Vì vậy, trong các nghị quyết của Đảng bộ Chợ Mới từ khóa I đến khóa III xác định nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có nhiệm vụ cấp bách là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ÂU SƠN HƯNG
CUỘC VẬN ĐỘNG CHỐNG MÙ CHỮ
VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH BẮC KẠN TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Thái Nguyên – Năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ÂU SƠN HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
Thái Nguyên – Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài “Cuộc vận động chống mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn từ năm 1998 đến năm 2011” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi là
kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác đều trích dẫn rõ ràng Những tư liệu không có trích dẫn là do tác giả trực tiếp sưu tầm trong quá trình sưu tầm tài liệu tại địa phương
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Âu Sơn Hưng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
Cô giáo – PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi – Người Cô đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Em bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - Trường ĐHSP – Đại học Thái Nguyên, đã giảng dạy, giúp đỡ, động viên, khuyến khích và hướng dẫn em suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn Trung tâm học liệu tỉnh Đai học Thái Nguyên, Phòng tư liệu khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm – ĐHTN, đặc biệt Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, Trường Tiểu học Yên Hân, Trường tiểu học Hòa Mục huyện Chợ Mới – Bắc Kạn đã cung cấp cho tôi nguồn tư liệu để thực hiện luận văn
Trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư Phạm, Ban chủ nhiệm khoa Lịch Sử đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Âu Sơn Hưng
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1998 7
1.1 Khái quát về huyện Chợ Mới 7
1.1.1 Khái quát vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới từ 1998 đến 2011 10
1.2 Tình hình giáo dục Việt Nam và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trước năm 1998 13
1.2.1 Khái quát tình hình giáo dục Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ 13
1.2.2 Tình hình giáo dục của huyện Chợ Mới trước năm 1998 20
Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỐNG MÙ CHỮ VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở HUYỆN CHỢ MỚI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2011 31
2.1 Thực hiện chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học trong giai đoạn 1 (1998 - 2005) 31
2.2 Thực hiện chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong giai đoạn 2 (2006 - 2011) 41
Chương 3 THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CUỘC VẬN ĐỘNG CHỐNG MÙ CHỮ VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở HUYỆN CHỢ MỚI 56
3.1 Thành tựu 56
Trang 63.2 Hạn chế 583.3 Ý nghĩa của cuộc vận động CMC – PCGDTH đối với kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới 603.4 Bài học kinh nghiệm 64
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt Tên đầy đủ
PCGD Phổ cập giáo dục
CMC - PCGDTH Chống mù chữ - Phổ cập giáo dục tiểu học
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giáo dục
và chỉ rõ: "Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang , xây dựng kinh tế,
không có cán bộ không làm được Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa”
Qua lời dạy của Bác, chúng ta có thể thấy trình độ dân trí là một trong những thước đo quan trọng nhằm đánh giá sự phát triển của mỗi Quốc gia Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa là xu hướng phát triển chung của thời đại, đặt ra cho mỗi dân tộc thời cơ và thách thức mới Muốn hòa nhập và phát triển, không có con đường nào khác ngoài con đường nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đó cũng chính là đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đối với sự nghiệp phát triển giáo dục
Huyện Chợ Mới là một huyện vùng cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn với các tỉnh miền xuôi, là một bộ phận của nước Việt Nam thống nhất Nơi đây là quê hương của 7 thành phần dân tộc anh em cùng chung sống, có truyền thống yêu nước nồng nàn, tình đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, nhân dân các dân tộc Chợ Mới đang ra sức xây dựng quê hương giàu đẹp theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên quê hương, nhân dân Chợ Mới cần phải có trình độ học vấn cao, nắm bắt và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại Trong khi đó, Chợ Mới hiện tại là một trong những huyện gặp rất nhiều khó khăn vì trình độ dân trí còn thấp Vì vậy, trong các nghị quyết của Đảng bộ Chợ Mới từ khóa I đến khóa III xác định nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có nhiệm vụ cấp bách là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, mà trước hết là tiếp tục chương trình chống mù chữ và phổ
Trang 9cập giáo dục tiểu học, từng bước thực hiện quá trình đổi mới giáo dục Từ năm 1998 đến nay, sự nghiệp giáo dục huyện Chợ Mới đã có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó có vấn đề chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
Vì vậy, nghiên cứu quá trình chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
ở huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011 vừa có ý nghĩa khoa học, vừa
có giá trị thực tiễn to lớn
Luận văn còn bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử địa phương, nghiên cứu sự nghiệp phát triển giáo dục huyện, góp phần vào việc nâng cao nhận thức của nhân dân các dân tộc Chợ Mới về vai trò trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo, nhất là trong cuộc vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội của địa phương
Là một người con được sinh ra và trưởng thành từ mảnh đất Chợ Mới, tôi thấy mình có trách nhiệm cùng với các đồng nghiệp phải duy trì, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cho đồng bào các dân tộc huyện nhằm đưa Chợ Mới tiến nhanh theo kịp sự phát triển giáo dục ở miền xuôi, góp phần đưa Bắc Kạn phát triển trên con đường CNH - HĐH
Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề về “Cuộc vận động chống mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn từ năm 1998 đến năm 2011” làm đề tài Luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi đất nước ta giành được độc lập (1945) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục - đào tạo, coi đó là quốc sách hàng đầu Ngoài các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, VI, VII, VIII, IX , đặc biệt là Nghị quyết TW 2 khóa VIII và Văn kiện Hội nghị lần VI của BCH TW Đảng về Giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan chủ quản về công tác giáo dục đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị về xóa mù chữ
Trang 10và phổ cập giáo dục tiểu học Đây là vấn đề được cả xã hội quan tâm và được nhiều tác giả nghiên cứu
Vấn đề xóa mù chữ và phổ biến chữ Quốc ngữ đã được đề cập trên tạp
chí: Nghiên cứu lịch sử; Nghiên cứu Giáo dục và các tạp chí chuyên ngành
khác Đã có những Luận văn, Luận án tìm hiểu về chính sách, thành tựu và biện pháp tiến hành xóa mù chữ: Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Tùng viết năm 1998 đề cập đến công tác xóa mù chữ và bổ túc văn hóa ở Bắc
Bộ (1945 - 1954) Một số bài viết của các bậc tiền bối cách mạng đã phản ánh công tác truyền bá chữ quốc ngữ ở Việt Nam trước và sau năm 1938 Tuy nhiên các tác phẩm này cũng chỉ phản ánh trên bình diện chung về phổ biến chữ Quốc ngữ và xóa mù chữ giai đoạn 1945 - 1954
Trong các luận văn thạc sỹ lịch sử cũng đã có một số công trình nghiên
cứu về công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục: Công cuộc xóa nạn mù chữ
ở Thái Nguyên (1945-1954) của tác giả Nguyễn Xuân Hồng (2010); Cuộc vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010 của tác giả Nguyễn Trung Phần
Ở huyện Chợ Mới, trong những năm qua hoạt động nghiên cứu lịch sử
đã được một số cá nhân và tập thể thực hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế - văn hóa- xã hội Đã có một số ít công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục tỉnh Bắc Kạn, trong đó có huyện Chợ Mới
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ Thái Nguyên” tập 1 và tập 2 (1965 – 2005) (2005) của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã đề cập đến chủ trương của Đảng bộ Bắc Thái (trong đó có Bắc Kạn) về Giáo dục và đào tạo, thành tựu và những khó khăn của tỉnh trong lĩnh vực này Tuy nhiên cuốn sách này chỉ viết một cách khái quát
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái”, tập II (1991) của Ban
nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Bắc Thái; và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn (tập I,II) đã đề cập đến những thành tựu trên lĩnh vực văn hoá giáo dục
Trang 11Cuốn “Huyện Chợ Mới – 10 năm xây dựng và phát triển” xuất bản năm
2008, của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban mặt trận Tổ quốc Nội dung cuốn sách trình bày tương đối hệ thống quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ Chợ Mới trong 10 năm từ khi thành lập huyện (1998), ghi lại quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân của các dân tộc từ ngày thành lập huyện, những thành tựu đạt được trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hội của huyện Chợ Mới, trong đó có công tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, tiến tới phổ cập bậc THPT
Ngoài các công trình và bài viết nói trên, các bản báo cáo tổng kết của ngành Giáo dục Bắc Kạn và ngành Giáo dục huyện Chợ Mới qua từng thời kỳ
từ 1998 - 2011 đã nêu một số đánh giá về tình hình giáo dục Các bản báo cáo
sơ kết cuối kì, cuối từng năm học đều có những bảng biểu thống kê, so sánh giữa các huyện trong tỉnh về chống mù và phổ cập giáo dục tiểu học
Đến nay, chưa có công trình chuyên sâu nào về công tác vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Hơn nữa vấn đề chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học vẫn còn đang được thực hiện nhằm duy trì kết quả xóa mù và phổ cập của từng năm học Đây cũng là một trong những khó khăn cho tác giả khi làm luận văn Tuy nhiên, những công trình, tài liệu liên quan đến đề tài đã được công bố cũng là một trong những cơ sở khoa học giúp tôi hoàn thành luận văn này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: 15 xã và 1 thị trấn của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Trang 12- Về thời gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về quá trình vận động chống
mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm
2011 Tuy nhiên, để làm rõ thành tựu cuộc vận động chống mù chữ, Luận văn này cũng trình bày khái quát tình hình giáo dục ở huyện Chợ Mới trước năm 1998
* Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát huyện Chợ Mới và tình hình giáo dục trước năm 1998
- Trình bày toàn bộ quá trình vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011
- Nêu những thành tựu đạt được, những hạn chế của quá trình vận động xóa mù và phổ cập giáo dục tiểu học của huyện Chợ Mới
- Bước đầu nêu được ý nghĩa và một số bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị về giải pháp nhằm duy trì kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong những năm tiếp theo
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu:
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác xóa mù và phổ cập giáo dục tiểu học
- Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng là cơ
sở lý luận để nghiên cứu đề tài
- Các bản kế hoạch, định hướng của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Kạn, Huyện
ủy, UBND huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011
- Các công văn báo cáo tổng kết hằng năm của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Kạn, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chợ Mới, Niên giám thống
kê của Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn
- Các công văn, báo cáo một số trường học tiêu biểu
- Các ấn phẩm và một số công trình về lịch sử tỉnh Bắc Kạn, huyện Chợ Mới có liên quan đến giáo dục
Trang 13- Tài liệu khai thác từ khảo sát thực tế
* Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng phương pháp lịch sử và kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu
- Ngoài ra, một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: Thống kê,
so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp, khảo sát thực tế cũng được vận dụng
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về quá trình vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011
- Nêu được những thành tựu cơ bản, những đóng góp của giáo dục nói chung và cuộc vận động xóa mù, phổ cập giáo dục tiểu học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa huyện nói riêng
- Nêu lên một số hạn chế, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tiếp tục duy trì quá trình chống tái mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, cho phù hợp với xu thế phát triển chung của tỉnh Bắc Kạn cũng như cả nước
- Luận văn góp phần cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương
6 Bố cục của luận văn
- Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn và tình hình giáo dục trước năm 1998
Chương 2: Quá trình thực hiện chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011
Chương 3: Thành tựu, hạn chế, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của cuộc vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới
Trang 15Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1998 1.1 Khái quát về huyện Chợ Mới
1.1.1 Khái quát vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên
Về địa giới hành chính, huyện Chợ Mới trước năm 1965 thuộc huyện Bạch Thông (Châu Bạch Thông chính thức từ thời Lê, đời Hồng Đức thứ 21, vào năm 1490) Từ năm 1967 đên 1997 thì 09 xã và 01 thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông sát nhập về huyện Phú Lương (gồm Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư và thị trấn Chợ Mới) Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa
IX, tỉnh Bắc Kạn được tái lập Sau khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập năm 1997, địa giới hành chính huyện Bạch Thông điều chỉnh tiếp nhận 09 xã và 01 thị trấn phía Bắc của huyện Phú Lương Thực hiện Nghị định số 46-NĐ/NP ngày 06/7/1998 của Chính phủ, huyện Chợ Mới được thành lập trên cơ sở tách 16
xã, thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông
Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên là 60,716.08 ha, gồm 16 đơn
vị hành chính (15 xã và 01 thị trấn) Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc Kạn 42 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 142 km về phía Nam
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi Là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái Nguyên); phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên); phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên); phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, Bạch Thông và Thị xã Bắc Kạn
Đường Quốc lộ 3 đi qua 7 xã, thị trấn sông Cầu chảy qua 9 xã trong huyện Thị trấn Chợ Mới nằm trên địa phận hợp lưu của sông Cầu và sông Chu Địa hình của huyện khá đa dạng và phức tạp, chia thành 3 vùng chủ yếu:
Trang 16Khu vực phía Đông của huyện gồm các xã: Như Cố, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư, Tân Sơn Địa hình của vùng này được tạo bởi các núi đá và thung lũng nhỏ, có nhiều thác ghềnh
Khu vực phía Tây của huyện gồm các xã: Thanh Mai, Thanh Vận, Mai Lạp Địa hình núi đất và các thung lũng nhỏ tương đối thuận lợi cho phát triển trồng rừng
Khu vực dọc theo đường Quốc lộ 3 gồm các xã: Hòa Mục, Cao Kỳ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Quảng Chu và thị trấn Chợ Mới, chủ yếu là đồi núi được cấu tạo từ nham thạch cổ xưa, xem kẽ với núi đá vôi, ngăn cách bởi những thung lũng Có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng dọc theo triền sông, suối Địa hình miền núi nhiều mưa, mật độ sông, suối, nguồn nước khá lớn, lượng nước lưu chuyển khá dồi dào, phân phối đều giữa các khu vực trong huyện
Huyện Chợ Mới có hệ thống sông, suối được phân bố đều khắp Con sông lớn nhất là sông Cầu Sông Cầu có vai trò to lớn trong đời sống cư dân hầu hết các xã trong huyện Nguồn nước thủy lợi dồi dào, đường giao thông ngược xuôi và nguồn thủy sản phong phú Hàng năm, dòng sông này bồi đắp cho các xã dọc lưu vực một lớp phù xa khá màu mỡ Ngoài tác dụng đó, sông Cầu còn đáp ứng được một phần quan trọng sự thông thương nguồn hàng giữa huyện Chợ Mới với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Cầu đóng vai trò vận tải gạo, muối và nhiều vật dụng khác từ miền xuôi đến bến Chợ Mới bằng các thuyền ván lớn, nhỏ; trong hòa bình lại vận chuyển tre, nứa, gỗ từ Bắc Kạn về xuôi
Là huyện nằm ở cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn nên mạng lưới giao thông ở Chợ Mới tương đối phát triển Hiện nay 100% số xã có đường ô tô đến tận trung tâm xã nên giao thông liên lạc khá thuận tiện
Quốc lộ 3 là con đường giao thông huyết mạch chạy dọc theo chiều dài của huyện Chợ Mới Nhờ con đường này, từ Chợ Mới có thể đi lại một cách
Trang 17dễ dàng từ phía Nam xuống thủ đô Hà Nội, phía Bắc lên tận tỉnh Cao Bằng Ngoài ra còn một hệ thống đường liên xã, tạo nên mạng lưới giao thông phục
vụ đời sống, kinh tế và văn hóa – xã hội cho nhân dân các dân tộc trong vùng Chợ Mới nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, hàng năm chia hành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ trùng với gió mùa đông nam, nhiệt độ trung bình từ 25 độ C đến 28 độ C Mùa đông trùng với gió mùa đông bắc, tiết trời giá rét, nhiều khi có sương muối, gây ảnh hưởng xấu đến độ sinh trưởng của cây trồng và gia súc
Là một huyện miền núi phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, đất rộng, người thưa Dân số toàn huyện ngày đầu mới thành lập (1998) là 37.998 người tăng lên 38.205 người (2005) và đến 2008 là 29.468 người
Trong bức tranh của cộng đồng dân cư, huyện Chợ Mới hiện nay có các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay và một số ít dân tộc khác thuộc các ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ khác nhau:
Ngữ hệ Nam Á với các nhóm: Việt - Mường (Kinh); Mông – Dao (Mông, Dao)
Ngữ hệ Thái – Ka đai (Tày, Nùng)
Ngữ hệ Hán (Hoa và nhóm Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay)
Người Kinh chiếm khoảng 20% dân số, chủ yếu sinh sống tập trung ở vùng thấp và thị trấn
Người Tày chiếm khoảng 56,9 % dân số, phân bố hầu khắp các địa bàn trong huyện Đây là lớp dân cư bản địa, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao trong vùng Ngôn ngữ Tày cùng với tiếng phổ thông đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa các dân tộc trong khu vực
Người Nùng có mới quan hệ lịch sử với người Tày, cư trú xem kẽ với người Tày và người Kinh, với dân số khoảng 3,62 %
Người Dao cũng như người Mông sinh sống chủ yếu ở cùng cao quanh chân núi, chiếm khoảng 17,3% dân số
Trang 18Người Mông, Sán Chay, Hoa và một số dân tộc khác có mặt muộn hơn với dân số ít (~2,03%)
Mỗi dân tộc ở Chợ Mới dù số lượng nhiều ít khác nhau, nhưng đều có sắc thái dân tộc độc đáo, phong tục tập quán khác nhau tạo nên bức tranh văn hóa nhiều màu sắc Nhiều giá trị văn hóa vật thể vẫn còn bảo lưu như nếp nhà sàn truyền thống, các bộ trang phục đậm đà sắc thái dân tộc Lễ hội “lồng tồng” (xuống đồng) vào mùa xuân với ý nghĩa cầu mùa là hình thưc sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo Hát Páo dung của người Dao, múa khèn của người Mông, hát Sli, lượn của người Tày – Nùng trong các lễ hội, chợ phiên hay trong đám cưới
Trải qua quá trình lịch sử cùng sinh sống trên vùng đất Chợ Mới, nhân dân các dân tộc ở đây đã tạo nên những giá trị văn hóa mang đặc trưng dân tộc, đồng thời làm phong phú thêm văn hóa của cộng đồng dân cư
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới từ 1998 đến 2011
Trong hơn 10 năm qua, tốc độ phát triển kinh tế tăng khá, năm sau tăng hơn năm trước Qua 3 kỳ đại hội Đảng bộ huyện đều xây dựng cư cấu kinh tế
là : Nông – Lâm nghiệp – Dịch vụ - Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng từ 15% năm 2000 lên 25% năm 2005; khu vực dịch vụ tăng từ 25% năm 2000 lên 30% năm 2005 và khu vực nông, lâm nghiệp giảm từ 60% năm 2000 xuống còn 45% năm 2005
Dù là một huyện mới thành lập và còn không ít khó khăn nhưng Đảng bộ huyện đã quan tâm, chỉ đạo phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách Cùng với thu ngân sách, huyện quan tâm chỉ đạo vận động thu hút, huy động các nguồn vốn, tập trung cho vay để phát triển kinh tế - xã hội nên công tác tài chính, tiền tệ được đánh giá là tốt
Trang 19Huyện Chợ Mới có 38/164 thôn, bản, tổ dân phố là thôn định canh định
cư Huyện xác định công tác định canh, định cư là một nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài Chính vì vậy Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa I đã
ra Nghị quyết về công tác định canh, định cư – kinh tế mới Sau hơn 10 năm
đã thu được những kết quả quan trọng: Số gia đình đồng bào định canh, định
cư có thu nhập khá, đời sống ngày càng ổn định, góp phần giảm hộ nghèo khu vực định canh, định cư từ 57% năm 2001 xuống còn 45,65% năm 2007
Cấp ủy huyện rất quan tâm đến vấn đề tạo việc làm mới cho người lao động nhằm tăng thu nhập ổn định, đến năm 2010 đã tạo việc làm cho 2.638 lao động có việc làm ổn định Cùng với việc quan tâm vấn đề lao động việc làm thì huyện đã lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả bằng các biện pháp và nhiệm vụ cụ thể Năm 1998 tỷ lệ hộ đói, nghèo toàn huyện là 21,6% theo tiêu chí cũ, đến tháng 12 năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo là 30,54% theo tiêu chí mới Bình quân từ năm 1998 đến năm 2005 hàng năm giảm 6,73%
hộ nghèo theo tiêu chí cũ, từ năm 2005 đến 2007 bình quân tăng hàng năm giảm 9,11% hộ nghèo theo tiêu chí mới
Sự nghiệp giáo dục của huyện có bước phát triển khá Quy mô phát triển trường lớp và học sinh không ngừng mở rộng Chất lượng giáo dục của các bậc học được nâng lên So với năm 1998, năm học 2007 – 2008 toàn huyện có
42 trường tăng 13 trường Có 16 trường mầm non, 15 trường tiểu học, 06 trường THCS, 03 trường PTCS, 02 trường THPT, có 3 trường đạt chuẩn Quốc gia
Số lượng cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên Ngành giáo dục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giáo viên Đến nay, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở tất cả các cấp học đều trên 97% Toàn ngành có 05 thạc
sĩ Công tác xã hội hóa giáo dục có chuyển biến đã góp phần quan trọng cho phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện Đến nay 100% xã có Hội khuyến
Trang 20học và có Trung tâm học tập cộng đồng Toàn huyện có 22% số lao động qua đào tạo nghề Từ ngày thành lập đến nay có 02 học sinh đạt học sinh giỏi quốc gia; tỷ lệ học sinh thi đỗ các trường cao đẳng, đại học ngày càng tăng Hết năm 1998 huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học – xóa
mù chữ Hết năm 2007 toàn huyện có 16/16 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở
Về công tác y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân Ngoài việc đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị hiện đại là việc quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế Năm 1998 còn 2 xã chưa có trạm xá, nhiều nhà trạm xuống cấp, chưa có bệnh viện chỉ có bệnh viện vùng cao Yên Cư, trung tâm y tế huyện vừa làm chức năng quản lý nhà nước và khám chữa bệnh, toàn huyện mới có 05 bác sỹ Đến nay, tất cả các xã, thị trấn đều có trạm y tế, 10/16 xã có bác sỹ Bệnh viện huyện có trên 50 giường bệnh, tất cả các trạm y tế xã được xây dựng kiên cố; 100% thôn bản, tổ dân phố có cán bộ y tế Đến nay toàn ngành có 133 cán bộ, trong đó có 07 bác sỹ chuyên khoa cấp I; các chương trình y tế được triển khai có hiệu quả Công tác phòng, chống dịch bệnh được quan tâm Hội Đông
y huyện thành lập và hoạt động từ tháng 10/2004, đến nay có 16/16 xã, thị trấn có hội Đông y Công tác quản lý đội ngũ y dược được tiến hành thường xuyên Đến nay toàn huyện có 7 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
Về dân số - kế hoạch hóa gia đình cũng có những kết quả đáng khích lệ
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được hạn chế Công tác gia đình được quan tâm chỉ đạo với mục tiêu gia đình “Ấm no – Bình đẳng – Tiến bộ - Hạnh phúc” Đến nay trên 75% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em thu được kết quả khá Các mục tiêu giáo dục, mục tiêu chăm sóc sức khỏe, phòng chống suy dinh dưỡng, chăm lo trẻ em khuyết tật, cô đơn được quan tâm chu đáo Toàn xã hội, cộng đồng tham gia quản lý, giáo dục trẻ em
Trang 21Về chính sách xã hội, chính sách người có công được giải quyết kịp thời Công tác chăm sóc người có công, gia đình thương binh hàng năm được chăm
lo chu đáo Chương trình xóa nhà tạm, dột nát được hoàn thành cuối năm
2005 Đến nay toàn huyện đã làm được hơn 100 ngôi nhà tình nghĩa, hỗ trợ nhà ở cho 739 hộ nghèo
Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được chỉ đạo triển khai tích cực có hiệu quả Tệ nạn ma túy, mại dâm, số đề từng bước được ngăn chặn Các điểm kinh doanh có dấu hiệu vi phạm được kiểm tra truy quét Huyện vừa tập trung tuyên truyền vận động, vừa tăng cường truy quét các tụ điểm ma túy trên địa bàn
Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao có nhiều khởi sắc Hệ thống thông tin bước đầu đáp ưng nhu cầu nhanh chóng, kịp thời đến đông đảo nhân dân trong huyện Đến nay toàn huyện có 100% xã, thị trấn có báo đọc trong ngày, 16/16 xã, thị trấn có trạm truyền thanh Tất cả các cơ quan, trường học được quan tâm, quy hoạch lâu dài
Những thành tựu về kinh tế - xã hội của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn là
cơ sở cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện [57]
1.2 Tình hình giáo dục Việt Nam và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trước năm 1998
1.2.1 Khái quát tình hình giáo dục Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Đến năm 1884, với Hiệp ước Patơnôt, về cơ bản thực dân Pháp đã hoàn thành việc xâm lược nước ta Từ sau đó, chúng bắt tay vào việc tổ chức và thi hành những biện pháp thống trị nhân dân ta trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, giáo dục
Trước Cách mạng tháng 8- 1945, nền giáo dục nước ta nói chung thực chất là một nền giáo dục phản động, lạc hậu với tỉ lệ thất học trên 90% trong
Trang 22nhân dân Theo Niên giám thống kê Đông Dương các năm 1936 - 1937 và
1941 - 1942, số người biết chữ chỉ chiếm 2% dân số Nha Học chính Đông
Dương phải thú nhận: “95% dân chúng Việt Nam không biết một thứ chữ gì”
[29] Cũng theo tài liệu thống kê của cơ quan Bình dân học vụ, đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, cả nước có hơn 90% dân số mù chữ Rõ ràng, chính sách hạn chế giáo dục là một bộ phận cấu thành chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam
Nhằm đầu độc nhân dân về mặt văn hóa, thực dân Pháp khuyến khích duy trì những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời, mê tín dị đoan, tuyên truyền lối ăn chơi trụy lạc Chúng dùng thuốc phiện để đầu độc nhân dân
ta nhằm làm suy yếu giống nòi, thuốc phiện được bầy bán công khai ở các tiệm hút nhằm lôi kéo thanh niên vào con đường nghiện ngập, ăn chơi sa đọa, mỏi mòn về thể xác, tinh thần, lãng quên con đường đấu tranh cách mạng Thực trạng này càng khẳng định thêm lời tố cáo đanh thép của
Nguyễn Ái Quốc được nêu trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp:
“Lúc ấy, cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lí bán lẻ
rượu và thuốc phiện Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có vẻn vẹn 10 trường học Hằng năm người ta đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu người bản xứ, kể cả đàn bà và trẻ em” [65; tr 2]
Chính sách giáo dục của thực dân Pháp đi ngược với quyền lợi của nhân dân Việt Nam Vì vậy, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, các nhà nho yêu nước Việt Nam đã nhận thấy sự cần thiết phải gắn việc canh tân giáo dục với cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc Tháng 3 năm 1907, một số nhà nho yêu nước tiến bộ như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đã mở trường Đông Kinh nghĩa thục Hoạt động chính của trường nhằm mở mang việc học tập bằng chữ quốc ngữ cho nhân dân Mặc dù chỉ tồn tại trong vòng 8 tháng (từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1907), nhà trường đã tạo ra một phong trào học
Trang 23chữ Quốc ngữ có khí thế hào hứng, có nội dung, phương pháp và tổ chức mới khác với học chữ Hán nặng tính hư văn
Sau đó, Nguyễn Ái Quốc- nhà yêu nước Việt Nam, trong quá trình hoạt động cách mạng, đã tố cáo chính sách giáo dục ngu dân của thực dân Pháp ở Việt Nam và đề ra yêu sách về mở mang giáo dục Năm 1919, trong bản yêu sách nổi tiếng gồm 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc – xai, Nguyễn Ái Quốc đòi
tự do học tập và mở các trường cho người bản xứ ở khắp các tỉnh
Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” Nguyễn Ái Quốc nêu
vấn đề:
“1 Lập trường học cho công nhân
2 Lập trường cho con cháu công nhân” [65; tr.3]
Năm 1929, chương trình của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã
ghi rõ: “bỏ những trường học cũ của đế quốc và thay bằng trường học cách
mạng không phải trả tiền”
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và nắm quyền lãnh đạo cách mạng Từ đây, các hoạt động giáo dục trở thành một mặt trận đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp đồng thời gắn bó chặt chẽ với các mặt
trận đấu tranh khác Trong Chính cương vắn tắt - văn kiện đầu tiên của Đảng,
xác định mục tiêu đấu tranh trên lĩnh vực giáo dục cũng là một mặt trận Chủ
trương tiến hành“Phổ thông giáo dục theo công nông hoá” trong 10 khẩu hiệu thì khẩu hiệu thứ 9 ghi là: “Thực hành giáo dục toàn dân”
Trong phong trào Đông Dương đại hội thời kỳ vận động dân chủ 1936 – 1939, trong những lá đơn thỉnh nguyện đều có các mục nói về văn hoá, giáo dục
Năm 1936, Đảng ta đưa ra yêu sách 12 điểm , trong đó nêu rõ phải mở rộng nền giáo dục, sửa đổi những thể lệ vào trường học, lên lớp, thi cử, cưỡng bách giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ
Trang 24Đầu năm 1938, theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định vận động một tổ chức công khai chống nạn mù chữ Thực hiện chủ trương này, Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập, do Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng, ông Phan Thanh làm Tổng thư ký Mục đích của Hội Truyền bá
quốc ngữ là: “Dạy cho người Việt Nam biết đọc, biết viết và giúp cho họ
thông thái những kiến văn thường thức cần cho cuộc sống mới”[29]
Trước sự đấu tranh của quần chúng và của Hội Truyền bá quốc ngữ, ngày 29/7/1938, Thống sứ Bắc Kì buộc phải kí giấy công nhận sự hoạt động hợp pháp của Hội Ngày 9/9, Hội khai giảng khóa học đầu tiên
Tháng 11 - 1939, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ra nghị
quyết chỉ rõ: “cứ mở rộng những tổ chức văn hóa như Hội Truyền bá quốc
ngữ, lớp dạy tối ” Sang tháng 11/1940, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương nhấn mạnh: “Cưỡng bách giáo dục tới bậc sơ học, thủ tiêu nạn
mù chữ” [29] Nhờ có sự quan tâm của Đảng, đến trước tháng 8/1945, Chi hội
Truyền bá quốc ngữ được thành lập ở nhiều nơi
Tóm lại, dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, nhân dân ta bị kìm hãm trong vòng ngu dốt, lạc hậu Từ khi có ánh sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam rọi tới, cùng với quá trình tuyên truyền, giác ngộ về con đường đấu tranh
tự giải phóng, nhân dân ta từng bước được học hành, mở mang dân trí
Cách tháng Tám năm 1945 thành công là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam Sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một tình thế hết sức hiểm nghèo Bên cạnh giặc ngoại xâm, là “giặc đói” “giặc dốt” do chế độ thực dân phong kiến để lại Hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút và mê tín dị đoan còn rất phổ biến
Diệt “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và nhân dân ta, nhằm giáo dục cho quần chúng nhân
Trang 25dân, đặc biệt là đông đảo quần chúng lao động, hiểu biết về tình hình đất nước – để động viên lòng yêu nước, hun đúc ý chí xây dựng và bảo vệ chế độ mới Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra 6 việc cấp bách trước mắt cần giải quyết
ngay, trong đó vấn đề xóa nạn mù chữ Người nhận xét: “Muốn giữ vững nền
độc lập, làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng kiến thiết nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ ” [67; tr.8] Một tuần lễ sau khi giành độc lập, ngày
8 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã ban hành 4 sắc lệnh về vấn đề xóa mù chữ và Ban “Thanh tra học vụ”
Sắc lệnh số 16/SL: Đặt ra trong toàn cõi Việt Nam ngạch “Thanh tra học vụ” để kiểm soát việc học theo đúng chương trình giáo dục của Chính phủ
dân chủ cộng hòa Ông Đặng Thai Mai là Tổng Thanh tra
Sắc lệnh sô 17/SL: Thành lập Nha Bình dân học vụ, quy định rõ nhiệm
vụ của Nha này là chuyên lo việc học cho nhân dân
Sắc lệnh số 19/SL: Quy định trong 6 tháng, làng nào và đô thị nào cũng
phải có ít nhất là một lớp học dạy được ít nhất 30 người
Sắc lệnh số 20/SL: Việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không
phải mất tiền cho tất cả mọi người Toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ
Các sắc lệnh của Chính phủ chứng tỏ việc chống nạn mù chữ trở thành một chính sách lớn của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức đảm nhiệm, có những thể chế đảm bảo thực hiện, mà trước đây dưới chính quyền phong kiến, thực dân không thể có được Các Sắc lệnh trên có tác dụng làm thay đổi quan niệm
và nhận thức của các cấp chính quyền và đoàn thể nhân dân đối với các vấn
đề học chữ Quốc ngữ
Trang 26Tiếp theo các sắc lệnh, nhằm nói rõ thêm ý nghĩa, mục đích, đối tượng, phương pháp hoạt động chống nạn thất học, tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ra Lời kêu gọi toàn dân “Chống nạn thất học”, nêu rõ:
“Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh nước giầu, Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ ” [67;
tr.30] Người kêu gọi người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người chưa biết cố gắng học
“ Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ, như các anh chị em trong sáu, bảy năm nay
đã gây phong trào truyền bá quốc ngữ, giúp đồng bào thất học
Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi: Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ” Người đặc biệt nhắc
nhở phụ nữ nỗ lực học và thanh niên sốt sắng giúp Bình dân học vụ
“ Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử Công việc này, mong anh chị em thanh
niên sốt sắng giúp sức” [64, tr.30] Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra một cương lĩnh hành động của Bình dân học vụ, gồm hai điểm rất cơ bản: Người phụ nữ phải biết chữ phải hiểu nghĩa
vụ học tập của mình và làm chủ việc xóa nạn mù chữ cho mình; xóa nạn mù chữ là công việc của toàn xã hội và phong trào xóa nạn mù chữ phải là phong trào của quần chúng
Trang 27Sau 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của Mĩ, nhân dân ta đã giành được thắng lợi lớn, đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng đã có những chỉ thị và nghị quyết chỉ rõ phương hướng phát triển giáo dục
Trong thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc (3-1955), nêu rõ “Trách nhiệm
nặng nề và vẻ vang của người thầy là: Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà” [63] Trong dịp năm học mới (31/1/1955), trong thư “Gửi thầy giáo, học sinh, cán bộ, thanh niên và nhi đồng”, Hồ Chủ tịch một lần nữa
nhắc nhở: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ
nhân dân nhằm mục đích đào tạo cán bộ và công dân tốt, những người chủ tương lai của nước nhà” Người cũng chỉ ra rằng, muốn được như
vậy thì: “Trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của
thực dân còn sót lại như thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa với cuộc sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để xây dựng Tổ quốc, phục vụ nhân dân Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, của nhân dân” [63]
Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta ra sức cố gắng khắc phục mọi khó khăn thử thách Cùng với các ban ngành, đưa nước ta tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bộ Giáo dục đã tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 2 tháng 8 năm 1956 và cử nhiều đoàn cán bộ, giáo viên lên công tác tại các tỉnh của cả nước Đảng, Nhà nước mà trực tiếp các cấp, các ngành đều quan tâm mở mang dân trí cho đồng bào miền núi Đảng bộ Bắc Thái đã chủ trương chỉ đạo cho các huyện tiếp tục mở rộng phong trào Bình dân học vụ, ra sức thanh toán nạn mù chữ, đồng thời phát triển giáo dục phổ thông và bổ túc văn hoá
Trang 281.2.2 Tình hình giáo dục của huyện Chợ Mới trước năm 1998
Trong những năm đầu thống nhất đất nước Tháng 4-1975, cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn Sau ngày chiến thắng, đối với lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền Nam, Chính phủ tập trung vào hai nhiệm vụ: Xoá bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ; Thực hiện xoá mù chữ cho nhân dân trong độ tuổi 12-50
Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, theo đó, những định hướng có tính nguyên tắc cho cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này là:
- Về mục tiêu giáo dục: Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ thuật và về văn hoá -
tư tưởng); đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động
- Về nội dung giáo dục, hướng vào việc “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ), tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân …”
- Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội
- Về hệ thống giáo dục, thay thế hệ thống phổ thông 12 năm ở miền Nam
và hệ thống 10 năm ở miền Bắc bằng một hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm mới, trong đó, trường cấp I và trường cấp II được sáp nhập thành trường phổ thông cơ sở (chín năm), đồng thời chuẩn bị phân ban ở trung học phổ thông Nhiều trường đại học chuyên ngành được xây dựng và phát triển Đồng thời với việc ra nghị quyết xác định phương hướng cải cách giáo dục, Bộ Chính trị cũng đã quyết định thành lập Uỷ ban Cải cách giáo dục của Trung ương và Chính phủ Tổ chức này có ba nhiệm vụ:
Trang 29- Chỉ đạo nghiên cứu và xây dựng các đề án về chủ trương, kế hoạch và biện pháp thực hiện
- Kiểm tra, đôn đốc các ngành, các địa phương;
- Chuẩn bị dự luật cải cách để trình Quốc hội
Cuộc cải cách giáo dục lần này được triển khai bắt đầu từ năm học
1981-1982 Việc thay sách giáo khoa ở các cấp học phổ thông, một nhiệm vụ quan trọng nhất của cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba, đã hoàn thành vào năm
1996, tạo ra sự thống nhất về giáo dục phổ thông trong cả nước Riêng về nội dung giáo dục, so với các chương trình giảng dạy và học tập trước đó, chương trình cải cách mang nhiều yếu tố hiện đại hơn, do đó tạo ra tiền đề chất lượng giáo dục có thể đạt tới trình độ cao hơn trước
Trước khi trình bày chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và sự vận dụng của địa phương về công tác chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tôi muốn làm rõ khái niệm phổ cập giáo dục
Theo Hà Thế Ngữ: Phổ cập giáo dục là làm “lan ra”, “rộng thêm” trên
một địa bàn nào đó với một lứa tuổi nào đó, một trình độ văn hóa nhất định Phổ cập giáo dục là việc tổ chức việc dạy, việc học nhằm làm cho toàn thể thành viên trong xã hội đến một độ tuổi (thường là độ tuổi bắt đầu tham gia lao động), đều có trình độ đào tạo nhất định đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đất nước [55]
Phổ cập giáo dục có 3 loại:
- Phổ cập một bậc học (bậc tiểu học, THCS, THPT)
- Phổ cập một ngành học (Tin học, ngoại ngữ, kế toán )
- Phổ cập một chuyên đề mang tính xã hội
Như vậy, ta có thể hiểu phổ cập giáo dục là sự quan tâm đến số lượng người đi học, chất lượng được phổ cập Hai mối quan hệ đó gắn bó, đan xen, tác động với nhau để tạo thành chuẩn mực của phổ cập giáo dục
Trang 30Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1990) ghi rõ “trẻ em có
quyền được học hành và tiếp thu nền giáo dục tiến bộ”, “trẻ em là niềm hi vọng tương lai của một dân tộc”
Ở Việt Nam, giáo dục nói chung và phổ cập giáo dục nói riêng là một chính sách lớn của Quốc gia, để phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Bởi vậy, công tác xóa mù chữ, tiến tới phổ cập giáo dục tiểu học được xác định là nhiệm vụ trọng tâm mang tính chiến lược Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc nâng cao dân trí, phấn đấu thực
hiện mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành”
Ngày 27 tháng 9 năm 1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), đã ký Quyết định số 173/HĐBT thành lập Ủy ban Quốc gia chống nạn mù chữ, với nhiệm vụ chủ đạo năm quốc tế chống nạn mù chữ
1990 và thập kỷ chống nạn mù chữ 1990 – 2000, nghiên cứu đề xuất với Chính phủ về chủ trương, chính sách đối với việc chống nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Theo Nghị định 75/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục định nghĩa trong điều 2 về Phổ cập giáo dục
như sau: “Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được
học tập và đạt tới một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập.”
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về giáo dục và đào tạo Những văn bản này không những xác định chính sách mang tính chiến lược phát triển giáo dục, nhằm phục vụ sự phát triển của đất nước, mà còn có những văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn
xã hội
Trang 31Ngày 02 tháng 01 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Chỉ thị số 01/HĐBT về công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Cũng năm đó Nhà nước đã ký tuyên bố chung của toàn thế giới về giáo dục cho mọi người Tháng 8 năm 1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội (Khoá VIII) đã thông qua
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học Đây là bộ luật đầu tiên của nước Việt Nam
về giáo dục, đặc biệt dành cho giáo dục tiểu học
Điều 1 của Luật đã quy định: “Nhà nước thực hiện chính sách phổ cập
giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp5 đối với tất cả mọi trẻ em”
Điều 5 cũng ghi: “Nhà nước dành ngân sách thích đáng để thực hiện
phổ cập giáo dục tiểu học Nhà nước có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho
sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học.”
Đối với đồng bào dân tộc vùng khó khăn, Luật cũng có những quy
định trong Điều 6: “Nhà nước bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện
phổ cập giáo dục tiểu học ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng có khó khăn; bảo đảm từ ban đầu các điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học khi xây dựng khu dân
cư mới” “ [61]
Đại hội lần thứ VII và lần thứ VIII của Đảng cũng khẳng định: “Xóa mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học là mục tiêu quốc gia phải hoàn thành vào năm 2000”
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992) cũng
quy định ở Chương III, Điều 35 “ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí
Trang 32vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề giáo dục cho mọi người và đào tạo nguồn nhân lực có tri thức đang được cả nước và các tổ chức quốc tế quan tâm và đưa ra những phương hướng, biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển giáo dục theo kịp với thời đại
Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là huyện miền núi, mới được thành lập sau khi tách tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh là Bắc Kạn và Thái Nguyên đang đứng trước một thực tế với nhiều khó khăn thử thách về kinh tế, xã hội Địa bàn huyện rộng, người thưa, có nhiều xã vùng sâu vùng xa, đường xá còn đi lại khó khăn (xã Mai Lạp, Tân Sơn, Quảng Chu ) Dân tộc ít người chiếm đa số,
có nhiều hủ tục, Phong trào bỏ học đi làm gỗ thuê, đào đãi vàng diễn ra phổ biến Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách lúc này phải nâng cao dân trí cho nhân dân,
từ đó mới xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại Nhiệm
vụ đó chỉ đạt được chỉ khi phát huy được yếu tố con người, sự phát triển nguồn nhân lực là hướng trọng tâm của chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa Phát huy yếu tố con người là phát huy nguồn nhân lực, một yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững nguồn nội lực mà trung tâm là con người đã được đào tạo
Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đã nêu: “Con
người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội”, Hiến pháp năm 1992 cũng đề ra: giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu, con đường cơ bản và bền vững để tạo ra con người như thế là giáo dục
và đào tạo Tất cả những điều đó đủ nói lên rằng, chiến lược giáo dục và đào tạo được xây dựng trên một nguyên tắc mới có tính bao trùm là: Mọi người phải được đi học, học thường xuyên, học suốt đời hay còn gọi là nguyên tắc
“Học tập suốt đời”
Trang 33Hội nghị lần thứ 4 (tháng 12 năm 1992) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) và Hội nghị lần thứ 2 (tháng 12 năm 1996) của Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VIII) một lần nữa khẳng định: “Giáo dục và
đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục – đào tạo là đầu tư cho phát triển” Chỉ thị số 27/CT ngày 27 tháng 8
năm 1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phổ cập giáo dục tiểu học và chống
mù chữ từ năm 1990 – 1995, cũng nêu rõ mục tiêu và đề ra giải pháp cụ thể
để chấn hưng nền giáo dục nước nhà và giao cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đó Bởi phát triển giáo dục, khoa học là khâu mở đầu của cả thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó cũng là con đường duy nhất để nhân dân ta tiến tới cuộc sống
ấm no, hạnh phúc giữ gìn được nền độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Trong những năm 1990 – 1995, lúc bấy giờ huyện Chợ Mới ngày nay vẫn thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái cũ, ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương đã nghiên cứu cụ thể, chi tiết nhằm thực hiện triệt
để Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII Sự nghiệp xóa mù chữ và phổ cập giáo dục từng bước được củng cố và đi vào nề nếp, góp phần ổn định tình hình chính trị - kinh tế, xã hội của huyện Phú Lương lúc bấy giờ
Để hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 1995, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), tỉnh ủy Bắc Thái đã chỉ đạo các ban của Đảng và ngành giáo dục vận dụng một cách sáng tạo và mềm dẻo các chủ trương chính sách, quan điểm của Đảng về GD & ĐT vào điều kiện cụ thể của từng huyện Tại Đại hội đại biểu Bắc Thái lần thứ VI, ngày 26/9/1991, về Giáo dục đào tạo, Đại hội chủ
trương: “Tiếp tục ổn định và phát triển giáo dục và đào tạo trên cơ sở đa
dạng hóa, xã hội hóa nhằm nâng cao dân trí, đào tạo lao động, bồi dưỡng
Trang 34nhân tài, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Tạo một bước chuyển biến tiến bộ về chất lượng giáo dục đào tạo Tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức và hướng nghiệp Chú trọng thích đáng các môn tin học, ngoại ngữ, kỹ thuật, lịch sử, địa lý địa phương Có kế hoạch hợp lý huy động các nguồn vốn để bổ sung cơ sở vật chất cho các trường lớp và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”
Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết, giáo dục huyện đã có bước chuyển biến quan trọng: Sự nghiệp GD&ĐT của huyện tiếp tục phát triển Số lượng học sinh hàng năm đều tăng, chất lượng giáo dục - đào tạo có mặt được nâng lên, nhất là các lớp ở đầu cấp I, cuối các cấp học và ở các trường chuyên, lớp chọn bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Tất cả các xã trong huyện đều có trường tiểu học, 98,8% số xã có trường cấp II, hoặc phổ thông cơ sở, 94% trong tổng số xã của huyện đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học
và chống mù chữ Chất lượng giáo viên từng bước được nâng lên Tính đến năm
1995 đã có 50% giáo viên mầm non, 97% giáo viên tiểu học, 78% giáo viên trung học cơ sở và 90% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn đào tạo Mặc
dù huyện đã có nhiều cố gắng, song, do số học sinh tăng nhanh và yêu cầu chất lượng ngày một cao, việc xây dựng cơ sở vật chất cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu, năng lực đội ngũ giáo viên còn có những mặt hạn chế, giáo viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác và sinh hoạt
Nhờ những kết quả đạt được trong công tác phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, ngày 14/4/1994 UBND tỉnh Bắc Thái đã ra Quyết định Công nhận huyện Phú Lương (Bắc Thái) đã đạt tiêu chuẩn Quốc gia về công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ cho cán bộ và nhân dân trong địa bàn toàn huyện
Và trong Quyết định đã nêu rõ nhiệm vụ tiếp theo của ngành giáo dục, cùng các ngành đoàn thể là tiếp tục lãnh đạo chỉ đạo thực hiện tốt theo tinh thần thông tư
Trang 3542 và chỉ thị 27 của Bộ giáo dục và đào tạo, từng bước nâng cao trình độ dân trí của địa phương
Trong những năm tiếp theo kể từ khi hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có chỉ thị số 01/HĐBT về công tác chống xóa mù chữ Luật PCGDTH được ban hành ngày 13/8/1991 và nghị định 338/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành luật phổ cập giáo dục tiểu học, công tác phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ ở hyện Chợ Mới tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt từ khi có nghị quyết số 41/5000/QH 10 của quốc hội, chỉ thị số 61-CT/TW ngày 28/2/2000 về việc PCGD Huyện ủy đã có quyết định chỉ đạo các xã và ngành giáo dục thực hiện chỉ thị 61 Đồng thời Tỉnh ủy Bắc Kạn và huyện ủy Chợ Mới ra chỉ thị thực hiện nghị quyết TƯ II khóa VIII
Trên cơ sở của các văn bản, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân coi công tác giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là một trong những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; hàng năm Đảng ủy và Hội đồng nhân dân đều có nghị quyết về công tác phổ cập giáo dục tiểu học chống mù
chữ, trong các nghị quyết đều chỉ rõ: “Duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu
học chống mù chữ một cách vững chắc Phấn đấu để đạt nhanh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; duy trì phổ cập THCS ở mức cao hơn so với năm đầu đạt chuẩn”
Hệ thống văn bản luật, dưới luật và hướng dẫn thực hiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nghị quyết của Tỉnh, Huyện ủy đã có tác động tích cực và trực tiếp đến sự phát triển giáo dục của huyện Chợ Mới, đặc biệt là việc xác định nhiệm vụ duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ một cách vững chắc trong giai đoạn hình thành và phát triển của địa phương Những văn bản trên là cơ sở pháp lý quan trọng, để các ngành, các cấp có sự thống nhất đồng bộ trong công tác phối hợp chỉ đạo thực hiện chương trình vận động toàn dân tham gia chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ
Trang 36Trước năm 1998, tỉnh Bắc Kạn sát nhập với tỉnh Thái Nguyên gọi là tỉnh Bắc Thái, huyện Chợ Mới ngày nay bao gồm một phần của huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn và một phần của huyện Phú Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên ngày nay với diện tích tự nhiên tương đối lớn, địa hình khá phức tạp, trình độ dân trí và mật phân bố độ dân cư không đồng đều giữa vùng núi và đồng bằng, giữa thành thị và nông thôn Giữa người kinh và các dân tộc thiểu
số khác sinh sống trên địa bàn tỉnh Bắc Thái cũng có sự chênh lệch nhất định
về trình độ nhận thức chính vì điều đó đã đặt ra nhiều vấn đề trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Thái trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo Trước tình hình đó nhằm khắc phục những khó khăn và từng bước thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986) về phát triển giáo dục và đào tạo Tỉnh uỷ Bắc Thái đã chỉ đạo các Ban của Đảng
và Ngành giáo dục vận dụng một cách sáng tạo và mềm dẻo các chủ trương, chính sách quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo vào điều kiện cụ thể của tỉnh đồng thời tìm cách sớm xây dựng chế độ ưu đãi, thu hút nhân tài và chính sách cụ thể cho cả người dạy và người học để kịp thời động viên khuyến khích họ giảng dạy và học tập Tuy nhiên, trong quá trình triển khai
và thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của các cấp và chủ trương của Bộ Giáo dục - Đào tạo, ngành giáo dục Bắc Thái bước đầu đã gặp nhiều khó khăn, trở ngại về nhiều mặt như: Đội ngũ cán bộ quản lý thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, tình trạng ngại khó, ngại khổ khi đi học, thiếu thốn về
cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn đầu tư các chính sách ưu đãi cho cán bộ chậm được triển khai và còn rất nhiều khó khăn khác đang đặt ra cho tỉnh uỷ Bắc Thái
Trên cơ sở phân tích thực trạng của ngành giáo dục ở địa phương Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã chỉ ra bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại tình trạng mất cân đối giữa phát triển kinh tế - xã hội và phát triển
Trang 37giáo dục - đào tạo; với phát triển cơ cấu lao động và cơ cấu đào tạo, giữa dạy
lý thuyết với thực hành
Trước những khó khăn trên Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Thái lần thứ VI, ngày 26/9/1991 đã thảo luận và quyết định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (1991-1995) Về giáo dục - đào tạo, Đại hội chủ trương:
“Tiếp tục ổn định và phát triển giáo dục – đào tạo trên cơ sở đa dạng hoá, xã hội hoá nhằm nâng cao dân trí, đào tạo lao động, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Tạo một bước chuyển biến tiến bộ về chất lượng giáo dục - đào tạo Tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức và hướng nghiệp, chú trọng thích đáng các môn tin học, ngoại ngữ, kỹ thuật, lịch sử, địa lý địa phương Có kế hoạch hợp lý huy động các nguồn vốn
để bổ sung cơ sở vật chất cho các trường lớp và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”
Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết, giáo dục huyện đã có bước chuyển biến quan trọng Đánh giá về sự chuyển biến này, Hội nghị đại biểu Đảng bộ huyện giữa nhiệm kỳ (khóa VI) tháng 3/1994 đánh giá: Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của huyện tiếp tục phát triển Số lượng học sinh hàng năm đều tăng, chất lượng giáo dục - đào tạo có mặt được nâng lên, nhất là các lớp ở đầu cấp
I, cuối các cấp học và ở các trường chuyên, lớp chọn bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Tất cả các xã trong huyện đều có trường tiểu học, 98,8% số xã có trường cấp II, hoặc phổ thông cơ sở, các huyện đều có trường phổ thông trung học, 94% trong tổng số xã, phường của xã đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học và chống mù chữ Chỉ còn 7.366 người mù chữ ở độ tuổi từ 15 đến
35 chiếm 2,38% số người trong độ tuổi Chất lượng giáo viên từng bước được nâng lên Tính đến năm học 1995 -1996 đã có 50% giáo viên mầm non, 97% giáo viên tiểu học, 78% giáo viên trung học cơ sở và 90% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn đào tạo [58] Mặc dù huyện đã có nhiều cố gắng, song,
Trang 38do số học sinh tăng nhanh và yêu cầu chất lượng ngày một cao, việc xây dựng
cơ ở vật chất cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu, năng lực đội ngũ giáo còn có những mặt hạn chế, giáo viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác và sinh hoạt
Mặt khác, việc xây dựng cơ sở vật chất cho sự nghiệp giáo dục đào tạo vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu, năng lực đội ngũ giáo còn có những mặt hạn chế, giáo viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn
* Tiểu kết chương 1
Chợ Mới là một huyện miền núi, mới thành lập từ năm 1998, gồm hơn 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, đất rộng nhưng mật độ dân cư thưa thớt, không tập trung, giao thông đi lại giữa các xã còn khó khăn, kinh tế - xã hội chỉ mới đang trong thời gian đầu phát triển, Đó là những yếu tố hạn chế đến
sự phát triển của ngành Giáo dục trên địa bàn huyện
Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, dưới chế độ dân chủ cộng hoà, cùng với việc nhanh chóng xoá bỏ những tàn tích của nền văn hoá, giáo dục nô dịch, ngu dân do chế độ cũ để lại, công tác xoá nạn mù chữ, từng bước nâng cao trình độ học vấn của nhân dân các dân tộc được đặc biệt quan tâm
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như những năm từ sau ngày đất nước thống nhất đến trước khi thành lập huyện (1998), tuy có lúc bị ngưng trệ, nhưng sự nghiệp giáo dục nói chung của nước nhà vẫn được duy trì, phát triển đi lên Đó chính là những tiền đề thuận lợi, vững chắc cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục ở huyện Chợ Mới trong những năm tiếp theo
Trang 39Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỐNG MÙ CHỮ
VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở HUYỆN CHỢ MỚI
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 20112.1 Thực hiện chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học trong giai đoạn 1 (1998 - 2005)
Vào nửa cuối những năm 90 của thế kỉ XX, và nửa đầu thập kỷ 10 của thế kỷ XXI, nước ta đã trải qua gần 20 năm đổi mới và giành được những thắng lợi bước đầu rất quan trọng về kinh tế, xã hội Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra thế và lực mới để chúng ta bước vào một thời
kì mới Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã chín muồi Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Tình hình trên đặt ra cho ngành Giáo dục nhiệm vụ hết sức nặng nề, làm thế nào đưa nền giáo dục nước ta tiến kịp các nước phát triển, tạo nền tảng đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phục vụ đời sống
Để hoàn thành mục tiêu PCGDTH đúng độ tuổi vào năm 2005 theo chủ trương của tỉnh là một vấn đề khó khăn của huyện Chợ Mới Huyện Chợ Mới
là huyện có nhiều dân tộc, nhiều xã vùng sâu vùng xa, đi lại rất khó khăn, trong đó có 8 xã đặc biệt khó khăn Đời sống kinh tế của nhân dân tuy đã được cải thiện, song vẫn còn nhiều hộ nghèo, trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng miền
Cơ sở vật chất các trường học chưa đáp ứng với các yêu cầu mới của giáo dục (nhất là thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa) ở một số
bộ phận trường học chưa đảm bảo chất lượng, phần lớn các trường không có
Trang 40các phòng chức năng, sân chơi bãi tập chưa đảm bảo Đội ngũ giáo viên tuy
đủ về số lượng nhưng lại thiếu về chủng loại ở một số môn: nhạc, họa Độ tuổi bình quân của đội ngũ giáo viên còn cao, ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục “mũi nhọn” Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên chưa thực sự đồng đều, tuy hầu hết giáo viên đã chuẩn hóa về bằng cấp nhưng còn một số giáo viên năng lực chuyên môn còn hạn chế Bên cạnh đó là một
số bộ phận nhân dân trong diện phổ cập, nhưng chưa thấy hết tầm quan trọng của việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ Một số hộ gia đình đời sống khó khăn do vậy thiếu quan tâm đến việc học hành của con cái Dân số ở một số xã thường xuyên có biến động vì dân nơi khác chuyển đến đã ảnh hưởng đến công tác điều tra lập hồ sơ
Nhưng bên cạnh những khó khăn đó, việc CMC - PCGDTH ở huyện Chợ Mới cũng có những thuận lợi cơ bản như sau:
Chợ Mới là nơi có truyền thống lâu đời về tinh thần đoàn kết, đấu tranh giải phóng dân tộc Sau giải phóng, các dân tộc anh em cùng chung sức chung lòng xây dưng quê hương ngày càng giàu đẹp Đặc biệt từ ngày tái lập tỉnh đến nay, nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới với cơ cấu kinh tế nông – lâm nghiệp cùng một số dịch vụ thương mại khác đã không ngừng đưa Chợ Mới phát triển về mọi mặt Công tác giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao có nhiều tiến bộ Nhịp độ tăng trưởng kinh tế hàng năm bình quân là 12% Công tác xây dựng cơ bản và quản lý đô thị được quan tâm đầu tư xây dựng, bộ mặt trung tâm huyện có nhiều biến đổi An ninh, trật tự xã hội được giữ vững, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện
Sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo ở huyện Chợ Mới luôn được sự quan tâm của cấp ủy Đảng chính quyền và cộng đồng xã hội Nhận thức được trách nhiệm của mình, trong nhưng năm qua, Đảng bộ, chính quyền các cấp, các ngành, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội đã đồng tâm, nhất trí ủng