1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thơ tuyên quang từ năm 1986 đến nay

135 805 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ tuyên quang từ năm 1986 đến nay
Tác giả Nông Thị Lan Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đức Hạnh
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 702,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó còn có một một số công trình nghiên cứu về Văn học dân tộc thiểu Việt Nam, trong đó ít nhiều đề cập đến một số tác phẩm, tác giả Tuyên Quang như Đề tài nghiên cứu khoa học cấ

Trang 1

zzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzz

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ LAN HƯƠNG

THƠ TUYÊN QUANG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ LAN HƯƠNG

THƠ TUYÊN QUANG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Hạnh

Thái Nguyên - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn

TS Nguyễn Đức Hạnh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tác giả xin chân trọng cảm ơn các nhà thơ, nhà nghệ sĩ, nhà nghiên cứu phê bình, Hội văn học nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang, Thư viện tỉnh Tuyên Quang đã giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành tốt luận văn này

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Tác giả

Nông Thị Lan Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nông Thị Lan Hương

Trang 5

1.1 Văn hoá tuyên Quang giàu bản sắc - cội nguồn của thơ Tuyên Quang hiện đại 7 1.1.1 Khái quát chung về văn hoá Tuyên Quang ở phương diện kinh

tế, chính trị, xã hội, văn học dân gian Tuyên Quang 7 1.1.2 Ca dao và dân ca của các dân tộc thiểu số Tuyên Quang - “cái nôi” của thơ ca Tuyên Quang hiện đại 10 1.2 Diện mạo của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay 21 1.2.1 Thành tựu thơ Tuyên Quang trước 1986 là tiền đề cho sự phát triển của thơ Tuyên Quang hôm nay 21 1.2.2 Diện mạo của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay 31

Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THƠ TUYÊN QUANG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 49

2.1 Sự giao thoa các thế hệ và kế thừa - đổi mới về thành tựu sáng tác 49 2.2 Sự giao thoa nhiều giọng điệu, nhiều cá tính sáng tạo trong bức tranh thơ đa sắc mầu 56 2.3 Truyền thống và hiện đại trong thơ Truyên Quang từ 1986 đến nay 68

Trang 6

Chương 3 MỘT SỐ GƯƠNG MẶT XUẤT SẮC CỦA THƠ TUYÊN

QUANG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 80

3.1 Nhà thơ Gia Dũng 80

3.1.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác 80

3.1.2 Một số đặc điểm nổi bật trong thơ gia Dũng từ 1986 đến nay 81

3.2 Nhà thơ Đoàn Thị Ký 91

3.2.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác 91

3.2.2 Một số đặc điểm nổi bật trong thơ Đoàn Thị Ký từ 1986 đến nay 92 3.3 Nhà thơ Mai liễu 102

3.3.1.Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp nghiệp sáng tác 102

3.3.2 Một số đặc điểm nổi bật trong thơ Mai Liễu từ 1986 đến nay 104

3.4 Nhà thơ Đinh Công Thủy 112

3.4.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác 112

3.4.2 Một số đặc điểm nổi bật trong thơ Đinh Công Thủy 113

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học địa phương ở từng tỉnh là một bộ phận cấu thành nên nền

văn học Việt Nam hiện đại hôm nay Nhưng do nhiều lí khách quan và chủ quan, việc nghiên cứu các nền văn học điạ phương ấy chưa xứng đáng với thành tựu của nó Nhiều tác giả, tác phẩm xuất sắc của nền văn học địa phương hầu như còn bị bỏ quên trong con mắt của giới nghiên cứu và phê bình văn học, nhất là ở các tỉnh miền núi xa xôi như Tuyên Quang Bởi vậy việc nghiên cứu văn học Tuyên Quang nói chung và thơ tuyên Quang từ 1986 đến nay nói riêng là công việc cần thiết nhằm góp phần soi sáng thành tựu và hạn chế của một vùng văn học đặc sắc Từ đó, chúng ta chỉ ra đóng góp của Văn học tuyên Quang và đặc biệt là thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay vào thành tựu chung của văn học nước nhà

1.2 Trong chương trình giảng dạy phần văn học địa phương trong các

trường THCS trên toàn quốc, Bộ giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trình 24 tiết văn học địa phương, nhưng qua khảo sát của chúng tôi, việc thực hiện chương trình này vẫn còn nhiều bất cập do thiếu giáo trình và tài liệu biên soạn thống nhất Từ đó thực trạng dạy và học tự phát đôi khi tuỳ tiện vẫn xảy ra trong cấp học THCS ở nhiều tỉnh, trong đó có tỉnh Tuyên Quang

1.3 Trong mảng thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay, chúng ta bắt gặp

những gương mặt xuất sắc có đóng góp vào nền thơ Việt Nam hiện đại như Mai Liễu, Gia Dũng, Đoàn Thị Ký, Đinh Công Thuỷ… Việc đặt những tác giả này vào bối cảnh chung là thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay không chỉ nhằm mục đích ghi nhận những thành tựu và đóng góp của họ mà còn hướng tới sự đánh giá xu thế vận động và hiện đại hoá của “nguồn riêng” là thơ tuyên Quang vào “dòng chung” là thơ Việt Nam đương đại

1.4 Trong chương trình giảng dạy Ngữ văn, khoa Đào tạo giáo viên

THCS ở trường ĐHSP Thái Nguyên, ở hai học phần lí luận văn học và Văn

Trang 8

học Việt Nam hiện đại đều có chương văn học địa phương, việc thực hiện đề tài này sẽ góp phần bổ sung tài liệu bổ ích cho việc giảng dạy và học tập

mảng Văn học điạ phương này

1.5 Là người con của Tuyên Quang, tha thiết với văn hóa, văn học của

địa phương mình, thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn được đóng góp một tiếng nói của mình để giáo dục tình yêu và niềm tự hào về nền văn hoá đặc sắc của quê hương cho người đọc Tuyên Quang nói chung và đặc biệt cho thế

hệ trẻ Tuyên Quang nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

Qua khảo sát, chúng tôi thấy những công trình mang tính chuyên sâu

về văn học Tuyên Quang nói chung và thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay nói riêng còn vắng bóng Về văn học Tuyên Quang chúng tôi mới thấy xuất hiện

giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ Cao đẳng Sư phạm là “Văn hoá, văn

học và ngôn ngữ địa phương tỉnh Tuyên Quang” vào cuối năm 2010 của

tiến sỹ Bùi Thị Mai và Trần Lâm Huyền Giáo trình này có hai đặc điểm, thứ nhất là khái quát chung về văn hoá văn học Tuyên Quang mà chưa đi sâu nghiên cứu thơ Tuyên Quang, đặc điểm thứ hai là giáo trình chỉ dành giảng dạy cho sinh viên trong trường Cao đẳng sư phạm Tuyên Quang

Tiếp đó là đề tài cấp bộ của Tiến sỹ Nguyễn Đức Hạnh có nhan đề

“Nghiên cứu triển khai giảng dạy phần văn học địa phương cho cấp học

trung học cơ sở tại tỉnh Tuyên Quang” với mục đích khái quát chung về

Văn học Tuyên Quang từ Văn học dân gian đến Văn học hiện đại, sau đó thiết

kế hệ thống bài giảng văn học điạ phương tỉnh Tuyên Quang

Bên cạnh đó còn có một một số công trình nghiên cứu về Văn học dân tộc thiểu Việt Nam, trong đó ít nhiều đề cập đến một số tác phẩm, tác giả

Tuyên Quang như Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Bản sắc dân tộc trong

thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại của PGS.TS Trần Thị Việt

Trang 9

Trung khi đánh giá về sắc thái văn hoá của dân tộc trong thơ Mai Liễu có

nhận xét: “Trong niềm tự hào về nền văn hoá của dân tộc mình của các nhà

thơ Tày, những vật tưởng chừng như là vô tri nhưng lại mang hồn vía quê hương, chúng neo giữ nhà thơ vào với cộng đồng, để rồi dù đi đâu về đâu thì cội nguồn và bản sắc vẫn là “cõi đi về” của con người Như nhà thơ Mai Liễu, ông kể về cái “bắng” (…), về chái nhà sàn Cho nên dù có đi đến mọi phương trời thì nhà thơ vẫn nhớ về những gì đã làm nên mình.” [63, tr.105]

Trong cuốn Về Tuyên - Tuyển tập thơ Tuyên Quang, nhận xét về vai

trò của đội ngũ sáng tác ở Tuyên Quang cũng như lợi thế của họ, PGS Vũ

Giáng Hương có viết: “Các tác giả Tuyên Quang ngày nay được thừa hưởng

truyền thống văn hoá dân gian của các dân tộc tỉnh nhà và truyền thống tốt đẹp của văn nghệ cách mạng và kháng chiến ngay tại quê hương mình Họ như được tiếp sức từ hai nguồn mạch tinh thần ấy để tiếp tục sáng tạo nên những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước” [18,tr.5]

Cũng không ít những bài nghiên cứu, bài viết tuy còn lẻ tẻ, tản mạn về

cá nhân tác giả, tác phẩm thơ ở Tuyên Quang như: Mai Liễu, Gia Dũng, Đoàn Thị Ký, Đinh Công Thuỷ…đăng trên các tạp chí, các báo trung ương và địa phương, trong đó cũng cho thấy thái độ hết sức trân trọng đối với những sáng tác của họ, chẳng hạn như đánh giá về Mai Liễu:

Mai Liễu với sáng tác của mình đã tạo nên “gương mặt” thơ Tày không thể lẫn với thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số khác Bản sắc văn hoá Tày trong thơ Mai Liễu vừa có sự bảo lưu những tinh hoa văn hoá độc đáo vừa có sự tiếp biến với văn hoá Việt để tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, có sức lay động và làm say mê người đọc Phạm Quang Trung đã nhận xét về

cấu tứ của thơ Mai Liễu: “Đọc thơ Mai Liễu, tôi không thể không lưu tâm tới

lối cấu tứ của thơ Anh ( ) cấu tứ theo trục thời gian” [65,tr.92]

Trang 10

Còn Lò Ngân Sủn đã thật đích đáng khi nói rằng: “Có thể ví thơ Mai

Liễu giống như những mạch ngầm chảy âm thầm trong đất, trong cây, trong

cỏ, để lặng lẽ hiến dâng lặng lẽ vui buồn” [55,tr.20]

Tân Linh đồng cảm với những trang viết của Gia Dũng đã nhận định:

“Thơ Gia Dũng bâng khuâng buồn Một nỗi buồn man mác nhưng không có

sầu, không bi quan tuyệt vọng bởi Gia Dũng vốn đa đoan, và chấp nhận tất

cả, cả sắc và không”.[40,tr.16]

Không khác mấy với sự cảm nhận của Tân Linh về Gia Dũng nhà

nghiên cứu phê bình Vũ Bình Lục đã thốt lên: “Người đọc dường như vẫn

nghe vang vọng đâu đây một tiếng gọi đò, một tiếng gọi tình, một tiếng gọi người thiết tha, da diết, gần lắm, nhưng mà xa xôi lắm!”.[42,tr.129]

Đến với thơ Tuyên Quang không thể không biết đến một nữ thi sĩ, có một hồn thơ vừa dịu dàng ấm áp, vừa khắc khoải hun hút trong thổn thức, khát khao

Mai Liễu đã viết “Nhiều người hâm mộ thơ Đoàn Thị Ký bởi sự đằm thắm,tinh

tế đầy nữ tính, và cả sự táo bạo, độc đáo trong cấu tứ và ngôn từ” [33]

Thơ Đoàn Thị Ký, bên cạnh những đề tài có tính xã hội rộng lớn, có sự liên tưởng độc đáo và tài hoa, là những suy tư thẳm sâu đáy lòng mà Phạm

Nguyệt Đức cho rằng “…Đầy ắp trong thơ chị, đó là những câu thơ của ẩn ức:

ẩn ức về cái đẹp, ẩn ức về nỗi cô đơn, ẩn ức về những khát vọng không thành…” [13,tr13]

Trong dòng chảy trở về hồi ức cùng Đinh Công Thủy với bài viết “Cảm

xúc về mẹ”, Phan Anh đã nói: “Có thể nói, thơ của Đinh Công Thuỷ chất

chứa một nỗi niềm hoài cổ Anh luôn tìm về quá khứ để suy ngẫm Phong cách thơ hiện đại đã phác hoạ một Đinh Công Thuỷ với những nét riêng không lẫn với tác giả nào” [2]

Ca ngợi quá trình tìm tòi một lối thơ riêng trên nền thơ truyền thống

nguồn Evăn viết: “Con đường đến cõi thơ mà Đinh Công Thuỷ đang đi có cả

mồ hôi và sự vật vã Những câu thơ qua bao lần trở dạ lớn lên, góp vào thế

Trang 11

giới nghệ thuật một khuôn mặt chững chạc, tươi rói Dấu ấn đậm nét đó là quá trình lao động nghiêm túc, một tấm lòng sẻ chia, trăn trở về tình người, cõi người giữa đầy rẫy bon chen thật giả” [14]

Những công trình, bài nghiên cứu phê bình, những lời nhận xét viết về văn học Tuyên Quang nói chung, về thơ Tuyên Quang nói riêng cũng như về các tác phẩm cụ thể đã cho thấy: Thơ Tuyên Quang là một bộ phận quan trọng trong nền thơ Việt Nam hiện đại, nó đã góp phần tạo nên một vườn thơ

đa sắc màu cho đời sống thơ ca Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu về thơ

ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, đã có những nhà nghiên cứu phê bình, nhà thơ, nhà văn …quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá, nhận xét về thơ Tuyên Quang Song có một điều, tất cả chưa đi sâu nghiên cứu phân tích, đánh giá, chỉ ra đặc điểm, diện mạo, cũng như chưa có công trình nghiên cứu độc lập nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về thơ Tuyên Quang từ 1986 đến

nay,và đây chính là “khoảng trống” để chúng tôi hành tìm hiểu Thơ Tuyên

Quang từ năm 1986 đến nay một cách toàn diện, hệ thống

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện

về thơ Tuyên Quang Từ đó chúng tôi hướng tới một sự đánh giá đầy đủ và khách quan hơn về những thành công và hạn chế, về tiến trình vận động và phát triển cũng như đặc điểm của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay

Qua việc tiếp cận, nghiên cứu phê bình một cách cụ thể các tác phẩm của các nhà thơ sống và sáng tạo trên mảnh đất này - với những đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật để khẳng định đóng góp của thơ Tuyên Quang vào thành tựu của thơ Việt Nam hiện đại

Giới thiệu một số gương mặt các nhà thơ tiêu biểu của văn học Tuyên Quang và vai trò của họ trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống

Trang 12

3.2 Phạm vi

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ những tác phẩm thơ của các tác giả là người Tuyên Quang, hoặc các tác giả đã, đang sống và viết ở Tuyên Quang (chủ yếu từ 1986 đến nay), tập trung vào một số tác giả tác phẩm tiêu biểu nhất để khắc hoạ “chân dung văn học” của họ như Mai Liễu, Đoàn Thị

Ký, Gia Dũng, Đinh Công Thuỷ …

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phác hoạ tiến trình, diện mạo, đặc điểm, thành tựu và hạn chế của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay

Khảo sát, phân tích để xây dựng chân dung văn học và chỉ ra cá tính sáng tạo độc đáo của một số gương mặt thơ Tuyên Quang tiêu biểu từ 1986 đến nay như: Mai Liễu, Đoàn Thị Ký, Gia Dũng, Đinh Công Thuỷ …

Khẳng định đặc điểm và giá trị cùng những đóng góp của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay vào nền thơ Việt Nam hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu tác giả, tác phẩm văn học

Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh văn học

Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và thư mục tài liệu tham khảo phần nội dung chính gồm 3 chương

Chương 1: Khái quát về thơ Tuyên Quang từ năm 1986 đến nay Chương 2: Một số đặc điểm nổi bật của thơ Tuyên Quang từ năm

1986 đến nay

Chương 3: Một số gương mặt xuất sắc của thơ Tuyên Quang từ năm 1986 đến nay

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THƠ TUYÊN QUANG

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 1.1 Văn hoá tuyên Quang giàu bản sắc - cội nguồn của thơ Tuyên Quang hiện đại

1.1.1 Khái quát chung về văn hoá Tuyên Quang ở phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn học dân gian Tuyên Quang

Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thì, Tuyên Quang xưa (bao gồm cả Hà Giang) thuộc bộ Vũ Định của nhà nước Văn Lang Trải qua các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê… Tuyên Quang thuộc Châu Tuyên Quang, thừa Tuyên Quang, phủ Tuyên Hoá trấn Minh Quang

Đến năm 1884 Pháp chiếm đóng và chúng chia Tuyên Quang thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Tuyên Quang gồm có sáu châu: Sơn Dương, Yên Sơn, Yên Bình, Hàm Yên, Chiêm Hoá, Na Hang với 194 xã

Sau Cách Mạng tháng 8 - 1945 và sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc

1954, Tuyên Quang có một số thay đổi về hành chính Năm 1956 huyện Yên Bình được tách khỏi Tuyên Quang nhập vào tỉnh Yên Bái

Năm 1976 Tuyên Quang sát nhập với Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên Đến năm 1991, Hà Tuyên lại được chia thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang Hiện nay, Tuyên Quang có 5 huyện, 1 thành phố, vơí 145 xã, phường, thị trấn

Là mảnh đất có lịch sử lâu đời, Tuyên Quang từ xa xưa đã có sự tồn tại của con người, các bộ lạc người cư trú dọc triền sông Lô, sông Chảy…Trải qua hàng ngàn năm chinh phục thiên nhiên, đức tính cần cù lòng dũng cảm,

sự sáng tạo trong lao động của người dân Tuyên Quang đã được hun đúc Bằng sức lực, trí tuệ của mình, qua nhiều tháng năm gian khổ, chinh phục núi

Trang 14

rừng hoang dã, thiên nhiên khắc nghiệt, đồng bào các dân tộc nơi đây đã xây dựng Tuyên Quang thành mảnh đất mầu mỡ, trù phú…

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi Phía Bắc của tổ quốc Việt Nam, phía bắc giáp Hà Giang, phía Nam giáp Phú Thọ, phía Đông giáp Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên, phía Tây giáp Yên Bái Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 582.002 ha Trong đó 20% là đất nông nghiệp

Nằm trên vòng cung Ngân Sơn, Tuyên Quang có hệ thống sông ngòi dày đặc, lớn nhất là sông Lô, và sông Gâm bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), xuyên dọc điạ phận Hà Giang, sông Lô chảy qua Tuyên Quang, xuôi

về Phú Thọ hợp với sông Hồng tại Việt Trì, rồi đến các con sông nho nhỏ như sông Năng (Nà Hang), sông Phó Đáy (Sơn Dương), cùng hàng trăm ngòi lạch : ngòi Bắc Nhung, ngòi Cổ Linh, ngòi Chinh, ngòi Quẵng, ngòi Là… là một

bộ phận quan trọng của hệ thống đường giao thông Nằm trong vùng khí hậu rừng núi nhiệt đới, lượng mưa hàng năm rất lớn, độ ẩm cao, lượng chiếu sáng lớn tạo cho Tuyên Quang hay có lốc mạnh, lũ to, sương muối nên được bao phủ một thảm thực vật nhiệt đới khá dày và phong phú về chủng loại

Tất cả những điều kiện tự nhiên đó tạo nên một vùng đất miền núi, với núi non hiểm trở, sông ngòi chằng chịt, thiên nhiên kỳ thú, con người mộc mạc, tươi đẹp Trong “Bài ký phong thổ Tuyên Quang” (Nam Phong Tạp chí), TS.Nguyễn Văn Bân viết “Tuyên Quang là một tỉnh lớn, núi khe tốt lạ, thế đất kỳ khôi, sản vật rất nhiều, thắng tích chẳng ít”

Không chỉ vậy, nơi đây cũng là mảnh đất in đậm những dấu tích lịch sử

và cách mạng như: thành Nhà Bầu, thành Nhà Mạc, Hoà Mục, Bình Ca, Tân Trào, Đá Bàn, Kim Bình Km số 7 Cầu Cả, Đèo Chắn, Hòn Lau…

Từ đầu cầu sắt Sơn Dương dọc theo sông Phó Đáy, con đường dẫn chúng ta đến Lán Nà Lừa Tân Trào – khí thiêng sông núi đã tạo cho nơi đây một không gian vừa huyền hoặc vừa trong xanh của hồ nước in bóng rừng cây

Trang 15

um tùm xanh mướt, của con suối nhỏ vắt ngang sườn núi ngày đêm róc rách chảy về từ khe núi đá thâm u Là địa điểm lí tưởng để Bác Hồ tìm đến dừng chân tháng 5 - 1945, chọn làm thủ phủ căn cứ địa chỉ huy quân và dân ta chiến đấu, bảo vệ an toàn đầu não kháng chiến Cũng từ đó đồng bào các dân tộc nơi đây đã phát huy tinh thần đoàn kết cách mạng, kiên trung, dũng cảm chiến đấu, xây dựng và bảo vệ vững chắc căn cứ địa cách mạng - từ đó Tân Trào sáng lên như một mốc son trong trang sử hào hùng của dân tộc là niềm kiêu hãnh của mọi người dân Việt Nam yêu nước

Còn ngược lên Thượng Lâm - Na Hang, vào cõi sơn thuỷ hữu tình, đi ngược dòng sông trong điệu then ngọt ngào, êm ả, đằm sâu ân tình, chúng ta

sẽ được đắm mình trong dòng huyền thoại về 99 con chim phượng hoàng bay

về nơi gió ngàn, đậu trên 99 ngọn núi trùng trùng điệp điệp, trong không khí lành lạnh và hơi thở nồng hơi sương của cây rừng xen lẫn với tiếng gọi bạn da diết của chim rừng, cùng những câu chuyện cổ tích cha ông để lại ta như được bước trong tấm thảm huyền thoại hư hư thực thực …

Mảnh đất nhỏ bé nên thơ này còn là nơi chứa đựng trong nó một nền văn hoá tâm linh rất đỗi thiêng liêng kì bí, gắn với những ngôi đền mang dấu

ấn của lịch sử như : Đền Cây Xanh, Đền thượng, Đền Hạ…

Là một tỉnh miền núi, mảnh đất hội tụ của nhiều dân tộc anh em chung sống tự ngàn đời như: người Tày, người Nùng, người Dao, người Cao Lan…với 22 dân tộc sinh sống trong đó các dân tộc thiểu số chiếm gần 50 %, mỗi dân tộc có bản sắc riêng, phong tục tập quán riêng đã tạo nên những nét sinh hoạt văn hoá đa dạng mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc trong tỉnh làm cho nền văn hóa Tuyên Quang vừa phong phú về nội dung vừa đa dạng về sắc thái, bởi quá trình giao thoa các giá trị văn hoá giữa các dân tộc trong tỉnh

Có thể nói, những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số

ở Tuyên Quang thể hiện trong đời sống tinh thần và vật chất khá đậm nét

Trang 16

Đó là những quan niệm và cách giải thích về vũ trụ, các lễ nghi như : Thờ cúng tổ tiên, cúng chữa bệnh, cưới hỏi…còn trong văn nghệ thì có kho tàng dân ca, dân vũ hết sức phong phú, đặc sắc như làn điệu Then, Cọi, Quan làng (dân tộc Tày), Páo dung (dân tộc Dao), Sình ca (dân tộc Cao Lan), Soọng cô (dân tộc Sán Dìu)… Về lễ hội có lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, lễ cầu mùa của dân tộc Dao…

Chúng ta đã biết, những giá trị văn hoá truyền thống là nền tảng tạo nên bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, là nét khu biệt bản sắc dân tộc này với dân tộc khác, là nhân tố quan trọng góp phần vào hành trang văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Văn hoá truyền thống Tuyên Quang cũng vậy, vừa mang dấu ấn của văn hoá vùng Việt Bắc, vừa mang bản sắc riêng tự thân của con người, mảnh đất Tuyên Quang

Những đặc sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc chính là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dưỡng văn học nghệ thuật nhờ sự phản ánh một cách toàn diện đời sống con người - nơi chứa đựng những phẩm chất văn hoá của dân tộc mình, vùng miền mình…Bởi có con người là có văn hoá, có dân tộc là có văn hoá dân tộc, qua văn hóa dân gian, nhân dân lao động “tự biểu

hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình” Có thể nói: Văn học nghệ thuật

là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hoá Ngƣợc lại thực tiễn cuộc sống và nền văn hoá dân tộc là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dƣỡng văn học nghệ thuật

Thực tiễn ấy, nền văn hoá dân tộc ấy hội tụ khá đầy đủ, sắc nét trong các làn điệu Ca dao dân ca

1.1.2 Ca dao và dân ca của các dân tộc thiểu số Tuyên Quang - “cái nôi” của thơ ca Tuyên Quang hiện đại

Tuyên Quang - vùng đất có tới 22 dân tộc anh em cư trú, có lịch sử lâu đời, giàu tiềm năng về văn hoá, văn nghệ dân gian, trong đó có văn học dân

Trang 17

gian Tuyên Quang Trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử, xã hội, tự nhiên thông qua quá trình hội tụ, giao thoa, tiếp biến văn hoá, văn học với các vùng,

và giữa các dân tộc trong cộng đồng Người Tuyên Quang đã không ngừng giữ gìn, bồi đắp, sáng tạo sắc thái riêng của mình thông qua những sáng tạo

văn học dân gian nói chung, ca dao dân ca nói riêng

Những tác phẩm dân gian được lưu truyền đến nay đã được sàng lọc qua thời gian, được kết tinh từ lao động sáng tạo, lối suy nghĩ, lối sống cùng cách ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội của các tộc người định cư trên mảnh đất này Vì vậy ngoài những sáng tác mang tính phổ biến của toàn quốc, còn có những sáng tác có những sắc thái riêng, mang dấu ấn của vùng đất, của con người sống trên vùng đất này – đó là sự chân chất, mộc mạc, giản dị và rất đỗi hồn nhiên ngây thơ mà tình cảm cũng vô cùng sâu nặng ân tình…

Điều đó được thể hiện rất sinh động, chân thực qua những câu ca dao dân ca của các dân tộc trên mảnh đất Tuyên Quang như: Dân tộc Tày có hát lượn, hát quan làng, hát then, hát ru…, dân tộc Dao có hát Páo Dung, dân tộc Cao Lan có hát Sình Ca, dân tộc Sán Dìu có hát Soọng Cô…chỉ điểm qua một

số làn điệu phổ biến nhất của một số ít các dân tộc có số lượng dân cư trú đông ở Tuyên Quang cũng đủ mở ra trước mắt ta cả một thế giới tâm hồn nên thơ, tình cảm thẩm mĩ cao đẹp và phong phú với mối ân tình thâm sâu giữa người với người, với mối giao hoà cùng vô tận đất trời tạo nên những âm thanh của tiếng chim rộn rã hoà với dòng chảy bất tận của bao con sóng, con thác gối đầu lên non cao mà thả mình xuống không cùng, những núi non trùng điệp ngút ngàn sương sa lúc bình minh, những âm u bóng toả của những thân cây chìm trong ánh hoàng hôn về chiều khi ráng mặt trời xà xuống thấp…Tất

cả tạo nên vẻ đẹp kì thú, muôn điệu của xứ sở lâm tuyền Do vậy đến với ca dao dân ca là đến với những giá trị truyền thống văn hoá đậm đà bản sắc của miền sơn cước sơn thuỷ hữu tình

Trang 18

Tam cờ mới mở sào ra, Bên kia có miếu vua bà anh linh

Kim, ngân, lễ bạc lòng thành, Núi dùm mái hữu cây xanh ngất trời

(Bài ca đò dọc)

Cũng như ca dao dân ca của các dân tộc ở tỉnh khác, ca dao dân ca của các dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang cũng phản ánh những ứng xử của con người với môi trường xã hội, những vấn đề tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia đình, làng xóm, quan hệ với lịch sử - xã hội…Song nó vẫn mang trong mình bản sắc riêng độc đáo bởi thế giới hình tượng, bởi trường cảm nhận, tư duy, quan niệm …mang giá trị văn hoá truyền thống đậm nét

Chẳng hạn sống trong một không gian có núi rừng bao quanh, nhiều con sông con suối dẫn nước về để cầy cấy sinh hoạt, khí hậu ẩm ướt, dân cư thưa thớt …cho nên hình ảnh làng quê, cuộc sống trong con mắt của con người sinh sống nơi đây cũng chan hoà với núi rừng, trời đất…tạo nên một tình yêu thắm đượm hồn quê nơi tâm thức, đồng bào Mông đã vẽ nên trong lời ca một khung cảnh thiên nhiên kì vĩ,mênh mông và hoang sơ với những hình ảnh của non cao chất ngất chìm ngập trong sương rừng, sông suối chảy như cuộn về vô tận, tiếng hát vang lên khắp núi đồi cỏ cây hoà trong ánh lửa bập bùng…

Xứ mèo, biết ở nơi nao Sông sâu mấy dải, non cao mấy tầng?

Trong sương, ai hát vang lừng, Lửa thông, ai nhóm trong rừng rậm khơi?

(Dân tộc Mông) Tình yêu ban sơ với cỏ cây vạn vật như là sự hoà hợp của đất trời của

âm dương, của trai gái…sự giao hoà rất đỗi tự nhiên ấy trở thành niềm khát

Trang 19

khao muôn thuở như trầu phải có vôi, như cá phải có nước…Đó chính là nguồn gốc của mọi tình thân ái, tình đoàn kết, tình người chất phác, mộc mạc, hồn nhiên của con người nơi đây Và khát vọng về tình yêu của họ được biểu hiện qua những hình ảnh rất cụ thể, quen thuộc:

Mì nhầu mì nhả bố mì phon

Mì phụ mì phà bố mì cần nòn

Dịch nghĩa:

(Có trầu có vỏ không vôi

Có chăn có chiếu không người nằm chung)

(Dân tộc Tày)

Tình yêu là trạng thái cảm xúc với muôn ngàn cung bậc, bày tỏ những cung bậc tình yêu (buồn, sầu, thất vọng, hi vọng …) Lời hát trong Sình Ca của người Cao Lan mượn hình ảnh đôi phượng hoàng chứng giám cho phút giây thiêng liêng của đôi trai gái khi trao tín vật tình yêu cho nhau bằng những lời lẽ

có ý nghĩa thâm sâu, hình ảnh cao quý gần gũi trong đời thực

Ti slính slầy Cao san mấy tụi phùng vùng phơi Làng dịu cùng nình tạo sáu sắc Slính slầy tạo sáu di màn slầy

Dịch nghĩa:

(Tôi không muốn rời xa Trên núi cao có mấy đôi phượng hoàng đang bay Chàng im lặng cùng em trao tín vật

Đã đeo tín vật vào ngón tay rồi không muốn rời xa nữa)

(Dân tộc Cao Lan)

Không chỉ có tiếng hát đằm thắm, tươi trẻ của tình yêu, còn có cả tiếng lòng vừa than oán vừa phản ứng quyết liệt, vừa bế tắc khi bị ép duyên của cô gái Cao Lan:

Trang 20

“Không phải người yêu, ta sẽ trả trầu cau Không phải người nhớ, ta sẽ mang gà trả tận nhà Nếu anh chị cứ ép ta, ta sẽ làm ma ca hát”

(Dân tộc Cao Lan)

Bi kịch tình yêu xưa nay vẫn là đề tài muôn thuở đặc biệt là trong xã hội trọng nam khinh nữ, duyên vợ chồng là do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”

Để nói về số phận bấp bênh may rủi, nhiều khi rủi ro của thân phận người phụ

nữ trong xã hội cũ, Ca dao, dân ca Tỉnh Tuyên Quang cũng phản ánh những

bế tắc, đau khổ trong tình yêu đôi lứa khi bị ép duyên bằng lối nói giàu hình ảnh, giản dị của dân tộc mình

“Thân em như chim chích bên đường

Thân anh như phượng hoàng trời cao Phượng hoàng bay trên bầu trời xanh Chim chích bay theo làm sao nổi”

ví như nói tới những hình ảnh quen thuộc của xuất hiện trong lời ca của đồng bào các dân tộc nơi đây không thể không nói đến giỏ mây, ống bương, chòi canh, khe suối, hoa nở, cỏ mọc quanh nhà…

(Miền luổi piáo thuốt gan Miền chiền piáo thuốt piàng)

Dịch nghĩa:

(Người lười cỏ mọc quanh nhà

Người chăm quanh nhà hoa nở)

(Dân tộc Dao)

Trang 21

Ca ngợi đức tính cần cù, chăm chỉ trong lao động, phê phán thói lười nhác, Soọng Cô của dân tộc Sán Dìu được dùng với lời lẽ hết sức mộc mạc:

Nhà giầu hạnh phúc có người khen

Lười biếng đói nghèo ta coi khinh Sớm tối xuân thu cần cầy cấy Đừng có lười thây ngủ cả ngày

(Dân tộc Sán Dìu)

Thuần phong mĩ tục cũng là đời sống tinh thần mang đậm sắc riêng biệt của đồng bào nó gắn với lao động, với sinh hoạt vui chơi giải trí, với sinh hoạt gia đình, sinh hoạt thôn xóm…

Đây là lời hát đối đáp trong đám cưới của đồng bào Sán Dìu:

Xin hỏi khách xa làng mới đến

Trầu cau nghi lễ đã đủ chưa?

Mời chàng xơi nước vui chàng nhé Hai bên ta vui hát bài ca

(Dân tộc Sán Dìu)

Bằng tiếng nói đằm thắm, sâu lắng, thiết tha, thông qua đó đúc kết

những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống, cách đối nhân xử thế Trong đó, bài học đầu tiên của con người là bài học về đạo hiếu, làm sao có thể quên được những tháng ngày lớn lên trong sự vỗ về yêu thương, làm sao có thể quên được công lao cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ…và những lời

ca dân gian đã nhắc nhở ta về điều đó:

Trang 22

Bố nuôi con ba năm cực khổ

Mẹ nuôi ba năm mẹ già yếu Bên trái ướt rồi nằm bên phải Hai bên ướt nằm lên bụng mẹ

Cả người đau nhức chỉ vì con

(Dân tộc Dao)

Quả thật: “Văn học dân gian được ví như “bầu sữa ngọt” nuôi dưỡng

những phẩm chất ưu tú nhất của con người như lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tình thần dũng cảm, chủ nghĩa lạc qua, đức chính trực, tình thương nhân đạo, tình đồng bào và tình hữu ái giai cấp…”(Đỗ Bình Trị )

Ca dao dân ca là kho ngôn ngữ hàng ngày của đồng bào được kết tinh thành nghệ thuật, cho nên sự hồn nhiên, chân thật trong cuộc sống hàng ngày được bộc lộ một cách mộc mạc, gần gũi phản ánh nếp sống, nếp nghĩ không kém phần thi vị trữ tình bay bổng, lãng mạn mà vẫn hàm chứa những suy tư chiêm nghiệm Ngôn ngữ mộc mạc khiến những lời thơ trong ca dao dân ca dân tộc trở nên đằm thắm hơn thể hiện đậm nét những giá trị nghệ thuật truyền thống

Đêm đã qua sao lượn vòng đổi chỗ

Ngày đã rạng lối đi sáng tỏ

Trang 23

Tha bố hăn po me lườn trương

Po me mà tỏn tàng lỉn…?

dịch nghĩa:

Lúa tháng mười không gặt thì rụng,

Hoa mùa xuân không hái cũng rơi Gái hai mươi không chơi cũng già, Chẳng xem cha mẹ trong nhà,

Mẹ cha há phải dạy ta chơi bời…?

(Hoa không hái - Dân tộc Tày)

Có thể nói ca dao dân ca Tuyên Quang là kho tàng văn hoá tri thức dân gian, phản ánh những phong tục tập quán, cách cảm, cách nghĩ của người dân

về cuộc sống, thiên nhiên miền thôn dã bằng ngôn ngữ mượt mà giàu tính biểu cảm,với những hình ảnh thân quen giản dị…mang đậm bản sắc của vùng quê miền sơn cước này

Từ sức hấp dẫn nội tại, bởi những “mảnh hồn” nên thơ đẹp đẽ khiến người đọc, người sáng tạo luôn muốn thưởng thức, muốn kiếm tìm, khám phá cho nên nó là mạch ngầm nối liền muôn nẻo hồn thơ Chính vì thế, bộ phận văn học dân gian Tuyên Quang nói chung, ca dao dân ca nói riêng là những tác phẩm góp phần tạo nên dòng chảy liên tục của văn học Tuyên Quang nói chung thơ Tuyên Quang nói riêng, là nguồn cảm hứng vô tận đối với các nghệ

sĩ Tuyên Quang từ nội dung cho đến hình thức

Từ đề tài, nhan đề tác phẩm cũng gắn liền với chất dân gian như: ở

Mai Liễu có “Gọi vía”, “Xoè hoa”, “Cổ tích về chim phượng hoàng”, “Qua

cổng trời”, “Khăn piêu”, “Nậm Thi”, Gia Dũng có “Đêm hát then ở Yên Lập”, Nguyễn Bình có “Huyền thoại Cọc Vài”, “Em Gái Mông đi hội xuân”, Phùng Ngọc Diễn có “Kèn Lá”, Nịnh Văn Độ có “Giai điệu trống sành”, “Quan họ vùng đồi”…

Trang 24

Các nghệ sĩ đã biết làm giàu cho sáng tác của mình trên mảnh đất văn hoá dân gian của dân tộc mình, từ đó khơi nguồn để sáng tạo nên “mảnh hồn mới”, do vậy ta thấy phảng phất bóng dáng của những câu ca dao dân ca từ hình ảnh, biểu tượng, cách cảm, cách nghĩ, các biện pháp tu từ, hình thức thể loại…

Ngày xƣa mẹ hát ru em Bài ca chim phƣợng hoàng bay cao bay thấp Tôi vẩn vơ buồn

Chiều chiều ngửa mặt trông đàn phƣợng hoàng sải Cánh bay về núi thẳm

Lẽ nào có ngày ngụp lặn ao sâu Phƣợng hoàng về núi

Phƣợng hoàng đi đâu?

(Cổ tích về chim phƣợng hoàng - Mai Liễu)

Tác giả đã mượn biểu tượng quen thuộc về loài chim quen thuộc trong câu ca dao :

Phƣợng hoàng có cánh bay cao

Có ngày bay thấp xuống ao ăn bùn

Trang 25

Nhà thơ Nịnh Văn Độ ca ngợi của quê hương mình, ông đã không thể không ca ngợi điệu hát Sình ca của dân tộc mình– cung đàn muôn điệu của thế giới tâm hồn: là giai điệu trữ tình về tình yêu đôi lứa, là bức tranh muôn màu về quê hương xứ sở, là những bài ca ngân vang về nỗi niềm khát khao,

về tình thân nhân ái, về nghĩa thuỷ chung… Đẹp như thiên tình sử về nàng Lưu Ba xinh đẹp có giọng hát chinh phục muôn loài và muôn người, làm

“con suối ngừng chảy, con chim ngừng hót”, làm “người giàu phải thương

người chia của, người tàn ác nghe trở thành người thiện” [67], bị ép duyên

nàng kiên quyết từ hôn Nàng hát mười hai bài ca do nàng đặt lời cho các điệu hát suốt mười hai ngày đêm không nghỉ rồi kiệt sức hoá thành tảng đá, trong truyền thuyết của dân tộc Cao Lan

Những câu ca dao dân ca quen thuộc của dân tộc Kinh cũng là ngữ liệu được sử dụng không ít trong thơ ca thi sĩ các dân tộc Tuyên Quang

Ở đâu người đàn ông ấy ? Mấy sông mấy núi cũng trèo, Thì đây chiếc cầu dải yếm Tang tình ngấn nước vàng gieo

(Chuyện của đàn bà – Đoàn Thị Ký)

Đúng như Mác-xim Gorki đã khẳng định: “Văn học dân gian là ngọn

nguồn đầu tiên của nghệ thuật ngữ ngôn”, [32 ,tr.133] Một trong những lí do

để minh chứng cho điều đó là ở hình thức thể loại như: lục bát và song thất lục bát, đã đem lại cho lời lẽ trong ca dao dân ca uyển chuyển mượt mà vẫn diễn tả được mọi cung bậc của cảm xúc, của suy tư…Cho nên, vận dụng các thể loại dân gian truyền thống trong sáng tạo đã giúp cho những thi phẩm của các tác giả vừa giàu chất dân gian vừa giàu tính hiện đại:

Em đi bỏ lại khăn này Anh treo lên mắc

Trang 26

Anh đặt lên tay Anh quay trong gió Khôn nguôi nỗi nhớ (…)

Bây giờ người ấy lấy chồng

Đi không ngoái lại khăn hồng buông lơi

(Khăn hồng buông lơi – Vũ Xuân Tửu)

Anh về bảo mẹ hái cau

Để em đi chợ mua trầu góp chung

Em về thuyền thúng chung chiêng

Để câu quan họ chao nghiêng một bề

Chiều hôm dứt áo ra về Kìa đôi loan phượng bay mê mải chiều

(Mượn câu quan họ - Trần Thị Kim Cúc)

Ca dao dân ca Tuyên Quang - vườn hoa muôn màu muôn vẻ, muôn hương sắc vừa gần gũi quen thuộc, vừa kỳ diệu nên thơ - cung đàn muôn điệu của lòng người Những sáng tác ấy, được kết tinh từ lao động sáng tạo, lối suy nghĩ và cả cách ứng xử của các dân tộc định cư trên mảnh đất này, trải qua thời gian có bảo tồn, chắt lọc, sáng tạo…trở thành kho tàng trí tuệ, tình cảm

và thẩm mỹ của đồng bào các dân tộc Tuyên Quang, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hoá, là dòng chảy muôn đời bù đắp cho người sáng tạo

Dù công tác sưu tầm, biên soạn còn nhiều hạn chế, song với những gì

đã đạt được có thể nói hiểu biết về ca dao dân ca của các dân tộc Tuyên Quang là yếu tố quan trọng để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật hiện đại, nó giúp cho tác phẩm của các nhà thơ Tuyên Quang đậm đà tính dân tộc, tính nhân dân

Trang 27

1.2 Diện mạo của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay

1.2.1 Thành tựu thơ Tuyên Quang trước 1986 là tiền đề cho sự phát triển của thơ Tuyên Quang hôm nay

Có hai nguồn mạch chủ yếu đã góp phần nuôi dưỡng và tạo tiền đề phát triển cho thơ Tuyên Quang từ năm 1986 đến nay: đó là thơ ca dân gian và thơ

ca kháng chiến 1945 – 1975

Ở nguồn mạch thứ nhất là thơ ca dân gian, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu sâu về ca dao dân ca Tuyên Quang - “cái nôi” của thơ Tuyên Quang hiện đại, đồng thời khẳng định thơ ca kháng chiến 1945 – 1975 với những thành tựu rực rỡ của nó đã tạo “nền móng” vững chắc cho sự phát triển của thơ Tuyên Quang ở những giai đoạn tiếp sau

Trong kháng chiến chống Pháp năm 1945 – 1954, Bác Hồ đã chọn Tuyên Quang làm căn cứ địa cách mạng và Tuyên Quang đã vinh dự đón Bác cùng hoàng loạt các văn nghệ sĩ lớn như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Xuân Diệu, Văn Cao, Tô Ngọc Vân… về sống làm việc, sáng tác trên mảnh đất xinh đẹp này, từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Đây chính là điều kiện quý báu để đội ngũ văn nghệ sĩ Tuyên Quang ra đời và phát triển

Đầu tiên phải kể đến những sáng tác của Hồ Chí Minh ở Tuyên Quang trong những năm kháng chiến chống Pháp với hai bộ phận: Thơ chữ Hán và thơ bằng chữ Quốc ngữ Về thơ chữ Hán, Bác đã viết khá nhiều thi phẩm đặc

sắc như Nguyên Tiêu, Thu Dạ, Tư chiến sĩ, Báo tiệp, Tặng Bùi Công,

Tặng Võ Công, Đối nguyệt thất cửu Đăng Sơn …

Chúng ta không thể nào quên những vần thơ tuyệt đẹp của Bác trong

bài “Rằm tháng giêng”

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi,

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

(Rằm tháng giêng)

Trang 28

Bên cạnh vẻ đẹp ngời sáng từ tâm hồn,trí tuệ và ý chí phi thường của Bác, trong bài thơ chúng ta còn có thể tự hào: vẻ đẹp của sông nước Tuyên Quang trong đêm trăng ấy đã gợi hứng để Bác viết những vần thơ tuyệt bút này

Bên cạnh bộ phận thơ chữ Hán Bác còn viết khá nhiều thơ bằng chữ

Quốc ngữ như “Thư gửi các cháu nhi đồng” (9/1952), “Gửi thư cho các

cháu nhân trung thu 1951”, “Thư gửi đội lão du kích huyện Yên Dũng”

(1948), đặc biệt là “Cảnh khuya” được viết năm 1949…

Ngoài ra còn có thể nhắc đến Tố Hữu với bài thơ “Việt Bắc”, Nguyễn Đình Thi với “Quê hương Việt Bắc”, Sóng Hồng với “Đi Họp” Hẳn chúng

ta còn nhớ những câu thơ vời vợi hoài niệm về mảnh đất Tuyên Quang và Thái Nguyên của Chế Lan Viên, những hoài niệm của một thời quá khứ bi hùng và cũng chan chứa nghĩa tình:

“Chửa về Tuyên, Thái thăm tre trúc

Vẫn đến Sông Hồng ngắm nứa xuôi”

(Quê hương Việt Bắc)

Ở giai đoạn lịch 1954 - 1975, các văn nghệ sĩ nổi tiếng của toàn quốc

đã trở về Hà Nội nhưng vẫn có tác phẩm viết về đất và người Tuyên Quang

với bao kỉ niệm đằm thắm, Xuân Diệu có “Về Tuyên”, Tế Hanh có “Ở chiến

khu cách mạng”, Huy Cận có “Một kỷ niệm về Hồ Chủ tịch ở đại hội Tân Trào”, Nông Quốc Chấn có “Người Tân Trào”… cũng trong giai đoạn lịch

sử hào hùng này, khi cả nước vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Văn học Tuyên Quang cũng hòa vào “dàn đồng ca” chung của Văn học cả nước với cảm hứng sử thi và chất lãng mạn cách

mạng bay bổng Hoàng Quang Trọng viết “Sông Năng” và “Nà Hang”, Cao Xuân Thái xuất hiện bề thế với các tập thơ “Trước đá” và “Cao Nguyên cực

Bắc” Từ tuyến đầu tổ quốc, Gia Dũng lại hào hùng với 2 tập thơ “Nắng Tân Trào, Bài Ca Trường Sơn”, Đoàn Thị Ký xuất hiện và gây ấn tượng mạnh

với “Xoay nửa vòng bông gạo”…vv

Trang 29

Nội dung chủ yếu của các tác phẩm này là lời ca ngợi mảnh đất miền núi, vừa tươi đẹp nên thơ vừa kiên cường dũng cảm trong những năm tháng oanh liệt của nhân dân trên tiền tuyến đánh giặc, ca ngợi công cuộc xây dựng

xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, trên quê hương…

Những nội dung đó thường được truyền tải bằng cảm hứng, giọng điệu hào hùng trang trọng để vẽ nên hình tượng quê hương kì vĩ, con người anh hùng cách mạng vĩ đại với ý chí quật khởi, khả năng phi thường, tình người,

tháng gian khổ sống ở chiến khu, phong cách sống, tư tưởng của Bác đã trở thành một vẻ đẹp vừa giản dị gần gũi vừa cao lớn mênh mông - hiện thân của đất nước trong trang thơ đi cùng tháng năm của Tố Hữu:

Mình về với Bác đường xuôi Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng Người

Gieo xuống lòng tôi

Bờ tre bụi duối

Và lời em yêu

Trang 30

Cây cầu nho nhỏ dáng kiều Còn đây mặt nước xanh rì Vài bông súng nở nói gì với nhau?”

(Cầu Móc Giằng – Phùng Ngọc Diễn)

Và dù là nội dung gì thì cũng đều chứa đựng trong đó những tinh tuý truyền thống văn hoá Việt: đạo lý dân tộc, đức hi sinh, lòng vị tha, tình cảm thuỷ chung, uống nước nhớ nguồn, và khát vọng hướng về một ngày mai tươi đẹp

“Ba mươi năm ấy tôi đi

Bao con sông với miền quê đợi chờ Vẫn mong gặp lại sông Lô

Vẫn mong có phút bây giờ nhìn sông Sóng reo dào dạt trong lòng

Ngỡ như tiếng của dòng sông đợi chờ

Cây xanh ngói đỏ đôi bờ Mọc lên từ dấu chân xưa diệt đồn Con đường sỏi thắm màu son Nhắc tôi nhớ những lối mòn quân qua Gặp nhau phút chốc rồi xa

Xin chào bến nước chuyến phà hàng cây

Lạ chưa giờ phút chia tay Đôi bờ sông bỗng nở đầy hoa lau

(Gặp lại sông Lô - Nguyễn Chuông)

“Ngọn lửa chiến tranh đã tắt ở ngoài đời nhưng nó vẫn cháy lên trong

thi ca, nó sáng mãi trong cuộc đời, xua đi nỗi cô đơn, bớt đi sự tha hoá, nhân lên tình yêu thương bởi những câu thơ sinh ra từ máu lửa, nuôi dưỡng bằng

Trang 31

tình yêu và sự hy sinh Nó đang thở, đang đập trong cuộc đời làm tái sinh những gì đã mất” [9,tr.360]

Có thể nói, Văn học Tuyên Quang giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ và đây chính là một nền móng vững chắc để

“ươm mầm” tài năng, thúc đẩy phát triển cho thơ Tuyên Quang giai đoạn sau

trong giai đoạn lịch sử hào hùng này như Gia Dũng, Cao Xuân Thái, Đoàn Thị Ký, Phù Ninh là minh chứng cho điều đó

Và ở giai đoạn sáng tác sau 1986, họ vừa là trụ cột vừa là nguồn khích

lệ động viên lớn lao với các thế hệ tác giả Tuyên Quang Có thể khẳng định rằng, thơ ca kháng chiến và xây dựng Chủ nghĩa xã hội với thành tựu rực rỡ của nó khi viết về Tuyên Quang và viết ở Tuyên Quang vừa trở thành một động lực thúc đẩy mạnh mẽ để thơ Tuyên Quang sau 1986 ra đời, rồi tạo ra một đặc điểm và có lẽ cũng là một nhược điểm: trong bầu không khí văn học mang âm hưởng sử thi hào hùng ấy, phần lớn các tác giả thơ Tuyên Quang chưa “vượt thoát” ra ngoài cái “bóng” của hào quang quá khứ Từ cảm hứng chủ đạo đến đề tài, từ ngôn ngữ giọng điệu đến hệ thống thi ảnh vẫn phảng phất bóng dáng của thơ kháng chiến và xây dựng Chủ nghĩa xã hội Chỉ có một số tác giả trẻ như Nguyễn Đức Hạnh, Tạ Bá Hương, Đinh Công Thủy, Mai Liễu và đặc biệt là Đoàn Thị Ký… đã tìm cho mình những con đường sáng tạo nghệ thuật độc đáo bên cạnh “dàn đồng ca” thơ Tuyên Quang nhiều khi vẫn hát những “bài hát cũ” bằng giọng điệu ít nhiều đổi mới

Chẳng hạn như trường hợp nhà thơ Mai Liễu, bài thơ “Ta mãi còn đi

còn đến Tân Trào” với bút pháp truyền thống, gợi nhớ đến sự quen thuộc ở

bao nhiêu thi phẩm của các nhà thơ khác đã viết trước 1975

“Chẳng còn gặp chiếc máy chữ reo nhƣ chim hót

Mỗi sáng mỗi chiều, đêm thâu khuya khoắt

Trang 32

Chẳng còn thấy cái chăn dạ sờn gói vào cơn sốt Lặng lẽ dưới tán nứa Nà Lừa

Chỉ còn cái lán nhỏ vách phên mái cọ

Và cái bắng dựng bên cầu thang thân thuộc như cái bắng nước nhà mình

Là chứng tích một thời thiêng liêng ĐẤT NƯỚC

Chứng tích một thời giao thừa DÂN TỘC:

Nô lệ - Tự do! ”

(Ta mãi còn đi, còn đến Tân trào – Mai Liễu) Nhưng bên cạnh đó Mai Liễu vẫn có “Gọi vía” đầy sáng tạo mới mẻ, và đây

là những câu thơ vừa tài hoa vừa in đậm bản sắc văn hóa Tày của Anh

“Cái vía trong mình có là con cá

Mà mẹ ta lấy vợt đi xúc Cái vía như đứa trẻ ham chơi bị lạc

(Gọi vía – Mai Liễu)

Trong khi có khá nhiều tác giả thơ Tuyên Quang, dù xuất hiện sau “đổi mới”

1986, chúng ta vẫn gặp cách viết không mới từng là “chủ âm” những giai đoạn sáng tác trước đó:

Trang 33

“Tôi muốn viết những vần thơ đẹp nhất

Để tâm hồn theo khát vọng mê say Như ánh bình minh thôi thúc đêm ngày

Sự hưng phấn giữa chiều sâu thẩm mỹ”

(Hiến dâng – Trần Hoài Quang)

Chúng tôi gặp khá nhiều trong thơ Tuyên Quang giai đoạn từ 1986 đến nay, những bài thơ có những tứ thơ quen thuộc diễn tả với những hình ảnh mộc mạc quá thành vụng về, lặp lại nhiều quá thành sáo mòn như:

“Tiếng chuông reo trong phòng nhỏ

Nhạc Quốc Thiều rồi bài ca Điện Biên Phả vào dòng sông…

Tôi đứng ở Thổ Sơn Nghe mở đầu ngày mới thành Tuyên

Là Trường ca Sông Lô bất tử Một vùng quê với Nông Tiến, Tam Cờ Với Cầu Chả và cây – đa – nước chảy

Man mác thành Tuyên Một chiều tháng năm ấy Bến Pha Lô - Nhạc sĩ trầm ngâm Thu du nắng vàng

- Phan Lương vui bóng thuyền

Đêm thành Tuyên Trong phòng máy

Cô gái tăng âm Đôi mắt đen lanh lánh sao trời !

Trang 34

Bàn tay mềm bắt sóng Ngoài trời lạnh giá Dưới chân đồi, sáng xanh đèn cao áp

Xa xa dòng sông trong Như bao đời cuộc sống yêu thương

Có vị đắng cay và những đau buồn Vẫn phát đi từ đồi - ách - cụt”

(Đêm Tuyên - Huy Tuyên)

Hay là:

“Chạm vào mảnh vỡ của đêm

Biến ảo sắc màu đen, trắng Chạm vào lung linh giọt nắng Ngày xưa…

Bạc trắng tóc bà Chạm vào một ngày rất xa Thấy mình như là người lạ Chạm vào bờ vai người lạ Tưởng như da, thịt của mình Chạm vào cõi thẳm vô minh Thấy đời vô tình đến thế

Ta chạm vào ta như thể Vừng ơi

mở cửa đón ta về”

(Biến ảo - Vũ Tuấn)

Nhưng thật đáng mừng khi chúng ta bắt gặp trong “dàn đồng ca” ấy có những giọng ca thật đẹp và đặc sắc, đủ sức tỏa sáng một mình đó là trường hợp Tạ

Bá Hương với bài thơ “Tôi yêu tấc đất quê nhà”:

Trang 35

Bằng giọng điệu trữ tình - tự sự, thể thơ lục bát truyền thống và hệ thống hình ảnh gắn với kỉ niệm của tuổi thơ: ông bà, cha mẹ, tấc đất, cỏ cây, những câu

chuyện cổ tích …làng quê nghèo lam lũ, vậy mà nó chính là những “khúc

sông” lặng thầm đắp bồi “phù sa” cho tâm hồn những người con sinh ra và

lớn lên ở đây Đó là “phù sa” của ân tình bao bọc, của tình nghĩa thủy

chung… Không mới trong hình thức biểu hiện song tác giả đã thổi vào đó sức sống mới, cảm nhận mới từ những điều đã cũ

“Tôi yêu tấc đất quê nhà

Như yêu cổ tích của bà năm xưa Tiếng gà eo óc ban trưa

Ngẫm thương dáng mẹ nắng mưa đi về

Cỏ gầy bạc mớm chân đê Cây còm cõi sống chẳng chê đất nghèo Lặng thầm nhớ, lặng thầm yêu

Khúc sông nặng chở bao nhiêu đắp bồi Cánh đồng gieo hạt mồ hôi

Đường cày cha dạy cho tôi lần đầu…”

(Tôi yêu tấc đất quê nhà - Tạ Bá Hương)

Đến với thể thơ lục bát truyền thống, với giọng điệu ngọt ngào đằm thắm của

Đinh Công thuỷ trong “Giấc mơ hạt thóc”, ta lại thấy được cá tính sáng tạo

độc đáo của thi sĩ trong hệ thống thi ảnh “gần gũi” mà vẫn “lạ”, để truyền tải những ý tưởng sâu sắc, tinh tế “bắt mạch” từ một hồn quê mộc mạc, ấm áp

Nhân vật trữ tình “tôi” đã phân thân thành hạt thóc - người con Hạt thóc: là

mùa màng của mẹ sau bao ngày cực nhọc lam lũ Người con: là thành quả của

mẹ sau cả đời chắt chiu, nuôi dưỡng để con trưởng thành Hoá thân thành “hạt

thóc”, để nếm trải vị mặn mòi của “vết chân buồn” cả đời sấp ngửa trên ruộng

đồng nứt nẻ khi nắng nôi, lạnh cóng khi đông về Để nếm vị đắng chát của

“vũng mồ hôi”, những giọt mồ hôi tích tụ sau bao tháng năm bươn bả giờ đã

Trang 36

thành “vũng” Tuy vậy sau những buổi “sấp mặt” trên cánh đồng, người mẹ

vẫn có những giây phút thanh thản đó là khi được chăm bẵm, ôm con vào

lòng cất tiếng hát ru ngọt ngào đưa con vào giấc ngủ “thảnh thơi chỉ một câu

à ơi ru”

“Ở dưới gốc rạ là bùn Hanh hao một vết chân buồn - Mẹ tôi Vục tay xuống vũng mồ hôi

Mấy khi biết ở trên trời là mây Khom khom bên cạnh luống cày Chai sần thêm những vết trầy trợt da Chiêm mùa thoăn thoắt đi qua Thảnh thơi chỉ một câu à ơi ru”

Hẳn nhân vật trữ tình “tôi” - người con ấy phải sinh ra từ những vết chầy trợt

da, thấm thía và đau đáu với những nhọc nhằn vất vả, lo toan của mẹ thì mới

có thể hoá thân thành “hạt thóc” để cảm nhận cuộc đời lam lũ của mẹ tựa như

“vết chân buồn”, “vũng mồ hôi”…Tuy là sự cảm nhận có được chỉ khi đã

bước sang tuổi bùi ngùi, trải qua những bước thăng trầm, dại – khôn, vui -

buồn Đủ trải nghiệm để thấu hiểu và biết ơn sâu sắc những hi sinh vất vả của

mẹ, con đã thốt lên niềm ao ước từ đáy sâu lòng mình “Tôi mơ hạt thóc mẹ tôi

nặng mùa”

…Tôi theo ra cánh đồng gầy

Cứ đôn đáo đuổi theo bầy giẽ giun Tuổi đi sấp mặt chuồn chuồn Bước khôn, bước dại, bước buồn, bước vui…

Với tay sang tuổi bùi ngùi Tôi mơ hạt thóc mẹ tôi nặng mùa!”

(Giấc mơ hạt thóc)

Trang 37

Dõi theo tiến trình vận động và phát triển của thơ Tuyên Quang từ 1945 đến nay, chúng ta có thể khẳng định thơ kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa

xã hội giai đoạn 1945 – 1975 ở Tuyên Quang là mảnh đất màu mỡ ươm mầm

và sáng tạo của muôn cách nhìn, muôn tâm trạng, muôn cách sống, muôn hồn thơ với những dòng thơ không cầu kì, nắn nót cứ tuôn chảy tự nhiên như sông suối đổ về theo dòng chảy của tâm trạng của cảm hứng dạt dào, không chỉ làm tròn sứ mệnh của thi ca của một thời mà còn là ngọn nguồn nuôi dưỡng bồi đắp cho dòng thơ ca hiện đại sau 1986, để từ đó thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay như “một mầm xanh” đã lớn bổng rồi khoe hương khoe sắc Vẫn còn đây đó những nhược điểm mang tính tất yếu của mọi nền văn học địa phương thường mắc phải, nhưng những thành tựu đã có thật đáng trân trọng và phải ghi nhận

1.2.2 Diện mạo của thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay

Thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay có thể được ví như một vườn hoa đầy hương sắc với sự giao thoa, cộng hưởng nhiều giọng điệu nghệ thuật, tuy còn có sự bó hẹp về đề tài nhưng những sáng tác nghệ thuật mang cá tính sáng tạo độc đáo vẫn đủ sức “neo đậu” lâu dài trong trái tim người đọc Tuyên Quang, và một số thi phẩm xuất sắc đã đến được với sự yêu mến, trân trọng của bạn đọc cả nước

Cùng với dòng chảy của văn học Tuyên Quang phong phú và đa dạng, thơ

ca Tuyên Quang từ 1986 đến nay đã có nhiều khởi sắc và những đóng góp quan trọng về nội dung và nghệ thuật, khẳng định sự lớn mạnh không ngừng của đội ngũ tác giả nơi đây và sự trưởng thành về văn chương nghệ thuật địa phương Bằng những tác phẩm có giá trị, các nhà thơ Tuyên Quang thể hiện một cái nhìn bao quát về diện mạo Tuyên Quang trong thời kỳ đổi mới, hiện đại hoá Đã có không ít những tác phẩm đạt giải cao được tặng thưởng của Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Báo văn nghệ, Hội văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số Tiêu biểu là thế hệ đầu tiên đã từng xuất hiện từ thời chống Mỹ, từ

Trang 38

những ngày đầu Hội văn học nghệ thuật Tuyên Quang mới hình thành vẫn bền bỉ sáng tác đến hôm nay như: Gia Dũng, Ngọc Hiệp, Mai Liễu, Phù Ninh, Đoàn Thị Ký, Lê Na, Ngô Đăng Khoa, Nguyễn Đình Kiền, Thái Thanh Vân, Nguyễn Thị Kim Thu… Tiếp nối là những nhà thơ trẻ xuất hiện trong những năm đổi mới như Vũ Tuấn, Đinh Công Thuỷ, Tạ Bá Hương…

“Thơ hay không có biên giới, không có địa danh Nó như hương như

gió toả bay về mọi ngả Văn hoá các quốc gia và toàn thế giới càng ngày càng có xu hướng góp tiếng nói đa thanh đa sắc tạo nên sự phong phú đặc sắc cho cuộc sống nhân loại Sự tồn tại sống còn của văn hoá trong đó có thơ

là ở sự hay dở chứ không phải ở quy mô cấp độ Nhiều dân tộc thiểu số đã chứng minh bằng tác phẩm hay, tác giả lớn của mình” (9,tr.351]

Và Tuyên Quang đã chứng minh sự tồn tại của văn học địa phương mình, trong đó có thơ bằng những tác phẩm đi cùng thời gian Có thể tạm phác họa diện mạo thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay theo một số nguồn mạch cảm hứng chủ đạo:

1.2.2.1 Tình yêu và lời hát ngợi ca vẻ đẹp của đất và người Tuyên Quang

Đây là đề tài được các nhà thơ Tuyên Quang tập trung khai thác nhiều nhất, và đó cùng là lẽ tất yếu vì quê hương luôn luôn là cảm hứng thường trực, thắm thiết trong trái tim các nhà thơ nói riêng và với muôn người nói chung, đó là tình yêu cùng niềm tự hào giành cho vẻ đẹp văn hóa Tuyên Quang, là sự gắn bó máu thịt của mỗi nhà thơ Tuyên Quang với đất và người

của quê hương mình, chúng ta gặp nguồn cảm hứng ấy trong bài thơ “Dân ca

quê mình” của Nguyễn Bình

“Làn điệu dân ca quê mình

Xanh thêm đồi chè tháng Ba Dòng Sình Ca

theo em

chảy từ Mỏ Tôm

Trang 39

Về Giếng Tanh, Sơn Lạc ánh trăng đem vàng đem bạc

Em về nhà chồng

lấp lánh vòng tay Tiếng khèn làm ai say

cho ô quay cho mây bay Pắc Tạ dìu dặt lời Then

“lấp lánh vòng tay ”, “tiếng khèn”, “ô quay”… như đang tỏa vẻ đẹp sáng

trong của mình vào núi rừng

Nguyễn Đức Hạnh là người con Tuyên Quang vừa sâu sắc vừa tài hoa

trong “Bài ca xứ sở”

“Không phải nắng cuối mùa, sao đã nhạt

Tuyên Quang lặng lẽ một miền đồi

Em mười tám tóc buông ngày trễ nải

Ta về thanh thản chút buồn riêng

Căn phòng nhỏ nếp nhà xưa mưa nắng Đom đóm bay nhập nhoạng chân trời Sông Lô chảy quặn lòng năm tháng Đến bây giờ bờ cát đã xanh xao

Ta trở lại với mùa ngô trên rẫy

Trang 40

Tiếng nai kêu rời rạc từng chiều Trăng lam lũ vầng trăng tháng Bảy

Mẹ già leo lét bóng thời gian Xin nguyện ước thanh bình như kiếp cỏ Như mai sau một nắm đất miền đồi

Ta lại hát bài ca xứ sở Lời cỗi cằn khao khát đợi cơn mưa”

(Bài ca xứ sở)

Bức tranh quê của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh hiện ra thật đẹp, thơ mộng như bài ca xứ sở bình yên, như thiếu nữ trong chiều nắng nhạt, nhưng cũng là miền đất nghèo và buồn Bút pháp nhân hoá “Sông Lô chảy quặn

lòng”, “Bờ cát đã xanh xao” đã thổi vào sự vật vô tri dáng vẻ, tâm trạng của

con người Đặc biệt tác giả đã xây dựng không gian bằng những hình ảnh:

nếp nhà xưa – chân trời – nương rẫy - miền đồi – Sông Lô, không gian vừa

thu hẹp trong căn phòng nhỏ nơi chở che, chứng kiến những tháng năm mưa nắng cuộc đời, vừa mở ra không gian đồi nương – ngày đêm lầm lụi, đổ mồ hôi để kiếm sống, vừa mở rộng tới chân trời nhưng vẫn bị thu hẹp tầm nhìn

một loạt các từ láy, tính từ: rời rạc, lam lũ, cỗi cằn, leo lét, xanh xao …đã vẽ

nên một không gian đơn sơ, hoang vắng, thiếu vắng nhịp sống ấm cúng, rộn

rã bởi vắng bóng hình ảnh con người, vắng bóng ánh điện, ánh mặt trời rực sáng Ta thấy một miền quê buồn và nghèo không chỉ ở vẻ ngoài: mầu sắc

“xanh xao”, ở ánh sáng “nhập nhoạng, leo lét”, ở âm thanh “rời rạc” mà còn ngấm vào ruột gan “quặn lòng”…mà miền quê ấy vẫn thấm đẫm tâm trạng

buồn nhớ da diết của nhân vật trữ tình

Tuy vậy quê hương Tuyên Quang trong tâm trí nhà thơ vẫn là “cội nguồn” thanh bình, yên ả biết bao, để cho dù đi đâu thì nơi mà tác giả trở về

Ngày đăng: 17/09/2014, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Văn An (2007), Nét đẹp văn hoá trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp văn hoá trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc
Tác giả: Hoàng Văn An
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2007
2. Phan Anh (2011), Cảm xúc về mẹ, Tuyên Quang online ngày 09.01.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm xúc về mẹ
Tác giả: Phan Anh
Năm: 2011
3. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
5. Hoàng Thị Dung (2009),Văn học Bắc Kạn từ năm 1945 đến nay, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Bắc Kạn từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Hoàng Thị Dung
Năm: 2009
6. Gia Dũng (1993), Chiều trăng, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiều trăng
Tác giả: Gia Dũng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1993
7. Gia Dũng (1992), Cánh cửa khép hờ, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh cửa khép hờ
Tác giả: Gia Dũng
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1992
8. Gia Dũng (1994), Bất ngờ ngoảnh lại, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất ngờ ngoảnh lại
Tác giả: Gia Dũng
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1994
9. Gia Dũng (2008), Người đọc thơ giọng trầm, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đọc thơ giọng trầm
Tác giả: Gia Dũng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
10. Gia Dũng (2011), Cuối trời mây trăng bay, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuối trời mây trăng bay
Tác giả: Gia Dũng
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2011
11. Ban thường vụ huyện uỷ Sơn Dương (2007), Bác Hồ với Sơn Dương Sơn Dương với Bác Hồ, Sở Văn hoá thông tin tỉnh Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với Sơn Dương Sơn Dương với Bác Hồ
Tác giả: Ban thường vụ huyện uỷ Sơn Dương
Năm: 2007
12. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (Tuyển chọn và biên soạn) (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (Tuyển chọn và biên soạn)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
13. Phạm Nguyệt Đức (2001), Nửa vòng bông gạo, Báo Người công giáo Việt Nam, số 42,10/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa vòng bông gạo
Tác giả: Phạm Nguyệt Đức
Năm: 2001
14. Nguồn Evăn (2005), Đinh Công Thuỷ - Mỗi nấc thang sấp ngửa cuộc đời, http://evan ngày20.12.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Công Thuỷ - Mỗi nấc thang sấp ngửa cuộc đờ
Tác giả: Nguồn Evăn
Năm: 2005
15. Nhiều tác giả (1996), Đường mùa xuân (thơ chọn lọc), Hội văn học nghệ thuật Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường mùa xuân
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1996
16. Nhiều tác giả (2009), Đất Tuyên núi sông diễm lệ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Tuyên núi sông diễm lệ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2009
17. Nhiều tác giả (2006), Hai mươi năm văn học Tuyên Quang, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai mươi năm văn học Tuyên Quang
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2006
18. Nhiều tác giả (2010), Về Tuyên - Tuyển tập thơ Tuyên Quang, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Tuyên - Tuyển tập thơ Tuyên Quang
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2010
19. Nhiều tác giả (1996), Đường mùa xuân, Hội Văn học nghệ thuật Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường mùa xuân
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1996
20. Nhiều tác giả (1993), Thơ Tuyên Qu ang, Hội Văn học nghệ thuật Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tuyên Qu
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1993
21. Nguyễn Đức Hạnh (2010), Nghiên cứu triển khai giảng dạy phần văn học địa phương cho cấp học Trung học cơ sở tại tỉnh Tuyên Quang, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu triển khai giảng dạy phần văn học địa phương cho cấp học Trung học cơ sở tại tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Đức Hạnh
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w