Trên địa bàn huyện Sơn Động, do sự tổng hợp nhiều điều kiện như: điều kiện về lịch sử, địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội quy định nên người Tày - Nùng chiếm số lượng đông đảo nhất chiế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn là hoàn toàn đúng sự thật, là kết quả của sự tìm tòi, tổng hợp, khái quát trên cơ sở nhiều nguồn tài liệu khác nhau Đặc biệt là nguồn tư liệu điền dã tại địa phương – huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Luận văn được thực hiện trong 8 tháng, từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 8 năm 2011
Người cam đoan
Lãnh Thị Duyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu: 6
3.1 Mục đích nghiên cứu: 6
3.2 Đối tượng nghiên cứu: 6
3.3 Phạm vi nghiên cứu: 6
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 6
4 Nguồn tư liệu: 6
5 Phương pháp nghiên cứu: 7
6 Đóng góp của luận văn: 7
7 Cấu trúc của luận văn: 8
Chương1 Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang 9
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 9
1.2 Một số đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội huyện Sơn Động 13
1.2.1 Kinh tế: 13
1 2.2 Văn hoá xã hội và truyền thống: 16
1 3 Nguồn gốc của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động 17
1 3.1 Lịch sử về nguồn gốc và quá trình phát triển của cư dân ở huyện Sơn Động 17
1.3.2 Nguồn gốc của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động 18
Tiểu kết: 22
Chương 2 Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986 23
Trang 42.1 Khái niệm “bản” và “văn hoá bản” 23
2.1.1 Khái niệm “bản” 23
2.1.2 “Văn hoá bản” 23
2.2 Môi trường sinh thái và nguyên tắc đặt tên của bản 25
2.3 Kết cấu xã hội của bản 36
2.3.1 Quan hệ gia đình, dòng họ 36
2.3.2 Bộ máy quản trị của bản 41
2.3.3 Luật tục của bản 43
2.3.4 Kết cấu dân cư 45
2.3 5 Tổ chức dân dã 54
2.4 Một số yếu tố văn hoá vật chất và tinh thần của dân bản 57
2.4.1 Văn hóa vật chất 57
2.4.2 Văn hóa tinh thần 73
Tiểu kết: 111
Chương 3 Những biến đổi của văn hoá bản ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến 2010 113
3.1 Cơ cấu tổ chức 113
3.2 Quan hệ làng bản 116
3.3 Những biến đổi về văn hoá 120
3.4 Sự giao thoa văn hoá tộc người ở huyện Sơn Động 129
3.4.1 Giao thoa văn hoá và những biểu hiện 129
3.4.2 Ý nghĩa của sự giao thoa văn hoá tộc người ở huyện Sơn Động 136 Tiểu kết: 140
Phần kết luận 141
Tài liệu tham khảo 144
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta có 54 thành phần dân tộc cùng cư trú Mỗi dân tộc đều có
một bản sắc văn hoá riêng Cùng với những biến động của lịch sử qua dòng
chảy thời gian, văn hoá của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi theo
những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa
và hoà quyện, đan xen những yếu tố cũ và mới, tuy hoà nhập mà không hoà
tan Để rồi làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc Như một
bông hoa rực rỡ sắc hương nhưng không thể nhầm lẫn với một bông hoa nào
khác trong vườn hoa văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Với sự phát triển như vũ bão của thế giới về mọi mặt, với xu thế toàn
cầu hoá đã tạo điều kiện cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới có cơ hội
để phát triển toàn diện: Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và thu nhập Từ
đó có điều kiện để giao lưu và tạo thêm nhiều giá trị văn hoá mới, làm giàu
thêm cho bản sắc văn hoá của dân tộc mình: Vừa đậm đà lại vừa phong phú
Tuy nhiên, thời cơ đấy mà thách thức cũng là đấy Bên cạnh sự phát triển là
nhiều nguy cơ trước mắt cũng như nguy cơ tiềm ẩn lâu dài và âm ỉ Đó là sự
phá hoại của các lực lượng thù địch đang tìm mọi cách thực hiện âm mưu diễn
biến hòa bình Mà đối tượng chính chúng nhằm vào chính là các dân tộc thiểu
số sinh sống ở những vùng núi cao và những khu vực biên cương của tổ quốc,
nơi mà điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá
còn thấp Bởi vậy, mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đặc
biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số luôn phải hiểu biết, bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình, tránh để kẻ xấu lợi dụng
Trang 6Như vậy, có thể khẳng định việc bảo vệ những giá trị văn hoá dân tộc đang là vấn đề cấp thiết, vừa mang tính thời sự, vừa là chiến lược văn hoá lâu dài đối với đất nước ta Đây là vấn đề không mới và đã có rất nhiều văn kiện Đảng, chính sách của Nhà nước đã đề ra chủ chương, giải pháp cụ thể đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, đặc bịêt là vùng dân tộc thiểu số
Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương V, khoá VIII Đảng chủ chương: Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết để văn hoá các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam Năm 1991, Trong “cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” Đảng ta đã xác định: Tôn trọng lợi ích,
truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, thẩm mĩ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc Trong cộng đồng đa dân tộc, người Tày chiếm tỉ lệ đứng thứ hai sau người Kinh Người Nùng cũng có dân số rất đông đảo Trên địa bàn huyện Sơn Động, do sự tổng hợp nhiều điều kiện như: điều kiện về lịch sử, địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội quy định nên người Tày - Nùng chiếm số lượng đông đảo nhất (chiếm 58% theo số liệu thống kê năm 2010) trong tổng số các dân tộc thiểu số ở trong huyện Dù ở đâu, ngưòi Tày - Nùng vẫn luôn có ý thức giữ gìn một nền văn hoá vốn rất độc đáo và đa dạng Tuy nhiên, dưới thời đại của nền kinh tế thị trường phát triển mạnh ở mọi nơi, văn hoá của người Tày - Nùng ở huyện Sơn động đã và đang dần bị mai một bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Bản thân tôi cũng là người dân tộc Nùng Nhưng do sinh sống từ lâu đời ở địa bàn thôn Cẩm Đàn thuộc xã Cẩm Đàn - Nơi có đông đảo người Kinh cùng sinh sống nên những bản sắc văn hoá của dân tộc mình tôi hầu như chỉ còn được biết đến qua lời kể của ông bà và những người cao tuổi Với tình yêu quê hương, mong muồn giữ gìn và phát
Trang 7huy những bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình; mong muốn góp phần nhỏ bé của mình trong việc tìm hiểu những giá trị văn hoá đang dần mất đi và phát huy những giá trị văn hoá đang còn được bảo tồn của dân tộc mình nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung Tôi quyết định chọn vấn đề “Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc giang (từ 1945 đến 2010)” làm đề tài luận văn của mình Hơn nữa, tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch Sử ở huyện vùng cao Sơn Động - Nơi có đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là người Tày - Nùng Tôi chọn đề tài này để nghiên cứu còn với mục đích phục vụ cho quá trình giảng dạy lịch sử địa phương, giảng dạy ngoại khoá nhằm giáo dục cho các thế hệ học sinh lòng tự hào, tình yêu đối với quê hương đất nước, với dân tộc mình Đó cũng chính là những mục đích mà luận văn này hướng tới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hoá là một lĩnh vực tương đối rộng lớn và hấp dẫn đối với những nhà nghiên cứu Nói đến văn hóa của người dân tộc thiểu số, chúng ta thấy rằng đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu hoặc là toàn diện, hoặc ở những góc độ khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau Về vấn đề văn hoá của người Tày, Nùng cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứư đề cập tới, như một số công trình sau đây:
- Cuốn “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” của các tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn do Nxb (Nhà xuất bản) Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1968 Cuốn sách đã giới thiệu sơ lược
về làng bản và những nét văn hóa truyền thống của người Tày, Nùng
- Các tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô đã biên soạn cuốn “Văn hóa Tày – Nùng” do Nxb Văn hóa xuất bản năm 1984 đã có nội dung nghiên cứu về văn hóa của người Tày – Nùng rất phong phú như: Những tập tục cưới xin,
Trang 8ma chay, sinh đẻ, cúng giỗ, ăn mừng sinh nhật, mừng thọ, làm nhà, ăn mừng nhà mới…Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị cao, rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu khoa học
- Năm 1992, viện dân tộc học đã xuất bản cuốn “Các dân tộc Tày, Nùng
ở Việt Nam” Đây là một công trình nghiên cứu có tính chất toàn diện về điều kiện tự nhiên; dân cư Tày, Nùng; lịch sử hình thành tộc người; các hình thái kinh tế, hình thái văn hoá, tổ chức xã hội, cho đến các yếu tố văn hóa như: Nghi lễ đám cưới, đám tang; tục lệ sinh đẻ, làm nhà mới và tôn giáo, tín ngưỡng…Các vấn đề này đã được trình bày trong chỉnh thể văn hóa truyền thống của làng bản
- Trong cuốn “Văn hóa dân gian Tày” của các tác giả Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn do sở văn hóa – thông tin tỉnh Thái Nguyên xuất bản năm 2002 cũng đã đề cập đến nguồn gốc, văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày một cách cụ thể, chi tiết
- Gần đây, năm 2009, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho ra mắt cuốn
“Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng” của tác giả Nguyễn Thị Yên Cuốn sách đã góp phần bảo tồn và giới thiệu các giá trị văn hóa tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng Với cái nhìn tổng quan, cuốn sách tập trung giới thiệu khái quát về tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng; tổng hợp, phân loại các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của người Tày, Nùng trong
sự giao lưu, tiếp biến giữa các yếu tố du nhập và yếu tố bản địa … Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản như vậy, cuốn sách đã tập trung đánh giá hiện trạng và vai trò của các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của người Tày - Nùng để từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất phát huy trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu các nghi lễ phổ biến của người Tày, Nùng như tang ma, lễ cấp sắc, lễ mừng thọ, lễ đầy tháng…
Trang 9Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu, bài viết nghiên cứu về văn hoá dân tộc thiểu số như:
- Phan Hữu Dật với cuốn “Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1999
- Nguyễn Từ Chi với cuốn: “Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người”, Nxb Văn hoá Dân tộc, tạp chí Văn hoá nghệ thuật Hà Nội xuất bản năm 2003…
Nói về văn hoá của người Tày – Nùng ở tỉnh Bắc Giang có bài viết của tác giả Vi thị Tỉnh: “Nghi lễ vòng đời của dân tộc Nùng thôn Đồng Thuỷ” nói
về nét văn hoá truyền thống đặc sắc của dân tộc Nùng Ở thôn Đồng Thuỷ, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang ( Bắc giang) Đăng tại Tạp chí Văn hoá thể thao và du lịch Bắc Giang,số 3-2009…
Những công trình nghiên cứu nói trên nhìn chung đều đã đề cập tới vấn
đề văn hoá ở nhiều khía cạnh khác nhau và đặc biệt chú trọng tới vấn đề văn hoá dân tộc thiểu số Riêng những công trình nghiên cứu về văn hoá của người Tày - Nùng đã góp phần nghiên cứu văn hoá trên phương diện rộng (phạm vi quốc gia) của hai dân tộc Tày và Nùng, bao gồm cả văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, văn hóa xã hội Đồng thời, cũng có những công trình nghiên cứu về văn hoá trên phương diện hẹp (phạm vi một tỉnh, thậm chí một
xã, một thôn) Ta có thể thấy rằng trong một nền văn hoá chung đó có sự giao lưu và tiếp biến văn hoá để tạo nên một nền văn hoá vừa phong phú lại vừa đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, nói về văn hoá của người dân tộc thiểu số
ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang nói chung và văn hoá của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động nói riêng thì chưa được tác giả nào đề cập đến Tôi rất coi trọng những giá trị nghiên cứu của các thế hệ đi trước và tất cả những công trình nghiên cứu nói trên đều có ý nghĩa tạo cơ sở nền móng và là những nguồn tài liệu quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 103 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Việc nghiên cứu văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động nhằm mục đích hệ thống lại những nét đẹp về văn hoá truyền thống của người Tày - Nùng từ xa xưa cho tới nay Đồng thời qua đó có biện pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá đó
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về văn hoá của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Nói đến văn hoá là nói đến một khái niệm rất rộng lớn Song, do con nhiều hạn chế nên luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu về những bản sắc văn hoá được coi là đặc sắc nhất, điển hình nhất của cư dân người Tày - Nùng nơi đây Nhằm làm rõ những đặc trưng văn hoá mang tính địa phương
- Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Tìm hiểu về văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986 Qua đó thấy được những giá trị tốt đẹp cần được bảo tồn trong văn hóa bản làng của người Tày - Nùng
- Tìm hiểu về những biến đổi của văn hoá bản của người Tày – Nùng ở
huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến nay
4 Nguồn tƣ liệu:
Trang 11- Nguồn tư liệu chung: bao gồm một số sách nghiên cứu về văn hóa của
người Tày, Nùng; các văn kiện Đảng có ý nghĩa chỉ đạo đối với lĩnh vực văn hóa; các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: tài liệu về dân tộc thiểu
số, tài liệu về kiến trúc, văn hóa dân gian, văn hoá làng xã, tôn giáo
- Nguồn tư liệu địa phương: Các tài liệu tập huấn, tuyên truyền chính sách dân tộc thiểu số và chính sách 135 đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Sơn Động; Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động; Lịch Sử Đảng bộ các xã
- Nguồn tư liệu điền dã bao gồm: Hương ước bản làng, gia phả của một
số gia đình người Tày, Nùng Ngoài ra, còn các tư liệu truyền miệng do các
cụ cao niên ở một số bản làng cung cấp như: Tổ chức làng bản, Tổ chức dân
dã, truyện dân gian, những nghi lễ thờ cúng, những tập tục, các kinh nghiệm
về kỹ thuật nghề truyền thống
Vì là đề tài nghiên cứu về lịch sử địa phương nên có sự hạn chế về nguồn tài liệu thành văn Bởi vậy những tài liệu thực địa, điền dã là nguồn tư liệu phong phú và vô cùng quan trọng mà tôi đặc biệt quan tâm để hoàn thành luận văn này
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lô gíc; phương pháp tổng hợp hoá, khái quát hoá; phương pháp phân tích, so sánh, điền dã; các phương pháp xử lý tư liệu và một số phương pháp cần thiết khác
6 Đóng góp của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về “Văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (từ 1945 đến 2010)” là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về văn hoá của người Tày - Nùng ở địa phương này Từ đó thấy được những đặc điểm tương đồng, vai trò quan trọng
Trang 12của văn hoá người Tày - Nùng trong cộng đồng đa dân tộc ở huyện Sơn Động nói chung và Việt Nam nói riêng Đồng thời thấy được những giá trị văn hoá tốt đẹp của người Tày, Nùng ở huyện Sơn Động từ xa xưa cho đến nay và những giá trị ấy nhất thiết phải được gìn giữ và bảo tồn
7 Cấu trúc của luận văn:
Phần chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương1 : Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Chương 2: Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến 1986
Chương 3: Những biến đổi văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ sau 1986 đến nay
Trang 13
Chương1
Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Tày- Nùng
ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Sơn Động là huyện miền núi cao nằm ở phía đông của tỉnh Bắc Giang,
có diện tích 844,32 km vuông, bằng 22,09 % diện tích tỉnh Bắc Giang [Hình 1.1]
Huyện Sơn Động nằm trong toạ độ:
Từ 106 041’11” đến 1070,02’40”kinh độ đông
Từ 21008’46” đến 21030’28” vĩ độ bắc
Phía bắc của huyện giáp với huyện Lộc Bình của tỉnh Lạng Sơn Phía nam giáp huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ, Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh Phía đông giáp huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp huyện Lục Ngạn, Lục Nam của tỉnh Bắc Giang.[Hình 1.2]
Trung tâm huyện lỵ là thị trấn An Châu nằm trên ngã ba quốc lộ 31 và
Trang 14Ngày 11-5-1917, quyền Thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định bãi bỏ huyện Yên Bác ( Quảng Yên) Đất đai huyện Yên Bác sáp nhập vào huyện Sơn Động
Ngày 25-9-1919, huyện Sơn Động Đổi thành châu Sơn Động
Năm 1927, châu Sơn Động có 8 tổng ( Biển Động, Cấm Sơn, Đông Đoàn, Hả Bộ, Niên Sơn,Tây Đoàn, Tứ Trang, Vị Loại), 53 xã, 15.342 nhân khẩu
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ,
53 xã hợp nhất lại thành 41 xã
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để thuận lợi cho việc chỉ đạo, tháng 7- 1947, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu I quyết định cắt huyện Sơn Động cùng 10 xã tả ngạn sông Lục Nam thuộc huyện Lục Ngạn sáp nhập với huyện Hải Chi (Hải Ninh) thành lập châu Lục Sơn Hải trực thuộc tỉnh Quảng Hồng Tháng 12-1948, liên tỉnh Quảng Hồng chia thành tỉnh Quảng Hồng và đặc khu Hòn Gai Đầu năm1949, châu Lục Sơn Hải giải thể, huyện Sơn Động đưa về tỉnh Quảng Yên
Ngày 17-2-1955, khu Hồng Quảng Thành lập, huyện Sơn Động trở lại tỉnh Bắc Giang
Ngày 21-7-1957, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 24/TTg chia hai huyện Sơn Động, Lục Ngạn thành ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam
Đến nay huyện Sơn Động có 21 xã và 2 thị trấn: Thị trấn An Châu, thị trấn Thanh Sơn, xã An Châu, Tuấn Mậu, Thạch Sơn, Phúc Thắng, Quế Sơn, Chiên Sơn, Giáo Liêm, Cẩm Đàn, Yên Định, Tuấn Đạo, Bồng Am, Thanh Luận, An Bá, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, An Lập, Vĩnh Khương, Lệ Viễn, Vân Sơn, Hữu Sản
Như vậy, có thể thấy rằng, châu Sơn Động hay huyện Sơn Động trong lịch sử có địa giới không giống như ngày nay và có khá nhiều thay đổi: Có lúc
Trang 15bao gồm một phần của tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và huyện Lục Ngạn ngày nay
Với vị trí địa lý của huyện Sơn Động như vậy đã khiến nơi đây trở thành địa bàn chiến lược quan trọng đối với mọi thời kỳ lịch sử cũng như trong tương lai và không chỉ đối với lĩnh vực kinh tế mà còn đối với lĩnh vực chính trị, quân sự…Bởi vị trí tiếp giáp với các tỉnh có biên giới với Trung Quốc Từ Sơn Động có thể dễ dàng xuôi về Hà Nội và sang Trung Quốc ngoài ra còn có nhiều trục đường để có thể thông thương dễ dàng với các tỉnh lân cận
Xét về điều kiện tự nhiên: Sơn Động là nơi có địa hình núi non trùng
điệp, đa số diện tích đất của huyện là đồi núi, chủ yếu là núi cao, dốc dần từ đông bắc xuống tây nam với độ dốc khá lớn, đặc biệt là các xã nằm ven dãy núi Yên Tử như: Thanh Sơn, Thanh Luận và các xã có vị trí tiếp giáp với huyện Đình Lập, Lộc Bình ( Lạng Sơn) như: Hữu Sản, Vân Sơn, Thạch Sơn, bình quân trên 25độ Độ cao trung bình của huyện là 450 m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (1.068m), thấp nhất (52 m) thuộc khu vực thung lũng sông Lục nam Giữa các triền núi là những cánh đồng nhỏ hẹp, tuy vậy cũng khá thuận lợi cho việc trồng lúa nước Với những điều kiện như trên,
có thể nói Sơn Động là địa bàn rất phù hợp với đặc điểm sinh sống, tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số Vì vậy, Sơn Động là nơi tập trung rất nhiều đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc khác nhau, trong đó đa phần là người Tày và Nùng
Sơn Động ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên
Tử ở phía nam nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,60C Nhiệt độ trung bình cao nhất 32,90C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 11,60C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.564mm, thuộc khu vực có lượng mưa trung bình Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5
Trang 16ngày, những ngày có lượng mưa lớn nhất vào khoảng tháng 8, đạt khoảng 310,6 mm Sơn Động nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên ít chịu ảnh hưởng lớn của bão
Đất đai của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại đất được phân bố ở cả địa hình bằng và địa hình dốc Nhưng chủ yếu là đất feralit Điều
đó cho phép phát triển hệ sinh thái nông – lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng
có giá trị, từ cây lương thực như lúa và rau màu trên các giải đất phù sa, đến việc khai thác đất dốc vào phát triển lâm nghiệp Nếu sử dụng hợp lý đất đai vừa tạo độ che phủ tránh xói mòn vừa trồng cây ăn quả đem lại giá trị kinh tế cao cho đông bào các dân tộc
Sơn Động có 39.125 ha rừng (năm 2000) với hệ động thực vật phong phú Trong đó diện tích rừng tự nhiên có 34.682 ha, chiếm 88,64% diện tích đất có rừng Diện tích rừng trồng có 4.443 ha, chiếm 11,36% diện tích đất có rừng
Tài nguyên khoáng sản của huyện nhìn chung nghèo cả về số lượng lẫn chủng loại Theo kết quả thăm dò, Sơn động có mỏ đá xây dựng ở An Lạc, đây là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra còn có
mỏ đồng ở xã Cẩm Đàn, mỏ than đá ở Đồng Rì (Thanh Luận) Năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định cho phép khai thác mỏ than Đồng
Rì Năm 2009, mỏ đồng ở xã Cẩm Đàn cũng đã được khai thác Tuy nhiên, những mỏ trên trữ lượng không lớn, chất lượng thấp, điều kiện khai thác tương đối khó khăn
Sông suối trong huyện chiếm 1,53% diện tích tự nhiên (1.292km) Trên địa bàn huyện có một sông chính chảy qua, đó là sông Lục Nam hay dân địa phương còn gọi là sông Bè, sông Dông Thượng nguồn sông Lục Nam bắt nguồn từ Đình Lập ( Lạng Sơn), chảy vào Sơn Động ở Hữu Sản, An Lạc qua địa phận huyện Sơn Động khoảng 40km Từ Hữu Sản, Khe Rỗ ( An Lạc) sông
Trang 17chảy theo hướng đông bắc – tây nam, đến Lệ Viễn đổi hướng đông – tây chảy qua An Lập, An Châu, An Bá Yên Định rồi hợp lưu với ba nhánh sông khác
đó là: Sông Rãng, Sông Cẩm Đàn và sông Tuấn Đạo
Mạng lưới giao thông của huyện chỉ có hệ thống đường bộ, được phân
bố tương đối hợp lý Toàn huyện có 543 km đường bộ, bình quân 0,64km/km2 đất tự nhiên, bao gồm:
Đường quốc lộ có hai tuyến dài 63 km:
Quốc lộ 31 (trước đây là quốc lộ 13B) từ Cẩm Đàn qua thị trấn An Châu đến Hữu Sản sang Lạng Sơn
Quốc lộ 279 từ xã An Châu đi Quảng Ninh
Đó là hai tuyến đường quan trọng để đồng bào các dân tộc huyện Sơn Động có thể dễ dàng giao lưu Kinh tế, văn hóa với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh – nơi có đông đảo đồng bào Tày và Nùng sinh sống Từ xa xưa, người Tày – Nùng từ hai tỉnh này đã vượt qua đèo Hạ Mi, đèo Trinh (ngăn cách giữa
xã Long Sơn của huyện Sơn Động và Tỉnh Quảng Ninh), đèo Hữu Sơn (ngăn cách giữa xã Hữu Sản của huyện Sơn Động Với tỉnh Lạng Sơn) để đến với những vùng đất khác nhau của huyện Sơn Động để làm ăn, sinh sống [8, tr.9-10]
1.2 Một số đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội huyện Sơn Động
1.2.1 Kinh tế:
Xét về lĩnh vực kinh tế thì Sơn Động từ xa xưa vốn là một huyện nghèo
do địa hình, điều kiện tự nhiên không có nhiều ưu đãi cùng với trình độ dân trí thấp Hiện nay, Sơn Động vẫn là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, có nền kinh tế kém phát triển Thời điểm năm 2006, toàn huyện có 9.024 hộ nghèo trên tổng số 14.922 hộ dân, tỷ lệ hộ nghèo tương ứng là 60,47% Đến
Trang 18cuối năm 2008, toàn huyện còn 6.854 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 44,71% tổng dân
Do quỹ đất trồng lúa và hoa màu rất hạn chế nên người dân huyện Sơn Động rất chú trọng đến việc trồng cây công nghiệp ( tràm, thông, trám…) và các loại cây ăn quả phù hợp với điều kiện thời tiết và địa hình đồng thời cho
giá trị kinh tế cao như: Vải thiều, hồng, na…Đặc biệt, trong những năm gần
đây, người dân Sơn Động rất chú trọng đến việc mở rộng diện tích cây vải thiều bởi loại cây này khá phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nơi này đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao Bên cạnh vải thiều Lục Ngạn đã trở thành thương hiệu, vải thiều Sơn Động cũng có chất lượng tốt không kém
Công nghiệp ở huyện Sơn Động cũng bước đầu phát triển nhưng với tốc độ khá nhanh Một số doanh nghiệp điển hình như: Công ty trách nhiệm hữu hạn Tam Cường khai thác và chế biến quặng đồng, Nhà máy nhiệt điện Đồng Rì, công ty khai thác than Đồng Rì, công ty may ở An Lập, nhà máy sản xuất bột giấy Cẩm Đàn…
Dịch vụ cũng đang là một ngành kinh tế phát triền khá nhanh Nếu trước công cuộc đổi mới 1986 dịch vụ còn kém phát triển, hàng hoá ở Sơn Động còn rất khan hiếm thì hiện nay các loại hình dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của nhân dân được phát triển ở khắp mọi nơi, với lượng hàng hoá vô cùng
Trang 19phong phú đến tận những vùng sâu, xa nhất, đảm bảo cho cuộc sống và sinh hoạt của người dân
Lao động: Tính đến cuối năm 2008, toàn huyện có 45.554 lao động trong độ tuổi
Trong những năm qua, đồng bào nhân dân các dân tộc trong huyện đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều các chương trình, dự án Đặc biệt, đồng bào các dân tộc thiểu số đã được hưởng lợi đầu tư trực tiếp từ các chương trình trợ giá, trợ cước; chương trình 134, 135; hỗ trợ lãi suất; dự án giảm nghèo…Chỉ tính từ năm 1999 trở lại đây, toàn huyện đã huy động được gần 175 tỷ đồng đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm tại các xã khu vực đặc biệt khó khăn góp phần tạo nên một diện mạo mới của vùng cao, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Song song với việc lưu giữ bản sắc văn hoá truyền thống, các hủ tục trong việc cưới, việc tang đã được loại bỏ Trong phát triển kinh tế gia đình bà con cũng đã nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả Nhờ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu trong phát triển kinh tế là người dân tộc thiểu số
Phương hướng và giải pháp đối với công tác dân tộc thời gian tới là: Tăng cường tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc; tích cực xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc; tập trung hướng dẫn các hộ đồng bào dân tộc thiểu số chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển lâm nghiệp; phát huy thế mạnh sản xuất của từng vùng gắn với thị trường, từng bước nâng cao thu nhập; tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn; phấn đấu đến năm 2015 giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo bằng mức bình quân chung của tỉnh; giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt 27 triệu đồng;
Tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo đạt trên 40% [8, tr.11-12]
Trang 201 2.2 Văn hoá xã hội và truyền thống:
Là huyện vùng cao duy nhất của tỉnh, 100% thôn, bản, khu phố của huyện Sơn Động đều có người dân tộc thiểu số sinh sống Toàn huyện có hơn
7 nghìn hộ với gần 35 nghìn khẩu là người dân tộc thiểu số, chiếm hơn 46% dân số toàn huyện Nhiều xã có số đông bà con đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như: Hữu Sản 99,4% , Giáo Liêm 70%, Quế Sơn 65% Nhiều thôn, bản
100 % đồng bào là người dân tộc thiểu số như: Nà Hin, Khe Ang (Vân Sơn), Mùng (Dương Hưu) hay Nhùng (Sản 3- Hữu Sản)
Tính đến năm 2010, cả huyện có 11 dân tộc anh em Trong đó dân tộc Kinh chiếm đông nhất (51,1%), còn lại là các dân tộc thiểu số Gồm dân tộc Tày (20,4%), Cao Lan (8,4%), dân tộc Nùng (8,1%), Sán Chí (4,2%), dân tộc Dao (5,3%), Hoa (1,7%), Sán Dìu (0,2%), ngoài ra còn có dân tộc khơme, Mường, Thái [31]
Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, ngôn ngữ, trang phục, những món ăn đặc thù riêng biệt với bản sắc và truyền thống văn hoá khác nhau
Cuộc sống tinh thần của người Sơn Động vô cùng phong phú và đa dạng, biểu hiện qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôn giáo của mỗi dân tộc
Kho tàng văn hoá, văn nghệ của các dân tộc huyện Sơn Động mang đậm sắc thái dân tộc như đàn tính và hát then của dân tộc Tày ở Vân Sơn; hát, múa soong hao của dân tộc Nùng ở các xã khu Cẩm Đàn; kèn gọi bạn của người Dao ở Hữu Sản, Thanh Sơn…Được sự quan tâm của các cấp Uỷ, Đảng, chính quyền và các tổ chức xã hội, những đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc
đã và đang được bảo tồn, gìn giữ để phục vụ cho sinh hoạt tinh thần của nhân dân và làm giàu thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Trang 21Từ xa xưa, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đã luôn luôn đoàn kết giúp đỡ nhau để đấu tranh với thiên nhiên, sát cánh bên nhau trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược
Ngày nay, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đang tiến hành công cuộc đổi mới nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên quê hương, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1 3 Nguồn gốc của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động
1 3.1 Lịch sử về nguồn gốc và quá trình phát triển của cư dân ở huyện Sơn Động
Nói về nguồn gốc loài người, tại huyện Sơn Động năm 1975 các nhà khảo cổ học đã phát hiện những hiện vật thời đá cũ ở xóm Khe Táu (xã Yên Định), đó là 11 di vật bằng đá cuội quartriote Đây là những công cụ chặt, đập được chế tác bằng đá cuội gồm công cụ có biên lưỡi theo chiều ngang, theo hình cánh cung, công cụ lưỡi vát hình chữ V Tại xã An Châu thu được bốn công cụ bằng đá quartiote và đá cuội xa thạch dạng tam giác có rìa cạnh, rìa lưỡi, lưỡi vát, rừu đá ở Mai Sưu, Vô Tranh ( trước đây thuộc Sơn Động, nay thuộc Lục Nam) thuộc thời đá mới
Những phát hiện khảo cổ học đó đã chứng minh con người có mặt ở Sơn Động từ khá sớm
Các di chỉ, di vật khảo cổ học cùng những huyền tích, thần tích, thần phả còn lưu lại đã làm sống lại lịch sử liên tục về sự di trú của cư dân đất Sơn Động Tiếp theo, trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, đến thời đất nước độc lập, tự chủ, nhiều luồng cư dân với những nguyên nhân, biến cố và nguồn gốc khác nhau vẫn tiếp tục tìm đến Sơn Động, tạo ra sự quần cư ngày càng có xu thế đông đúc trên vùng đất còn nhiều hoang hóa
Trang 22Tuy vậy nhưng đến trước và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân
cư Sơn Động còn rất thưa thớt theo kết quả của cuộc điều tra dân số năm
1927 của chính quyền thực dân Pháp, dân số huyện Sơn Động có 15.342 người Nguyên nhân của tình trạng này một phần do điều kiện sinh sống khó khăn, ăn ở không hợp vệ sinh, dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã cướp đi nhiều sinh mạng Nhưng mặt khác, vùng đất này cũng lá nơi hoạt động của nhiều toán thổ phỉ Chúng đốt phá, chém giết làm cho nhân dân phải lưu bạt đi nơi khác
Đến thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ chương của Đảng
về phát triển kinh tế - văn hóa miền núi, nhiều gia đình từ các tỉnh miền xuôi
đã lên khai hoang, lập nghiệp ở Sơn Động làm cho dân số của huyện ngày càng tăng lên Năm 1960 dân số của huyện là 18.045 người, năm 1965 có 21.431 người, năm 1970 có 30.350 người, năm 1980 có 40.221 người, năm
1989 có 53.000 người.[8, Tr.13]
Tình hình trên đây nói lên đặc điểm về dân cư Sơn Động: là sự hòa quyện, hòa nhập giữa dân bản địa sống lâu đời ở địa phương với cư dân các địa phương khác chuyển đến xây dựng quê hương mới qua các thời kỳ lịch sử
từ thời phong kiến, thời thực dân Pháp thống trị đến thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa
1.3.2 Nguồn gốc của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động
Nói về nguồn gốc của người Tày và Nùng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và tựu chung, các công trình nghiên cứu đều cho thấy người Tày
và người Nùng vốn có chung nguồn gốc, cùng thuộc ngữ hệ Tày – Thái, cùng nằm trong khối Bách Việt Chính vì vậy, quá trình phát triển trong lịch sử của người Tày và Nùng cũng có nhiều nét tương đồng
Trang 23Bắc Giang có vị trí tiếp giáp và có đường giao thông qua lại với các tỉnh miền núi phía Đông Bắc từ lâu đời, lại có địa hình đồi núi xen cài Trước đây
là vùng đất còn rộng, người thưa, có địa hình phù hợp với lối canh tác truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền núi Do đó, Bắc Giang là địa bàn lý tưởng, là điểm dừng chân cho các dân tộc ít người đến sinh sống sau các cuộc
di cư, đặc biệt là người Tày và Nùng Người Tày - Nùng chiếm số lượng rất đông đảo ở Bắc Giang Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số ngày 1-4-
2009, Bắc Giang có hơn 190.000 người dân tộc thiểu số Trong đó người Tày
- Nùng chiếm đa số Cụ thể: Dân tộc Nùng có 72.932 người, chiếm 38,2%; Dân tộc Tày có 39.603 người, chiếm 20,53% tổng số dân ở Bắc Giang
Về quá trình di cư của người Tày - Nùng đến Bắc Giang, theo Địa chí
Bắc Giang thì vào những năm đầu thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, người Tày,
Nùng di cư từ Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Bắc Giang, tập trung ở các huyện Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Sơn Động
Do có vị trí tiếp giáp nên người Tày - Nùng ở Sơn Động chủ yếu được
di cư tới từ các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh Gia phả dòng họ Vi ở xã Vân Sơn (Sơn Động) cho thấy: Dòng họ vi, dân tộc Tày đã di cư từ huyện Đình Lập (Lạng Sơn) tới Sơn Động cách nay 4 đời; Những người cao tuổi dòng họ Lãnh (trước đây là họ Lục, do hoàn cảnh lịch sử nên đã đổi thành họ Lãnh), dân tộc Tày ở xã Cẩm Đàn cũng cho biết: Dòng họ này đã di cư từ huyện Lộc Bình ( Lạng Sơn) cách nay 4 đời Dòng họ Lâm ở bản Khuôn Mười, Xã Cẩm Đàn (Sơn Động), dân tộc Nùng, đã di cư từ huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) tới Sơn Động cách nay 4 đời Đặc biệt, dòng họ Nông, dân tộc Nùng ở thôn Cẩm Đàn, xã Cẩm Đàn ( Sơn Động) đã di cư từ Lạng Sơn tới Sơn Động cách nay 6 đời Bằng chứng là hiện nay vẫn có mộ của cụ tổ 6 đời được an táng tại thôn Cẩm Đàn…[43],[45],[46],[49],[57]
Trang 24Đó là những người Tày - Nùng di cư đến Sơn Động sớm nhất Tuy nhiên, do đất đai còn nhiều hoang hoá chưa được khai phá nên số lượng người Tày - Nùng đến Sơn Động sinh sống không ngừng tăng lên qua các thời kỳ, đặc biệt là cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Các cuộc di cư không ào ạt mà thành từng nhóm lẻ tẻ, từng hộ gia đình theo từng thời điểm Họ sinh sống chủ yếu ở các xã Hữu Sản, Vân Sơn, Cẩm Đàn, Phúc Thắng, Thạch Sơn, Chiên Sơn, Giáo Liêm Tuy nhiên, trong cùng một dòng họ cũng có thể có nhóm gia đình đến Sơn Động sớm muộn khác nhau Ví dụ: Dòng họ Nông là dòng họ có dân số rất đông đảo ở Sơn Động Họ đã di cư đến sơn Động theo nhiều thời điểm Cụ thể: Họ Nông ở thôn Cẩm Đàn (xã Cẩm Đàn) đến Sơn Động cách nay 6 đời, khoảng hơn 200 năm Nhưng họ Nông tại thôn Thượng (xã Cẩm Đàn) mới đến Sơn Động khoảng 2 đến 3 đời nay [45]
Địa chí Bắc Giang cũng cho biết: Đa số người Tày - Nùng di cư đến Sơn Động khoảng từ 200 năm đến 300 năm nay Như xã Cẩm Đàn có 375 người Tày sinh sống đã 2 đến 3 đời nay Các họ Bế, họ Nông có nguồn gốc từ Đình Lập ( Lạng Sơn), họ Hoàng từ Lộc Bình (Lạng Sơn) về cư trú ở Sơn Động khá đông đúc
Như vậy: Do điều kiện thuận lợi và phù hợp, người Tày - Nùng đến sinh sống ở Sơn Động từ khá sớm Hiện nay, quá trình di cư của người Tày - Nùng đến Sơn Động đã căn bản chấm dứt, những cuộc di cư đến Sơn Động hiện nay chủ yếu là của người Kinh từ miền xuôi đến Sơn Động để phục vụ cho công tác và cuộc sống mưu sinh
Tuy là hai dân tộc nhưng tại các bản có người Tày - Nùng sinh sống đan xen, đồng bào Tày - Nùng sống với nhau rất hoà hợp và đoàn kết Do đó
đã tạo nên sự giao thoa văn hoá hết sức độc đáo
Trang 25
BẢNG THỐNG KÊ CÁC DÂN TỘC HUYỆN SƠN ĐỘNG
Cao lan
Sán chí Dao
Trang 26Tiểu kết:
Với điều kiện là một huyện vùng cao, Sơn Động có đầy đủ những đặc điểm đặc trưng về con người; điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội…của vùng miền núi phía bắc Đời sống vật chất của đồng bào nơi đây vốn nhiều thiếu thốn Tuy nhiên, đời sống tinh thần lại vô cùng phong phú Do đặc điểm tự nhiên và điều kiện kinh tế, xã hội quy định nên nơi đây cũng là nơi hội tụ của rất nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (đã có tới 11 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn huyện) Đồng bào các dân tộc mặc dù đến Sơn động từ nhiều địa phương khác nhau ở những thời điểm khác nhau nhưng đã luôn đoàn kết trong mọi hoàn cảnh lịch sử, có ý thức cố kết cộng đồng bền chặt Đặc biệt, đồng bào Tày – Nùng dường như đã trở thành một khối dân cư thống nhất với nhiều đặc điểm kinh tế, văn hóa chung Đó là điều rất đáng chân trọng và cần được phát huy
Trang 27
thống nhất cho rằng :“Bản là đơn vị dân cư nhỏ nhất ở một số vùng miền núi
Sơn Động là một trong những huyện vùng cao ở phía bắc Việt Nam, có đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống Từ xa xưa, nơi đây đã có tồn tại tên gọi đơn vị dân cư nhỏ nhất tương đương với làng là “bản”, đó là các bản của người dân tộc Tày, Nùng, Cao Lan, Dao…Tuy nhiên, từ khi có các đợt di cư của người Kinh từ miền xuôi lên Sơn Động để xây dựng kinh tế
và cùng sinh sống với đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, nhất là càng về sau, tỉ
lệ người người Kinh sinh sống ở Sơn Động ngày càng lớn ( chiếm 57% theo thống kê năm 2001) thì tên gọi “bản” dần dần không còn phổ biến nữa Thay thế vào đó là tên gọi “làng” hay “xóm”, “thôn” như đồng bào người Kinh ở miền xuôi Dù vậy, ở một số nơi vẫn quen gọi như thời xa xưa Ví dụ: Bản Gà, bản Nà Tèng, bản Nà Hin, bản Nà Vàng ở xã Vân Sơn – nơi có đa số đồng bào dân tộc Tày sinh sống hay bản Khuân Mười của người Nùng ở xã Cẩm Đàn
2.1.2 “Văn hoá bản”
Khái niệm “văn hoá” đã có từ rất lâu và cũng đã có rất nhiều ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này Ngay từ năm 1952 người ta đã thống kê
Trang 28được rằng có tới 150 định nghĩa khác nhau về văn hoá và cho đến nay đã có trên 300 khái niệm về văn hoá
Định nghĩa chính thức của Unesco về văn hoá: “ Tổng thể sống động
các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.[20,
tr.452]
Trong cuốn “Nhận thức văn hoá Việt Nam”, tác giả Nguyễn Duy Quý cũng đưa ra định nghĩa về văn hoá theo nghĩa rộng và hẹp như sau :“văn hoá
được hiểu là tất cả những gì không phải thiên nhiên Nghĩa là tất cả những gì
do con người sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu của sự sinh tồn Người
ta vẫn qoen nói về văn hoá vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hoá tinh thần ( khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục’’ và “Văn hoá là quá trình con người và cộng đồng của mình vượt lên khó khăn tự khẳng định mình, vươn tới những phẩm chất ngày càng tốt đẹp hơn nếu hiểu một cách thật chặt trẽ thì đúng văn hoá là những cái gì do con người tạo ra Nhưng không phải là tất cả mà chỉ những cái đã được chắt lọc, kết tinh, thăng hoa thành các giá trị, các biểu tượng mới là văn hoá.” [20, tr.453]
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy “văn hoá” là một khái niệm rất rộng lớn, Văn hóa gắn với hoạt động của con người, đó là tổng thể những hoạt động vô cùng phong phú Tuy nhiên, căn cứ vào chức năng, vai trò và tính chất hoạt động của con người chúng ta có thể chia văn hóa thành ba bộ phận: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội Và như vậy, để nghiên cứu về văn hoá một cách tổng thể, trọn vẹn quả là một điều khó khăn Theo nhận thức của tác giả luận văn thì khi nghiên cứu về “văn hoá bản” nghĩa là nghiên cứu về văn hoá trong phạm vi “bản”- một đơn vị dân cư nhỏ nhất Nói
Trang 29một cách cụ thể hơn, có thể hiểu “văn hóa làng bản là khái niệm dùng để chỉ
toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần và những quan hệ xã hội của cộng đồng dân cư làng bản sáng tạo nên trong quá trình cùng chung sống, lao động, xây dựng và bảo vệ làng bản” [1, tr.25]
Tuy nhiên, ngay cả đối với đơn vị dân cư nhỏ nhất ấy, để tìm hiểu một cách toàn diện về văn hoá cũng không hề đơn giản, điều này nằm ngoài khả năng của tác giả vì nhiều điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau Mặt khác, có thể khẳng định đây là vấn đề không mới bởi nó đã từng là đề tài rất hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu Do vậy, với đề tài “Văn hoá bản của
người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang (từ 1945 đến 2010)”, tác
giả chỉ tập trung nghiên cứu về một số nét văn hoá tiêu biểu nhất với nhiều yếu tố mang tính chất điển hình địa phương ở một số bản tập trung đông đảo
số lượng đồng bào dân tộc Tày - Nùng sinh sống như: Hữu Sản, Vân Sơn, giáo Liêm, Quế Sơn, Chiên Sơn, Cẩm Đàn…thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
2.2 Môi trường sinh thái và nguyên tắc đặt tên của bản
Nói đến môi trường sinh thái của bản người Tày, Nùng là nói đến cảnh quan rừng núi vì địa bàn cư trú của người Tày, Nùng chủ yếu là các tỉnh miền núi phía bắc: Cao Bằng, Bắc Kan, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang…
Sơn Động là một huyện vùng cao của tỉnh Bắc Giang, vì vậy, môi trường sinh thái của bản người Tày - Nùng ở Sơn Động nổi bật lên là khung cảnh núi rừng trùng điệp bao quanh những thung lũng nhỏ hẹp Tuy nhiên, không giống như đồng bào người dân tộc H’Mông, Dao thường định cư hoặc sống du canh du cư trên núi cao Người Tày, Nùng thường sinh sống ở vùng
Trang 30thấp, nơi có những cánh đồng, những con khe, con suối Vì vậy, tên các bản làng thường được đặt theo đặc điểm của phong cảnh tự nhiên này
Xét một cách tổng thể thì các bản của người Tày - Nùng ở Sơn Động thường bao gồm các yếu tố sau:
dân tộc học Việt Nam”, tức là phải “có đất canh tác gồm ruộng, nương hoặc
rẫy, những khoảnh rừng dự phòng, rừng cấm, rừng đầu nguồn nơi con người
có thể săn bắt, hái lượm…Có những dòng suối để phục vụ sản xuất và sinh hoạt, để đánh bắt cá …” [7, tr 227]
Sơn Động tuy là địa bàn rừng núi nhưng lại có nhiều thung lũng Các thung lũng ở đây có đặc điểm tuy không rộng lớn nhưng độ dốc thấp nên cho phép cư dân Tày - Nùng có thể sản xuất lúa nước Từ rất lâu, đồng bào nơi đây đã quen với tập quán canh tác lúa nước Do được bổ xung một lượng lớn chất hữu cơ từ mọi cánh rừng dồn xuống nên các thung lũng đều là nơi có những cánh đồng màu mỡ, trồng lúa và hoa màu rất tươi tốt, là nguồn đảm bảo cho cuộc sống vật chất của đồng bào Tày - Nùng qua bao đời nay [Hình 2.1, 2.2]
Vì vậy, đối với người Tày - Nùng, đồng ruộng vô cùng quan trọng và có ý nghĩa sống còn Có lẽ cũng bởi vì thế từ xa xưa, người Tày - Nùng đã đặt tên cho những bản làng của mình gắn liền với đồng ruộng “Nà” nghĩa là ruộng,
đã có rất nhiều tên các bản làng gắn với tiền tố “nà” như:
Trang 31Sau này, với sự có mặt của người Kinh một số vùng đất được khai phá
đã có sự kết hợp giữa ngôn ngữ của người Kinh và người Tày - Nùng trong cách đặt tên làng bản Cụ thể, các tên bản làng có tiền tố “đồng” gắn với ngôn ngữ của người Tày - Nùng như:
Đồng Mé Đồng Dương
Đồng Tang Đồng Đõng
Đồng Bây Đồng Mạ
Trang 32Tên gọi Đồng Sim (thuộc xã Tuấn Đạo), bởi xung quanh cánh đồng là những đồi sim bạt ngàn Từ xa xưa cho đến nay khung cảnh vẫn không thay đổi là bao Mùa hoa sim nở tạo nên cho bản làng một khung cảnh tuyệt đẹp, xung quanh trải một màu hoa sim tím ngắt, dưới là cánh đồng lúa xanh mướt
Đồng Tranh (thuộc xã Chiên Sơn): Vốn là một vùng đất có rất nhiều cỏ tranh Cỏ tranh đã trở thành một đặc điểm đi vào tên gọi của bản làng này
Đồng Kép (Thuộc xã Giáo Liêm) hay còn gọi là Tà Kép Tà có nghĩa là bên cạnh, kép tức là hai Nơi đây có hai cái khe quanh năm có nước tưới tắm cho cánh đồng ở giữa lúc nào cũng tươi tốt
Đồng Cao (thuộc xã Thạch Sơn): Thạch Sơn là một xã heo hút nhất trong huyện và có địa hình cao nhất Tên gọi đồng cao xuất phát từ đặc điểm nơi đây có một cánh đồng tương đối bằng phẳng nhưng lại nằm trên một đỉnh núi thấp Dân bản sinh sống tại đây và có thể trồng lúa, trồng hoa màu ngay trên cánh đồng cao này…
Về vấn đề này, một số nhà nghiên cứu có ý kiến nhận định rằng: Phải chăng “đồng” là tên gọi được chuyển âm từ “tổng” theo tiếng Tày, có nghĩa là cánh đồng Nhưng dù có hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa cũng phải khẳng định rằng cách đặt tên bản làng đã nói lên tình yêu tha thiết đối với đồng ruộng của người Tày – Nùng
Gắn liền với các cánh đồng là những khe suối cung cấp nguồn nước tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp Có ở vùng cao mới hiểu được nguồn nước quan trọng đến mức nào đối với người dân nơi đây Để sản xuất nông nghiệp, đồng bào chỉ có thể trông chờ vào nguồn nước tự nhiên: Chờ trời mưa hoặc dẫn nước từ những khe suối nhỏ xuống đồng Bởi vậy, đồng bào vô cùng yêu quý và trân trọng những nguồn nước từ thiên nhiên này Vì thế, tên của bản làng được đặt bằng cái tên của khe suối như một tình cảm hết sức tự nhiên Điển hình là những tên gọi:
Trang 33Rộc Bòng
Rộc Nẩy
Rộc Táu Rộc Cam
Ngoài ra, dân bản còn đặt tên bản làng và một số địa danh trong bản làng của mình theo phong cảnh, đặc điểm đặc biệt nhất của địa bàn mà họ sinh sống như:
Xóm mới Gốc Lâm
Xóm Chẽ Xóm Vá
Đá lờm (thuộc xã Cẩm Đàn): Là tên phiên âm theo tiếng Nùng “Đa Lầm”, “lầm” tức là gió Bởi nơi đây có một cái khe rất lớn, ở cửa khe có một một cây đa rất to Trước cửa khe là một cánh đồng rộng Mỗi khi có gió thổi, gió như được hút từ cánh đồng vào trong khe, qua cây đa lớn chắn ngang tạo thành những tiếng vi vu, sâu hun hút lạ thường
Đá Cối (thuộc xã Giáo Liêm): Địa danh này xuất phát từ đặc điểm nơi đây có rất nhiều đá tảng có đặc tính: Kích thước lớn, thô ráp, Chắc, đục không
Trang 34vỡ Đồng bào nơi đây và các vùng lân cận thường chọn những tảng đá này về đục đẽo làm thành các loại cối rất bền và đẹp
Gốc Gạo, Gốc Sau đều là những địa danh có gắn với đặc điểm trong bản có một cây Gạo, cây Sau Sau rất lớn
Xóm Sỏi (Xã Quế Sơn): Là địa danh có đặc điểm đất đai rất nhiều sỏi cơm
Xóm Đình, Xóm Chùa, Xóm chợ: Đều là những địa danh gắn với sự tồn tại của đình, chùa, chợ tại địa phương…
Tuy không có điều kiện để thống kê một cách đầy đủ các địa danh cùng với ý nghĩa tên gọi của các địa danh đó Nhưng tìm hiểu sơ qua chúng ta cũng
có thể thấy được môi trường sinh thái có liên hệ mật thiết với tên gọi của các bản làng, dường như đó là một nguyên tắc trong cách đặt tên làng bản của người Tày - Nùng Nói một cách cụ thể, nguyên tắc đặt tên của bản làng thường dựa vào đặc điểm của môi trường sinh thái mà đồng bào đang sinh sống Từ đó có thể thấy một tình cảm hết sức tự nhiên, mộc mạc của đồng bào qua những tên gọi giản đơn, không cầu kỳ, không cần triết lý sâu xa Đó cũng
là một nét văn hoá thật đáng quý Với nguyên tắc đặt tên như vậy, chỉ cần dựa vào tên gọi của làng bản cũng đã thấy toát lên những đặc điểm của phong cảnh tự nhiên, sự mộc mạc, giản dị trong tính cách, trong suy nghĩ và lối sống của con người nơi đây
Những địa danh trên đây hầu hết đã có từ lâu đời và là những địa danh được dùng để gọi tên các bản của người Tày - Nùng Ngoài ra, còn có rất nhiều những địa danh khác phong phú về ý nghĩa nhưng thuộc các bản làng có
đa số đồng bào dân tộc Kinh và những dân tộc thiểu số khác cùng sinh sống vì Sơn Động là vùng đất có tới 11 dân tộc anh em đang sinh sống Tên gọi hầu hết đều thuộc ngữ hệ Tày, Thái, điều đó chứng tỏ văn hoá của người Tày - Nùng có ảnh hưởng sâu rộng và có sự giao thoa mạnh mẽ
Trang 352.1 Tên các bản làng ở huyện Sơn Động
Trang 39(Nguồn: Danh sách địa bàn nông thôn, tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2009, Phòng Thống kê huyện Sơn Động)
Trang 40
2.3 Kết cấu xã hội của bản
2.3.1 Quan hệ gia đình, dòng họ
Từ bao đời nay, người Tày - Nùng ở Sơn Động vẫn giữ được nét văn hóa hết sức đáng quý, đó là mối quan hệ trong gia đình, dòng họ Điều này góp phần tạo nên những giá trị văn hoá riêng biệt của người Tày - Nùng trong
cộng đồng các dân tộc huyện Sơn Động
Các dòng họ của người Tày ở Sơn Động phổ biến nhất là họ Vi, Hoàng Dòng họ người Nùng phổ biến là họ Nông, Lâm Ngoài ra còn có một số dòng
họ khác như: Lương, Trần, Lãnh, Bế, Hồ… nhưng có dân số ít hơn
2.3.1.1 Quan hệ trong gia đình:
Chúng ta thường coi “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi
dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” Vì thế, Đảng ta đòi hỏi “Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người” [9, tr.5]
Như vây, vai trò của mỗi gia đình đối với sự phát triển chung của một đất nước là rất quan trọng và nghiên cứu khía cạnh văn hoá trong quan hệ của mỗi gia đình cũng là việc làm cần thiết
Gia đình người Tày - Nùng là gia đình phụ quyền với vai trò trụ cột và làm chủ gia đình thuộc về người đàn ông Hôn nhân của người Tày - Nùng là hôn nhân một vợ một chồng Đối với người Tày – Nùng ở Sơn Động, mặc dù
là gia đình phụ quyền nhưng vai trò của người phụ nữ trong gia đình khá lớn Nếu người đàn ông là người có vai trò quyết định những công việc lớn của gia đình, dòng họ (những công việc mà phụ nữ ít lưu tâm) thì người phụ nữ lại có vai trò nắm giữ tiền bạc của gia đình Điều này xuất phát từ sự đảm đang, khéo thu vén của người phụ nữ đối với việc chi tiêu trong gia đình Đồng thời,