1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu vùng đất và con người phổ yên từ văn hóa đến văn học dân gian

144 682 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 702,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài những thông tin về lịch sử, địa giới hành chính, tên gọi của huyện qua các giai đoạn lịch sử, những tư liệu trên còn giới thiệu về huyện Phổ Yên là vùng đất của truyền thống yêu n

Trang 1

VI THỊ HÀ MY

TÌM HIỂU VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

PHỔ YÊN TỪ VĂN HÓA ĐẾN VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

VI THỊ HÀ MY

TÌM HIỂU VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

PHỔ YÊN TỪ VĂN HÓA ĐẾN VĂN HỌC DÂN GIAN

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS VŨ ANH TUẤN

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

Em xin trân trọng cảm ơn khoa Sau đại học; khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa học này!

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Văn học Việt Nam chuyên ngành văn học dân gian khóa 16 - những người đã cung cấp cho em tri thức và phương pháp khoa học cần thiết để em hoàn thành luận văn này!

Đặc biệt, em xin bày tỏ tình cảm kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Anh Tuấn - Người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn thạc sĩ này!

Trong quá trình điền dã, điều tra, khảo cứu các tư liệu phục vụ cho luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng văn hóa thông tin huyện Phổ Yên và các cá nhân trên địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010

Tác giả

Vi Thị Hà My

Trang 4

I Lý do chọn đề tài 1

II Lịch sử nghiên cứu 3

III Phạm vi nghiên cứu 6

IV Đối tượng nghiên cứu 6

V Nhiệm vụ nghiên cứu 7

VI Đóng góp của luận văn 7

VII Phương pháp nghiên cứu 7

XVI Cấu trúc luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương một PHỔ YÊN - MỘT VÙNG VĂN HÓA LỊCH SỬ 9

1 Đặc điểm địa lý 9

2 Đặc điểm lịch sử 11

3 Các danh nhân tiêu biểu 17

3.1 Lí Bí 17

3.2 Nguyễn Cấu 18

3.3 Đỗ Cận 19

4 Các địa danh văn hóa lịch sử 23

4.1 Các địa danh lịch sử tiêu biểu 24

4.1.1 Khu di tích lịch sử và đền Lục giáp 24

4.1.2 Tảo Địch - một cứ điểm của nghĩa quân Quận Hẻo 25

4.1.3 Đèo Nứa - Đèo Ông Cấn 26

4.1.4 Khu di tích lịch sử xã Tiên Phong 27

4.2 Các địa danh văn hóa gắn liền với các lễ hội dân gian tiêu biểu 28

4.2.1 Đình Phúc Duyên 28

4.2.2 Đình làng Thanh Thù 30

Trang 5

ĐA THỂ LOẠI 37

1 Khái quát chung 37

2 Các thể loại tiêu biểu 38

2.1 Thể loại truyền thuyết 38

2.1.1 Số lượng 38

2.1.2 Phân loại 39

2.1.3 Kết cấu 46

2.1.4 Nhân vật 48

2.2 Thể loại tục ngữ 62

2.2.1 Nội dung tục ngữ 62

2.2.2 Các hình thức nghệ thuật của thể loại tục ngữ 64

2.3 Thể loại ca dao 65

2.3.1.Nội dung ca dao 66

2.3.1.1 Những câu ca dao nói về vùng đất và con người Phổ Yên 66

2.3.1.2 Những câu ca dao lưu hành ở vùng Phổ Yên 69

2.3.2 Các hình thức nghệ thuật của thể loại ca dao 76

2.3.2.1 Biểu tượng 76

2.3.2.2 Kết cấu 79

Chương ba VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT VĂN HÓA CỦA NHÂN DÂN VÙNG PHỔ YÊN 83

1 Văn học dân gian trong đời sống văn hóa phong tục tín ngưỡng của nhân dân vùng Phổ Yên 83

1.1 Truyền thuyết về Mạnh Điền Quốc vương và lễ hội đền Giá 84

1.2 Truyền thuyết về Cao Sơn Quý Minh và lễ hội đình làng Xuân Trù 87

1.3 Truyền thuyết về Bà mẹ yêu nước và tục cúng “Cơm hòm” 90

Trang 6

2.1 Làn điệu dân ca Hát ví 93

2.1 Làn điệu dân ca Hò gọi bạn 103

PHẦN KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

1 Như chúng ta đã biết, văn học dân gian là một di sản quý báu chứa đựng biết bao tinh hoa văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc Kho tàng văn học dân gian Việt Nam hết sức phong phú bao gồm sản phẩm tinh thần của 54 dân tộc anh em Trong xu thế hội nhập quốc tế đang ngày càng được mở rộng như hiện nay, văn hóa truyền thống nói chung và văn học dân gian của mỗi dân tộc nói riêng càng phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã

khẳng định: “Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền

văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [21, tr.1] Văn kiện hội nghị lần

thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản khóa VIII cũng đã chỉ rõ:

“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [21, tr.1]

Vì vậy, nghiên cứu văn học dân gian là một việc làm cần thiết, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc

2 Phổ Yên là huyện trung du nằm ở vùng phía nam tỉnh Thái Nguyên Tồn tại trong lịch sử ngàn năm cùng đất nước, vùng đất và con người nơi đây vốn có truyền thống lịch sử lâu đời Nhiều sự kiện nổi bật, nhiều chiến tích vẻ vang, nhiều con người tiêu biểu đã góp phần vun đắp nên truyền thống quý báu đó Nhân dân vùng Phổ Yên đã tham gia vào tất cả các phong trào đấu tranh yêu nước, đóng góp vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Nơi đây còn là vùng đất ghi nhận sự có mặt của nhiều vị anh hùng dân tộc,

Trang 8

danh nhân tiêu biểu Ngay từ khoa thi đầu tiên của khoa cử Nho học (năm 1075) đến khoa thi cuối cùng của nhà Lê Trung Hưng (năm 1879), trong số

10 người của đất Thái Nguyên đỗ tiến sĩ, huyện Phổ Yên có hai người là Nguyễn Cấu và Đỗ Cận

Nằm ở vị trí phía nam của tỉnh, vùng đất Phổ Yên còn tiếp giáp và giao thoa với nền văn hóa Kinh Bắc Sự tập trung và giao thoa về văn hóa giữa các dân tộc trong vùng đã tạo nên một bức tranh văn hóa dân gian đa dạng, nhiều màu sắc Những làn điệu dân ca độc đáo như hát ví, hò gọi bạn; Những câu ca dao, bài vè lưu hành trên mảnh đất Phổ Yên; Những truyện truyền thuyết (như truyền thuyết về Cao Sơn Quý Minh, truyền thuyết về Thánh Tam Giang )

và các lễ hội dân gian (tiêu biểu như lễ hội đền Lục Giáp, lễ hội đền Giá)… Tất cả đã góp phần tô điểm, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần

và văn học dân gian nơi đây Nhưng trải qua bao thăng trầm của lịch sử, sự biến đổi không ngừng của đời sống văn hóa, đến nay vốn văn hoa dân gian truyền thống đó đã bị mai một rất nhiều Hơn nữa, việc tìm hiểu về vấn đề này chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía các nhà nghiên cứu Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu hệ thống chỉnh thể văn hóa và văn học dân gian của vùng Phổ Yên Vì vậy, việc nghiên cứu, lưu giữ, bảo tồn

và khôi phục vốn văn hóa truyền thống đó là việc làm vô cùng cần thiết

3 Là một người đam mê nghiên cứu về văn hóa và văn học dân gian, người thực hiện đề tài luôn mong muốn được tìm hiểu sâu hơn nữa, rộng hơn nữa về kho tàng văn hóa và văn học dân gian của dân tộc Những kiến thức thu nhận trên không chỉ làm giàu thêm vốn hiểu biết mà đó còn là những tri thức vô cùng quý báu giúp ích công tác giảng dạy sau này của người nghiên cứu

Trang 9

Với những lý do mang tính lý luận và thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu vùng đất và con người Phổ Yên từ văn hóa đến văn học dân gian

II Lịch sử nghiên cứu

Phổ Yên là một vùng đất được hình thành và có địa danh từ khá sớm

Trong những bộ sách lớn về lịch sử của dân tộc như Lịch triều hiến chương

loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều

Nguyễn), địa danh Phổ Yên đều được các tác giả nhắc tới Gần đây hơn là

một số cuốn sách như Địa chí Thái Nguyên (Tỉnh ủy - UBND Thái Nguyên),

Vùng đất và con người Phổ Yên (Nguyễn Hữu Khánh) Ngoài những thông

tin về lịch sử, địa giới hành chính, tên gọi của huyện qua các giai đoạn lịch sử, những tư liệu trên còn giới thiệu về huyện Phổ Yên là vùng đất của truyền thống yêu nước, là nơi ghi nhận sự có mặt của nhiều vị anh hùng dân tộc,

danh nhân tiêu biểu Theo sách Đại Nam nhất thống chí: “Đỗ Cận: người

huyện Phổ Yên, đỗ đồng tiến sĩ đời Lê Hồng Đức, phụng mệnh đi sứ, có làm

bài “Kim lăng ký”, làm quan đến thượng thư” [39, tr.208] Theo sách Địa chí

Thái Nguyên: “Nhờ tài năng và sự cống hiến, Đỗ Cận đã làm tới chức

Thượng thư đứng đầu trong sáu bộ của triều đình nhà Lê với hàm Tòng nhị phẩm Thành đạt trên con đường sự nghiệp như ông, quả là ít người thời ấy

có thể phấn đấu vươn tới được” [46, tr.1990] Và “Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) quê ở ấp Thái Bình, châu Giã Năng (vùng đất Phổ Yên ngày nay), là người đã lãnh đạo nhân dân ta nổi lên đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, lập Nhà nước Vạn Xuân (năm 544); đánh dấu bước phát triển mới của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc sau hơn 500 năm dưới thời Bắc thuộc [46,

tr.967] “Nguyễn Cấu, tức Nguyễn Đình Cấu, quê ở làng Thanh Thù, tổng

Tiểu Lễ, huyện Thiên Phúc tỉnh Bắc Hà, xứ Kinh Bắc, nay là thôn Thanh Thù,

xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Ông đỗ đệ tam giáp đồng

Trang 10

tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi (1463) niên hiệu Quang Thuận Năm thứ 4 đời

Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Thị vệ Nguyễn Cấu làm quan suốt sáu đời vua Lê” [46, tr.1088]

Đã từ rất lâu, Phổ Yên là nơi sinh sống của đồng bào nhiều dân tộc Có thể nói, chính sự tập trung và giao thoa về văn hóa giữa các dân tộc trong vùng đã tạo nên một bức tranh văn hóa và văn học dân gian thật đa dạng và nhiều màu sắc Tuy nhiên, việc tìm hiểu về văn hóa dân gian nói chung và văn học dân gian của vùng Phổ Yên nói riêng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía các nhà nghiên cứu Hầu hết những tài liệu đề cập tới vấn đề này mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu về một yếu tố, một phương diện nào đó của văn hóa và văn học dân gian nơi đây

Trong cuốn Địa chí Thái Nguyên (Tỉnh ủy - UBND tỉnh Thái

Nguyên), các tác giả đã giới thiệu tới độc giả một số những đặc điểm nổi bật

về văn hóa dân gian của vùng Phổ Yên Đây là nơi diễn ra nhiều lễ hội dân gian truyền thống (theo số liệu thống kê năm 2008, huyện Phổ Yên có 48 lễ

hội), tiêu biểu như: “Lễ hội đền Giá (xã Đông Cao) tổ chức vào ngày 6 tháng

Giêng (âm lịch) hằng năm để tưởng niệm Thánh Gióng và Mạnh Điền Quốc Vương (là những người có công đánh đuổi giặc Ân đời Hùng Vương thứ 6) Trong lễ hội có dâng hương và các trò chơi dân gian, hát dân ca ” “Hội đền Lục Giáp (Miếu Vật), xã Đắc Sơn, tổ chức vào ngày 15 tháng Ba (âm lịch) hằng năm để tưởng niệm các danh nhân Dương Tự Minh, Lưu Nhân Chú, Đỗ Cận Trong lễ hội có dâng hương, rước kiệu, hát ví, đấu cờ, đấu vật”… [46, tr 967] Bên cạnh đó, cuốn sách cũng giới thiệu về các làn điệu

dân ca hát ví, hò gọi bạn, hát trống quân như những yếu tố góp phần làm nên

sự phong phú cho nghệ thuật diễn xướng dân gian của vùng Phổ Yên nói

riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung “Hò gọi bạn là hình thức sinh hoạt ca

hát dân dã, linh hoạt , nó có sức lôi cuốn nam nữ thanh niên vào một sinh

Trang 11

hoạt giải trí đầy hứng khởi và thăng hoa; Hát ví cũng là một hình thức hát đối đáp dân dã, không cần phông màn, sân khấu Hát ví là một hình thức gặp

gỡ, tâm tình và giao lưu văn nghệ hấp dẫn, cuốn hút được nhiều người tham gia và người nghe”; Trống quân là điệu hát dân gian quen thuộc khi xưa của người Kinh sống ở các làng ở huyện Phổ Yên, Phú Bình, nơi tiếp giáp với vùng quê Kinh Bắc Trống quân được tổ chức hát vui trong các ngày lễ hội ở đền và đình làng” [46, tr.776]

Tác giả Nguyễn Hữu Khánh với hai cuốn sách Một vài làn điệu dân

ca ven sông Cầu và Vùng đất và con người Phổ Yên xưa đã cung cấp cho

độc giả những thông tin sâu hơn, chi tiết hơn về văn hóa dân gian vùng Phổ

Yên Trong cuốn Một vài làn điệu dân ca ven sông Cầu, tác giả đã sưu tầm

và giới thiệu tới độc giả một số làn điệu dân ca bao gồm: hát ví, hò gọi bạn, hát trống quân và hát xẩm, đồng thời khẳng định tính độc đáo, sáng tạo, đậm chất nhân văn sâu sắc của các làn điệu dân ca này Đây chính là những loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian đã ăn sâu trong nền nếp sinh hoạt, không thể phai mờ trong tâm hồn của người dân sở tại Tuy nhiên, sự thể hiện của tính chất sáng tạo, độc đáo ấy trên những phương diện, khía cạnh nào lại chưa được tác giả đi sâu phân tích Với mỗi làn điệu, tác giả đã ghi lại một số lời dân ca sưu tầm được và nêu sơ lược về hình thức diễn xướng (không gian và

trình tự diễn ra) của mỗi buổi hát Trong cuốn Vùng đất và con người Phổ

Yên xưa, tác giả Nguyễn Hữu Khánh đã giới thiệu một số di tích lịch sử văn

hóa tiêu biểu, các lễ hội dân gian truyền thống của huyện Phổ Yên như: Di tích và lễ hội đền Giá (thuộc xã Đông Cao); Di tích và lễ hội đền Đồng Thụ (thuộc xã Thuận Thành); đình làng và lễ hội làng Phúc Duyên (thuộc xã Tân Hương) Gắn liền với những di tích lịch sử tiêu biểu đó là những truyện truyền thuyết về các vị anh hùng dân tộc như: truyền thuyết về Thánh Gióng

Trang 12

và Mạnh Điền Quốc Vương, truyền thuyết về Bà Đỗ Thị Mỹ Mai, sự tích

đề tài Những tri thức mang tính chất nền tảng, cơ sở ấy cùng với những gợi ý của các nhà nghiên cứu chính là yếu tố quan trọng giúp người nghiên cứu đề tài có được cái nhìn toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn về văn học dân gian của vùng Phổ Yên, Thái Nguyên

III Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát các tài liệu về văn hóa và văn học dân gian của vùng Phổ Yên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những giá trị từ văn hóa đến văn học qua việc phân tích các thể loại văn học dân gian nơi đây Đồng thời, với luận văn này, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống sinh hoạt văn hóa của nhân dân vùng Phổ Yên

IV Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tài liệu về văn hóa và văn học dân gian của Phổ Yên Trong quá trình thực hiện, nguồn tư liệu chính mà chúng tôi tham khảo là những tài liệu văn học dân gian được ghi lại trước

chúng tôi trong các cuốn sách như: Vùng đất và con người Phổ Yên xưa,

Một vài làn điệu dân ca ven sông Cầu (Nguyễn Hữu Khánh) và tư liệu mà

chúng tôi đã sưu tập được trong quá trình điền dã

Trang 13

V Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Tìm hiểu và giới thiệu những nét nổi bật về văn hóa dân gian của vùng Phổ Yên - một vùng văn hóa đa dạng và giàu tính tiếp biến

2 Khảo sát, sưu tầm, thống kê và phân loại các tài liệu văn học dân gian

ở vùng Phổ Yên Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ phân tích và luận giải về những giá trị của các thể loại văn học dân gian nơi đây

3 Dựa trên những tri thức về văn hóa và văn học dân gian đã tìm hiểu được, người nghiên cứu sẽ phân tích và chỉ rõ mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống sinh hoạt văn hóa trong truyền thống của người dân vùng Phổ Yên

VI Đóng góp của luận văn

1 Trên cơ sở khảo sát, phân tích các giá trị văn hóa đến văn học dân gian của vùng Phổ Yên, lần đầu tiên văn học dân gian vùng Phổ Yên được nghiên

cứu dưới góc độ của khoa học nghiên cứu văn học dân gian

2 Chỉ ra mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân vùng Phổ Yên Đề xuất ý kiến nhằm lưu giữ, bảo

tồn và khôi phục vốn văn hóa cổ truyền nơi đây

VII Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp tiếp cận hệ thống: Trên quan niệm văn hóa dân gian và văn học dân gian là một chỉnh thể, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích và nhận xét về các giá trị từ văn hóa đến văn học dân gian của vùng Phổ Yên; Chỉ rõ mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống sinh hoạt văn hóa của

người dân Phổ Yên

2 Phương pháp điền dã: Chúng tôi tiến hành điền dã trên địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên, trao đổi với những cán bộ văn hóa, những người dân địa phương đã nhiều năm thu thập tư liệu về văn hóa và văn học dân gian

vùng Phổ Yên

Trang 14

3 Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi sử dụng phương pháp này

để tiếp cận đối tượng khoa học một cách chi tiết, cụ thể và đánh giá vấn đề

được toàn vẹn, khái quát

4 Phương pháp liên ngành: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi

đã vận dụng tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch sử, văn hóa học, dân tộc học để có sự nhìn nhận, đánh giá tổng hợp nhất về vấn đề nghiên

cứu

XVI Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương với ba nội dung chính như sau:

Chương một: Phổ Yên - một vùng văn hóa lịch sử

Chương hai: Phổ Yên - một vùng văn học dân gian đa thể loại

1 Khái quát chung

2 Các thể loại tiêu biểu

2.1 Thể loại truyền thuyết

2.2 Thể loại tục ngữ

2.3 Thể loại ca dao

Chương ba: Văn học dân gian trong đời sống sinh hoạt văn hóa của

nhân dân vùng Phổ Yên

1 Văn học dân gian trong đời sống văn hóa phong tục, tín ngưỡng của nhân dân vùng Phổ Yên

2 Văn học dân gian trong đời sống sinh hoạt dân ca của nhân dân vùng Phổ Yên

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG Chương một PHỔ YÊN - MỘT VÙNG VĂN HÓA LỊCH SỬ

vùng trung du, miền núi phía bắc nước ta “…Nó không chỉ là vị trí án ngữ

con đường không xa từ phía bắc xuống nam mà còn là cánh cửa trung tâm lớn nhất mở ra để đi lên miền Việt Bắc bao la và quan trọng hơn, ngay từ rất sớm, Phổ Yên - Thái Nguyên đã là một trong những bộ phận lãnh thổ, một trong những trung tâm quan trọng của quốc gia dân tộc Việt nam” [53, tr.37]

Khí hậu Phổ Yên mang tính chất nhiệt đới gió mùa, hằng năm chia làm hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Người dân nơi đây đã gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp do mưa tập trung vào mùa nóng với lượng mưa lớn, chế độ thủy văn lại không đều, nên thường gây ngập úng lũ lụt Hơn nữa, trên 50% diện tích đất nông nghiệp vùng này là đất bạc màu, đất vàng nhạt trên đá cát, độ phì nhiêu kém Nhưng quan sát kỹ hơn, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra những lợi thế của mảnh đất lâu đời này:

Trang 16

Phổ Yên có hai con sông chính chảy qua, đó là sông Cầu và sông Công Sông Cầu bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Cạn), chảy qua các huyện Bạch Thông, Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), Phú Lương, Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, Phú Bình rồi chảy về Phổ Yên Dòng sông Công xưa còn gọi là sông Giã (Giã Giang) bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá (huyện Định Hóa), chảy qua huyện Đại Từ, thị xã Sông Công về Phổ Yên Chảy qua địa bàn huyện Phổ Yên khoảng 25km, sông Công nhập vào sông Cầu ở thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành Sự hợp lưu giữa hai dòng sông tại xã Thuận Thành đã tạo cho Phổ Yên một thế đứng khá bền vững

Từ xa xưa, do điều kiện tự nhiên hiểm trở, đường bộ kém phát triển nên những dòng sông chính là tuyến giao thông quan trọng của mỗi vùng Dòng sông Cầu với hợp lưu của sông Công không những là trục giao thông căn bản nối liền hai miền xuôi - ngược của tỉnh Thái Nguyên mà nó còn tạo cho Phổ

Yên có được “vị thế giữa ngã ba sông” Đây một điều kiện vô cùng thuận lợi

để người dân trao đổi và buôn bán hàng hóa Hơn nữa, phía hạ lưu sông Cầu được mở rộng, độ dốc thấp, dân cư đông đúc hơn, nhu cầu trao đổi hàng hóa nhiều nên đã hình thành một số bến cảng sông, trong đó có bến cảng Đại Phùng Nơi ấy ngày nay chính là bến sông Chã thuộc xã Đông Cao, huyện Phổ Yên Có bến cảng nên đã hình thành chợ phiên để giao lưu hàng hóa

“Trà Thị” (chợ Chè, chợ Chã) bên bến cảng Đại Phùng đã trở thành một điểm

giao thương, phát triển kinh tế khá sầm uất giữa hai miền xuôi ngược “Chợ

Chã ngược lên Thái Nguyên, trở thành một bến lớn, trung tâm giao dịch phía cực bắc” [46, tr.140] Cho đến ngày nay, khi mà giao thông đường bộ đã rất

phát triển nhưng với lợi thế “trên bến dưới thuyền”, chợ Chã (Trà Thị xưa)

vẫn là trung tâm giao lưu hàng hóa của các vùng đông nam huyện Phổ Yên Thêm nữa, Phổ Yên có đường quốc lộ số 3 và đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên chạy dọc từ nam lên bắc Theo tuyến đường này, thị trấn Phổ Yên chỉ

Trang 17

cách nội thành Hà Nội chưa đầy 60km Nói rõ hơn, ra khỏi trung tâm huyện

lỵ chừng vài chục cây số, người Phổ Yên đã có thể tiếp xúc với nền văn minh của đồng bằng sông Hồng lâu đời Ngược lên cũng chừng vài chục cây số, người Phổ Yên đã tới trung tâm tỉnh lỵ xưa và giao lưu với cư dân miền núi Việt Bắc

Những đặc điểm địa lý tự nhiên trên chính là điều kiện thuận lợi để vùng đất Phổ Yên sớm trở thành một trung tâm thu hút được nhiều tầng lớp cư dân quanh vùng đến giao thương, buôn bán, thậm chí họ còn chọn mảnh đất này là

nơi định cư và lập nghiệp Vì vậy “Cư dân ở Phổ Yên gồm nhiều dân tộc khác

nhau, có bộ phận đã định cư lâu đời…, có bộ phận là đồng bào các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Hà Đông… di cư, phiêu bạt lên sinh cơ, lập nghiệp” [46,

tr.958] Song song với sự giao lưu về mặt kinh tế là sự giao lưu và giao thoa

về mặt văn hóa, xã hội Đặc biệt, các khu vực có vị trí địa lý tiếp giáp với Phổ Yên như Bắc Giang, Vĩnh Phúc đều là những vùng miền có nhiều giá trị văn hóa đặc sắc Cuộc sống cộng cư và quần tụ trong sự đan xen, đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc ở Phổ Yên chính là một trong những yếu tố đóng vai trò

cơ sở cho sự hình thành, phát triển của văn hóa dân gian nói chung và văn học dân gian vùng Phổ Yên - Thái Nguyên nói riêng

2 Đặc điểm lịch sử

Vùng đất Phổ Yên được hình thành và có địa danh khá sớm Thời các vua Hùng dựng nước, vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là huyện Phổ Yên thuộc bộ Vũ Định của nước Văn Lang; thời An Dương Vương thuộc nước Âu Lạc; thời thuộc Hán thuộc huyện Long Biên, quận Giao Chỉ Từ thế kỷ thứ V

- VI, vùng đất này là trung tâm của châu Giã Năng thời thuộc phong kiến Tùy

- Lương Sách Đại Nam nhất thống chí có chép: “Huyện Phổ Yên xưa là đất

bộ Vũ Định (thời các vua Hùng), chưa rõ tên huyện đặt từ thời nào, do phiên

Trang 18

thần họ Ma nối đời quản trị; bản triều Nguyễn đầu thời Gia Long vẫn theo như thế”… [53, tr.33]

Thời nhà Lý (thế kỷ XI - XII), nước ta được chia thành 24 lộ, trong đó có vùng đất Thái Nguyên được gọi là châu Thái Nguyên và châu Vũ Lặc Huyện Phổ Yên thời nhà Trần được gọi là huyện An (Yên) Định, là 1 trong 11 huyện của trấn Thái Nguyên Tiếp đến thời Lê sơ, năm Quang Thuận thứ 10 (1469), thừa tuyên Thái Nguyên lại đổi thành thừa tuyên Ninh Sóc, kiêm quản 3 phủ,

8 huyện, 7 châu và Phổ An (Yên) là một trong số bảy huyện của phủ Phú Bình

Dưới triều Nguyễn (năm 1831) vua Minh Mệnh cải cách hành chính, đổi trấn thành tỉnh, trấn Thái Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên (1 trong

13 tỉnh của miền bắc nước ta lúc đó) có hai phủ là Phú Bình và Thông Hóa Huyện Phổ Yên thuộc phủ Phú Bình, huyện lỵ đặt ở xã Lợi Xã (tổng Hoàng Đàm) Từ năm Tự Đức thứ 4 (1851), huyện Phổ Yên do tri phủ Phú Bình kiêm lý, lỵ sở trước đặt ở Lợi Xã, nay bỏ Huyện hạt Phổ Yên cách tây phủ thành 32 dặm, phía đông giáp thôn Cầu Đông, xã Nghĩa Hưng, huyện Tư Nông; phía tây giáp hai xã Mi Khưu, Đăng Cao (huyện Bình Xuyên) và xã Ký Phú huyện Đại Từ; phía bắc giáp xã Niệm Quang (huyện Đồng Hỷ), phía nam giáp xã Nam Lý (huyện Kim Anh) và xã Đông Cao (huyện Đa Phúc), thuộc tỉnh Bắc Ninh Huyện được chia làm 6 tổng, gồm 24 xã, 1 trang, 1 phường Như vậy, cho tới thời vua Đồng Khánh nhà Nguyễn (1886 - 1888), các tổng Thiên Thù, Tiểu Lễ (huyện Hiệp Hòa), Thượng Giã (huyện Thiên Phúc)

- phần đất cực nam và đông nam của huyện Phổ Yên ngày nay thuộc về phủ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

Dưới thời Pháp thuộc, huyện Phổ Yên nằm trong phủ Phú Bình, thuộc tiểu Quân khu Thái Nguyên - Đạo quan binh I Phả Lại Từ tháng 10 - 1892, Phổ Yên là một huyện thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Những năm

Trang 19

cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bỏ đơn vị hành chính cấp phủ Phổ Yên là một huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên gồm 6 tổng, với 24 làng Năm 1918, Phổ Yên là một phủ (trong số 2 phủ, 3 huyện, 3 châu của tỉnh Thái Nguyên) gồm 8 tổng, 36 làng

Tìm hiểu những thông tin trên đã giúp chúng ta nhận thấy Phổ Yên là một vùng đất được hình thành từ rất lâu đời Trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển, vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phổ Yên tuy đã được điều chỉnh nhiều lần về địa giới hành chính, về tên gọi nhưng điều đáng lưu ý là vai trò lịch sử và vị trí chiến lược quan trọng của vùng vẫn luôn luôn được khẳng

định và phát huy “Đất Phổ Yên xưa vốn là một mảnh đất cội nguồn dân tộc,

một vùng nằm giữa đồng bằng và miền núi, có vị trí kinh tế quốc phòng quan trọng bậc nhất”… [53, tr.57]

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cùng non sông và đất nước, dường như mảnh đất này đã chất chứa và đúc kết trong nó nhiều giá trị truyền thống và văn hóa Người dân Phổ Yên không những cần cù, chăm chỉ trong lao động sản xuất mà họ còn dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh chống giặc Theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ thời vua Hùng, thời Bắc thuộc cho đến thời phong kiến…, mảnh đất và con người nơi đây đều nhiệt tình ủng hộ và tham gia, đóng góp công sức vào phong trào đấu tranh chung của toàn dân tộc

Thời kỳ đấu tranh giành độc lập với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Bà Triệu, khởi nghĩa Lí Bí, khởi nghĩa Phùng Hưng, khởi nghĩa Ngô Quyền… đều có sự góp sức của nhân dân vùng

đất mà ngày nay là huyện Phổ Yên Nơi đây đã trở thành “vùng đệm chiến

lược”, đóng vai trò cầu nối, góp sức người sức của vào chiến thắng của các

cuộc khởi nghĩa

Trang 20

Vùng Hà Châu, Chợ Chã của Thái Nguyên có một vị trí thuận lợi cả về đường thủy lẫn đường bộ Chốt chặn ở vùng ngã ba sông Cầu và sông Công là điểm khống chế huyết mạch giao thông thủy bộ Vùng ngã ba sông còn được gọi là vùng Giã Đây là một địa điểm chiến lược chỉ huy bảo vệ vùng đồng bằng Với truyền thống bất khuất, người dân vùng Phổ Yên tích cực ủng hộ, che chở quân khởi nghĩa, hăng hái tham gia chiến đấu chống lại quân xâm lược Châu Giã Năng (gồm một phần đất phía đông bắc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, cả huyện Phổ Yên, thị xã Sông Công, phía bắc huyện Phú Bình) mà trung tâm là vùng đất huyện Phổ Yên gắn liền với chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lí Bí Vùng đất Thái Nguyên không những là nơi xuất phát, khởi binh

của cuộc khởi nghĩa Lí Bí mà còn là một trong những “hậu phương chiến

lược”, cung cấp dồi dào về lương thực và lực lượng quân lính cho nghĩa quân

Lí Bí

Từ thế kỷ X, dưới sự chỉ huy của Lí Thường Kiệt, nhân dân Phổ Yên đã trực tiếp tham gia xây dựng phòng tuyến phía bắc sông Cầu (một phần phòng tuyến kéo dài qua địa bàn huyện Phổ Yên ngày nay) và trực tiếp chiến đấu góp phần đánh quân xâm lược quân Tống ngay trên mảnh đất quê hương mình

Thế kỷ XII, nhân dân huyện Phổ Yên đã cùng Dương Tự Minh (thủ lĩnh phủ Phú Lương) chăm lo xây dựng, chiến đấu bảo vệ và giữ yên bờ cõi khu vực phía bắc Đại Việt Đầu thế kỷ XV, hàng trăm người dân Phổ Yên đã cùng với tướng quân Lưu Nhân Chú tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, đánh đuổi quân xâm lược Minh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Nhân dân nơi đây vẫn lưu truyền mãi câu truyện về sự kiện tướng Lưu Nhân Chú về tuyển mộ binh lính tại quê hương Phổ Yên Sau khi tuyển mộ được

200 người, ông đã cho mở hội đấu vật ở ngôi miếu làng Sơn Cốt để thử tài võ

Trang 21

nghệ của các binh lính Vì vậy, ngôi miếu của làng Sơn Cốt còn có tên là Miếu Vật

Từ năm 1740 đến năm 1750, nhân dân Phổ Yên tham gia nghĩa quân do Nguyễn Danh Phương chỉ huy Họ đã đắp thành, xây lũy, dựng căn cứ ở núi Độc Tôn chống lại triều đình nhà Lê (Lê Hiển Tông) Trong cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân (ở Bảo Lạc - Cao bằng) chống lại triều đình nhà Nguyễn (1833 - 1835), Phổ Yên là địa bàn hoạt động của nghĩa quân

Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của vùng đất và con người nơi đây ngày càng được khẳng định và phát huy Dưới thời Pháp thuộc, Phổ Yên là đầu mối giao thông, là địa bàn chuyển tiếp giữa miền ngược và miền xuôi Trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, nhiều gia đình ở Phù Lôi (tổng Thượng Giã) đã trở thành cơ sở tiếp tế, trạm liên lạc cho nghĩa quân; nhiều gia đình ở khu vực rừng Nghè, xóm Đồi (tổng Hoàng Đàm) là cơ sở bí mật của nghĩa quân Yên Thế Trên địa bàn huyện Phổ Yên

đã diễn ra nhiều trận chiến đấu quyết liệt giữa nghĩa quân Yến Thế và quân

Pháp Thực dân Pháp đã phải thừa nhận “Toàn bộ địa bàn nam Thái Nguyên

đều quy thuộc Đề Thám và có thái độ chống đối rõ rệt nhà cầm quyền Pháp

và nhà cầm quyền bản xứ” [46, tr.960] Đặc biệt, vào cuối năm 1917 đã nổ ra

cuộc khởi nghĩa của binh lính người Việt trong quân đội Pháp Trên địa bàn Phổ Yên đã diễn ra một số trận chiến ác liệt giữa quân khởi nghĩa Thái Nguyên và quân giặc Pháp Nổi bật là trận Đèo Nứa và trận thôn Đồi thuộc tổng Hoàng Đàm

Từ sau ngày Đảng Cộng sản ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Phổ Yên từng là địa bàn hoạt động của các đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Hoàng Quốc Việt và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp khác của Đảng Vào tháng 10 - 1941, lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Phổ Yên đã bảo vệ tuyệt đối an toàn lớp huấn luyện

Trang 22

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám cho cán bộ Trung ương Đảng các vùng lân cận và cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ do đồng chí Trường Chinh tổ chức tại Tiên Thù Năm 1943, địa bàn tổng Tiên Thù, huyện Phổ Yên được Trung ương xây dựng thành An toàn khu II (cùng với xã Kha Sơn, huyện Phú Bình - Thái Nguyên và xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang) Nhân dân và lực lượng tự vệ tổng Tiên Thù đã hết lòng giúp đỡ, chở che và bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các cơ quan và các đồng chí lãnh đạo của Đảng; làm thất bại các đợt tấn công và khủng bố của địch vào An toàn khu II

Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Phổ Yên đã tích cực ủng hộ và tham gia Phổ Yên vừa là cửa ngõ phía nam của tỉnh Thái Nguyên, vừa là cửa ngõ phía nam của trung tâm căn cứ địa Việt Bắc - thủ đô kháng chiến của cả nước Quân và dân Phổ Yên đã góp phần quan trọng cùng với quân dân trong tỉnh và bộ đội chủ lực đập tan nhiều cuộc càn quét của địch Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Phổ Yên đã huy động hàng chục ngàn lượt người đi dân công hỏa tuyến Với những đóng góp đó,

Phổ Yên đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ

trang nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Trong kháng chiến chống Mĩ, Phổ yên là một trong những trọng điểm đánh phá của máy bay Mĩ Toàn huyện đã xây dựng được 36 trận địa dân quân, tự vệ trực chiến phòng không bắn máy bay địch… Trung đội trực chiến phòng không của dân quân du kích các xã Nam Tiến, Trung Thành, Thành Công đã trực tiếp chiến đấu nhiều trận với máy bay Mĩ

Tìm hiểu những sự kiện tiêu biểu trên đã giúp người đọc một lần nữa thấy rõ truyền thống lịch sử của vùng đất và con người Phổ Yên Nơi đây qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển cùng non sông đất nước đã ghi nhận không ít những công lao và đóng góp của nhân dân địa phương vào phong trào đấu tranh chung của toàn dân tộc Phải chăng, thực tế lịch sử ấy chính là

Trang 23

yếu tố đóng vai trò nền tảng văn hóa cho sự xuất hiện của một số tác phẩm văn học dân gian (như truyền thuyết, vè…) Người dân vùng Phổ Yên không chỉ tự hào về tinh thần đấu tranh dũng cảm, kiên cường của các thế hệ đi trước mà họ còn lưu giữ và ghi nhớ những giá trị ấy bằng các tác phẩm văn học

3 Các danh nhân tiêu biểu

3.1 Lí Bí

Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) sinh ngày 12 tháng Chín năm Quý Mùi (17 -

10 - 503), quê ấp thái Bình, châu Giã Năng (vùng đất Phổ Yên ngày nay) Ông là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, lập nhà nước Vạn Xuân (năm 554), đánh dấu bước phát triển mới của phong trào đấu tranh dành độc lập dân tộc sau hơn 500 năm dưới thời Bắc thuộc

Năm 505 nước ta bị nhà Lương đô hộ Dưới ách thống trị của nhà Lương, nhân dân ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam phải chịu hàng trăm thứ thuế, lòng oán hận ngày tăng Lý Bí vốn là một quan lại trong bộ máy chế độ phong kiến phương Bắc đô hộ ở nước ta, nhưng cũng do chính chế độ hà khắc ấy ông đã về quê và tập hợp nghĩa quân nổi dậy khởi nghĩa Theo các tài liệu lịch sử, sau khi không làm quan nữa, Lý Bí về quê và tập hợp binh lính nổi dậy khởi nghĩa Năm 542, cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ Nhân dân và hào kiệt khắp nơi nổi dậy hưởng ứng, thanh thế của nghĩa quân tăng lên nhanh chóng Sau khi đánh chiếm được các địa phương, Lý Bí đã cho quân tiến về bao vây châu thành Long Biên Thứ sử Tiêu Tư hoảng sợ, bỏ chạy về nước Quân Lương đại bại Cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo chỉ diễn ra trong vòng ba tháng đã hoàn toàn thắng lợi, từ Giao Châu đến cả vùng Hoan Châu, Ái Châu Năm 544, Lý Bí xưng Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, dựng triều đình, xếp đặt quan lại, lấy tên nước là Vạn Xuân

Trang 24

Thắng lợi của nghĩa quân Lý Bí có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một bước trưởng thành của ý thức dân tộc, khẳng định nền độc lập, tự chủ của nhân dân ta và phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của đế chế phương Bắc đối với đất nước và dân tộc ta

3.2 Nguyễn Cấu

Nguyễn Cấu, tức Nguyễn Đình Cấu, quê ở làng Thanh Thù, tổng Tiểu Lễ (có sách chép là Khuông Lễ), huyện Thiên Phúc, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc, nay là xóm Thanh Vân (nên nhân dân địa phương vẫn gọi thân mật là “cụ Nghè Vân”), thôn Thanh Thù, xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Ông đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi (1463) niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4 đời Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Thị vệ (Thị vệ xứ) Đây là người đầu tiên của đất Thái Nguyên đỗ đạt học vị này Nguyễn Cấu làm quan suốt sáu đời vua Lê: Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Lê Hiến Tông (1498 - 1504), Lê Túc Tông (1504), Lê Uy Mục (1505 - 1509), Lê Tương Dực (1509 - 1516), Lê Chiêu Tông (1516 -1522) Ông có nhiều thăng tiến trên con đường võ nghiệp dài tới gần 60 năm Chức Thị vệ xứ mà Nguyễn Cấu được giữ là chức vụ chỉ huy quân thị vệ, túc vệ chuyên tháp tùng vua; chức vụ này thời ấy thường lấy quan đại thần ban võ kiêm quản Vào thập niên thứ 2 của thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu, Mạc Đăng Dung uy quyền ngày càng lấn lướt quyền vua và có ý đồ chuẩn bị lật đổ triều Lê, thiết lập vương triều Mạc Vua Lê Chiêu Tông không còn đủ uy tín và sức mạnh để điều hành đất nước Là trung thần của nhà Lê, lại đang giữ trọng trách coi giữ quân cấm vệ trong cung điện, hẳn Nguyễn Cấu sẽ là trở ngại cho ý đồ tiếm quyền của họ Mạc Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1522), Mạc Dăng Dung

từ căn cứ riêng ở Hải Dương, đã kéo quân về áp sát kinh thành Thăng Long Sau đó cho quân Vượt sông Hồng, tràn vào kinh thành, giết hại những thế lực

Trang 25

phản kháng, trong đó có một số quan lại trung thành với nhà Lê như Thị vệ sứ

Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn bá Nguyễn Thọ và Đàm Cử… Sách Đại

Việt sử ký toàn thư có chép: “Mạc Đăng Dung uy quyền ngày một lớn, lòng

người đều hướng theo… Mạc Đăng Dung đi bộ thì lọng phượng dát vàng, đi thủy thì thuyền rồng dây kéo, ra vào cung cấm, không kiêng sợ gì Lại giết bọn Thị vệ Nguyễn Cấu…” [46, tr.1089]

Theo gia phả dòng họ Nguyễn ở làng Thanh Thù, thời Lê Trung Hưng triều đình truy phong cho Nguyễn Cấu là Lê triều khâm sai đại thần, Chỉ huy

sứ thị vệ Long quân cẩm hầu, Chánh đô đốc, Đức Bác quận công - Thượng đẳng thần Thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn đều có sắc của nhà vua phong cho làng Thanh Thù thờ Tiến sĩ Nguyễn Cấu làm Thành hoàng

Ngày nay, tên ông vẫn được khắc trên bia Tiến sĩ năm quý Mùi (1463) tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) Đình làng Thanh Thù (xã Đồng Tiến), Đình làng Phong Niên (xã Tân Hương) huyện Phổ Yên vẫn thờ ông làm Thành hoàng

3.3 Đỗ Cận

Đỗ Cận tên khai sinh là Đỗ Viễn, tự là Hữu Khác, hiệu là Phổ Sơn Ông sinh năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình năm thứ nhất (1434) đời vua Lê Thánh Tông, tại xã Thống Thượng, huyện Phổ Yên, nay là thôn Thống Thượng, xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Thống Thượng quê hương ông có núi Phổ Sơn, sau đổi gọi là núi Cao Phong Có lẽ Đỗ Cận

đã lấy tên ngọn núi của quê hương mình làm tên hiệu Phía nam Thống Thượng, có núi Vệ Ninh (núi Sóc); phía tây Thống Thượng là dải Tam Đảo điệp trùng Cả vùng quê ông là điển hình của miền trung du đồi gò xen lẫn thềm cổ được đồng bằng hóa

Đỗ Cận là vị Tiến sĩ đỗ vào thời Hồng Đức, triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), triều đại thịnh đạt nhất trong lịch sử khoa cử nho học của nước

Trang 26

ta Bộ sử đầu tiên chép về Đỗ Cận là Đại Việt sử ký toàn thư Tiếp đến là

Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại nam nhất thống chí Những bộ sách trên ghi chép về Đỗ Cận không nhiều

nhưng đó là những tư liệu hết sức quý báu giúp ta hiểu biết hơn về ông Đỗ Cận sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng có truyền thống hiếu học Gia đình đã tạo điều kiện và động viên ông kiên trì con đường học tập Song do hoàn cảnh xa xôi, có nhiều khó khăn nên mãi tới khoa thi năm Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) đời vua Lê Thánh Tông, ông mới đỗ

Đệ tam giáp Đồng Tiến Sĩ xuất thân khi đã 45 tuổi Tuổi 45 tuy chưa già nhưng không còn trẻ nữa Điều đó khiến chúng ta càng khâm phục hơn nữa lòng kiên trì, quyết tâm và nể trọng hơn nữa tài năng, phẩm chất của tiến sĩ

Đỗ Cận Trong bối cảnh chính trị xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ XV, đạt đến những vị trí học thức, chức vị và tài phẩm như vậy quả không phải là dễ dàng Trong lần thi Đình, chính tay vua Lê Thánh Tông đã ngự bút đổi tên ông thành Đỗ Cận (chữ Cận chỉ có âm đọc trùng với chữ cận là gần, còn ở đây chữ cận có nghĩa là chầu hầu bên cạnh nhà vua), thể hiện sự tin yêu của nhà vua đối với vị tiến sĩ tân khoa này

Sau khi thi đỗ, ông được triều đình bổ dụng làm quan, qua các chức: Tham nghị xứ Thanh Hoa, Thừa Chính xứ Quảng Nam Ở cương vị nào ông cũng tỏ rõ là một vị quan tài năng, đức độ và mẫn cán nên chỉ sau 5 năm, năm Quý Mão (1483), triều đình đã tin tưởng cử ông giữ chức Phó sứ trong đoàn

sứ bộ Đại Việt sang giao hảo với nhà Minh Sách Đại Việt sử ký toàn thư có

chép: “Mùa đông, tháng 11, ngày 11 (năm Quý Mão - 1843) sai Lê Đức

Khánh, Nguyễn Trung, Đỗ Cận sang cống nhà Minh” [46, tr.1090]

Tương truyền, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông đã xin nghỉ, ở nhà một thời gian để chịu tang mẹ và phụng dưỡng cha già Chính thời gian này, bằng

uy tín và quyền lực của mình, Đỗ Cận đã cho vận động dân nghèo thiếu ruộng

Trang 27

đi san lấp khơi ngòi, cải tạo cánh đầm lầy thành cánh đồng màu mỡ (sau này gọi là cánh đồng Mương, hoặc đầm Mương); đồng thời ông còn cho dân tu sửa đường sá để nhân dân đi lại dễ dàng (Đó chính là con đường từ chợ Vạn lên Phúc Thuận ngày nay) Sau khi thân phụ ông qua đời, vâng lệnh nhà vua,

Đỗ Cận đã đưa vợ con về kinh thành Thăng Long và nhậm chức Thượng Thư Tài sản của ông tại quê nhà được giao lại cho người em gái và gia đình em vợ

Do đó, ngày nay ở Thống Thượng vẫn còn lưu truyền các địa danh có liên

quan đến sự việc này như: Vườn Cô, Ao Cậu…

Đỗ Cận không những là một vị quan mẫn cán với triều đình, có công với dân với nước mà còn là một bậc nho sĩ có tài văn thơ Thời đó, vua Lê Thánh

Tông đã sáng lập “Tao Đàn nhị thập bát tú” - nơi tập hợp những nhà thơ tài

năng nhất của nền thơ ca bác học phát triển thời Hồng Đức Và Đỗ Cận là một thành viên, một trong 28 ngôi sao của Tao Đàn Tiếc rằng, tác phẩm của ông hiện còn lại không nhiều Trong thời gian đi sứ Trung Quốc, Đỗ Cận đã viết

tác phẩm Kim Lăng ký nổi tiếng - tập ký về phong tục, cảnh vật và con người

đất Kim Lăng Rất tiếc tác phẩm này đã không còn lưu giữ lại được Hiện

nay, chúng ta chỉ được biết đến hai bài thơ của ông được chép trong Toàn Việt

thi lục

Bài thứ nhất là Xuân Yến (Chim én mùa xuân) - một bài thơ dạt dào tình

ý, thấm đượm mối giao hòa tâm cảnh:

“Đình viện phong vi trúc ảnh đê, Họa thiềm thâm sứ đới hương nê

Lục song trúc tĩnh vô nhân đáo, Khiêu bát xuân tâm nhật vị tây”

Dịch nghĩa:

Gió phất tre sân bóng thướt tha, Bùn thơm lót tổ dưới hiên nhà,

Trang 28

Bên song yên lạnh không người tới, Gợi mối tình xuân trước bóng tà

(Bản dịch của Hoàng Việt thi văn tuyển) Bài thứ hai: Thái Thạch vãn bạc (Chiều tối đỗ thuyền ở ghềnh Thái

Thạch) - một bài thơ được Đỗ Cận sáng tác trong dịp đi sứ Trung Quốc Ông

đã đến dạo thăm phong cảnh hồ Thái Thạch, nơi Lý Bạch say rượu nhảy xuống sông ôm trăng Nhớ tới một cố sự văn chương đẹp và lạ vào bậc nhất trong lịch sử thi ca nhân loại, Đỗ Cận đã viết tác phẩm này:

“Kình khứ phong trần, dạ nguyệt tân, Hàn đăng, cô chẩm, viễn du nhân

Trích tiên phong vị thiên thu tại, Tiêu đắc nhàn sầu nhất ứng xuân”

Dịch nghĩa:

Cưỡi kình thoát tục, trăng lên, Gối đơn, đèn lạnh, con thuyền viễn du Trích tiên cảm hứng ngàn thu

Tiêu sầu dằng dặc một vò rượu xuân

(Trần Lê Văn dịch) Tâm hồn trữ tình, dào dạt cảm xúc của thi sĩ đã được thể hiện tinh tế qua những vần thơ vừa tả cảnh thiên nhiên, vừa nói chuyện con người Nó cho

thấy tài năng thi ca của Đỗ Cận “đã đạt đến mức điêu luyện” trong thể loại thất ngôn tứ tuyệt Theo Trần Lê Văn, bài thơ Thái Thạch vãn bạc “Có thể

sánh cùng những bài thơ hay của thi nhân Trung Hoa và thi nhân Việt Nam viết về thi hào Lý Bạch…” [46, tr.1090]

Bên cạnh đó, theo sách “Tỳ bà tân truyện” của tác giả Kiều Oánh Mậu,

Đỗ Cận còn là người dịch truyện thơ Phan Trần nổi tiếng từ chữ Hán sang chữ Nôm, được phổ biến đến tận ngày nay

Trang 29

Xuất thân bằng con đường khoa cử, Đỗ Cận là một nhà nho, một vị quan thanh liêm, một nhà ngoại giao có tài Trên con đường hoạn lộ, chỉ có thời gian khoảng hơn 20 năm cống hiến và phấn đấu, ông đã làm tới chức Thượng Thư đứng đầu một trong sáu bộ của triều đình nhà Lê với hàm Tòng nhị phẩm Thành đạt trên con đường sự nghiệp như ông quả là ít người thời ấy có thể phấn đấu và vươn tới được Trong số 62 vị Tiến sĩ đỗ cùng khoa với Đỗ Cận thì những người mà tên tuổi và sự nghiệp còn được lưu lại trong sử sách không phải là nhiều Ngưỡng mộ và biết ơn Tiến sĩ Đỗ Cận, sau khi ông mất, dân làng Thống Thượng đã tôn ông là vị Thành hoàng, dựng ngôi đền ngay vùng chân núi Phổ Sơn để phụng thờ Ngày 18 - 10 - 1986, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Thái đã tổ chức Hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 562 năm ngày sinh của ông ngay tại chính quê hương Phổ Yên để khẳng định vị trí, tài năng đức

độ của một vị Tiến sĩ tài cao, đức trọng, một danh nhân Đất Việt

Qua việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của các vị danh nhân tiêu biểu, chúng ta càng nhận thấy sâu sắc hơn giá trị truyền thống lịch sử vẻ vang của vùng đất và con người Phổ Yên Với tài năng và sự cống hiến to lớn dành cho đất nước, những “người con tiêu biểu” đó chính là niềm tự hào của quê hương Phổ Yên Người dân nơi đây luôn hướng tới những vị danh nhân ấy với tất cả tấm lòng tôn kính và ngợi ca

4 Các địa danh văn hóa lịch sử

Theo số liệu được thống kê tại bản danh mục phúc tra di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, toàn huyện Phổ Yên đã có tới 53 di tích lịch sử văn hóa Chúng ta có thể nhắc đến rất nhiều di tích lịch sử văn hóa trên mảnh đất Phổ Yên như: Di tích lịch sử nghệ thuật đền Giá (xã Đông Cao), Di tích lịch sử văn hóa đền Đồng Thụ (xã Thuận Thành), Di tích lịch sử Chùa Đôi Cao (xã Tân Hương), Di tích lịch sử văn hóa Đình Phúc Duyên (xã Tân Hương)… Đặc biệt, khu di tích lịch sử cách mạng xã Tiên Phong và khu di

Trang 30

tích lịch sử và đền Lục giáp (xã Đắc Sơn) đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

4.1 Các địa danh lịch sử tiêu biểu

4.1.1 Khu di tích lịch sử và đền Lục giáp

Khu di tích này thuộc xóm Dương, xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên Đền Lục Giáp nằm trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng, bên hữu ngạn sông Công Tương truyền, ban đầu trên đất này chỉ có một ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của làng Sơn Cốt Sau, ngôi miếu được sửa sang lớn hơn, trở thành đền thờ hai vị anh hùng của đất Thái Nguyên là Dương Tự Minh và Lưu Nhân Chú Vào cuối thế kỷ XV, ở làng Thống Thượng - phía bên kia sông Công, có ông Đỗ Cận đỗ đại khoa Tiến sĩ (được triều đình bổ làm quan Tham nghị xứ Quảng Nam, sau làm chức Thượng thư) đã bỏ tiền của mua gỗ lim, thuê thợ giỏi ở xứ Thanh Hóa làm bộ khung sườn ngôi đền rồi chuyển về thay thế ngôi đền cũ để dân sáu giáp vùng Sơn Cốt thờ phụng Từ đó, đền được nhân dân gọi với tên đền Lục Giáp Đây cũng chính là nơi mà người anh hùng Lưu Nhân Chú chiêu mộ binh sĩ, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi vào thế

kỷ XV Tương truyền, khi tuyển mộ được 200 người, Lưu Nhân Chú đã cho

mở hội đấu vật ở miếu làng Sơn Cốt để thử xem võ nghệ ai cao, ai thấp Chính vì vậy, ngôi miếu của làng Sơn Cốt còn có tên là Miếu Vật Bên cạnh những giá trị về mặt lịch sử gắn liền với tên tuổi của ba vị danh nhân tiêu biểu thời nhà Lý, nhà Lê của đất Thái Nguyên, đền Lục Giáp còn là ngôi đền cổ có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật Ngôi đền có kiến trúc tiêu biểu thời nhà

Lê Nhà tiền tế và hậu cung đều ba gian hai trái Hệ thống cột trong đền làm bằng gỗ lim bào nhẵn, qua mấy thế kỷ cột gỗ lên nước đen bóng Các đấu trụ, câu đầu, ván lát trước hậu cung,… đều chạm khắc nổi hình long, ly, quy, phượng Cổ vật có giá trị nhất về kiến trúc nghệ thuật của đền là hai cánh cửa chính hậu cung Trên đôi cánh cửa này, các nghệ nhân tài giỏi thời xưa bằng

Trang 31

tâm hồn nghệ sĩ đầy chất lãng mạn, bằng trình độ tay nghề điêu luyện, tinh tế,

đã chạm nổi hình lưỡng long chầu nguyệt tuyệt đẹp, tạo nên một tác phẩm điêu khắc gỗ hoàn hảo Từ xưa tới nay, đền Lục Giáp đều mở hội vào ngày rằm tháng 2 hàng năm Vào những ngày hội đền, dân Lục Giáp, dân xã Đắc Sơn và các vùng phụ cận kéo về rất đông để rước kiệu, dâng hương, tế lễ các

vị thần được thờ ở đền Dưới bóng cây đa cổ thụ mấy trăm năm, người ta hát

ví, đấu vật, đấu cờ…

4.1.2 Tảo Địch - một cứ điểm của nghĩa quân Quận Hẻo

Về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (Quận Hẻo), sách Lịch triều

hiến chương loại chí của Phan huy Chú có chép: “Núi Độc Tôn, ở về huyện

Phổ Yên, thế núi hiểm trở, đứng cao chót vót Buổi đầu thời Cảnh Hưng nhà

Lê, Nguyễn Danh Phương nổi loạn giữ núi ấy làm sào huyệt Quân lương khí giới đều ở đồn Ngọc Bội, đồn Hương Canh là đồn giữa, đồn Úc Kỳ là đồn ngoài Các đồn lẻ lại nhiều gấp hai, chỗ nào cũng cày ruộng, chứa thóc làm lương thực để cố giữ…” [28, tr.39]

Ở vùng đất phía tây xã Tân Phú (Phổ Yên) hiện nay còn một vùng đồi gò thấp, nhấp nhô (chỗ cao nhất so với vạt ruộng xung quanh chỉ khoảng 7m đến 10m) Theo các cụ già ở địa phương truyền lại, nơi đây xưa kia là một vùng rừng rậm um tùm, dân cư thưa thớt, gần sông Cầu (cách khoảng 1km đường chim bay), có đường về kinh thành Thăng Long và cách đồn Úc Kỳ không xa lắm Do đó, Nguyễn Danh Phương đã chọn vùng đất này làm căn cứ phụ (đồn lẻ) của nghĩa quân Trong khu vực này, có nơi tích trữ thóc gạo cung cấp cho nghĩa quân, nên nhân dân gọi đó là “Cầu gạo”, còn những cánh rừng - nơi cất giấu vũ khí, lương thực cho nghĩa quân được nhân dân gọi là “Gò Mỏ”… Không ai biết cứ điểm này tồn tại bao lâu, nhưng những địa danh ấy vẫn không phai mờ trong trí nhớ của người dân Sau khi triều đình Lê - Trịnh dẹp tan các cuộc khởi nghĩa khác ở trong nước, chúa Minh vương Trịnh Doanh đã

Trang 32

điều động nhiều tướng giỏi, có kinh nghiệm tập trung quân đánh tan đồn Úc

Kỳ Các đồn khác cũng lần lượt bị phá vỡ… Quân triều đình đã kéo đến bao vây, tàn sát nghĩa quân và nhân dân, cướp hết vũ khí, lương thực đem đi Nhiều nhà cửa, làng mạc và cả những cánh rừng “Gò Mỏ”, Cầu Gạo”… đã bị đốt và tàn phá Tàn ác hơn, chúng đã bắt tất cả dân làng, không trừ một ai, kể

cả người già, con trẻ, đem ra hạ sát, vất xác xuống một cái giếng làng rồi lấp

đi Nhân dân quanh vùng sợ hãi và xót thương gọi đó là “Giếng Tang” Ngày

nay thửa ruộng Giếng Tang vẫn còn ở cạnh làng Sau khi quét sạch nghĩa quân và nhân dân chống đối triều đình tại đây, chính quyền Lê - Trịnh đã gọi

làng này là làng “Tảo Địch”

4.1.3 Đèo Nứa - Đèo Ông Cấn

Đây là một chứng tích lịch sử ghi lại dấu ấn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên trên đất Phổ Yên Đèo Nứa là một con đèo nhỏ nối liền các xã Phúc Thuận, Thành Công của huyện Phổ Yên với huyện Phúc Yên của tỉnh Vĩnh Phúc Đèo không cao lắm nhưng địa thế rất hiểm trở Nên nơi đây đã được Đội Cấn chọn làm căn cứ trong một trận chiến đấu với quân giặc Pháp Sát chân đèo có đỉnh núi Chóp Vung - vị trí thuận lợi cho việc quan sát hướng đi của địch Sau cuộc tổng công kích của thực dân Pháp vào tỉnh lỵ Thái Nguyên vào sáng ngày 4 - 9 - 1917, quân khởi nghĩa đã bị hi sinh rất nhiều Mặt trận

bị vỡ, nghĩa quân phải rút lui khỏi tỉnh lỵ dưới sự chỉ huy của người anh hùng Đội Cấn Trận chiến đấu tại đèo Nứa là một trong số hàng chục trận đánh của nghĩa quân tấn công quân giặc Pháp Tiếp nối truyền thống yêu nước của các thế hệ trước, người dân Phổ Yên đã tham gia, nhiệt tình giúp đỡ và ủng hộ nghĩa quân Họ đã cùng với quân sĩ đào nhiều công sự trên núi Chóp Vung và một số nơi hiểm yếu khác để mai phục chờ địch Kết quả trận đánh này, địch

bị tổn thất nặng nề Trận chiến đấu được ví như một đòn chí mạng đánh vào

Trang 33

quân xâm lược Pháp khiến chúng đã phải thừa nhận: “Đây là trận ác liệt nhất

trong chiến dịch” [28, tr.51]

4.1.4 Khu di tích lịch sử xã Tiên Phong

Khu di tích này bao gồm bốn địa điểm di tích gắn liền với những sự kiện lịch sử cách mạng thời kỳ 1933 - 1945 Năm 1943, nơi đây đã được Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ chọn xây dựng làm An toàn khu II (gọi tắt là

ATK II) Một trong những địa điểm lịch sử thuộc khu di tích này là Soi Quýt

- một bãi bồi bên tả ngạn sông Cầu, thuộc đất Tiên Thù (Phổ Yên) Đây là nơi đặt trạm liên lạc bí mật của Đảng Đối diện với Soi Quýt, phía bờ bên kia sông Cầu là Vân Xuyên thuộc xã Hoàng Vân (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) Bến đò Vân Xuyên và Soi Quýt đã chứng kiến một sự kiện không thể nào quên Đêm 20 rạng sáng ngày 21 - 12 - 1942, Tổng Bí thư Trường Chinh khi công tác ở Vân Xuyên, bị lộ, giặc Pháp và tay sai vây bắt, được hai cha con ông lão đánh cá dùng thuyền nan đưa vượt sông Cầu, sang ẩn nấp bên Soi Quýt Giữa đất Tiên Thù, ông Ngô Hải Long cùng các con ông là Ngô Hải Luân và Nguyễn Văn Tâm đã che giấu, bảo vệ đồng chí Tổng Bí thư an toàn

Ba địa điểm còn lại trong khu di tích lịch sử xã Tiên Phong là: Nhà ông Ngô

Hải Long - một trong những người tham gia cách mạng đầu tiên ở làng

Dương (Yên Trung, huyện Phổ Yên) Đây từng là nơi ở, nơi làm việc nhiều lần của Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Hoàng Quốc Việt và nhiều đồng

chí lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ; Nhà bà Hoàng Thị Úc - là nơi xứ ủy Bắc Kỳ đặt cơ sở in báo Cờ Giải Phóng (năm 1942); Nhà bà Lưu Thị Phận - ở làng

Cổ Pháp, là địa điểm bí mật đưa đón cán bộ, phát hành báo chí, tài liệu của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ

Qua những di tích lịch sử trên, Phổ Yên được chúng ta biết đến không chỉ là nơi diễn ra rất nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc mà còn là vùng đất

đã ghi nhận không ít công lao và sự đóng góp nhiệt tình của đồng bào địa

Trang 34

phương vào thắng lợi chung của các phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm của toàn dân tộc Họ đã tiếp nối và phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, dũng cảm, kiên cường mà các thế hệ đi trước để lại

4.2 Các địa danh văn hóa gắn liền với các lễ hội dân gian tiêu biểu

Bên cạnh những địa danh lịch sử nổi bật trên, Phổ Yên còn có nhiều địa

danh văn hóa Rất nhiều đình chùa miếu đã được xây dựng tại đây “Trong

đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, đình chùa miếu mạo là không gian văn hóa tâm linh linh thiêng” [21, tr.32] Có thể nói, đền chùa ở vùng

Phổ Yên có một vị trí đặc biệt quan trọng Đó là không gian sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân, là nơi để họ bảy tỏ niềm tôn kính đối với các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa trên mảnh đất quê hương mình

4.2.1 Đình Phúc Duyên

Theo các cụ già kể lại, đình Phúc Duyên được xây dựng vào đầu triều vua Gia Long (1802 - 1819), cách nay khoảng 200 năm Đình thờ Thành hoàng là Thánh Tam Giang (tức Trương Hống, Trương Hát) đã có công giúp

Triệu Quang Phục chống giặc Lương và về sau có công “âm phù”, Phò Mã

Đô úy Dương Tự Minh

Đình được dựng trên một khuôn viên thoáng mát, gồm 3 gian, 2 dĩ Hậu cung của đình khá rộng, có sàn cao để thờ, cửa võng bằng gỗ sơn son thiếp vàng, được chạm trổ hình rồng bay phượng múa rất tôn nghiêm Cửa hậu cung có ghi câu đối:

“Như nguyệt giang tâm linh khí tiết Bán thiên nhân mạnh địch sơn hà”

Có nghĩa là:

Như lòng sông Như nguyệt còn linh thiêng khí tiết Cũng như nửa trời kia còn nổi tiếng với núi sông

Trang 35

Tại đình còn giữ được hai bản sắc phong của vua Khải Định nhân dịp nhà vua tổ chức “Tứ tuần Đại Khánh” (1924), cho các làng trong xã Tiểu Lễ được thờ phụng các vị thành hoàng như đã kể trên Trong thời kì trước 1945, đình Phúc Duyên còn là địa điểm liên lạc bí mật của các cán bộ của Đảng và Mặt trận Việt Minh Trong thời kì kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mĩ, đình là nơi tổ chức các cuộc hội họp, bầu cử tuyển quân, làm nơi chứa vũ khí cho bộ đội…

Mỗi năm, đình Phúc Duyên tổ chức ba lần lễ hội

Lần thứ nhất là lễ khai xuân Lễ khai xuân được tổ chức vào các ngày mùng 5, 6 tháng Giêng hàng năm Dân làng dâng xôi, gà, cau, rượu tế Thành hoàng Bên cạnh hoạt động chính là tế lễ, tưởng nhớ công đức của các vị Thành hoàng làng, lễ hội còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian được nhân dân

ưa thích như đấu vật, chọi gà, đánh cờ… Sáng ngày mùng 6 tháng Giêng, dân làng cử người rước lễ vật (xôi, gà, oản, chuối…) xuống đền Giá tế Thánh Gióng (xã Đông Cao) Sau đó, xin chân nhang và những chiếc “dò” rước về, chia cho dân làm “lộc thánh”

Lần thứ hai là lễ cầu mùa (xuống đồng) được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Tư âm lịch hàng năm Dân làng dâng lễ vật như hoa quả, xôi gà… cúng Thành hoàng và Thần Nông để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân làng no ấm, cây cối tươi tốt…

Lần thứ ba là lễ hội chính diễn ra trong 3 ngày (từ mùng 9 đến 11 tháng mười âm lịch hàng năm) Người dân dâng các vật phẩm cúng lễ Thành hoàng

và lễ tạ Thần Nông sau một năm cày cấy Ngoài ra, họ còn được tham gia và thưởng thức nhiều hình thức văn nghệ dân gian và trò chơi dân gian, nếu được mùa thì tổ chức hát chèo, hát ca trù; bình thường thì chọi gà, hát ví, cờ tướng, đấu vật Riêng ngày 11 là ngày hội cuối, dân làng sẽ tổ chức rước sắc chuyển

Trang 36

giao cho làng khác Cứ ba năm, hòm sắc được luân chuyển qua ba làng (Phúc Duyên, Trà Thị, Đông Hạ) trong xã

Năm 2006, đình Phúc Duyên đã được xếp hạng “Di tích lịch sử văn hóa” của tỉnh Thái Nguyên

4.2.2 Đình làng Thanh Thù

Làng Thanh Thù thuộc tổng Tiểu lễ (nay là xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên) Từ lâu đời, đình Thanh Thù được nhân dân dựng ở giữa làng để phụng thờ Thành hoàng và các vị có công với nước như Cao Sơn, Quý Minh, Tiến sĩ Nguyễn Cấu Qua nhiều đời, ngôi đình bị đổ nát nên vào năm Cảnh Hưng thứ

41 (1780), nhân dân đã xây dựng lại đình tại vị một trí cao ráo thoáng mát hơn - ở phía đông bắc của làng Đình có 3 gian 2 trái, hai bên tả, hữu có nhà tảo mạc Phía trước sân có cổng lớn, cột trụ cao, uy nghi, trang trí với nhiều câu đối Trong đình, gian giữa thờ Cao Sơn Quý Minh, gian phải thờ Tiến sĩ Nguyễn Cấu, gian trái thờ Thổ địa Long Vương Đình còn giữ được sắc phong của vua Khải Định và khá nhiều nghi tượng: long đao, giáo, mác, cờ, quạt để rước thần khi lễ hội Dưới cửa đình có bãi cỏ rộng, đây là nơi để tổ chức vui chơi trong các ngày lễ hội Mỗi năm, lẽ hội đình làng Thanh Thù được tổ chức 3 lần

Lần thứ nhất là lễ khai xuân Lễ khai xuân được tổ chức vào các ngày mùng 5, 6 tháng Giêng Ngày mùng 5 “mở cửa đình”, dân làng mở hội cầu may, cầu mong cho mưa thuận gió hòa Đến sáng mùng 6, họ rước các lễ vật (xôi, gà, oản, chuối…) về đền Giá để làm lễ Phù Đổng Thiên Vương Sau khi

lễ xong, họ lại rước lễ vật và một bát hương thật to, có khói bay nghi ngút từ đền Giá về làm “lộc”, rồi đem chia cho dân làng “hưởng lộc” Tại sân đình, nhân dân được xem các tiết mục văn nghệ dân gian như hát chèo, hát tuồng và tham gia các trò chơi dân gian

Trang 37

Lần thứ hai là hội vào hè Hội được tổ chức vào các ngày mùng 9 và 10 tháng 4 âm lịch) Dân làng làm lễ cúng tế Thần Nông, cầu mong được mùa

Họ còn rước kiệu đi “giao lưu” với các làng khác (như đình Thanh Quang, đình Phúc Duyên…), tham gia các trò chơi (như đánh cờ, đấu vật, chọi gà) và

tổ chức hát dân ca…

Lần thứ ba là lễ hội chính Đây là lễ hội tổng kết vụ mùa cày cấy, được diễn ra vào hai ngày mùng 9 và 10 tháng 10 âm lịch Dân làng làm lễ cúng tế Thành Hoàng, Thần Nông và các vị có công với nước được thờ tại đình Năm nào được mùa lớn thì người dân tổ chức hội linh đình, có hát chèo, hát tuồng, rước kiệu; nếu mất mùa thì họ chỉ tế lễ bình thường, không tổ chức rước kiệu

và hát chèo, hát tuồng nữa

Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, việc tổ chức lễ hội đã bị giảm bớt đi nhiều, nghi thức rước kiệu cũng đã mai một Nhưng vào các ngày lễ trong năm của đình làng Thanh Thù, nhân dân vẫn giữ gìn và bảo về sự tôn nghiêm, lưu giữ những nét đẹp truyền thống của quê hương mình

5 Văn học dân gian vùng Phổ Yên

Nghiên cứu về văn hóa Thái Nguyên, G.S Trần Quốc Vượng đã từng

nhận xét: “Thái Nguyên có tảng nền địa - văn hóa dân tộc - dân gian từ rất

lâu đời và là một tiểu vùng văn hóa mở, có sự tiếp xúc - giao lưu - giao thoa văn hóa và tộc người từ nghìn xưa” [53, tr.30] Những đặc điểm này chính là

các nhân tố tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển của văn học dân

gian Thái Nguyên Bởi “Quá trình giao thoa văn hóa trong phạm vi một vùng

hay một bộ tộc hoặc giữa các dân tộc đan xen quần tụ đã tạo dựng tích hợp thành vốn văn học dân gian của một địa phương” [46, tr.731] Chỉnh thể văn

học dân gian nơi đây phong phú về nội dung phản ánh, đa dạng về hình thức nghệ thuật và chứa đựng bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Với đầy đủ các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ

Trang 38

tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, dân ca, phương ngôn, tục ngữ, có thể nói văn học dân gian Thái Nguyên là một di sản đa thể loại hợp thành Văn học dân gian vùng Phổ Yên là một bộ phận cấu thành nên chỉnh thể văn học ấy nên nó cũng mang đậm những tính chất đặc trưng trên Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về văn học dân gian vùng Phổ Yên đã giúp chúng tôi nhận thấy: Văn học dân gian vùng Phổ Yên đa dạng về mặt thể loại

Các tác phẩm tự sự dân gian ở vùng Phổ Yên nổi bật với các thể loại như truyền thuyết, truyện cười, vè Do có sự đan xen và giao lưu văn học dân gian giữa các cộng đồng dân cư trong tỉnh nên người dân Phổ Yên thường lưu

truyền một số tác phẩm trong “nguồn mạch chung” - văn học dân gian Thái

Nguyên Truyện cổ tích Sự tích chim bắt cô trói cột, Sự tích chiếc nón, Sự

tích Thác Đao…; Truyện cười Sang cửa này mà ở, Lạy khoai, Mua dâu chăn tằm, Đâu là vợ cả ; Bài “Vè Đội Cấn”, “Vè anh Thắng” là các tác

phẩm tự sự dân gian được lưu hành tại vùng này Tuy nhiên, trong quá trình điền dã và tổng hợp tư liệu, chúng tôi nhận thấy rằng truyền thuyết là thể loại tiêu biểu nhất trong loại hình tự sự của văn học dân gian vùng Phổ Yên

Những truyền thuyết nổi bật như: Truyền thuyết về Cao Sơn, Quý Minh;

Truyền thuyết về bà Đỗ Thị Mỹ Mai, Sự tích “Cơm hòm”… là các tác

phẩm tự sự dân gian thể hiện rõ nhất những giá trị truyền thống, lịch sử của mảnh đất và con người nơi đây

Đến với loại hình trung gian (hay còn gọi là “lời ăn tiếng nói của nhân dân”) bao gồm hai thể loại tục ngữ và câu đố Những thể loại này gần với tiếng nói hàng ngày của người dân về cả chức năng lẫn cấu tạo ngôn ngữ nghệ thuật Khảo sát văn học dân gian ở vùng Phổ Yên - Thái Nguyên, bên cạnh thể loại tiêu biểu như truyền thuyết, ca dao, chúng tôi nhận thấy người dân nơi đây còn sử dụng rất nhiều câu tục ngữ Tục ngữ là tài sản chung của nhân dân lao động, tiêu biểu cho ngôn ngữ dân tộc Những câu tục ngữ được sử dụng ở

Trang 39

vùng Phổ Yên đều thuộc kho tàng chung của dân tộc Nên trong quá trình nghiên cứu thể loại này, chúng tôi luôn nhấn mạnh tới thuộc tính “lưu hành” Với số lượng sưu tầm được khoảng 60 câu, những câu tục ngữ lưu hành phổ biến ở vùng đất này chủ yếu có nội dung gắn với đời sống lao động sản xuất (kinh nghiệm sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và truyền thống

tư tưởng đạo đức của nhân dân ta

Thể loại bao trùm loại hình trữ tình dân gian là ca dao Ca dao gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần, đặc biệt là đời sống sinh hoạt dân ca của nhân dân địa phương Việc sử dụng những vần thơ trữ tình dân gian này cùng với các làn điệu dân ca tiêu biểu như Hát ví, Hò gọi bạn, Hát trống quân đã giúp

họ bày tỏ tâm tư tình cảm của mình một cách sâu sắc và tinh tế Bên cạnh một

số câu ca dao của vùng Phổ Yên, phần lớn những câu ca dao mà người dân nơi đây sử dụng phổ biến đều thuộc kho tàng chung - kho tàng ca dao Việt Nam Chính vì vậy, khi nghiên cứu ca dao với tư cách là một thể loại trong chỉnh thể văn học dân gian vùng Phổ Yên, chúng tôi luôn nhấn mạnh tới

sự nảy sinh và lưu truyền các tác phẩm văn học dân gian đó, chúng ta sẽ thấy

rõ được nguyên nhân tại sao lại có sự xuất hiện nhiều hoặc ít tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau như vậy Những thể loại nào mang tính địa phương cao, gắn liền với những sự kiện và nhân vật tiêu biểu của vùng sẽ “bám chặt”

Trang 40

vào mảnh đất và con người nơi đây, sẽ được lưu giữ, truyền tụng qua các thế

hệ

Thể loại truyền thuyết là một minh chứng tiêu biểu Như chúng ta đã biết, Thái Nguyên nói chung và Phổ Yên nói riêng có vị chiến lược quan yếu,

“án ngữ con đường không xa từ phía bắc xuống nam mà còn là cánh cửa

trung tâm lớn nhất mở ra để đi lên miền Việt Bắc bao la” [53, tr.37] Chính

bởi vị trí là “phên giậu” phía Bắc của kinh thành Thăng Long mà mảnh đất nơi đây, trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước cùng dân tộc - đã phải chịu nhiều binh hỏa Người dân nơi đây đã tham gia và ủng hộ hết sức mình cho các phong trào đấu tranh chống giặc, bảo vệ bờ cõi đất nước Nên sự xuất hiện và lưu truyền nhiều tác phẩm truyền thuyết, đặc biệt

là truyền thuyết về các nhân vật người anh hùng là một điều dễ hiểu Khác với truyền thuyết - một thể loại vừa có tính địa phương vừa có tính phổ quát, thể loại thần thoại lại chỉ mang tính phổ quát Phải chăng, yếu tố môi trường văn hóa xã hội có sự biến động và vận động liên tục, độ ổn định không cao như vùng Phổ Yên, - là một trong những nguyên nhân lý giải tại sao thể loại thần thoại với đặc trưng như đã nói ở trên không được lưu truyền nhiều tại mảnh đất này

Tuy có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán hàng hóa, nhưng điều kiện tự nhiên, khí hậu… lại gây khó khăn rất lớn cho người dân cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Với bàn tay lao động cần cù và cực nhọc, họ mới biến Phổ Yên từ một vùng trung du - với đất bạc màu, kém độ phì nhiêu thành một miền đồng bằng nhỏ Thêm nữa, hàng nghìn năm của chế

độ phong kiến rồi thực dân nửa phong kiến đã đè nặng lên đầu người nông dân Phổ Yên Có thể nói, mảnh đất Phổ Yên xưa thật nghèo nàn và lạc hậu Cái tên mỉa mai xưa “dân con củ” đã đeo đuổi theo người dân Phổ Yên cơ cực hàng trăm năm Dường như, đời sống nghèo nàn cơ cực chính là một nguyên

Ngày đăng: 17/09/2014, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chí Bền (2000), “Tổng quan về lễ hội cổ truyền Việt Nam”, Văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về lễ hội cổ truyền Việt Nam”, "Văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
2. Nguyễn Chí Bền (2000), “Tín ngƣỡng và mê tín trong lễ hội cổ truyền”, Văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngƣỡng và mê tín trong lễ hội cổ truyền”, "Văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
5. Chi hội Văn học - Nghệ thuật Phổ Yên (2008), Phổ Yên hội nhập và phát triển, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ Yên hội nhập và phát triển
Tác giả: Chi hội Văn học - Nghệ thuật Phổ Yên
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2008
6. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1992
7. Chu Xuân Diên (1999), “Phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân gian”, Văn học dân gian những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân gian”, "Văn học dân gian những công trình nghiên cứu
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian mấy vấn đề nghiên cứu phương pháp và nghiên cứu thể loại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian mấy vấn đề nghiên cứu phương pháp và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
9. Chu Xuân Diên (1993), Tục ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
10. Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề về văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa và văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
11. Cao Huy Đỉnh (1968), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1968
12. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1999), “Tìm hiểu nguồn gốc biểu tƣợng trong ca dao Việt Nam”, Kỷ yếu khoa học khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sƣ phạm HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc biểu tƣợng trong ca dao Việt Nam”, "Kỷ yếu khoa học khoa Ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 1999
13. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2003), Ca dao, dân ca. Đẹp và hay, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao, dân ca. Đẹp và hay
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
14. Lã Duy Lan (1997), Truyền thuyết Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Lã Duy Lan
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997
15. Đặng Văn Lung (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Kiều Thu Hoạch (2006), Văn học dân gian người Việt - Góc nhìn thể loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian người Việt - Góc nhìn thể loại
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
17. Kiều Thu Hoạch (2009), Truyền thuyết dân gian người Việt, Nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết dân gian người Việt
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2009
18. Kiều Thu Hoạch (2004), Tinh tuyển văn học việt nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học việt nam
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
19. Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (2000), Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian
Tác giả: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
21. Hồ Thị Mai Hương (2009), Khảo sát truyền thuyết về Lưu Nhân Chú ở vùng Đại Từ Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát truyền thuyết về Lưu Nhân Chú ở vùng Đại Từ Thái Nguyên
Tác giả: Hồ Thị Mai Hương
Năm: 2009
22. Đinh Gia Khánh (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
23. Đinh Gia Khánh (1983), Ca dao Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w