân tộc Sán Chỉ còn lạc hậu Sau Cách mạng tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với chính sách bình đẳng dân tộc, dân tộc Sán Chỉ cùng với các anh em dân tộc ít người phát huy bản sắc dân tộc mình theo hướng lành mạnh
1.1.3 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
* Điều kiện tự nhiên:
Huyện Lộc Bình có tổng diện tích tự nhiên là 986,52 km2, trong đó đồi núi chiếm ¾ diện tích, nằm ở phía Đông Nam, cách thành phố Lạng Sơn 23km theo quốc lộ 4B từ Lạng Sơn đi Quảng Ninh Phía Đông giáp Trung Quốc, phía Tây giáp huyện Chi Lăng, phía Bắc giáp huyện Cao Lộc, phía Đông Nam và Nam giáp huyện Đình Lập và hai huyện Lục Ngạn và Sơn Động, Bắc Giang
Lộc Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên chia thành hai mùa rõ rệt Lượng mưa trung bình năm là 1.349 mm, phân bố không đều Riêng vùng núi Mẫu Sơn có lượng mưa khá cao (2000 – 2400mm/năm) Địa hình chia thành hai vùng là vùng núi cao và vùng lòng chảo Vùng núi cao xung quanh huyện với các đỉnh Ma Non cao 693m, đỉnh Khau Chu cao 745m, đỉnh Khau Tòa cao 775m và dãy Mẫu Sơn có độ cao trung bình 1.000m Vùng lòng chảo gồm hai thị trấn Lộc Bình, Na Dương và các xã Đông Quan, Quan Bản, Đồng Trụ, Xuân Mãn, Bằng Khán, Xuân Lễ, Lạc Thôn, Hữu Khánh, Yên Khoái, Tú Đoạn và Khuất Xá Đất đai của huyện Lộc Bình bao gồm 10 loại đất, trong đó có 5 loại đất chính thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp Sông suối nằm trong hệ thống sông Kỳ Cùng thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Về khoáng sản, Lộc Bình có mỏ than Na Dương có trữ lượng than nâu khoảng 100 triệu tấn Mỏ đất sét trắng (cao
Trang 23lanh) có trữ lượng cao dành cho ngành công nghiệp gốm sứ ở xã Đông Quan
và thị trấn Na Dương Lộc Bình có 53 km đường biên giới giáp Trung Quốc,
có cửa khẩu Chi Ma [9, tr 825-827]
Điều kiện tự nhiên này trước hết ưu đãi cho Lộc Bình cảnh quan đẹp (như đỉnh Mẫu Sơn, nhiệt độ thấp phù hợp cho việc phát triển ngành du lịch sinh thái và là nơi nghỉ mát lý tưởng như đập Khuổi Van, hồ Tà Keo, suối Long Đầu, hồ Nà Cáy) Ngoài ra còn thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp và tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở Lộc Bình
* Đặc điểm kinh tế xã hội:
Điều kiện tự nhiên của Lộc Bình rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp (lao động ngành này chiếm 80,2% lao động xã hội) Đây là ngành chủ lực truyền thống Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp với chăn nuôi Rừng trồng gồm thông, keo, bạch đàn, hồi Tỷ lệ khai thác nhựa và gỗ thông, trồng hồi chiếm tỷ trọng cao
* Đời sống văn hóa:
-Về văn hóa vật chất: Dân tộc Sán Chỉ còn giữ được những phong tục
truyền thống về ăn uống, về tổ chức những ngày lễ tết Nhìn chung, các phong tục về ăn uống của người Sán Chỉ đa dạng, phong phú Các món ăn được chế biến theo nhiều cách và mang đậm tính văn hóa Lúa gạo là lương thực chính cho bữa ăn hàng ngày của dân tộc Sán Chỉ Trước kia họ ăn nhiều gạo nếp, nay chuyển sang ăn gạo tẻ, gạo nếp chỉ dùng trong những dịp lễ tết Ngoài ra,
họ còn sử dụng thêm ngô, khoai, sắn, nhất là việc ăn cháo vào bữa sáng Thực phẩm được dùng trong ngày lễ tết của đồng bào phong phú hơn, gồm có thịt lợn quay, các món ăn chế biến từ thịt lợn (khau nhục, giò thủ, bánh đa nem), thịt gà luộc Mỗi mâm cỗ thường ngồi bảy người Đồ uống gồm rượu, nước chè và nước nấu từ các loại lá rừng có vị ngọt, thơm với công dụng giải nhiệt, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Đàn ông thường hút thuốc lào, thuốc lá,
Trang 24đàn bà có thói quen ăn trầu Họ rất thích ăn các vị đắng, cay, chát, ăn các loại
củ và gia vị có tác dụng tốt cho sức khỏe (gần như những vị thuốc nam), tạo
cho cơ thể thêm cường tráng, không bệnh tật
Về mặc: Trang phục truyền thống của nữ giới là: áo chàm dài bốn thân,
dài quá đầu gối, không thắt lưng, khuy áo bằng đồng gồm bốn chiếc đính bên thân áo trái Quần cạp chun, thường may bằng vải láng hoặc lụa Đầu vấn tóc, đội khăn chàm thêu bốn góc, có đường viền xung quanh bằng chỉ màu Phụ
nữ thường đeo túi đan bằng lưới màu trắng Đồ trang sức gồm vòng tay, vòng
cổ, hoa tai đều được làm bằng vòng bạc Nam giới mặc áo dài trên đầu gối, được may bằng vải láng đen, khuy áo bằng đồng gồm năm chiếc đính bên thân áo, quần màu trắng, đội khăn xếp và hay dùng ô đen khi đi ra ngoài Trong thời đại ngày nay, những trang phục mang đậm tính dân tộc của người Sán Chỉ hầu như ít gặp, chỉ có các cụ già thi thoảng mặc hoặc đồng bào sử dụng vào dịp lễ tết, cưới xin, đi chơi hội Các cô gái, chàng trai người Sán Chỉ hiện nay hầu như không mặc quần áo của dân tộc mình mà họ đều dùng sản phẩm của nền văn minh công nghiệp
Về nhà ở: Dân tộc Sán Chỉ thường làm nhà bên sườn đồi, dưới nhà có
dòng suối nhỏ chảy qua Trước đây, họ thường ở nhà sàn nhưng khoảng vài chục năm trở lại đây, do thay đổi của điều kiện môi trường, do ảnh hưởng của
cư dân láng giềng nên họ đã chuyển sang ở nhà đất (trình tường) Kết cấu nhà trình tường có nhiều cửa sổ, từ 3 đến 5 gian, tường nhà dày 40 cm Mái nhà lợp ngói âm dương có hai mái chính và một mái phụ bên cạnh, phía gian dùng làm bếp Giường ngủ của các thành viên trong gia đình hầu hết được đặt ở gian nhà ngoài cùng với nơi tiếp khách, buồng ngủ được dành cho con dâu Nhà ở của người Sán Chỉ cũng là một không gian tổ chức hát Trong không gian này có các khu vực trong nhà, sân, vườn Nhà người Sán Chỉ ở Lộc Bình hiện nay cũng có nhiều thay đổi về loại hình và cấu trúc, tuy thế vẫn có nhiều
Trang 25ngôi nhà trệt tồn tại Ở những ngôi nhà ấy, cách bài trí vẫn được duy trì như
cũ Gian giữa là nơi đặt ban thờ và tủ áp tường, phản khách Hai bên có hai gian (nếu là nhà ba gian) kê hai giường ngủ của thành viên trong nhà và đặt
để lương thực (nếu là nhà bốn, năm gian) thì một đầu nhà là buồng kê giường ngủ của phụ nữ hoặc chỗ ngủ của con dâu Ngoài hiên với diện tích khá rộng cũng có kê phản ngủ che liếp chắn mưa (ở một góc hiên) Khi tổ chức hát ở gia đình, người ta hát ở hiên, được phép gia chủ rồi sẽ vào trong nhà Họ chỉ hát ở ba gian ngoài chứ không hát ở trong buồng Khi đã vào đối thì họ hát cả
ở ngoài sân Khi có đám cưới ở gia đình thì cả hai khu vực nêu trên cũng được tổ chức hát Nhà ở chính là không gian văn hóa chứa đựng những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Sán Chỉ
Văn hóa vật chất truyền thống của dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình là một trong số những yếu tố nền tảng vững chắc của bản sắc dân tộc
- Văn hóa tinh thần:
+ Tín ngưỡng: Người Sán Chỉ quan niệm vạn vật hữu linh, tục thờ cúng
tổ tiên được tất cả các gia đình trong xã hội coi trọng Bàn thờ tổ tiên được đặt trên cao, nơi ít người để ý đến Họ quan niệm rằng: bàn thờ phải được đặt ở nơi cao ráo, linh thiêng, tránh những người có tâm không tốt hoặc ma quỷ đến gần Bàn thờ được bài trí khá đơn giản, chỉ có một ống cắm hương thờ ba đời, đến ngày lễ tết, họ bày lễ cúng và chỉ thắp duy nhất một nén hương Bên cạnh
đó, họ tin rằng trong làng bản còn có một vị thần, đó là thổ công Thổ công được cúng lễ vào ngày mồng hai Tết nguyên đán
Ngoài ra, do sự hiểu biết về thiên nhiên còn hạn chế thì rừng rậm, sông suối, cây cối, các con vật đều là những thần bí đối với họ Vì vậy, họ tin rằng trong cuộc sống còn có nhiều loại ma quỷ, nếu bị ma dữ làm hại sẽ gây
ra ốm đau, bệnh tật cho con người, vật nuôi và mùa màng Đó là nguyên nhân khiến họ phải nhờ đến tầng lớp thầy cúng (Mo, Tào) bói toán và đến cúng ma mỗi khi gia đình gặp những điều không may
Trang 26+ Đời sống xã hội: Gia đình người Sán Chỉ đa số là gia đình nhỏ, phụ quyền gồm vợ chồng và con cái Có rất ít gia đình nhiều thế hệ chung sống Trong gia đình, người chồng và người cha là chủ, có vai trò quyết định mọi việc từ sản xuất đến sinh hoạt và quan hệ xã hội, tuy nhiên người vợ, người
mẹ vẫn được coi trọng, được hỏi ý kiến khi quyết định việc hệ trọng Con dâu khi tiếp xúc với bố chồng, anh em chồng phải giữ gìn, tránh trường hợp ngồi riêng nói chuyện với bố, anh em chồng Lúc chửa, đẻ phụ nữ kiêng đến gần nơi thờ cúng, khi ăn uống phải ngồi riêng
Dòng họ Sán Chỉ gồm có dòng họ Hoàng, Lý, Lâm, Ninh Đồng bào
có quan hệ gia tộc mật thiết đến ba đời, không có tổ chức dòng họ chặt chẽ và thờ cúng chỉ hạn hẹp trong phạm vi gia đình Tuy nhiên, người Sán Chỉ trong cùng một dòng họ đều rất quan tâm và tôn trọng lẫn nhau Mối quan hệ với họ bên vợ rất gần gũi và thắm thiết, điều đó thể hiện ở vai trò của anh em vợ hoặc con gái có thể thờ cúng bố mẹ mình tại nhà chồng Ở Lộc Bình, người Sán Chỉ sinh sống thành từng làng, bản (thôn) Mỗi bản có thể có một hay nhiều họ Mỗi thôn bản có một trưởng thôn là người đứng ra giám sát, đôn đốc mọi việc sinh hoạt, giữ gìn phong tục, nghi lễ, an ninh trật tự của thôn bản Trong thôn bản có các thầy cúng như thầy Tào, Mo, lo việc chữa bệnh bói toán, tang ma, xem đất làm nhà, đặt mồ mả
+ Các nghi lễ phong tục theo vòng đời:
Sinh đẻ: Từ khi người phụ nữ mang thai, theo quan niệm cổ truyền đã phải kiêng cữ trong việc ăn uống đi lại, giao tiếp Phụ nữ Sán Chỉ đẻ ở trong nhà với sự giúp đỡ của bà đỡ, kiêng kỵ nhiều thứ Nhà có người ở cữ phải kiêng khách lạ trong vòng bốn hai ngày, tránh người có vía độc vào nhà để không ảnh hưởng tới đứa trẻ Đứa trẻ sinh ra sau ba ngày được làm lễ tên gọi
là lễ Ba Mai Ngày đặt tên phải mời thầy cúng đến làm lễ, đặt bàn thờ Bà Mụ
ở trong buồng, anh em họ hàng đến mừng cho đứa trẻ
Trang 27Việc cưới: Theo phong tục cũ, một đám cưới của đồng bào Sán Chỉ qua nhiều nghi lễ Từ lúc dạm hỏi cho đến lúc cưới phải trải qua 5 bước: Dạm hỏi, xin tuổi, lễ ăn hỏi (cắt cổ gà - xả cạp), lễ báo cưới và lễ cưới chính thức (lễ rước dâu) Trong đó hai nghi lễ quan trọng nhất là lễ cắt cổ gà và lễ rước dâu ( nghi lễ công nhận trai gái hợp số, hợp tuổi) Trong một đám cưới, vai trò của ông mối khá quan trọng, người này là người có uy tín, ăn nói lưu loát, ứng khẩu linh hoạt, đặc biệt là phải biết Hát Xắng Cọ trong việc đối đáp với
nhà gái Nhà gái hỏi: “ Nhà trai đến đón nhà gái đã rửa chân tay chưa?”, nhà trai đáp: “Trước khi đi qua đò, đò không chèo được; anh em chúng tôi lội
suối, suối cũng sâu, nhưng anh em chúng tôi vẫn lội qua; về đến đây, chúng tôi đã rửa chân tay rồi” Hoặc nhà trai hỏi phụ dâu nhà gái: “ Các em là khách từ đâu đến?”, nhà gái trả lời : “Đây không phải là khách, đây là người đến làm chủ nhà mình” Sau lễ cưới, là lễ lại mặt của đôi vợ chồng trẻ đén
nhà bố mẹ vợ và tục ở rể trong trường hợp nhà gái không có con trai Ngày nay thực hiện cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa, việc cưới đã thực hiện theo nếp sống văn minh Trai gái tự tìm hiểu, báo cáo bố mẹ rồi mới lấy nhau, không có tệ tảo hôn, ép hôn Nghi lễ đã được giảm về số lượng, thời gian tổ chức đám cưới gọn nhẹ hơn
Việc tang của người Sán Chỉ trải qua nhiều nghi lễ rất phức tạp, nay đã
giản tiện đi nhiều Khi nhà có người tắt thở thì con trưởng vác dao, mang rượu đi mời thầy Tào đến làm lễ, đến trước san nhà thầy Tào, rót rượu ra rồi quỳ lạy mời thầy Tào đến Xong nghi lễ mời thầy Tào thì con trưởng trở về nhà trước Sau khi làm lễ mời, thầy tào sửa soạn quần áo, đồ cúng, sách cúng đến nhà tang chủ Thầy Tào xem ngày, giờ chết để định ngày lành chôn cất Xưa kia vì chưa được ngày phải quản xá trong nhà khá lâu, nay chỉ để ba ngày Con cháu tắm rửa mặc quần áo cho người chết, sau nghi lễ bắn ba phát súng, báo với tổ tiên thì thầy Tào đưa xác vào quan tài, sau đó con cái mới
Trang 28được khóc Quan tài được dán bọc bằng vải xanh, đỏ, vàng Lúc này, họ hàng thân thích đến phúng viếng Trong quá trình làm ma, con cháu phải ăn chay, khi mai táng xong mới được ăn uống bình thường Khi khiêng quan tài từ nhà
ra, con cháu phải nằm xuống đất để người khiêng quan tài lướt trên người, coi như sự trả hiếu của con cháu đối với cha mẹ Người thân mặc áo tang trắng trong bốn hai ngày, sau đó mới thôi tang, quần áo tang giặt và cất đi, sau hai năm cải táng giống như người Kinh ở miền xuôi
+ Các lễ tiết trong năm
Lễ tết: Tết nguyên đán, người Sán Chỉ tổ chức theo tế nguyên đán như các dân tộc khác trong tỉnh Tuy nhiên ngày tết ở đây thường ngắn hơn so với một số nơi trên cùng địa bàn Thực phẩm trong ngày tết thường dùng là: Bánh chưng dài, thịt gà, thịt lợn
Tết 3/3 (Tết thanh minh – slắn măn chệt): Người Sán Chỉ làm xôi ngũ sắc, thịt gà để cúng tổ tiên Trước đây, họ không tảo mộ, hiện nay, một số gia đình đã đến nơi chôn cất để dọn cỏ và cũng dễ nhận biết những ngôi mộ của người thân mình
Tết 5/5 (Tết diệt sâu bọ) : Vào ngày này, người Sán Chỉ thường thịt gà, làm bánh gio để cúng tổ tiên
Hội: Được tổ chức vào ngày 30 tháng giêng (Hội Háng Đắp) và ngày 26/3 âm lịch Vào những ngày hội này, nhân dân các dân tộc của huyện tập trung về thị trấn Lộc Bình để vui hội Người Sán Chỉ cũng rủ nhau đi hội để được gặp gỡ bạn bè đối đáp với nhau Hàng năm, ở đây thường có tục giao lưu hát Xắng Cọ với dân tộc Sán Chỉ ở xã Kiên Lao, Xa Lý huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang vào ngày hội 18/2 và ngày hội 30 tháng giêng, hội 26/3 của huyện Lộc Bình
- Về văn nghệ dân gian: Có truyện kể dân gian, thơ ca, tục ngữ, ca
dao đặc biệt là thể loại dân ca Xắng Cọ được ghi chép lại phiên âm Hán
Trang 29Nôm - Sán Chỉ, phiên âm tiếng Việt – Sán Chỉ, còn được lưu lại trong nhân dân Hát Xắng Cọ là một hình thức sinh hoạt cộng đồng phong phú và hấp dẫn, nó phản ánh những tâm tư, tình cảm, ước mơ nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong đời sống hàng ngày, nhất là trong những dịp lễ hội
Mặc dù mới sinh sống ở Lạng Sơn khoảng vài trăm năm trở lại đây, nhưng dân tộc Sán Chỉ ở Lộc Bình đã bảo vệ giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình, góp vào kho tàng chung của nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn
Tất cả những điều kiện trên đã tạo cho người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn phát triển một nền kinh tế toàn diện đặc biệt là nông nghiệp và lâm nghiệp Bên cạnh đó, người Sán Chỉ ở Lộc Bình còn có một đời sống văn hóa tinh thần phong phú đậm đà bản sắc dân tộc Đó chính là mảnh đất màu mỡ
để ra đời những câu hát dân ca thắm đượm hồn người
1.2 Một số vấn đề chung về hát Xắng Cọ
1.2.1 Khái niệm Hát Xắng Cọ
Hát Xắng Cọ thuộc thể loại dân ca trữ tình, là hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn nói riêng và người Sán Chỉ cả nước nói chung Có rất nhiều cách hiểu về thể loại hát này
Trong cuốn “Đề tài Hát dân ca dân tộc Sán Chay nhóm Sán Chí ở xã
Kiên Lao - Lục Ngạn - Bắc Giang” có đoạn viết: “Dân ca Sán Chí không chỉ phổ biến trong thanh niên nam nữ mà cả người già cũng rất say mê bởi nó không chỉ bao gồm những bài hát ghẹo của trai gái mà còn có nhiều bài hát nói lên tâm tư, tình cảm, ước mơ, nguyện vọng của những người dân lao động Mỗi khi có dịp hội ngộ, người ta hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương, làng bản, những cảnh sinh hoạt, sản xuất trong bốn mùa qua đó ngỏ ý giao duyên, xe tơ kết tình Lại có những bài nói về sự kính trọng người già, ca ngợi việc làm công tâm của người có quyền có chức trong làng xóm” [33, tr 104]
Trang 30"Dự án điều tra, sưu tầm tục hát Sóong Cọ của người Sán Chỉ ở huyện
Bình Liêu, Quảng Ninh” cũng ghi: Nội dung của lời ca Soóng Cọ phản ánh
cuộc sống lao động, sản xuất sinh hoạt hàng ngày của người Sán Chỉ, giúp người ta nhớ về tổ tiên, cội nguồn dân tộc, ca ngợi cảnh đẹp quê hương xứ sở, nói lên tình yêu thương khát vọng một cuộc sống ấm no tươi đẹp [35, tr.15]
Trong “Báo cáo khoa học hát Xắng Cọ của dân tộc Sán Chỉ ở Nhượng
Bạn - Lộc Bình - Lạng Sơn” thì “Xắng Cọ là hình thức hát đối đáp nam nữ giống như các làn điệu sli của người Nùng, lượn của người Tày, quan họ của người Kinh và từng cặp nam đối đáp với từng cặp nữ Mỗi bài hát thường
có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, đôi lúc lại xuất hiện một số bài, mỗi câu chỉ có 5 chữ Nội dung thường dùng các biểu tượng ví von trong dân gian, trong tự nhiên, các điển tích trong văn học cổ Trung Quốc để bày tỏ tình cảm nam nữ theo mô típ chung từ làm quen, gặp khó khăn đến với tình yêu và lấy được người mình yêu.”[34, tr.15]
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu, cách nhận định khác nhau về Hát Xắng Cọ nhưng vẫn có điểm thống nhất có thể nhận thấy trong các đề tài, báo cáo trên về Hát Xắng Cọ là hình thức hát đối đáp của nam nữ phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày của người Sán Chỉ Nó biểu hiện tư tưởng, tình cảm của con người, ca ngợi cuộc sống cảnh đẹp quê hương Chúng tôi có thể tạm thời đưa ra cách hiểu về Hát Xắng Cọ như sau:
Hát Xắng Cọ là loại hình dân ca đặc sắc dùng trong nghi lễ và trong đời sống sinh hoạt của người Sán Chỉ Đó là những bài hát đối đáp giữa nam
và nữ thể hiện tâm tư, tình cảm, ước mơ, nguyện vọng của con người, ca ngợi thiên nhiên, cuộc sống tốt đẹp
1.2.2 Nguồn gốc của Hát Xắng Cọ
Truyền thuyết “Có Làu Slam” nói về sự ra đời (nguồn gốc) của Sình ca/ Xắng Cọ Theo truyền thuyết của người Sán Chay, tác giả của những bài hát
Trang 31này là nàng Lưu Ba (Lầu Slam) Truyền thuyết như sau: Nàng Lưu Ba đã đặt lời ca cho các điệu hát Ngày xưa, người Sán Chay chỉ biết suốt ngày quần quật làm lụng vất vả để kiếm sống, cuộc sống buồn chán không ai biết ca hát
Ở một bản nọ của người Sán Chay có ông bà họ Lầu sinh được ba người con, hai trai một gái Cô gái út đặt tên là Lầu Slam, có nghĩa nàng là người con thứ
ba trong gia đình họ Lầu Ba anh em lớn lên trong cảnh mồ côi cha mẹ, tự nuôi nhau Một hôm Lầu Slam vào rừng nhặt rau, hái nấm về nấu Lầu Slam vào rừng thấy nhiều thứ lạ lắm, mải mê nghe chim hót khiến nàng quên cả hái nấm Gần trưa lại có thêm một loài chim cất cao giọng hót hay hơn các loài chim khác, làm nàng càng mải mê hơn đến tận gần tối mới sực nhớ ra là mình phải lo bữa ăn tối cho các anh Thế là Lầu Slam vội vàng hái rau vơ trúng cả nấm độc đem về Đêm ấy cả nhà ăn trúng nấm độc Người anh cả ăn nhiều, đến gần sáng thì chết Người anh thứ hai ăn ít hơn may mà chữa được, và Lầu Slam cũng được cứu chữa kip thời nên nàng cũng thoát chết Sau khi anh cả qua đời Lầu Slam buồn bã âm thầm, suốt cả tháng trời cô không nói, không cười
Năm lên mười hai tuổi, những lúc anh đi vắng Lầu Slam nhớ giọng hót của loài chim, cô lẳng lặng trốn người anh đến khu rừng chim hót năm xưa Vừa tới rừng Lầu Slam nghe chim hót, lòng Lầu Slam tràn ngập niềm vui, quên hết mọi nỗi buồn rầu Thế rồi nàng tìm cách bắt được một con chim nhỏ đem về nuôi, nàng đặt tên cho chim là “Va Mầy” bởi lông chi có các hoa văn như bàn tay (chim hoạ mi) Ngày ngày, nàng nghe chim hót và học theo chim hót rồi tự hát ra nhiều bài hát phù hợp theo tình cảm của mình với sông núi, với mọi người Sáng lên nương làm cỏ lúa, Lầu Slam hát cho lúa nghe
Người đời kể lại những bài hát của nàng hát ra trong thời kỳ này đều nhớ nhung da diết Nàng đến với các tộc người, học thuộc những bài hát của các tộc người đó rồi lại sáng tác ra những bài hát mới cho mọi người nghe
Trang 32Một ngày xuân, người dân trong vùng nghe những lời hát buồn thương nhớ của nàng với chàng Dừn Họ nói cho nàng biết rằng, có một chàng trai đang ở trên núi chín khúc, sống với đàn khỉ buồn rầu suốt ngày đi hái quả ăn Nàng nghĩ đó chính là người yêu của mình Lúc đó nàng đã ba mươi sáu tuổi Nét đẹp của nàng đã bị phai tàn nhiều Lầu Slam xuống suối tắm cho sạch sẽ trước khi lên núi gặp chàng Trẻ chăn trâu nhìn thấy một cô gái tắm trong làn nước trong xanh liền đồng thanh cất tiếng hát:
Có cô gái già Váy áo bỏ ra Dầm mình trong nước
Có hai con cá Nép vào thân cây
Cá chẳng có vây Chẳng bơi đâu cả
Nàng giật mình nghe bọn trẻ hát xấu hổ, bối rối chạy lên bờ mặc váy,
áo, nàng không tìm ra được một ý thơ nào để hát máy lại lũ trẻ Nàng buồn dầu tựa tựa vào gốc cây thông bên suối ngủ lịm đi đến đêm nàng không còn thở được nữa Hồn thơ của nàng nhập vào gốc cây thông Từ đó, cây thông bốn mùa vi vu reo hát Lại có một con chim trắng luôn bay về đậu trên ngọn cây thông, người ta bảo tiếng thông vi vu đó là tiếng hát của Lầu Slam Con chim lông trắng đó là chàng Dừn về đậu cùng với người yêu của mình
Ngày nay, mỗi khi người Sán Chay vui xuân hát Sình ca/Soóng Cọ đều
có một chương hát về Lầu Slam - Nữ thần ca hát của dân tộc Sán Chay
Người Sán Chỉ ở Lộc Bình vẫn có những câu ca ngợi nàng Lầu Slam nhưng họ gọi tên nàng là Tam Lưu (Lưu Ba):
Tam Lưu sinh được bạc trong sáng Sáng tác ra lưu lại bảo người khôn
Trang 33Có tiếng thực phải nàng Tam Lưu Tam Lưu mới phải người sáng tác
[42, tr.16]
Người Cao Lan thì cho rằng, tục hát sình ca hát ví có từ khi con người còn chưa biết hát, biết ca Một ngày có đôi trai làng, gái bản từ đâu đến hát ví xướng ca đối đáp với nhau với những tiếng ca, lời hát giao duyên tình tứ Ban ngày họ đi đâu mất, đêm đến họ lại xuất hiện mỗi người ngồi trên một hòn đá ngăn cách bởi một dòng suối nhỏ nước trong văn vắt hát ví với nhau Mọi người nghe thấy hay quá đến xem đông như hội Họ hát suốt đêm này qua đêm khác, đến đêm thứ ba mươi sáu thì trời quá lạnh tuyết rơi xuống dày đặc Hôm sau người ta thấy hai người đã chết cóng hóa đá Người ta chỉ nhớ tên cô gái là Làu Slam – cô ba họ Lưu – tức nàng Lưu Tam hay Lưu Ba Còn chàng trai họ chỉ biết là chàng Tú Tài (Slạu Sài ) Người Cao Lan, có người nhớ, có người không nhớ hết những bài hát Về sau khi học được chữ họ sưu tầm lại thành tập sách hát sình ca” [40, tr.180-181] Trong những câu hát của người Cao Lan cũng có những câu ca ngợi nàng Lưu Ba:
Chàng về giữa tết trung thu Trăm rằm lồng lộng đi từ đông lên
Ca hay chính chúa Lưu Ba
Từ nhỏ đi hát mường mường nổi danh
Trang 34Lời ca bốn câu Lưu Tam tạo, Sáu nước dùng chung truyền cháu con
[4, tr 601]
Theo các cụ cao niên dòng họ Lý ở Lộc Bình, thì Xắng Cọ là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của tộc người Sán Chỉ có từ lâu đời Qua nội dung, lời ca của Xắng Cọ cho thấy có nhiều sự tích, điển tích có nhắc đến các địa danh, đến vùng Lưu Ba của Trung Quốc nên Xắng Cọ có thể có trước khi người Sán Chỉ vào Việt Nam
Như vậy, theo truyền thuyết thì Xắng Cọ có lịch sử lâu đời Nhưng nó xuất hiện ở Việt Nam cùng với sự định cư của người Sán Chỉ thì ít nhất cũng
đã nảy sinh và tồn tại ba, bốn trăm năm nay Điều đó chứng tỏ sức sống lâu bền của loại hình dân ca truyền thống này
1.3 Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
1.3.1 Hát Xắng Cọ trong đời sống văn hóa của người Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Hát Xắng Cọ được tồn tại trong đời sống tinh thần của dân tộc Sán Chỉ
ở Lộc Bình từ lâu đời Mỗi khi có dịp gặp gỡ bạn bè, người thân, họ thường hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương làng bản, qua
đó thể hiện tâm tư, tình cảm của người hát với khách và khách với chủ
Vào những dịp lễ tết, hội hè hay những khi thời vụ nông nhàn, người Sán Chỉ ở Nhượng Bạn thường mời người Sán Chỉ ở xã Kiên Lao, Xa Lý (Lục Ngạn, Bắc Giang) lên chơi và ngược lại Vào những dịp như vậy, những người bạn vừa trở thành khách và cũng là bạn hát Các bạn hát từ nơi khác đến thường đi theo đoàn, mỗi đoàn có thể có từ vài đôi đến vài chục đôi Trong mỗi đoàn, có một người làm trưởng đoàn với nhiệm vụ giao dịch và tổ chức cuộc hát Mỗi chuyến đi như vậy thường kéo dài đến vài ngày, có khi
Trang 35hơn mười ngày Đó là những dịp để họ gặp gỡ, vui chơi, thăm hỏi lẫn nhau và cùng nhau ca hát Trong những lời Hát Xắng Cọ của người Sán Chỉ ở Lộc Bình vẫn còn ghi lại những cảnh ấy:
Thổi xuống hát duyên hát một lời Bốn bên người già nghe hát duyên Lục Ngạn bên này đối bên kia Hát lời không ra nước mắt tuôn
[42, tr.11]
Trước năm 1980, thanh niên nam nữ đến tuổi mười bốn, mười lăm bắt đầu học hát và đi hát giao lưu với các làng khác Hiện nay, số thanh niên ở Lộc Bình ít người biết hát, số này một vài người từ ba mươi lăm tuổi trở lên biết hát Họ có thể hát và thường hát mỗi khi gia đình, làng bản có khách đến chơi Số người am hiểu, hay hát chủ yếu là thế hệ người cao tuổi đã từng tham gia các cuộc hát như các ông, bà: Hoàng Văn Minh (85 tuổi), Trần Thị Khắm (85 tuổi), Hoàng Thị Thọ (77 tuổi), Lâm Văn Sằm (74 tuổi), Hoàng Văn Phát (68 tuổi), Hoàng thị Phát (61 tuổi), Hoàng Văn Sặn (56 tuổi), Hoàng Thị Giác (54 tuổi) Như vậy, chúng ta thấy số người am hiểu và biết hát Xắng Cọ một cách bài bản hầu hết là những người trung tuổi và những người già Điều này cho thấy việc duy trì và phát huy Hát Xắng Cọ là hết sức cần thiết
1.3.2 Hình thức diễn xướng và quy trình Hát Xắng Cọ ở Lộc Bình, Lạng Sơn
Quá trình nghiên cứu về hình thức hát dân ca của người Sán Chỉ tại Lộc Bình – Lạng Sơn, chúng tôi thường gặp 3 hình thức hát cơ bản sau:
Xắng Cọ (Hát ban đêm)
Chục Cọ (Hát ban ngày)
Cáng Cọ (Hát cho cả ban ngày và ban đêm)
Ở Lục Ngạn - Bắc Giang còn có hát đổi danh (zoóng hôồ cộ) - con trai
18 tuổi làm lễ đổi tên và từ đó được đổi danh mới trở thành thành viên chính thức của cộng đồng
Trang 36Tuy nhiên, người Sán Chỉ thường gọi chung cho các hình thức hát này
là Xắng Cọ Các hình thức hát này thường được phân biệt khác nhau ở âm điệu hát, không gian diễn xướng và nội dung lời hát Đặc biệt là âm điệu hát: Hát Xắng Cọ (ban đêm), tiết tấu kéo dài hơi, thoạt nghe không rõ âm tiết, giọng trầm; hát Chục Cọ (hát ban ngày) tiết tấu ngắn hơi, rõ âm tiết hơn, giọng cao; hát Cáng Cọ, tiết tấu không kéo dài, âm tiết rõ ràng Cả 3 làn điệu hát không có đạo cụ đệm theo sau Cách thức cặp nam hát một bài (một trổ) , cặp nữ đáp lại một trổ (4 câu, 7 chữ hoặc 5 chữ) Một cuộc hát thường từ hai đến ba cặp nam, cặp nữ hát với nhau
1.3.2.1 Hát Xắng Cọ (Hát ban đêm)
Đây là loại hình hát phong phú có nội dung mang tính chất tổng quát, bao trùm và hấp dẫn trong các loại hình Hát Xắng Cọ của dân tộc Sán Chỉ Do
đó người Sán Chỉ gọi các loại hình hát này theo tên chung là Xắng Cọ
Trước kia, mỗi khi diễn ra cuộc hát, họ thường hát bảy đêm liên tục nhưng dần về sau, chỉ hát năm đêm
Đêm thứ nhất (Tài dắt dì cọ pai)
Đêm thứ hai (Tài nhầy dì cọ pai)
Đêm thứ ba (Tài slam dì cọ pai)
Đêm thứ tư (Tài slấy dì cọ pai)
Đêm thứ năm (Tài ngẩu dì cọ pai)
Trong những đêm hát này, số lượng các bài hát mỗi đêm giảm dần từ đêm đầu đến đêm cuối Lý do là luật hát của người Sán Chỉ đã quy định ở mỗi đêm hát, người hát phải hát một số bài nhất định theo thể thức đêm hôm sau không được hát lại những bài hát mà đêm trước đã hát Đây là một nguyên tắc bất di bất dịch mà cặp hát nhất thiết phải tuân thủ Lối hát này, người Sán Chỉ chỉ hát trong nhà hoặc rải chiếu ngoài sân để hát chứ tuyệt đối không được hát
ở ngoài đường, ngoài chợ
Trang 37Những bài hát đêm này (hát cuộc) là những bài có sẵn được ghi chép bằng chữ Hán Nôm – Sán Chỉ còn lưu giữ ba quyển Số người còn biết, chủ yếu là lớp trí thức dân gian đã từng hành nghề Mo, Tào ở địa phương, số còn lại được ghi chép bằng chữ cái phiên âm la tinh Việt – Sán Chỉ còn lưu lại sổ tay của nam, nữ thế hệ trước đây Các bài hát được quy định bằng số câu, số chữ nhất định, chủ yếu theo thể thất ngôn tứ tuyệt – một bài bốn câu, mỗi câu bảy chữ, tuy nhiên đôi khi cũng xuất hiện câu chỉ có năm chữ Với thể loại này, nếu người hát chỉ sai một vần hay một chữ thì khó có thể hát tiếp được Bên cạnh đó, cũng có những bài được sáng tác mới nhưng số lượng không nhiều và chỉ được sử dụng ở một số hoàn cảnh nhất định như lúc ban đầu gặp
gỡ hoặc khi chia tay nhau Trong thể loại hát ban đêm, thường hát với âm điệu kéo dài nhẹ nhàng, vừa phải khoan thai gần như hát ru và sử dụng lời láy
để ngâm đệm
Để chuẩn bị cho một cuộc hát, địa điểm của gia đình định tổ chức hát
đó phải có sự chuẩn bị trước, tránh gia đình có việc phiền muộn, có tang Khi được sự nhất trí của chủ, thì cuộc hát mới tổ chức Thời gian hát từ bảy đến tám giờ tối đến sáng hôm sau Khi khách đến nhà trong bản chơi (ít nhất là một đôi nam hoặc nữ, nhiều là vài đôi, thậm chí hàng chục đôi), sau khi đã ăn cơm tối xong, họ ngồi uống nước, ăn trầu thì ở ngoài cửa có rất đông người trong bản đến gặp với mục đích gặp gỡ, hỏi thăm và hát đối đáp giao lưu, thi thố tài năng với nhau Chủ nhà đã chuẩn bị sẵn dầu đèn, chè nước để phục
vụ cuộc hát tại gia đình mình (trong tình huống này, đôi nữ là người ở trong làng, đôi nam là khách ở làng khác đến chơi và dự đêm hát) Nữ hát trước, cứ hết một trổ có bốn câu, nam đáp lại
Đầu tiên là hát xã giao giữa khách với gia chủ, giữa đôi nam với đôi nữ Sau khi uống nước, ăn trầu, trò chuyện xã giao, cả hai đội bắt đầu hát những bài chào gia đình:
Trang 38Hát một bài hát nhỏ hỏi về nàng Hỏi nàng chủ nhà nhiều vô kể Hỏi đến chủ nàng rồi nàng hát Hát đến khi muộn mặt trời mọc
Đáp:
Hát câu giao duyên không hỏi chàng Chủ nhà có lòng tốt cho hát
Chủ nhà chàng vẫn cho mình hát Hát đến khi muộn bảy tám giờ
[42, tr 3]
và chúc mừng gia chủ:
Giao duyên hỏi đến chú chủ hộ Chủ hộ giàu lòng ngồi ghế cao Thân mặc áo đẹp mười hai chiếc Bước chân ra của sương mù tan
Có hát hát ra không sợ giống
Đáp:
Trên rừng cây thông không có hướng Nàng về giao duyên ở làng anh
Trang 39Nàng về giao duyên nơi xóm nhỏ
Có hát hát ra không âu sầu
[42, tr 2]
Đến sáng hôm sau, các chàng trai cô gái hát mời rửa mặt (Tòng pột sui
cọ hối sụi vàn) Sau khi hát cuộc với những luật lệ chặt chẽ thì đây là lúc hát
tự do Sự thay đổi không khí đã làm cho những đôi trai gái thể hiện tình cảm
một cách gần gũi hơn Bên nam lấy thau nước, khăn mặt mời đôi nữ rửa mặt Ngoài những bài bản có sẵn, các đôi nam nữ có thể ứng khẩu hợp với môi trường và hoàn cảnh Nếu như đêm qua cô gái chỉ hỏi thăm, chúc mừng gia chủ và chỉ dám nói một cách bóng gió tình cảm của mình, chưa dám thể hiện tình cảm trực tiếp với chàng trai thì hôm nay cô đã bày tỏ một cách tự nhiên
và chân thành nhất:
Anh người vừa đẹp vừa tài giỏi Sáng nay lấy nước cho em rửa Sáng nay lấy nước em rửa mặt
Canh năm tiễn nhau ra cửa về Hai người chia rẽ lệ đôi hàng
Gà vàng gáy rộn em xa anh
Trang 40Lòng em buồn lắm anh biết không
[42, tr 30]
1.3.2.2 Hát Chục Cọ (Hát ban ngày)
Đây cũng là thể loại hát đối đáp nam nữ, tuy nhiên được diễn ra vào ban ngày chủ yếu hát ở dọc đường từ nhà đến chợ, đến hội hoặc đến làng mình mới hát Sự phong phú trong câu hát gắn liền với trí thông minh và tài ứng tác của người hát Ở thể loại hát ban ngày, người ta lấy việc đối lời, đối ý
là chính để làm sao kịp thời sâu sắc Họ có thể gặp nhau ngoài đường, ngoài sân, trong lúc rỗi rãi, họ chào hỏi nhau bằng câu hát hoặc đối đáp với mục đích thử sức, thử tài của đôi bên Những lúc, các chàng trai, cô gái cùng làm đồng áng trên một triền đồi hay dưới ruộng lúa, họ cùng nhau hát để xua đi nỗi mệt nhọc, lao động vất vả Cũng có khi, bài hát Chục Cọ được cất lên trên đường đi làm, đi chợ Đây chính là môi trường tự nhiên để họ có thể ứng tác một cách nhanh nhất, sâu sắc nhất Vì thế, người ta có thể thấy được tất cả thiên nhiên tươi đẹp như hoa, lá, chim muông đều xuất hiện trong lời hát Chục Cọ Ở lối hát này, họ không chỉ thuộc nhiều bài hát mà phải là sự nhanh trí, tài ứng khẩu Đây là lời của chàng trai:
Mỗi khi gặp em ra đường chơi Nhìn chân em đi giày nhỏ đẹp Tôi muốn hỏi em mấy lời hát Không biết ý em như thế nào
[13]
Ở trường hợp này, đối tượng bị trêu ghẹo là các cô gái nhưng nhiều khi
ở thế bị động, họ lại chuyển sang thế chủ động gây cho đối phương sự lúng túng và qua đó những bài ca cất lên họ có thể kết làm bạn đường với nhau:
Ngàn vạn dặm đường trồng tùng bách Ngàn vạn dặm đường rực rỡ hoa