Đảng bộ Lạng Sơn đã chỉ đạo nhân dân toàn tỉnh thực hiện đổi mới trong cách nghĩ và cách làm, ưu tiên và tập trung mọi tiềm lực phát triển kinh tế cửa khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế th
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Ngọc La
Thái nguyên, 2012
Trang 3Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thày cô giáo trong tổ Lịch Sử Việt Nam khoa Lịch Sử trường Đại Học Sư Phạm Đại Học Thái Nguyên, Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn khoa học Tiến Sĩ Hoàng Ngọc La đã chỉ bảo tận tình , động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Trong thời gian thực hiện luận văn, Tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Lạng Sơn, sở Công thương Lạng Sơn,
sở văn hóa, thể thao và du lịch Lạng Sơn, sở Giao thông vận tải Lạng Sơn cùng các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp tư liệu, để tác giả hoàn thành luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2012
Tác giả luận văn
Nông Văn Dũng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nông Văn Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các bảng iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TỈNH LẠNG SƠN TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1986 7
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 7
1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn 9
1.2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế thương mại 9
1.2.2 Tiềm năm phát triển dịch vụ 14
1.3 Tình hình thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trước 1986 20
Chương 2: KINH TẾ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986-2010) 23
2.1 Chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước và của tỉnh Lạng Sơn đối với kinh tế thương mại và dịch vụ trong thời kì đổi mới 23
2.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta với thương mại và dịch vụ 23
2.1.2 Quan điểm chỉ đạo thương mại và dich vụ của Đảng bộ tỉnh Lạng sơn thời kì đổi mới 25
2.2 Kinh tế thương mại của tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới (1986-2010) 26 2.2.1 Trong những năm đầu thực hiện đổi mới (1986 – 1990) 26
2.2.2 Trong việc thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn (1991 – 1995) 34
2.2.3 Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996 – 2010) 45
Trang 62.3 Kinh tế dịch vụ 622.3.1 Dịch vụ du lịch 622.3.2 Dịch vụ vận tải 67
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH
VỤ ĐỐI VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI 72
3.1 Tác động của kinh tế thương mại và dịch vụ đối với sự phát triển kinh tế tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới 723.1.1 Kinh tế thương mại và dịch vụ tác động mạnh đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tỉnh Lạng Sơn 723.1.2 Tác động của kinh tế thương mại và dịch vụ đối với sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi 733.1.3 Tác động của kinh tế thương mại và dịch vụ đối với sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 773.2 Tác động của kinh tế thương mại và dịch vụ đối với xã hội tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới 783.2.1 Kinh tế thương mại và dịch vụ tạo thêm nhiều việc làm, tác động đến cơ cấu lao động 783.2.2 Kinh tế thương mại và dịch vụ làm cho quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh 793.3 Tác động tiêu cực không mong muốn của kinh tế thương mại và dịch
vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới 81
KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Biểu 2.1 Một số mặt hàng bán lẻ chủ yếu thời kỳ 1986 – 1990 29Biểu 2.2 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng ở Lạng sơn thời kì 1986 – 1990 33Biểu 2.3 Mặt hàng chủ yếu do thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã
bán ra 36Biểu 2.4: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ theo thành phần
kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 [18, tr.4] 47
Biểu 2.7: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ theo thành phần kinh tế
giai đoạn 2006 - 2010 [21, tr.239] 51
Biểu 2.9: Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh thời kỳ 2001-2005 57
Biểu 2.10: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung
Quốc thời kỳ 2001-2005 [60, tr.5] 58Biểu 2.11: Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Trung
Quốc [60, tr.5] 59Biểu 2.12: Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh thời kỳ 2006-2010
[63, tr.25-26] 60Biểu 2.13: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung
Quốc thời kỳ 2006-2010 [63, tr.26] 61Biểu 2.14 Hiện Trạng khách du lịch đến Lạng Sơn và các tỉnh phụ cận
Thời kỳ 1993 – 1996 62Biểu 3.1 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của địa phương 75
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại thắng mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh,
đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất tổ quốc Thắng lợi đã mở ra thời kì phát triển mới của lịch sử dân tộc, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc
Từ 1986, Đảng ta thực hiện đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có đổi mới về thương mại và dịch vụ Sự đổi mới đã góp phần thúc đẩy kinh tế -
xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng có bước phát triển mạnh mẽ tạo thế và lực để nước ta vững bước vào thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, có nhiều cửa khẩu thông thương với Trung Quốc, có các tuyến đường sắt, đường bộ rất thuận lợi và nằm trong hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn – Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là một trong những cầu nối quan trọng giữa hai thị trường rộng lớn Trung Quốc với ASEAN Trong những năm thực hiện đổi mới đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế nhất là ngành thương mại và dịch vụ
Thực hiện chủ chương “Mở cửa biên giới” ngày 02/05/1989 của Ban Bí
thư trung ương Đảng Đảng bộ Lạng Sơn đã chỉ đạo nhân dân toàn tỉnh thực hiện đổi mới trong cách nghĩ và cách làm, ưu tiên và tập trung mọi tiềm lực phát triển kinh tế cửa khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng, chú trọng phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ đưa ngành kinh tế này trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
Sau 24 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2010) nhân dân Lạng Sơn đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, kinh tế thương mại và dịch vụ đã phát huy được thế mạnh và tiềm lực của tỉnh biên gới Ngày nay kinh tế thương
Trang 9mại và dịch vụ không chỉ được các hoạt động kinh tế và các nhà kinh tế quan tâm mà ngay cả lịch sử và văn hóa cũng đặc biệt quan tâm, chính vì lẽ đó tôi
đã chọn đề tài “Thương mại và dịch vụ Lạng Sơn trong thời kì đổi mới
(1986-2010)” làm luận văn thạc sĩ lịch sử
Nội dung chính của luận văn tái hiện lại bức tranh sinh động về sự phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới từ giai đoạn (1986 – 2010)
Luận văn góp phần khảng định sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước thông qua việc nghiên cứu thực tế thực hiện đường lối đổi mới ở một địa phương miền núi biên giới Đồng thời nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương cũng như góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn
Xuất phát từ lí do trên tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Kinh tế thương mại
và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới (1986-2010)” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nói chung, kinh tế thương mại và dịch vụ nói riêng được nêu lên thành đường lối mang tính định hướng trong các văn kiện của Đảng và Nhà Nước như văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), VII (1991), VIII(1996), IX(2001), X(2006) Các cuốn
sách “ Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của nhà nước và của thời đại” của đồng chí Trường Chinh, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1987; “Đổi mới sâu sắc và
toàn diện trên mọi lĩnh vực” của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nhà xuất bản sự
thật, Hà Nội, 1987; “Sự nghiệp đổi mới và chủ nghĩa xã hội” của đồng chí Đỗ
Mười, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1992… Các văn kiện của Đảng cũng như các cuốn sách của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nêu lên những yêu cầu, định hướng đổi mới kinh tế xã hội của nước ta
Trang 10Tác phẩm “Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên
xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh” của đồng chí Lê Duẩn, Nhà xuất
Bản sự thật, Hà Nội, 1968 đã nói rõ vị trí, vai trò của kinh tế địa phương đối với sự phát triển kinh tế đất nước thời kì đổi mới
Liên quan đến vấn đề kinh tế xã hội nói chung, kinh tế thương mại và dịch vụ nói riêng trong thời kì đổi mới đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học, một số kết quả nghiên cứu đã được công bố như: “ Lịch sử Việt
Nam từ năm 1975 đến nay – Những vấn đề lí luận và thực tiễn của chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998; “Đổi mới kinh tế - xã hội thành tựu, vấn đề và giải pháp” của Phạm Xuân Nam, Nhà
xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1991
Kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới được đề cập trong hệ các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh và các nghị quyết của Tỉnh ủy từ 1986 đến năm 2010, trong đó nêu lên những thành tựu hạn chế của kinh tế thương mại và dịch vụ
Báo cáo tổng kết hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn từ
1986 đến năm 2010 đã nêu lên những kết quả đạt được về các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế thương mại và dịch vụ như tình hình nội thương và ngoại thương; tình hình phát triển của các dịch vụ
Tài liệu niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp những số liệu trong quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh Lạng Sơn về kinh tế thương mại và dịch vụ, tuy chưa thật đầy đủ song đã phản ánh được những nội dung cơ bản tình hình kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới (1986 – 2010)
Cuốn “ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1955 - 1985)” và “ Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1986 - 2000)” đã nêu lên một cách tổng quát về sự
phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh trong những năm trước và trong thời kì đổi mới
Trang 11Tất cả những công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về kinh tế xã hội nói chung, kinh tế thương mại và dịch vụ nói riêng của tỉnh Lạng Sơn dưới nhiều góc cạnh khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình
đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới (1986 - 2010) Vì vậy, đây là một vấn dề khá mới mẻ và cần thiết đối với địa phương Chúng tôi xác định các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi đi sâu vấn đề
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới từ 1986 đến năm 2010
3.3 Nhiệm vụ đề tài
Nghiên cứu làm rõ bức tranh kinh tế thương mại và dịch vụ của tỉnh Lạng Sơn, những thành tựu và hạn chế cần khắc phục Đánh giá vị trí, vai trò của kinh tế thương mại và dịch vụ trong sự phát triển tỉnh Lạng Sơn và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của kinh tế thương và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi dựa vào các tư liệu sau:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn trong thời gian từ 1986 đến năm
Trang 122010, các số liệu bảng biểu của Trung tâm lưu trữ, Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn, Sở thương mại và du lịch tỉnh Lạng Sơn và các sở, ban ngành liên quan
Các sách, báo, bài viết, các công trình nghiên cứu về kinh tế thương mại và dịch vụ, các bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo tỉnh về tình hình phát triển của kinh tế thương mại và dịch vụ
Đó là những nguồn tư liệu quan trọng giúp dựng lại bức tranh lịch sử
về quá trình phát triển của kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010 một cách trung thực, khách quan nhất
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu thu thập được qua các đợt điều tra điền dã tại địa phương
Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên nhiều tài liệu về tình hình
về kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến nay bị thất lạc, rách nát Các tư liệu chủ yếu là số liệu tổng kết hàng năm nên còn rời rạc, thiếu tính tổng hợp, khái quát Đó là những khó khăn trong việc sử dụng tư liệu nghiên cứu, hoàn thành luận văn Chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, khai thác tư liệu nhiều nguồn, phân tích, so sánh đối chiếu để có được những tư liệu đáng tin cậy, khách quan nhất, song trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài lịch sử địa phương, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng phương pháp luận sử học Macxít, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu nhằm khôi phục lại bức tranh về tình hình kinh tế thương mại và dịch vụ của tỉnh Lạng Sơn từ 1986 đến năm 2010 Kết hợp với phương pháp lôgic để thực hiện yêu cầu của luận văn
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp điều tra điền dã, thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ nội dung của đề tài
Trang 135 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày hệ thống, chân thực về tình hình kinh tế thương mại
và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn nêu lên đặc điểm, thành tựu, ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế thương mại
và dịch vụ của tỉnh Lạng Sơn, đồng thời đề cập đến những tác động của kinh
tế thương mại và dịch vụ đối với kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn trong thời
kì đổi mới (1986 – 2010)
Luận văn có thể làm tư liệu giáo dục truyền thống lịch sử địa phương Lạng sơn trong thời kì đổi mới, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ở khu kinh tế cửa khẩu biên giới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phục lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1 Tình hình kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trước
năm 1986
Chương 2 Kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới
(1986 - 2010)
Chương 3 Tác động của kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong
thời kì đổi mới
Trang 14Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TỈNH LẠNG SƠN TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1986 1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 8305,21 km2 Phía đông bắc giáp khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc ; phía nam giáp tỉnh Bắc Giang ; Phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh ; phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn ; phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên
Vị trí địa lí là là một thế mạnh nổi bật của tỉnh Lạng Sơn, tuy là tỉnh miền núi biên giới nhưng độ cao trung bình so với mặt nước biển chỉ là 251m, nằm trọn trong lòng máng trũng nối Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với Việt Nam và các nước ASEAN, từ trung tâm tỉnh lị Lạng Sơn đến thủ đô Hà Nội chỉ có trên 150km và đến thành phố Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc trên 200km
Tất cả 11 huyện, thành phố của tỉnh đều có các tuyến quốc lộ quan trọng đi qua, đó là các quốc lộ 1A (Lạng Sơn – Mũi Cà Mau), 1B (Lạng Sơn – Thái Nguyên), 4A (Lạng Sơn – Cao Bằng), 4B (Lạng Sơn – Quảng Ninh)
Vị trí giao thông thuận lợi đã cho phép Lạng Sơn mở rộng giao lưu kinh tế không chỉ với các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đặc biệt là với các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm mà còn thông qua thủ đô Hà Nội và cảng Cái Lân, tới khắp mọi miền của Tổ quốc và các châu lục trên thế giới
Bên cạnh đó tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng - Bắc Kinh (Trung Quốc) chạy qua địa phận Lạng Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại và dịch vụ trên địa bàn Tỉnh
Do ưu thế về giao thông đường bộ và đường sắt, đồng thời là những tuyến đường ngắn nhất về thủ đô Hà Nội qua hệ thống đường xuyên Á, để từ đó có thể
Trang 15dễ dàng, nhanh chóng lưu chuyển hàng hoá, khách du lịch đi các vùng khác trong cả nước cũng như các nước trong khu vực Lạng Sơn ngày càng có vị trí quan trọng đối với thị trường trong nước và ngoài nước Mặt khác, các tỉnh phía Tây, Tây Nam Trung Quốc cũng có nhu cầu vận chuyển hàng hoá, khách du lịch qua các vùng Đông Bắc để đi ra biển Đông và theo đường biển tới các nước trên thế giới Đây là 1 trong những cơ hội thuận lợi phục vụ chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại của vùng Đông Bắc và của Lạng Sơn
Về khí hậu, do đặc điểm của địa lí, địa hình nên có thể chia Lạng Sơn thành 3 vùng khí hậu chính : Vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn ; vùng khí hậu núi vừa phía Bắc và Đông ; vùng khí hậu núi thấp phía Nam
Nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn là Á nhiệt đới, có nền nhiệt không quá cao, trung bình tổng nhiệt độ từ 7600 – 7800 độ, có mùa đông kéo dài thường 5 tháng, khí hậu lạnh lẽo kèm theo mưa phùn nên độ ẩm thường cao trên 82% Lượng mưa trung bình ở Lạng Sơn thấp, đạt khoảng 1400 – 1450 mm/năm, với số ngày mưa là 135 ngày
Tuy nhiên khí hậu Lạng Sơn cũng tương đối khắc nghiệt, do nằm trong lòng máng trũng đón gió mùa đông bắc nên mùa đông thường lạnh và khô, ảnh hưởng khá lớn đến cơ cấu mùa vụ và sự sinh trưởng của các loại cây trồng Đặc điểm khí hậu của Lạng Sơn cũng có nhiều nét thuận lợi, là điều kiện phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ôn đới, á nhiệt đới Đây
là nét đặc trưng khí hậu riêng biệt của Lạng Sơn, tạo điều kiện phát triển trồng các loại rau bốn mùa như ở Mẫu sơn, quanh năm cung cấp cho thị trường các sản phẩm rau phục vụ cho các ngành dịch vụ và du lịch Thảm thực vật Lạng Sơn cũng tương đối phong phú, đa dạng có nhiều chủng loại quý hiếm là điểm
du lịch sinh thái hấp dẫn của du khách khi đặt chân lên Xứ Lạng
Về địa hình, Lạng Sơn có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, độ phân tằng lớn hình thành giữa hai dãy núi chính là Mẫu Sơn có đỉnh núi cao 1.541m
Trang 16so với mực nước biển và cánh cung đá vôi Bắc Sơn có hướng Tây Bắc – Đông Nam nằm phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp trung bình giữa hai dãy núi Địa hình chia cắt, độ phân tầng lớn nên phân đai cao thấp khá rõ rệt, trong
đó độ cao từ 150m – 250m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh
Do đặc điểm địa hình phức tạp nên hệ thống sông suối cũng đa dạng trong đó có 7 hệ thống sông đó là : Sông Kỳ Cùng ; sông Thương ; sông Trung ; sông Hóa ; sông Bắc Giang ; sông Bắc Khê ; sông Lục Nam Trong
đó sông Kỳ Cùng là sông lớn nhất tỉnh, bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166m, sông chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc qua Lộc Bình, thành phố Lạng Sơn, Na Sầm và đến Thất Khê sông uốn khúc và chuyển hướng Tây Bắc – Đông Nam qua biên giới đổ và đất Trung Quốc Diện tích lưu vực 6.660 km với chiều dài dòng chính (tính từ biên giới Việt – Trung) 243km Lòng sông
Kỳ Cùng rất dốc, nhiều thác ghềnh và lưu vực hẹp ngang, có nhiều sông suối nhỏ đổ vào, nên có tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ kết hợp tích nước, điều tiết thủy lợi cho sản xuất và phục vụ cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy
Vị trí địa lí – chính trị của Lạng Sơn đối với vùng Đông Bắc và cả nước
là ưu thế có lợi hơn hẳn so với các tỉnh miền núi phía Bắc Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho Lạng Sơn phát triển kinh
tế thương mại và dịch vụ
1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn
1.2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế thương mại
- Kinh tế nội địa là một thế mạnh của tỉnh
Lạng Sơn là một trong ít tỉnh miền núi phía Bắc mang đặc điểm khí hậu
á nhiệt đới, đây là điểm riêng biệt do thiên nhiên mang lại nên tỉnh Lạng Sơn
có thể trồng được những loại cây đặc sản như hồi, quýt, đào, mác mật và một
số cây trồng có giá trị kinh tế cao: quế, thạch đen, thông, na, hồng, mơ, chè,
Trang 17thuốc lá sợi vàng… ngoài ra còn trồng các cây nông sản lúa, ngô, đậu, lạc… các sản phẩm nông, lâm sản không những đảm bảo cho nhu cầu lương thực của người dân trong tỉnh mà một số mặt hàng nông sản, cây công nghiệp còn hướng tới xuất khẩu sang Trung Quốc và các nước trên thế giới Trong các loại cây trồng ở Lạng Sơn thì cây hồi là cây có gí trị kinh tế cao được đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao ở Lạng Sơn trồng từ hàng thế kỉ nay Hồi Lạng Sơn có tới trên 30.000 ha, chiếm gần 80% diện tích hồi cả nước, phân bố chủ yếu ở các huyện Văn Quan, Cao Lộc, Bình Gia, Tràng Định, Bắc Sơn Chất lượng sản phẩm từ cây hồi xứ Lạng đã được đánh giá là độc nhất vô nhị, mỗi năm hồi cho thu hoạch 2 vụ: Vụ tháng 4 - 5 và vụ tháng 10 - 11 Cây hồi bắt đầu bói quả ở 7- 8 năm tuổi, cho nhiều quả nhất ở độ tuổi 20 - 60 tuổi Ở Lạng Sơn, năng suất hồi trung bình đạt 1500 - 3000kg quả khô/ha/năm [8, tr.1] Năm 1999, toàn tỉnh có 17.000 ha rừng hồi, cho sản lượng 15.000 tấn quả tươi, trị giá ước tính 40 tỷ đồng
Cây hồi là một trong những thế mạnh của Lạng Sơn mang lại giá trị kinh tế lớn nên hàng năm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm là rất lớn không chỉ là đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tiêu thụ ra ngoài nước, Trung Quốc là một thị trường có sức mua lớn và giàu tiềm năng
Ở Lạng sơn ngoài cây hồi ra thì cây quýt cũng là cây trồng đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao, quýt được trồng chủ yếu ở huyện Bắc Sơn với diện tích khá lớn, tổng diện tích lên đến 1.500 ha, sản lượng hàng năm ước đạt 10.000 tấn quả, quýt được cung ứng cho các tỉnh trong cả nước và đang có hướng mở rộng diện tích trồng quýt để xuất khẩu [7,tr.1]
Cây chè ở Đình Lập được trồng trên diện tích 800 ha, sản lượng 2.000 tấn chè khô/năm Thuốc lá sợi vàng có diện tích 3.500 - 4.000 ha với sản lượng 400 nghìn tấn/ha được trồng tại Bắc Sơn, Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc,
Trang 18Trong các loại cây trồng lấy gỗ ở Lạng Sơn thì cây thông có diên tích lớn nhất, trong các năm 2001 - 2009 tổng diện tích rừng được trồng mới là 103.565 ha, cây thông trồng mới 46.060 ha đưa diện tích rừng thông toàn tỉnh lên 88.560 ha Lạng Sơn mỗi năm khai thác khoảng 92.400 m3 gỗ các loại; khai thác nhựa Thông 12.000 – 13.000 tấn/năm Hàng năm các sản phẩm từ gỗ thông và nhựa thông được xuất khẩu sang Trung Quốc với số lượng rất lớn
Một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Lạng Sơn nữa là chăn nuôi đại gia súc, gia cầm Chăn nuôi đại gia súc, gia cầm đã được đồng bào các đân tộc ở Lạng Sơn duy trì từ lâu đời Ngày nay chăn nuôi đại gia súc như ngựa, trâu, bò không chỉ dùng làm sức kéo trong nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa
mà còn để lấy thịt phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân và cho xuất khẩu Trong những năm gần đây lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn đặc biệt chú ý khuyến khích người dân phát triển trăn nuôi đại gia súc, gia cầm nhờ đó
số lượng đàn gia súc gia cầm đã không ngừng tăng lên để đáp ứng cho các ngành dịch vụ ăn uống với các món ăn nổi tiếng như lợn quay, vịt quay… và xuất khẩu sang Trung Quốc
Là tỉnh miền núi, ngoài tiềm năng to lớn về nông - lâm nghiệp, Lạng Sơn còn có nhiều tiềm năng về phát triển công nghiệp Vùng đất này ẩn chứa nhiều tài nguyên khoáng sản có trữ lượng lớn như: đá vôi, than nâu, than bùn, bôxít, Than nâu ở Na Dương (huyện Lộc Bình) có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn được khai thác để phục vụ Nhà máy nhiệt điện Tần Sôi, công suất
100 MW Than bùn ở Bình Gia trữ lượng 100 nghìn tấn phục vụ cho sản xuất phân vi sinh Bôxít có ở các huyện Cao Lộc, Văn Quan, Văn Lãng, Chi Lăng, với trữ lượng 20 triệu tấn dùng để luyện nhôm và phụ gia cho sản xuất xi măng Đá vôi ở Lạng Sơn có chất lượng tốt để sản xuất xi măng, làm vật liệu xây dựng, trữ lượng hàng trăm triệu tấn Đất sét có nhiều loại, dùng làm gạch
Trang 19ngói ở huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Quan, Hữu Lũng hay đất sét cao lanh làm gốm có nhiều ở các huyện Lộc Bình, Tràng Định, Hữu Lũng
Trong những năm qua công nghiệp khai khoáng giữ vị trí hàng đầu, giá trị sản xuất chiếm 55% - 60% GDP ngành công nghiệp của tỉnh Ngoài việc đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước còn xuất khẩu sang Trung Quốc, các mặt hàng chủ yếu như than, quặng…
- Lạng Sơn là đầu mối trung truyển thương mại
Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới với Trung Quốc Tuyến đường bộ 1A khởi đầu từ cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị chạy dài theo đất nước, hàng ngày vận chuyển một khối lượng hàng hóa lớn của các vùng miền xuất khẩu sang Trung Quốc
Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn chính thức được thành lập tháng 10/2008 theo Quyết định 138/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Với hạt nhân chủ đạo là thành phố Lạng Sơn và Khu hợp tác kinh tế biên giới Đồng Đăng - Bằng Tường, khu kinh tế cửa khẩu này được quy hoạch thành một nút trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, thành một động lực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn, vùng Đông Bắc Việt Nam và sau năm 2010 trở thành một cực của tứ giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn được thành lập mở ra cơ hội lớn để Lạng Sơn phát huy lợi thế vị trí “đắc địa”, một trong những “cầu nối” quan trọng của khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN
Các chợ ở Lạng Sơn có vai trò rất quan trọng trong việc trung chuyển
và mua bán trao đổi hàng hóa Một số chợ có từ lâu đời, đã đi vào ca dao, huyền thoại nổi danh trong cả nước như chợ Đồng Đăng, chợ Kỳ Lừa
Trong điều kiện hiện nay với vị thế đang hình thành của một trung tâm thương mại quan trọng của khu vực phía Bắc, truyền thống kinh doanh được
Trang 20phát huy đã tạo nên sự gắn kết hài hoà giữa tiềm năng thương mại và dịch vụ góp phần tô đậm nét văn hoá, chợ của Lạng Sơn
Chợ Kỳ Lừa: có nhiều phần độc đáo hơn so với các chợ miền xuôi và
cả các chợ ở những tỉnh miền núi Chợ Kỳ Lừa hiện nay còn mở cửa cả ban đêm, tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách đến với Lạng Sơn Hàng hóa bày bán chủ yếu là các sản vật địa phương: các loại bánh trái, hoa quả, đồ ăn thức uống; các loại hàng nông, lâm thổ sản và những mặt hàng từ vùng xuôi đưa lên Hiện đang có phương án xây dựng lại chợ và khu vực phố chợ theo hướng bảo tồn truyền thống dân tộc kết hợp với hiện đại
Chợ Đồng Đăng: Nằm ở thị trấn biên giới Đồng Đăng Phiên chính họp vào ngày mùng 1, mùng 6 âm lịch xưa kia đây là trung tâm buôn bán trâu, bò lớn nhất tỉnh và những vùng lân cận được dắt về đây, tụ tập trong ngày chợ phiên Các lái buôn ở xuôi lên mua cả đàn lùa về bán cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng Ngày nay chợ sinh hoạt không theo nếp xưa nữa Sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, chợ bị phá hủy hoàn toàn Năm
1992 được xây dựng lại để đáp ứng nhu cầu buôn bán ngày càng nhộn nhịp, gia tăng ở vùng cửa khẩu biên giới Hàng hoá của Trung Quốc được bày bán rất phong phú, đa dạng về chủng loại Hiện đang có phương án xây dựng lại chợ để nơi đây trở thành một trung tâm kinh tế - thương mại ở vùng biên
Chợ Đông Kinh: Chợ Đông Kinh với những nét kiến trúc độc đáo, mang sắc thái địa phương, với tổng số vốn đầu tư theo kế hoạch là 45 tỉ đồng Chợ được khởi công xây dựng từ năm 1993 Tổng diện tích chợ gồm 11.400m2, đủ chỗ cho trên 1000 sạp hàng Đây là chợ đầu tiên của tỉnh được trang bị hệ thống thang máy với 8 cầu thang cuốn, khách đến Lạng Sơn du lịch, công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn đều ghé thăm chợ vì hàng hoá ở đây rất phong phú, đa dạng giá lại tương đối rẻ
Trang 21- Thị trường nội địa dọc tuyến biên giới Lạng Sơn rất phát triển
Trải qua hàng ngàn đời do nhu cầu đi lại, giao thoa về văn hóa nên việc giao lưu trao đổi hàng hóa của người dân vùng biên đã diễn ra rất tấp nập và hình thành những khu chợ ở vùng biên để trao đổi buôn các sản phẩm giữa người dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc Ngày nay việc trao đổi buôn bán các mặt hàng của người dân càng phong phú hơn, việc trao đổi hàng hóa qua các con đường mòn, đường tiểu ngạch đã thu hút một lượng lao động lớn gồm những người dân ở dọc khu vực biên giới tham gia đã tạo nên một thị trường nội địa rất sôi động dọc tuyến biên giới
1.2.2 Tiềm năm phát triển dịch vụ
Lạng Sơn - mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, từ lâu đã được biết đến và nổi tiếng với Hữu Nghị Quan, với "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa có Nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh ", với nguồn tài nguyên nhân văn phong phú như ải Chi Lăng, thành Nhà Mạc, di chỉ Bắc Sơn Lạng Sơn còn là một vùng quê xinh đẹp, với con nước xanh biếc của dòng sông Kỳ Cùng thơ mộng Vị trí địa lý của Lạng Sơn khá thuận lợi, với hệ thống đường bộ, đường sắt tương đối phát triển, nối liền với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Lạng Sơn rất phong phú và đa dạng bao gồm cả rừng núi, đồng bằng, sông ngòi Lạng Sơn có bề dầy lịch sử lâu đời và có truyền thống yêu nước có tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm Những tiềm năng giàu có trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Lạng Sơn một nền kinh tế tổng hợp, đa ngành, trong đó Du lịch được đánh giá là một trong những ngành có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
Tuy Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới nhưng rất gần Thủ đô
Hà Nội, có 250 km đường biên tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Với điều kiện, tiềm năng như vậy, có thể nói Lạng Sơn rất thuận lợi cho việc
Trang 22phát triển du lịch, đặc biệt là Du lịch biên giới Trong những năm qua Du lịch Lạng Sơn phát triển khá mạnh tốc độ tăng trưởng ổn định, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu cho ngân sách Lạng sơn là tỉnh miền núi, có đường biên giới tiếp giáp với Trung quốc, có 02 cửa khẩu quốc tế,
02 cửa khẩu quốc gia và các cặp chợ đường biên, hệ thống giao thông thuận lợi
cả về đường sắt và đường bộ nối liền giữa các tỉnh trong nước với nước ngoài,
từ khi quốc lộ 1A mới đưa vào sử dụng càng tạo thuận lợi cho du khách đến Lạng sơn tham quan du lịch Thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, với những điều kiện thuận lợi trên Lạng sơn trở thành một trong những đầu mối quan trọng của cả nước về giao lưu buôn bán và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, thúc đẩy ngành du lịch Lạng sơn ngày càng phát triển
Với lợi thế liền kề với một thị trường tiềm năng du lịch rộng lớn đó là thị trường du lịch Trung Quốc, hướng khai thác của ngành du lịch Lạng Sơn
là tập trung khai thác thị trường du lịch Trung Quốc Vì có nhiều thuận lợi như sự gần gũi về địa lý, văn hoá, phong tục tập quán khai thác tốt nguồn khách du lịch từ đất nước đông dân nhất thế giới này, du lịch Lạng Sơn sẽ có
cơ hội vươn lên Là một trung tâm buôn bán thương mại và du lịch sôi động,
sự giao lưu trong nước với quốc tế diễn ra ngày càng nhộn nhịp - Lạng sơn đã trở thành điểm hẹn của du khách trong nước và nước ngoài Mặt khác, khi đến Lạng Sơn hầu hết khách du lịch Trung Quốc đều muốn nối Tour đi tham quan những địa danh nổi tiếng của Việt Nam như: Hà Nội - Hải Phòng và đặc biệt
là Vịnh Hạ Long - kỳ quan thiên nhiên của thế giới Cùng với sự phát triển ngành du lịch cả nước, Du lịch Lạng Sơn đã tạo ra một luồng sinh khí mới để thu hút khách du lịch Trung Quốc
Khi đặt chân lên Xứ Lạng du khách sẽ không thể bỏ qua các danh lam thắng cảnh và những di tích lịch sử văn hóa đã đi vào thi ca, trong đó phải kể tới:
Trang 23- Quần thể du lịch Nhị - Tam Thanh và tượng đá Tô Thị Vọng Phu
Từ thế kỷ XVIII nhà thơ, nhà chính trị Ngô Thì Sĩ đã từng gọi Nhị - Tam Thanh là một trong những “ Trấn doanh bát cảnh” của Xứ Lạng
Động Tam Thanh là thắng cảnh tự nhiên với muôn trùng nhũ đá thiên tạo, trong động có hồ Cảnh (hay còn gọi là hồ Âm Ty), nước trong xanh quanh năm không bao giờ vơi cạn Gần cửa sau của động, cửa Thông Thiên hướng thẳng lên đỉnh núi Qua bao thăng trầm đến nay động Tam Thanh vẫn xứng với lời văn bia tiền nhân đã khắc ghi: Động này là kỳ quan do trời đất tạo ra, nơi đây là thắng cảnh của vùng đất thiêng, người giỏi, thực khó mà mô
tả, tô vẽ được Ngoài ra, chùa Tam Thanh nằm trong động Tam Thanh là danh thắng mang giá trị văn hoá, nghệ thuật Nổi bật nhất trong chùa là hệ thống văn bia ghi lại quá trình tôn tạo chùa và cảm xúc của các văn nhân, thi sĩ qua nhiều thời kỳ lịch sử
Nằm cạnh động - chùa Tam Thanh là động Nhị Thanh với chùa Tam Giáo Một trong bát cảnh mà Ngô Thì Sĩ có công phát hiện, tôn tạo để làm
“Trấn đốc Lạng Sơn” giai đoạn 1777 - 1780 Động Nhị Thanh là một hang
đá tự nhiên, phía trên là các hòn đá với nhiều hình dáng kỳ vĩ, phía dưới
là con suối dài 500m, nước chảy róc rách Trước đây, động là nơi đàm đạo, thưởng ngoạn của các tao nhân Đến nay, động Nhị Thanh còn lưu lại dấu tích “Thạch Miên am”(tức Am ngủ trên đá), “Thụy Tiền hiên”(tức Hiên ngủ bên suối) Điều quý giá nhất ở động Nhị Thanh là 20 bia Ma Nhai tạc trên vách đá, ghi bút tích của các danh nhân, thi sĩ, quan lại qua các thời kỳ Chính giữa động lưu giữ tượng truyền thần của Ngô Thì Sĩ tạc từ năm 1779, có giá trị mỹ thuật - lịch sử cao Tượng đá nàng Tô Thị với truyền thuyết về tấm lòng son sắt của người phụ nữ Việt Nam đã được đại thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều đã để lại bài thơ “Đá vọng phu” với 2 câu kết:
Trang 24Bốn trời đồi núi mênh mông
Riêng người phụ nữ gương lành treo cao
Ngay dưới chân núi Tô Thị là một eo núi còn lưu giữ 2 đoạn tường thành xây bằng đá với nhiều lỗ châu mai Đó là dấu tích của thành nhà Mạc, một di tích kiến trúc quân sự phản ánh một thời kỳ nội chiến tương tàn trong lịch sử Việt Nam Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn là căn cứ quân sự hiểm yếu, trấn giữ con đường độc đạo nối giữa Việt Nam và Trung Quốc
- Đền Kỳ Cùng
Đền Kỳ Cùng ở phố Đầu Cầu, phường Quang Trung, Thành phố Lạng Sơn Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Đền Kỳ Cùng ở xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng, nơi tả ngạn sông Kỳ Cùng có thần Giao Long, đền rất linh hiển, được lịch triều phong tặng, khi sứ bộ đi qua đây trước sửa lễ cáo yết sau mới sang đò
Phía trước đền là bến đá Kỳ Cùng (Kỳ Cùng Thạch Độ) từng được Ngô Thì Sĩ xếp là 1 trong 8 cảnh đẹp của Xứ Lạng từ thế kỷ 18 (Trấn doanh bát cảnh)
Trước đây khi đền được xây dựng để thờ thần Giao Long(Thần sông) nhưng qua quá trình biến đổi của tự nhiên cũng như của xã hội, dưới tác động của các sự kiện lịch sử, đền đã thay việc thờ thần Giao Long bằng thờ quan Tuần Tranh, một vị tướng nhà Trần Theo truyền thuyết của nhân dân Xứ Lạng ông là người có thân thế và sự nghiệp gắn với khu di tích này Bên cạnh còn có điện thờ Thánh Mẫu theo tín ngưỡng dân gian người Việt Đền còn lưu giữ được một số hiện vật quý liên quan đến đền: Bia trùng tu đền (Trùng tu bi tư) tạc tháng 2 năm 1931; Các hoành phi - Đại tự có niên đại thời Lê(1784) và Nguyễn (Bảo Đại, Khải Định )
Lễ hội đền Kỳ Cùng được tổ chức ngày 22- 27 tháng giêng Đền Kỳ Cùng đã được Bộ văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia năm 1993
- Di tích lịch sử Ải Chi Lăng
Ải Chi Lăng thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng (Lạng Sơn) nằm trên đường 1A Hà Nội - Lạng Sơn, cách Hà Nội chừng 110km và cách biên giới Việt - Trung 60km
Trang 25Ải Chi Lăng là một thung lũng hẹp hình bầu dục, xung quanh bốn bề núi cao, có sông Thương chảy qua và nhiều núi lô nhô giữa lòng thung lũng hẹp
Ải Chi Lăng có 2 cửa: cửa phía Bắc gọi là Quỷ môn quan tức là cửa ải con quỷ vì bọn giặc phương Bắc tràn sang nước ta thường qua cửa này Cửa phía Nam gọi là Ngõ Thề vì ông cha ta xa kia đã thề xả thân giết giặc cứu nước, không cho chúng lọt qua cửa ải này
Tại Ải Chi Lăng này, năm 981 Lê Hoàn đã phá quân Tống giết chết bọn tướng cầm đầu Năm 1076, phò mã Thân Cảnh Phúc đã chặn đánh 30 vạn quân Tống do tướng Quách Quỳ cầm đầu Năm 1285, Nguyễn Địa Lê đã giết chết tên việt gian Trần Kiệm trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai Năm 1427 của nghĩa quân Lam Sơn chém Liễu Thăng, tóm cổ
Hoàng Phúc, giết 10 vạn quân Minh, đập tan ý đồ xâm lược của chúng Hiện nay bên cạnh Ải Chi Lăng đã được xây dựng khu bao tàng có kiến
trúc đẹp mà vẫn giữ được những nét bản sắc dân tộc Do nằm sát quốc lộ 1A nên rất thuận tiện cho du khách ghé thăm và tìm hiểu những trang sử vẻ vang của dân tộc khu di tích này đã được Bộ văn hoá thông tin xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962
- Khu du lịch Mẫu Sơn
Từ xa xưa Mẫu Sơn đã có huyền thoại kỳ bí nay trở thành điểm du lịch hấp dẫn của khách thập phương bởi môi trường sinh thái trong lành
Dẫy núi Mẫu Sơn cao trên 1.500m so với mặt biển Khi lên tới đỉnh núi
du khách có thể thả hồn chiêm ngưỡng sự bao la, hiền hoà của đất trời và ngắm nhìn thành phố Lạng Sơn bằng mắt thường cách xa khoảng 20km theo đường chim bay Đặc biệt, ở Mẫu Sơn khi nhiệt độ dưới O độ C, thậm chí âm
6 độ C, băng tuyết xuất hiện là lúc Mẫu Sơn trở nên trắng xoá
Lên Mẫu Sơn, du khách còn được tìm hiểu nét văn hoá độc đáo của các dân tộc Dao, Mông, Nùng hay thưởng thức các món ăn dân tộc vùng cao như
“rau sạch”, đặc sản ếch Hương, quả đào Mẫu Sơn thơm ngon Thú vị hơn,
du khách có thể vừa ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ, vừa thưởng thức ly rượu
Trang 26Mẫu Sơn, loại rượu đặc sản mà chỉ thứ men có thành phần của một số loài thảo mộc trên núi Mẫu Sơn mới có và chỉ dùng nguồn nước chảy từ Núi Mẹ
để chưng cất Ai đã từng uống loại rượu này mới cảm nhận được hương mùi sắc của ngọn núi Mẫu Sơn như câu ca dao:
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mải vui quên hết lời em dặn dò
Ngoài những tiềm năng về Du lịch, Lạng Sơn còn có các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy rất thuận lợi cho dịch vụ vận tải phát triển
- Đường sắt: đường sắt liên vận Quốc tế từ Hà Nội đến Lạng Sơn – Đồng Đăng và cửa khẩu biên giới Việt – Trung với chiều dài 165 km là một trong những lợi thế lớn của Lạng Sơn Trong những năm kháng chiến chống
Mĩ cảng Hải Phòng bị phong tỏa thì ga Đồng Đăng và ga Lạng Sơn trở thành cảng nổi của cả nước, gần như toàn bộ hàng viện trợ của các nước anh em cho
ta đều được tiếp nhận và trung chuyển qua hai ga này Trong tương lai, tuyến liên vận quốc tế này sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong khu kinh tế của khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn và là trục giao thông vận tải quan trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc, các nước trong vùng Trung Á, vùng Xi bê ri (Nga), các nước trong khu vực
- Đường bộ Lạng Sơn phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với tổng chiều dài là 2.828 km, trong đó có các Quốc lộ 1A, 1B, 4A và 4B dài 504 km Quốc
lộ 1A, 1B nối Lạng Sơn với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên; Quốc lộ 4A, 4B chạy từ phía Đông Nam lên Tây Bắc, qua suốt 5 huyện biên giới Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Văn Lãng, Tràng Định Cùng với các tuyến đường tỉnh lộ với tổng chiều dài 1350 km và đường huyện dài 974 km,
hệ thống đường bộ Lạng Sơn đã tới được tất cả các thị trấn, huyện lị, cửa khẩu, chợ biên giới và tới được 225 xã, phường của tỉnh
Trang 27- Đường thủy: được thực hiện trên một số đoạn sông Kỳ Cùng, từ khu vực Lộc Bình qua thị xã tới Văn Lãng và Tràng Định
1.3 Tình hình thương mại và dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trước 1986
Tình hình thương mại và dịch vụ trong thời kì này cũng từng bước được cải tạo, củng cố và ngày càng mở rộng
Mạng lưới thương nghiệp quốc doanh và Hợp tác xã mua bán tiếp tục
mở rộng phạm vi, quy mô hoạt động của các thị xã, thị trấn đến các bản, làng nông thôn Đến năm 1965 toàn tỉnh có 30 cửa hàng bách hóa khu vực, hơn
130 Hợp tác xã mua bán và nhiều tổ thương nghiệp lưu động khác
Tổng mức hàng hóa bán lẻ trên thị trường xã hội đạt 47,8 triệu đồng (giá thực tế) Trong đó thị, trường có tổ chức chiếm 75,7% Năm 1975 tổng mức lưu thông hàng hóa bán lẻ theo giá thực tế lên tới 81,9 triệu đồng, tăng gấp 1,7 lần so với năm 1965; trong đó thị trường có tổ chức đạt 54,9 triệu đồng; tăng 1,5 lần ; thị trường tự do đạt trên 27 triệu đồng, tăng 130 %
Tổng giá trị thu mua hàng hóa xấp xỉ 20 triệu đồng, tăng 38% Hầu hết các mặt hàng thiết yếu đã được lưu thông, phân phối cho nhân dân như lương thực, vải vóc, muối, nước chấm, dầu hỏa, đường sữa, xà phòng, giấy
vở, thuốc chữa bệnh, đồ dùng gia đình, vật tư, phân bón, công cụ sản xuất v.v… Các mặt hàng thu mua chủ yếu là nông sản, thực phẩm (lương thực, đậu, lạc, muối, thuốc lá, hồi, trâu bò, lợn, gia cầm…), hàng lâm sản và vật liệu xây dựng một số mặt hàng như hoa hồi, dầu hồi, được thu mua xuất khẩu [73, tr26]
Trong chiến tranh biên giới 1979, nhiều cơ sở thương nghiệp bị phá hủy
và mậu dịch biên giới bị hoàn toàn ngừng trệ Song đến năm 1985 trên địa bàn tỉnh vấn duy trì củng cố 40 cửa hàng bách hóa, gần 110 cửa hàng và điểm bán
lẻ Thương nghiệp quốc doanh có gần 3000 người làm việc Nhiều chợ trung tâm giao lưu trao đổi được khôi phục và hoạt động trở lại Khối lượng hàng hóa
Trang 28thu mua, trao đổi và lưu thông trên thị trường đều tăng hơn nhiều so với trước Chẳng hạn từ 1981 – 1985, riêng thương nghiệp quốc doanh và Hợp tác xã mua bán đã bán ra trung bình mỗi năm trên 25 nghìn tấn lương thực (quy gạo);
743 tấn thịt lợn; 2542 tấn muối ăn; 465 tấn nước chấm; 300 tấn xà phòng; 853 tấn dầu hỏa; 1,2 triệu mét vải và hàng trục tấn hàng hóa khác Bình quân mỗi năm cũng thu mua từ 11 – 12 nghìn tấn lương thực; 450 tấn thịt lợn; 250 – 300 tấn thịt trâu, bò; hơn 860 tấn thuốc lá; 300 – 350 tấn đậu tương; thu mua và xuất khẩu khoảng 1500 tấn hoa hồi; 76 tấn dầu hồi [73, tr26]
Giao thông vận tải, bưu điện, liên lạc, và các ngành dịch vụ dần dần phục hồi và có bước phát triển song còn chậm và nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các ngành này còn thấp hơn đáng kể so với trước chiến tranh biên giới Chẳng hạn khối lượng hàng hóa vận chuyển bình quân mỗi năm từ
1981 - 1985 mới chỉ đạt 198 nghìn tấn, bằng 50% so với năm 1975; khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt khoảng 10 triệu tấn/km, thấp hơn 15% Nhiều tuyến giao thông chưa được cải tạo, vận chuyển hàng hóa và đi lai khó khăn Nhiều thôn xã (nhất là vùng cao) cho đến thời kì này chưa có đường ô tô đến xã, chưa có trạm bưu điện, cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng khác Đây là những khó khăn, trở ngại rất lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Lạng Sơn, kể cả đối với những năm tiếp theo sau khi Lạng Sơn bước vào thời kì đổi mới [73, tr.25-26]
Nhìn trung tình hình kinh tế thương mại, dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì này đã có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích cực Mặc dù tình hình trong nước chưa thật sự thuận lợi để đẩy mạnh kinh tế thương nghiệp nhưng ngành đã cố gắng duy trì và có những bước đi nhằm phát huy những thế mạnh và hạn chế những điểm yếu với những chủ trương đúng đắn đó cùng với sự cố gắng vươn lên ngành thương nghiệp Lạng Sơn đã đạt được được những kết quả nhất định, đây chính là nền móng để ngành thương nghiệp vững bước hơn khi bước vào thời kì đổi mới đất nước 1986
Trang 29Tiểu kết chương 1
Lạng Sơn là tỉnh miền núi phía Bắc có những điều kiện thuận lợi riêng
để phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ Tuy nhiên, trước năm 1986, kinh
tế thương mại và dịch vụ phát triển còn chậm và không đồng bộ, sự đầu tư cho kinh tế thương mại và dịch vụ còn ít chưa thỏa đáng cộng với trình độ quản lí còn thấp nên chưa phát huy hết tiềm năng thế mạnh của tỉnh
Do có vị trí đặc biệt thuận lợi và những tiềm năng to lớn nên Lạng Sơn
có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế thương mại và dịch vụ Đây là một ngành kinh tế rất quan trọng, là thế mạnh của tỉnh nên đòi hỏi Lạng Sơn cần phải có những định hướng đúng đắn, phù hợp khi bước vào thời kì đổi mới
Trang 30Chương 2 KINH TẾ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TỈNH LẠNG SƠN
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986-2010)
2.1 Chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước và của tỉnh Lạng Sơn đối với kinh tế thương mại và dịch vụ trong thời kì đổi mới
2.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta với thương mại
và dịch vụ
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, thế giới có những biến đổi to lớn:
Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật ở các nước tư bản chủ nghĩa đã nhanh chóng đưa các nước này thoát ra khỏi khủng hoảng và phát triển đi lên; công cuộc cải cách tiến hành ở Trung Quốc đạt được một số thành tựu bước đầu; ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, cuộc khủng hoảng toàn diện vẫn tiếp tục diễn ra và ngày càng trở nên trầm trọng năm 1985, Đảng cộng sản Liên Xô tiến hành cải tổ đã đẩy Liên Xô lún sâu hơn vào khủng hoảng và đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu Những yếu tố trên đã tác động mạnh mẽ đến công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các ngành nghề làm cho thương mại và dịch vụ vốn đã yếu nay lại càng yếu kém hơn
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta sau 10 năm 1985), đất nước ta đã đạt được một số thành tựu nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách lớn: hậu quả 30 năm chiến tranh để lại nặng nề, đất nước bị
(1975-cô lập bởi chính sách bao vây, cấm vận của đế quốc Mĩ Hơn nữa, nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu nên không tránh khỏi những khó khăn, đẫn đến tình trạng đất nước lâm vào khủng hoảng về kinh tế,
xã hội, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn
Trang 31Trước tình hình đó, Đảng ta xác định “Phải thực hiện những biện pháp
có hiệu quả để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” [26, tr.2] Để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải tiến hành đổi mới, coi đó là vấn đề cần thiết, cấp bách, phù hợp với su thế phát triển chung của thời đại và là vấn đề có tính chất sống còn đối với vận mệnh dân tộc và cách mạng Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(12-1986) đã “ Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” [25,
tr.12], nghiêm khắc kiểm điểm những chủ trương, chính sách sai lầm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, đồng thời đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng Đại hội đề ra ba chương trình kinh tế lớn là lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, xem đó là những mũi nhọn phát triển kinh tế trong thời kì mới Đồng thời xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của nhà nước Đại hội đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chủ trương của Đảng là đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến
tư tưởng, văn hóa, trọng tâm là đổi mới kinh tế Đại hội lần thứ VI xác định nhiệm
vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm tiếp theo là “Ổn định mọi mặt tình
hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định cả sản xuất, ổn định phân phối lưu thông, ổn định đời sống vật chất và văn hóa, tăng cường hiệu lực của tổ chức quản lý, lập lại trật tự, kỉ cương và thực hiện công bằng xã hội” [25, tr.42 - 43]
Đường lối đổi mới do Đại hội Đảng VI đề ra dựa trên những bài học đúc kết từ những thắng lợi đã đạt được và cả những khuyết điểm, sai lầm còn tồn tại trong những năm qua; Đường lối đổi mới của Đảng phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và
Trang 32bắt đầu phát huy tác dụng, làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước nói chung và kinh tế thương mại, dịch vụ ở các địa phương nói riêng
2.1.2 Quan điểm chỉ đạo thương mại và dich vụ của Đảng bộ tỉnh Lạng sơn thời kì đổi mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp và nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, Lạng sơn là một tỉnh miền núi biên giới cũng chịu ảnh hưởng, ngoài những khó khăn chung thì Lạng sơn còn có những khó khăn riêng như: Trình độ dân trí thấp; cơ sở hạ tầng kém phát triển; chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979 tàn phá nặng nề chưa kịp thời khắc phục; thêm vào đó, năm 1986 Lạng sơn bị ảnh hưởng của đợt lũ lớn, đỉnh lũ ngày 23 tháng 7, vượt lũ lịch sử năm 1914 là 1,53 m, 11 huyện thị trong tỉnh đều bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, trong đó có 77 xã, phường, thị trấn bị ngập úng Tình hình trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh
Quán triệt các nghị quyết của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã kịp thời đề ra nhiều chủ trương, biện pháp, tổ chức chỉ đạo thực hiện phù hợp với hoàn cảnh của địa phương trong thời kì đổi mới đất nước từ năm 1986
Từ năm 1986 đến nay là thời kì Lạng Sơn cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế hàng hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thời kì này được khởi đầu bằng việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đề ra trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 – 1986) và được thúc đẩy bởi cương lĩnh, chiến lược và đường lối phát triển kinh tế xã hội đất nước được đề ra trong các kì Đại hội tiếp sau Đây cũng chính là thời kì Lạng Sơn quán triệt và triển khai đường lối, chính sách đổi mới được cụ thể hóa trong các văn kiện, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa X (1986), XI (1991) và XII (1996), với những mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm là ổn định tình hình kinh tế xã hội, giải phóng các
Trang 33năng lực sản xuất; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương; thúc đẩy sản xuất phát triển và từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết những vấn đề bức xúc về mặt xã hội; bảo đảm an ninh quốc phòng và cải thiện một bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
2.2 Kinh tế thương mại của tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới (1986-2010)
2.2.1 Trong những năm đầu thực hiện đổi mới (1986 – 1990)
Quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X (1986), ngành thương nghiệp Lạng Sơn đã có những bước đi đúng đắn và đầy sáng tạo việc thành lập thêm các Hợp tác xã mua bán luôn được trú trọng, năm 1986 đã củng cố xây dựng được 24 cơ sở Hợp tác xã mua bán xã phường đạt 37,5% kế hoạch; phát triển được 1823 xã viên Đến 31/12/1986 toàn ngành đã có 150
cơ sở Hợp tác xã mua bán chiếm 67,8% so với tổng số xã hành chính với
7221 xã viên [42, tr.1] Các Hợp tác xã mua bán sau khi được thành lập đã nhanh chóng đi vào hoạt động đảm nhiệm việc lưu thông các mặt hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu của nhân dân, các mặt hàng thiết yếu như công cụ cầm tay, lưỡi cày, gốm dân dụng, chảo gang, sành sứ thủy tinh, máy biến áp, dệt vải màu, giấy các loại… tuy nhiên do lượng hàng sản xuất ra còn đơn điệu, số
Trang 34lượng ít, chất lượng chưa cao cộng với việc tiếp nhận hàng trung ương đạt thấp nên các mặt hàng tiêu dùng bán ra phục vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân
Bước sang năm 1988 tình hình lưu thông phân phối hàng hóa vấn chưa
có nhiều tiến triển Đảng và nhà nước đã chủ trương đưa ra các chính sách nhằm giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, tỉnh đã cụ thể hóa các chính sách và biện pháp đó một cách cụ thể song tình hình vẫn chậm chuyển biến Lĩnh vực phân phối lưu thông vẫn hết sức rối ren phức tạp Tình hình đó đã làm cho mức bán lẻ hàng hóa thấp, các mặt hàng luân chuyển trên thị trường hầu như chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân, không những vậy công tác thu mua huy động gặp rất nhiều khó khăn do giá cả không ổn định, lượng tiền mặt thiếu, các hợp đồng kinh tế không được triển khai đến cơ sở vì vậy phần lớn các mặt hàng đạt thấp so với kế hoạch, thấp hơn cả năm 1987 Việc tổ chức thu mua, gia công hàng tiểu thủ công nghiệp địa phương sản xuất tiến triển chậm do giá cả biến động khi thực hiện tính đúng, tính đủ đầu vào do doanh số đạt thấp [68, tr.5] Phải đến năm 1989, khi thực hiện chính sách mở cửa biên giới thì lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường mới tăng đột biến Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ toàn tỉnh năm 1989 tăng lên hơn 100 tỉ đồng [43, tr.1]
Mặt hàng kinh doanh trên thị trường ngày càng phong phú đa dạng bao gồm các nguồn nhưng phần lớp do địa phương sản xuất, Trung ương, tỉnh đưa
về và hàng nhập qua biên giới
Số cá nhân ra kinh doanh đến cuối năm toàn tỉnh có 4465 hộ, tăng 3,4%
so với cuối năm 1988, đó là chưa kể đến hàng ngàn người ra buôn bán không chính thức ngoài chợ, hàng ngàn người ở các địa phương lên làm cửu vạn và buôn chuyến Trên thị trường xã hội, đặc biệt là tại trung tâm thị xã, thị trấn diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt nhằm tranh thủ doanh số và lợi nhuận cao Doanh số bán lẻ của các thành phần thương nghiệp ngoài quốc doanh lên tới gần 70% tổng mức bán lẻ toàn tỉnh [43, tr 2]
Trang 35Lưu thông hàng nội địa nhờ có nhiều thành phần khơi luồng nên mặc
dù thương nghiệp quốc doanh và Hợp tác xã mua bán chưa đủ sức vươn tới những vùng xa xôi hẻo lánh, nhưng đồng bào các dân tộc vấn được đáp ứng
về cơ bản các mặt hàng thiết yếu như: dầu, muối, vải, giấy vở, tư liệu sản xuất
và mặt hàng tiêu dùng khác Đồng thời các mặt hàng nông sản, thực phẩm nông dân sản xuất vấn được tiêu thụ thông qua các thành phần kinh tế trên cơ
sở thỏa thuận, không có độc quyền ngăn cấm
Mặc dù thị trường xã hội có sự tham gia đông đảo của các thành phần kinh tế nhưng kết quả kinh doanh trong năm vấn còn thấp so với kế hoạch
Về mua vào: Tổng trị giá đạt 2 tỉ đồng = 57,5% kế hoạch trong đó
- Mua của địa phương: 1,5 tỉ đồng = 8% kế hoạch
- Mua của Trung ương: 2 tỉ đồng = 16% kế hoạch
- Mua liên kết: 10 tỉ đồng chiếm tỉ trọng 90%
- Mua hàng qua biên giới: 8 tỉ 100 triệu đồng
Về bán ra: Tổng trị giá thực hiện 26 tỉ đồng bằng 65% kế hoạch
- Bán lẻ trên thị trường: 12 tỉ đồng = 90% kế hoạch
- Bán buôn trên thị trường : 14 tỉ đồng = 92% kế hoạch
- Doanh số hàng ăn uống: 2 tỉ đồng = 66% kế hoạch
- Doanh số hàng tư doanh của Hợp tác xã mua bán: 1,8 tỉ đồng
- Doanh số hàng bán đại lí qua Hợp tác xã mua bán: 30 triệu đồng = 20% kế hoạch
- Bán qua biên giới: 13 tỉ đồng (cả doanh số của thương nghiệp quốc doanh bán trực tiếp về nông thôn đạt 3,2 tỉ đồng) = 27% tổng mức bán lẻ toàn ngành
Các mặt hàng chủ yếu mua từ địa phương đạt bình quân 40% kế hoạch như: Lợn thịt được 200 tấn, trâu bò thịt 200 tấn; Các mặt hàng thiết yếu bán ra trừ dầu hỏa đạt 100% kế hoạch, còn lại các mặt hàng khác đạt bình quân từ 50% đến 70% so với năm 1988 [43, tr.5]
Trang 36Nhìn chung thị trường nội địa năm 1989 phát triển khá rộng và đa dạng, tuy có khó khăn là một số ngành hàng bung ra quá mức và không đúng hướng, nhất là quá đông những người buôn bán nhỏ, nhưng nhìn chung trong lĩnh vực này đã đáp ứng tốt hơn phục vụ cho sản xuất và đời sống theo yêu cầu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hình thành thị trường thông suốt trong cả nước, lưu thông mở rộng, các quan hệ cung cầu được điều hòa tốt hơn, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân
cư thuộc nhiều tầng lớp khác nhau
Năm 1990, hoạt động của thị trường nội địa đã có bước tiến hơn so với năm 1989, cụ thể:
- Tổng doanh số mua vào thực hiện 15 tỉ đồng
- Tổng doanh số bán ra là 19,7 tỉ đồng bằng 48% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 85% năm 1989, trong đó:
Bán lẻ: 13,5 tỉ đồng = 55% kế hoạch và = 100% năm 1989 Bán buôn: 7,2 tỉ đồng = 40% kế hoạch và = 50% năm 1989
Biểu 2.1 Một số mặt hàng bán lẻ chủ yếu thời kỳ 1986 – 1990
Trang 372.2.1.2 Ngoại thương
Năm 1986, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2,36 triệu rúp – đô la, bằng 75,6% kế hoạch, giảm 12,1% so với năm 1985; trong đó xuất khẩu Trung ương đạt 1,93 triệu rúp – đô la bằng 90,6 kế hoạch, xuất khẩu địa phương đạt 0,43 triệu rúp – đô la, bằng 43,3 kế hoạch, nhập khẩu đạt 1,35 triệu rúp – đô
la, đạt 71,1% kế hoạch giảm 73,5% so với năm 1985 Hàng nhập khẩu chủ yếu là sắt, thép, cáp nhôm, khung kho, ô tô và những nhu cầu thiết yếu cho đời sống [66, tr.6]
Điều đáng quan tâm là chất lượng một số hàng xuất khẩu chưa đạt yêu cầu; nhiều mặt hàng có khả năng phát triển nhưng chưa được tổ chức khai thác như: gừng, hoa quả, hàng thủ công mỹ nghệ Các huyện thị tuy đã
có những chuyển biến trong việc khai thác nguồn hàng, nhưng trình độ tổ chức kinh doanh còn yếu một số chính sách sản xuất hàng xuất khẩu chậm được ban hành
Năm 1987, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2469 ngàn rúp – đô la đạt 61% kế hoạch Nhập khẩu 928 ngàn rúp – đô la đạt 94,5% kế hoạch năm [67, tr 5-6]
Nhìn chung công tác xuất nhập khẩu vấn chưa đáp ứng được yêu cầu, các mặt hàng xuất, nhập còn ít, tốc độ phát triển của ngành còn chậm Nguyên nhân chủ yếu do việc chưa quan tâm đúng mức và thi hành những biện pháp
có hiệu lực trong việc kí kết hợp đồng giao nhận và tiếp nhận hàng với Trung ương, cũng như việc tổ chức tạo ra nguồn hàng và thu mua tiếp nhận tại địa phương Các mặt hàng hoa hồi, gừng khô, thuốc lá… tiềm năng lớn nhưng thu mua được ít, chất lượng chưa đảm bảo gây khó khăn về thị trường tiêu thụ Hàng nhập khẩu mới chỉ nhập được các mặt hàng tiêu dùng còn các vật tư chủ yếu để phát triển sản xuất nhập còn ít Phong trào trồng quýt ở Bắc Sơn, Hữu Lũng và các phong tào thu hái dược liệu hoa hồi, thu gom lông vịt… có chiều
Trang 38hướng phát triển trong nhân dân cần có chính sách kịp thời thỏa đáng để đẩy mạnh công tác xuất khẩu
Năm 1988, Tổng kim ngạch xuất khẩu cả tỉnh ước đạt 1,2 triệu rúp – đô
la bằng 36,3% kế hoạch, giảm gần 1,7 triệu so với năm 1987 Mặt hàng chủ yếu xuất khẩu là hoa hồi 250 tấn, dầu hồi 60 tấn và một số mặt hàng khác như gừng khô, nụ vối, lạc nhân, lông vịt Trên cơ sở xuất đã giành ngoại tệ nhập một số vật tư thiết bị và những mặt hàng cần thiết phục vụ sản xuất và đời sống như máy bơm nhỏ, phân urê, thuốc trừ sâu, máy ủi, phương tiện vận tải
và một số mặt hàng thiết yếu
Về thu mua hàng xuất khẩu đến nay mới đạt 120 tấn hoa hồi (4,8% kế hoạch), gần 200 tấn gừng tươi (20% kế hoạch) và một số hàng nông sản khác Nguyên nhân đạt thấp là do chưa kí được hợp đồng với người sản xuất, việc
tổ chức chỉ đạo thu mua chưa đồng bộ, hoa hồi còn thẩm lậu qua biên giới qua lớn, các chính sách đầu tư cho sản xuất chưa hoàn chỉnh nên không khuyến khích phát triển sản xuất Bên cạnh đó một số mặt hàng thủ công
mĩ nghệ truyền thống không được khuyến khích đang có chiều hướng giảm sút [68, tr 5]
Năm 1989, kim ngạch xuất nhập khẩu đã phấn đấu vượt kế hoạch và tăng hơn năm 1988, sau khi có chủ trương cho dân hai bên biên giới qua lại thăm thân và trao đổi hàng hóa, Lạng Sơn đã có thêm thị trường nhập khẩu trực tiếp qua biên giới Việt – Trung làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên đáng kể
Về xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 6625 ngàn rúp –
đô la tăng 138,2% so với kế hoạch và gấp 3,8 lần so với năm 1988
Với các mặt hàng chủ yếu:
- Hoa hồi 500 tấn
- Dầu hồi 40 tấn
Trang 39Riêng các mặt hàng xuất qua Trung Quốc chủ yếu là nhận ủy thác của các ngành Trung ương và tỉnh bạn:
so với kế hoạch tăng 75,5% và so với năm 1980 gấp 3,8 lần
Nhập của Trung ương 9 xe ô tô, 150 bộ săm lốp còn chủ yếu nhập của Trung ương với các mặt hàng chính: Thôi dệt 10.000 chiếc, thuốc nhộm 10 tấn, bình thuốc sâu 106, máy say xát, máy cày, cân bàn, dây cu loa và một số mặt hàng tiêu dùng [69, tr 6]
Việc nhập khẩu trực tiếp từ thị trường Trung quốc tuy chưa có kế hoạch còn nặng về nhập hàng tiêu dùng, nhưng thực chất những mặt hàng tiêu dùng này nhiều năm nay vấn sử dụng đồng rúp và đô la để nhập, chính nhập qua con đường trực tiếp này tỉnh đã tiết kiệm được ngoại tệ để trang trải cho các nhu cầu nhập khẩu khác
Năm 1990, chỉ tiêu xuất nhập khẩu của liên hiệp công ti xuất nhập khẩu Lạng Sơn năm 1990 thực hiện được :
- Nhập khẩu: 266.966 USD
- Xuất khẩu: 1.415.904 USD (trong đó có 36.000 rúp) Chỉ tiêu xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Việt – Trung của các đơn vị trong ngành thực hiện:
- Nhập: 5 tỉ đồng trên tổng số 40 tỉ toàn tỉnh
- Xuất: 8 tỉ đồng trên tổng số 35 tỉ toàn tỉnh
Trang 40Các con số cụ thể của các năm trình bày ở trên chúng ta có thể thấy tình hình xuất nhập khẩu của tỉnh Lạng Sơn từ 1986-1990 đã có nhiều chuyển biến tích cực, ở giai đoạn 1986 – 1988, do còn gặp nhiều khó khăn
ở trong nước nên các chỉ tiêu xuất nhập khẩu đề ra và đạt ở mức độ thấp chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Bước vào năm 1989 khi nhà nước thực hiện chính sách mở cửa biên giới thì hoạt động xuất nhập khẩu đã tăng trưởng rất nhanh, các mặt hàng trao đổi giữa thị trường trong nước và ngoài nước phong phú hơn
Biểu 2.2 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng ở Lạng sơn
sự mở ra của cơ chế thị trường và sự “bung ra” của các thành phần kinh tế
đã làm cho quy mô và nhịp độ phát triển của các ngành thương mại, dịch
vụ nói chung gia tăng một cách nhanh chóng Hơn nữa việc mở cửa biên giới và điều kiện thuận lợi về giao lưu kinh tế Lạng Sơn, như đã nói trên, cũng tác động mạnh mẽ tạo ra những lợi thế và cơ hội rất lớn cho sự phát triển ở khu vực này