1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam

105 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Về Chế Độ Bảo Hiểm Xã Hội Hưu Trí Tại Việt Nam
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Cao Thường, Chú Nguyễn Hùng Cường
Trường học bhxh việt nam
Thể loại đề tài
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam

Trang 1

1

LỜI NÓI ĐẦU

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của mỗi Quốc gia, mang trong nó

bản chất nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mọi người lao động

Chính sách bảo hiểm xã hội thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh

tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi Quốc gia Việc tổ chức và thực hiện tốt

chính sách bảo hiểm xã hội ( BHXH ) sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng

sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trong hệ thống BHXH, chế độ hưu trí đóng một vai trò rất quan trọng Đây

là chế độ bảo hiểm dài hạn, bảo hiểm tuổi già cho người tham gia Nó chiếm phần

quan trọng nhất cả về qui mô thực hiện, nội dung chuyên môn và nhu cầu tham gia

của người lao động trong xã hội ở hầu hết các Quốc gia trên thế giới đều coi trọng

chế độ này và coi đó là một trong lĩnh vực có ảnh hưởng tác động nhiều mặt đến

đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Chính vì thế, nó luôn được quan tâm để làm

sao cho việc tổ chức, quản lý, thực hiện có hiệu quả nhất

ở Việt Nam, qua 40 năm thực hiện, chế độ hưu trí luôn có vị trí quan trọng

đặc biệt đối với người tham gia BHXH Chế độ hưu cùng với các chế độ BHXH

khác đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của công nhân viên chức, lực

lượng vũ trang (CNVC, LLVT) và gia đình họ làm cho họ yên tâm lao động sản

xuât, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nước trong thời kỳ vừa qua

Nhờ có chế độ hưu trí mà người lao động sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số

năm công tác nhất định đã được nghỉ hưu và được nhận tiền hưu để ổn định cuộc

sống Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chế độ hưu trí thời kỳ bao cấp chưa thể hiện

đúng bản chất của mình mà thể hiện tính ưu đãi bao cấp của Nhà nước cho một bộ

phận dân cư là CNVC, LLVT Nhưng trong thời kỳ đó chế độ hưu trí cũng đã góp

phần rất lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động Đến nay, khi nền kinh

Trang 2

2

tế chuyển sang cơ chế thị trường nhu cầu về BHXH đa dạng ngày càng tăng, số

lượng người về hưu cũng ngày càng tăng thì đời sống của họ luôn luôn là mối quan

tâm lơn của Đảng và nhà nước ta Do đó đặt ra yêu cầu là thực hiện BHXH đối với

người về hưu như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhât, đồng thời phù hợp với

hoàn cảnh đất nước trong thời kỳ đổi mới Để đáp ứng được yêu cầu này thì việc

xây dựng và hoàn thiện chế độ hưu trí cho phù hợp với cơ chế quản lý mới là hết

sức cần thiết

Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, cùng với

quá trình thực tập tốt nghiệp tại BHXH Việt Nam, được sự đính hướng và hướng

dân nhiệt tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Cao Thường , chú Nguyễn Hùng

Cường_phó phòng tổng hợp thuộc Ban quản lý chế độ chính sách của BHXH Việt

Nam, em chọn đề tài : “ Thực trạng và giải pháp về chế độ bảo hiểm xã hội hưu

trí tại Việt Nam

Mục tiêu chủ yếu của đề tài nhằm :

Làm rõ nội dung của chế độ bảo hiểm hưu trí cũng như vai trò và tác dụng

của nó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

Tìm hiểu thực trạng của chế độ bảo hiểm hưu trí trong từng giai đoạn phát

triển vừa qua ở nước ta

Đưa ra kiến nghị và định hướng cho việc hoàn thiện và phát triển chế độ bảo

hiểm hưu trí ở Việt Nam

Để làm rõ và giải quyết được những vấn đề nêu trên, đề tài được thể hiện cụ

thể trong ba chương

 Chương I : Lý luận chung về chế độ bảo hiểm hưu trí

 Chương II : Thực trạng chế độ bảo hiểm hưu trí tại BHXH Việt Nam

 Chương III : Một sô kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ hưu trí ở nước

ta

Trang 3

3

Chương I : Lý luận chung về chế độ bảo hiểm hưu trí

I - Sự tất yếu khách quan hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí

1 Sự phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới

“ BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với

người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao

động , mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung

nhằm dảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ , góp phần đảm bảo

an toàn xã hội

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là sự phát triển của lực lượng sản

xuất trên thế giới, BHXH ngày càng trở thành nhu cầu thường xuyên, tự nguyện và

chính đáng của người lao động Ngay từ thế kỷ XVI những người nông dân ở vùng

Anper đã nhận thấy để trợ cấp cho trường hợp một số người bị ốm đau hay tai nạn

Họ đã thành lập hội tương hỗ với cách thức mỗi người đều trích ra một phần thu

nhập để đóng góp chung vào một quỹ, phòng khi có ai bị đau ốm hay tai nạn thì

dùng quỹ đó để giúp đỡ Hình thức sơ khai này được BHXH phát triển dần nên,

Trang 4

4

phạm vi được mở rộng ra để có thêm nhiều người tham gia, mở thêm các loại trợ

cấp bổ sung

Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi được

hưởng với nghĩa vụ đóng góp Tuy vậy BHXH chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực

hoạt động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ 19 Quá trình đó

gắn liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trường và thị

trường sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động được trở nên

phổ biến

Một bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm trong lịch sử được hình thành ở nước

Anh vào năm 1819 Bộ luật này có tên là bộ luật nhà máy Nội dung cơ bản trong

luật này là bảo hiểm cho lao động trong các xưởng thợ ở một nước công nghiệp

khác, nước Đức đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, luật tai nạn lao

động năm 1884 và luật bảo hiểm người già và người tàn tật do lao động vào năm

1889 Sự ra đời các bộ luật chính thức đầu tiên đó phản ánh một yêu cầu tất yếu

khách quan của BHXH

Sang thế kỷ 20, hầu hết các nước trên thế giới mà trước hết là các nước

công nghiệp phát triển ở một trình độ cao đều ban hành và thực hiện điều

luật về BHXH đối với người lao động Với sự phát triển như vậy, BHXH đã

trở thành một lĩnh vực mang tính quốc tế rộng lớn Hiện nay có hơn 160

quốc gio trên thế giới thực hiện BHXH

2 Cơ sở hình thành chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ BHXH :

Để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển, con người phải lao động để

tạo ra của cải vật chất Nhưng cùng với thời gian, con người sẽ bị già đi, sức

Trang 5

5

khoẻ của họ bị giảm sút không còn khả năng lao động, không còn khả năng

tự đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống.Lúc đó khoản thu nhập mà họ có thể

sinh sống hoặc là do tích góp trong quá trình lao động hoặc do con cháu

nuôi dưỡng Những nguồn thu nhập này không thường xuyền và phụ

thuộc vào điều kiện của từng người Để đảm bảo lợi ích cho người lao động

khi họ hết tuổi lao động và giúp họ có nguồn thu nhập thường xuyên, ổn

định, nhà nước đã thực hiện chế độ BHXH hưu trí

V ậy bảo hiểm hưu trí là hình thức bảo đảm thu nhập cho người lao động khi

h ết tuổi lao động Người lao động tạo ra thu nhập để nuôi sống chính họ

trong quá trình lao động Quá trình này diễn ra ngay trong các nhà máy, xí

nghiệp, đơn vị kinh tế, hành chính sư nghiệp trong lĩnh vực quốc doanh và

ngoài quốc doanh Trong quá trình đó, họ cống hiến sức lao động để xây

dựng đất nước bằng cách tạo ra thu nhập cho xã hội và cho cả chính họ

nữa Do đó đến khi họ không còn khả năng lao động nữa thì họ phải được

sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp hưu

trí hàng tháng phù hợp với số phí BHXH mà họ đã đóng góp trong suốt

quá trình lao động Nguồn trợ cấp này tuy ít hơn so với lúc đang làm việc

nhưng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho người về hưu ổn định về mặt

vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ có thêm điều kiện

để cống hiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao

động sản xuất mà họ đã tích luỹ được nhằm xây dựng đất nước ngày càng

phồn vinh hơn

Bảo hiểm hưu trí bảo đảm quyền lợi cho người lao động giúp họ tự bảo

vệ mình khi hết tuổi lao động, tự lo cho chính mình một cách hợp lý nhất

nhờ vào việc họ đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật

chất cho xã hội trước đó Người lao động chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền

Trang 6

6

lương tương đối nhỏ khi còn đang làm việc trong một thời gian nhất định

Đến khi hết tuổi lao động phải nghỉ việc họ sẽ có được sự bảo đảm của xã

hội làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tài chính do thu nhập thấp vì

không còn lao động được nữa

Như vậy bảo hiểm hưu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao được

thực hiện một cách thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế

hệ khác Nói cách khác, chế độ bảo hiểm hưu trí lấy đóng góp của thế hệ

sau chi trả cho các thế hệ trước Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết

giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với

nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người với người trong xã hội

3 Vai trò của chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ BHXH

Trong một hệ thống BHXH thường bao gồm nhiều chế độ khác nhau

Số lượng các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào

trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời

kỳ của mỗi nước Tuy nhiên, trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có

những chế độ chính thể hiện đặc trưng những mục tiêu chủ yếu của hệ

thống bảo hiểm xã hội Một trong những chế độ đó là chế độ hưu trí hay

chế độ bảo hiểm tuổi già cho người lao động

Có thể khẳng định rằng chế độ hưu trí là một trong những chế độ bảo

hiểm được thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội

Theo quy định của ILO thì chế độ này là một trong những chế độ bắt buộc,

là chế độ chính sách khi mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ

thống bảo hiểm xã hội Theo thống kê của ILO, trong tổng số 163 nước trên

thế giới có hệ thống BHXH (1993) thì có tới 155 nước có thực hiện chế độ

Trang 7

7

hưu trí chiếm tỷ lệ 95,1% Điều đó chứng tỏ chế độ hưu trí rất được các

nước cũng như người lao động quan tâm

Trên thực tế, tất cả những người tham gia vào BHXH đều có mong

muốn tham gia vào chế độ hưu trí Trong phần đóng góp phí BHXH nói

chung thì phần chủ yếu là đóng cho chế độ này Đối với hệ thống BHXH thì

hoạt động của ngành này tập trung chủ yếu vào chế độ hưu trí cho người

lao động Điều này được thể hiện cụ thể trong các hoạt động nghiệp vụ của

bảo hiểm xã hội Chẳng hạn ở Việt Nam, chế độ hưu trí có vị trí đặc biệt

quan trọng với người tham gia bảo hiểm xã hội Chế độ này được quy định

và đưa vào thực hiện ngay từ khi hệ thống BHXH mới được thành lập (

1947) Theo các quy định hiện hành thì tỷ lệ giành cho bảo hiểm hưu trí và

các chế độ khác có liên quan tới người về hưu là 75% ( phí bảo hiểm là

20% tổng quỹ tiền lương thì giành tới 15% đóng cho hưu trí ) Do đó thu

cho chế độ hưu trí cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu của bảo

hiểm xã hội, khoảng từ 60-80% Tương tự như vậy trong tổng chi của

BHXH thì việc chi cho chế độ này cũng rất lớn Trong những năm gần đây

tiền chi cho chế độ hưu trí chiếm khoảng trên 70% tổng chi cho BHXH

Như vậy, hoạt động thu chi của chế độ hưu trí có ảnh hưởng sống còn tới

toàn bộ hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định

của BHXH nói riêng cũng như cả xã hội nói chung

Một vấn đề nữa đặt ra là xu hướng già hoá của dân số thế giới dẫn đến

số lượng người nghỉ hưu ngày càng tăng Điều đó cho thấy rõ vai trò ngày

càng quan trọng của chế độ hưu trí trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi

quốc gia Hơn nữa, chế độ bảo hiểm hưu trí còn thể hiện được sự quan tâm

chăm sóc của Nhà nước, người sử dụng lao động đối với người lao động, và

Trang 8

8

nó còn thể hiện đạo lý của dân tộc đồng thời còn phản ánh trình độ văn

minh của một chế độ xã hội

4 Tác dụng và đặc trưng của bảo hiểm hưu trí :

4.1 Tác dụng của bảo hiểm hưu trí :

bảo hiểm hưu trí giúp đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ về

hưu do đó giúp cho xã hội ổn định và gắn bó Ngày nay, tỷ lệ người già

trong dân số càng tăng do đó ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan

trọng Mặt khác, khi nghỉ hưu người lao động được sống thoải mái hơn và

an nhàn hơn Đối với người có trình độ có khả năng họ lại tiếp tục cống

hiến, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau

Người lao động trong quá trình lao động họ có được sự bảo đảm chắc

chắn về phần thu nhập khi họ nghỉ hưu, làm cho họ yên tâm chú ý, không

lo nghĩ về điều kiện sống khi nghỉ hưu do đó có thể làm việc với năng suất

và chất lượng cao hơn

Giúp người lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình

lao động để bảo đảm đời sống khi nghỉ hưu, giảm bớt phần nào gánh nặng

cho người thân, gia đình và xã hội

4.2 Đặc trưng của chế độ bảo hiểm hưu trí :

bảo hiểm hưu trí là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài qúa trình lao

động Đặc trưng này thể hiện cả trong quá trình đóng và hưởng bảo hiểm

hưu trí Người lao động tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá

dài Thời gian đó liên tục đủ lớn theo quy định thì sẽ đủ một trong những

điều kiện để được hưởng bảo hiểm hưu trí Khi đã đủ các điều kiện thì

người lao động sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí trong khoảng thời gian tính

Trang 9

9

từ lúc về hưu cho đến khi người lao động chết Quá trình hưởng này dài

ngắn bao nhiêu tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng người và những người

hưởng bảo hiểm hưu trí là những người đã kết thúc quá trình làm việc của

mình mà theo quy định được nghỉ ở nhà và hưởng lương hưu

Trong chế độ hưu trí có sự tách biệt giữa đóng và hưởng Vì đây là một

chế độ nằm ngoài quá trình lao động, cho nên để được hưởng chế độ hưu

trí khi về hưu thì người lao động phải tham gia đóng phí ngày trong quá

trình lao động Trong suốt quá trình lao động, số tiền người lao động đóng

góp vào quỹ bảo hiểm hưu trí dùng để chi trả lương hưu ( trợ cấp tuổi già )

cho thế hệ trước Như vậy có sự kế thừa giữa các thế hệ lao động trong việc

hình thành quỹ bảo hiểm hưu trí, qua đó thể hiện nguyên tắc lấy số đông

bù số ít của bảo hiểm

Phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ sử dụng lao động Người lao động và

người sử dụng lao động có mối quan hệ với nhau Người sử dụng lao động

muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc đầu tư cho

thiết bị máy móc hiện đại ,còn phải chăm lo tới đời sống người lao động mà

mình đang sử dụng, tạo cho họ việc làm, đảm bảo cuộc sống cho họ khi hết

tuổi lao động bằng việc đóng BHXH cho người lao động Từ những tác

dụng và đặc trưng trên, quỹ bảo hiểm hưu trí chiếm tỷ trọng tương đối lớn

trong quỹ bảo hiểm hưu trí Do đó bộ phận quản lý quỹ có thể sử dụng

phần quỹ bảo hiểm hưu trí nhàn rỗi để đầu tư sinh lời nhằm ổn định, bảo

đảm cân bằng và tăng trưởng quỹ Từ đó góp phần thúc đẩy đầu tư tăng

trưởng vào nền kinh tế quốc dân, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động,

góp phần hạn chế nạn thất nghiệp hiện nay

II Nội dung cơ bản của chế độ hưu trí

Trang 10

10

Hưu trí là một chế độ nhằm bảo đảm thực hiện quyền lợi hợp pháp của

công dân sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội Chế độ

này nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động khi họ đã hết tuổi

lao động( không còn khả năng lao động ) về nghỉ hưu an dưỡng lúc tuổi già

Như vậy, chế độ hưu trí là một chế độ có liên quan đến rất nhiều mặt trong

quá trình tổ chức thực hiện Do vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá

trình nghiên cứu để đi đến xác lập một chế độ bảo hiểm hưu trí Sau đây là

một số nội dung cơ bản:

1 Điều kiện để hưởng bảo hiểm hưu trí

Độ tuổi hưởng chế độ BHXH dài hạn nói chung và chế độ hưu trí nói

riên đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí của hệ thống

chế độ Tuổi hưởng chế độ hưu trí có thể được ấn định theo một loạt các

cân nhắc như:

- Khả năng làm việc tổng thể của người cao tuổi

- Vị thế của người cao tuổi trong thị trường lao động

- Khả năng kinh tế của chế độ hưu trí

Điều quan trọng là phải cân đối từ giác độ mức hưởng thoả mãn đóng và

chi phí liên quan đến tuổi thọ bình quân của người cao tuổi Mặc khác, khi

quy định tuổi về hưu còn phải dựa vào quy luật sinh -lão - tử và điều kiện

kinh tế xã hội của mỗi nước

Ngoài ra, tuổi nghỉ hưu còn được quy định hạ thấp so với độ tuổi bình

quân đối với những người làm những công việc trong điều kiện lao động và

môi trường nặng nhọc, nguy hiểm đã có ảnh hưởng nhất định làm suy giảm

một phần khả năng lao động so với bình thường hay những người có thể

chất yếu không đủ sức đảm đương công việc

Trang 11

11

2 Thời gian đóng bảo hiểm để được hưởng chế độ hưu trí

Thời gian đóng bảo hiểm hưu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí

bảo hiểm để được hưởng chế độ này Việc quy định thời gian đóng phí

BHXH nhằm xác định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi người với xã

hội nói chung và phần đóng góp và BHXH nói riêng Thời gian đóng

BHXH là một trong những căn cứ để đãi ngộ ( chi trả ) đối với người lao

động như theo luật định nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa

những người tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện một trong những nguyên

tắc cơ bản của BHXH

Việc xác định thời gian đóng phí BHXH được dựa trên căn cứ: độ tuổi

về hưu, tỷ lệ đóng góp , tuổi thọ của những người về hưu, mức được

hưởng tóm lại tuỳ thuộc vào khả năng tài chính về chế độ hưu trí nói

riêng và BHXH nói chung Về nguyên tắc nếu xuất phát từ việc đóng

BHXH để hình thành quỹ sử dụng cho chế độ hưu trí thì phải tính đến tổng

số thời gian đóng phí BHXH thực tế Còn trong trường hợp người lao động

làm việc trong những trường hợp đặc biệt như người lao động làm việc ở

nơi độc hại, vùng sâu, vùng xa được pháp luật BHXH quy định số thời

gian này được làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hưu

Trong các chế độ BHXH bắt buộc, đối với chế độ hưu trí hầu hết các

nước đều quy định điều kiện để được hưởng chế độ phụ thuộc hai yếu tố đó

là độ tuổi xác định và số năm đóng BHXH

3 Phí bảo hiểm hưu trí

Cũng như tất cả các chế độ bảo hiểm khác, chế độ hưu trí liên quan đến

mức phí thu cho chế độ này Trong thực tế có mức thu cho chế độ này

Trang 12

12

được xác định riêng theo một tỷ lệ nào đó so với thu nhập hay tiền lương

dùng để tính BHXH và bảo hiểm hưu trí Đối với người lao động làm công

ăn lương thì thu nhập này thường là tiền lương Trong một số trường hợp

mức thu cho chế độ hưu trí không xác định riêng mà được gộp chung vào

một mức thu gọi là thu BHXH nói chung ở Việt Nam hiện nay thực hiện

thu chung một mức phí BHXH cho tất cả các chế độ BHXH đang được

thực hiện mặc dù trong đó có định lượng phần giành cho các chế độ bảo

hiểm dài hạn bảo hiểm hưu trí

Trong trường hợp như vậy phí hưu trí được xác lập riêng thì phí được

xác định theo công thức sau đây:

P = T * TBH * L

Trong đó : P : Mức phí đóng cho chế độ hưu trí

TBH : Tỷ lệ thu BHXH tính theo thu nhập hay tiền lương

L : Tiền lương hay thu nhập dùng để tính phí BHXH và chế

độ hưu trí

T : Tỷ lệ % đóng BHXH hưu trí nói chung

Việc xác định phí nộp cho chế độ hưu trí riêng ra hay gộp chung như nói

ở trên tuỳ thuộc điều kiện và mô hình hay phương thức tổ chức hoạt động

ở từng nước Nếu phí cho chế độ hưu trí được xác định riêng thì sẽ tạo

thuận lợi cho việc tính toán và quản lý cho chế độ này, nhất là khi nó được

mở rộng ra những khu vực khác nhau mà người lao động ở đó có hình thức

thu nhập không đồng nhất như thu nhập bằng tiền Tách riêng như vậy

cũng tạo ra sự linh hoạt hơn cho người tham gia chế độ này

Tuy nhiên, nếu tách riêng như vậy cũng có nghĩa là các chế độ khác

cũng được tách riêng ra điều này làm cho hoạt động quản lý BHXH nói

chung phải phức tạp hơn Còn trong trường hợp không xác định riêng mức

Trang 13

13

thu phí cho từng chế độ thì có thể công việc quản lý ít phức tạp hơn nhưng

lại phức tạp khi phải xác định phí đóng cho bảo hiểm khi áp dụng cho

người lao động có các hình thức thu nhập khác nhau

4 Mức hưởng hay tiền lương hưu

Mức hưởng là số tiền mà một người về hưu nhận được hàng tháng kể từ

khi nghỉ hưu Hiện nay đang có những quan điểm khác nhau về mức

hưởng Về cơ bản có hai quan điểmm chính Quan điểm thứ nhất cho rằng

tiền lương hưu là để bảo đảm mức sống tối thiểu của người nghỉ hưu theo

tiêu chuẩn sống của quốc gia Còn theo quan điểm thứ hai thì lại là tiền

lương hưu phải có giá trị bảo đảm cho người về hưu có mức sống cao, thậm

chí trên mức trung bình của xã hội Sự khác nhau này tất nhiên sẽ dẫn đến

mức đóng tương ứng trước khi được hưởng cũng khác nhau

Trong thực tế, khuynh hướng nào cũng có lý khi giải thích những nếu

xét về mức sống của người về hưu và đặt trong quan hệ với sự phát triển và

ý nghĩa về sự hấp dẫn của BHXH đối với người lao động thì khuynh hướng

thứ hai có sức thuyết phục hơn Những dù là mức hưởng được xác định

theo quan điểm nào thì vẫn phải đảm bảo yêu cầu có tính nguyên tắc là tiền

lương hưu phải thấp hơn tiền lương khi làm việc

Tiền lương được tính theo công thức sau: LH = T * L

Trong đó: LH : Tiền lương hưu được hưởng

T : Tỷ lệ % dùng để tính lương hưu

L : Tiền lương hay thu nhập dùng để tính lương hưu

Ngoài ra, tuỳ theo luật pháp của từng nước về chế độ này mà người nghỉ

hưu được hưởng thêm các quyền lợi như trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, hay

Trang 14

14

đối với những người lao động nghỉ việc chưa đủ tuổi để hưởng chế độ hưu

hàng tháng cũng nhận được trợ cấp một lần và ngoài lương hưu hàng

tháng, người nghỉ hưu còn được bảo hiểm y tế do quỹ BHXH đài thọ , khi

chết gia đình được hưởng chế độ tử tuất

5 Thời gian hưởng chế độ hưu trí

Thời gian hưởng chế độ hưu trí được hiểu là thời gian kể từ khi nghỉ

hưu cho đến khi qua đời Với mỗi người thì thời gian hưởng lương hưu

thông thường là có khác nhau vì tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ không giống

nhau Và do một trong những vấn đề có tính xã hội, tính bù trừ trong

BHXH nên trong quản lý thường lấy số bình quân chung thời gian hưởng

tiền lương hưu của người nghỉ hưu trong cùng một hệ thống BHXH để tính

toán cho các chỉ tiêu khác

Thời gian hưởng tiền hưu phải ngắn hơn thời gian đóng BHXH cho chế

độ hưu trí Tuy vậy, thời gian nghỉ hưu để hưởng tiền lương hưu có thể

khác nhau trong khi thực hiện chế độ bảo hiểm này.Điều đó phụ thuộc vào

các yếu tố như tuổi đời khi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật, tuổi thọ

bình quân của người nghỉ hưu Những yếu tố này lại phụ thuộc vào chính

sách lao động và BHXH trong từng giai đoạn, vào mức sống và điều kiện

sống của dân cư

Trong thực tế, tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật thường ổn

định trong một thời gian dài và nếu có thay đổi thì cũng ở trong khoảng từ

55 đến 60 tuổi đối với người lao động bình thường trong xã hội Trong

trường hợp đặc biệt có thể có những điều chỉnh nhưng cũng dựa trên

những độ tuổi đó Khi tuổi thọ bình quân ngày càng tăng lên thì thời gian

hưởng chế độ hưu trí cũng có xu hướng tăng lên Vấn đề có tính quy luật

Trang 15

15

này buộc các nhà nghiên cứu các chế độ chính sách về lao động và BHXH

phải tính đến để điều chỉnh tuổi về hưu cho phù hợp

6 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động của chế độ hưu trí

BHXH nói chung cũng như chế độ hưu trí nói riêng là những phạm trù

kinh tế tổng hợp, phản ánh rất nhiều mặt trong đời sống xã hội Do vậy,

việc hình thanh hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là hoàn toàn không

đơn giản vì khó có thể có được một hệ thống chỉ tiêu phản ánh đầy đủ tất

cả các khía cạnh của lĩnh vực này

Tuy nhiên việc xây dựng các chỉ tiêu này thực sự cần thiết và đó là cơ sở

cho việc đánh giá trình độ phát triển và kết quả của BHXH trong đời sống

xã hội Thông thường việc đánh giá kết quả hay hiệu quả của mỗi hoạt

động nào đó chúng ta phải so sánh với định hướng, mục tiêu đề ra Tính

hiệu quả do vậy phản ánh trong mức độ đạt được so với các mục tiêu đặt ra

đó

Trong BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng , mục tiêu cao nhất

là đạt được sự phát triển của ngành BHXH và bảo đảm đời sống người về

hưi trên cơ sở của tiền lương hưu trí ( còn gọi là thu nhập thay thế ) mà

người lao động nhận được từ quỹ bảo hiểm xã hội Góp phần bảo đảm an

sinh và ổn định xã hội Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng phải xoay

quanh mục tiêu này Trong chế độ hưu trí, do tính phức tạp của chế độ này

mà hệ thống các chỉ tiêu phải bao gồmất cả các chỉ tiêu định tính và các chỉ

tiêu định lượng

Theo quan điểm về hiệu quả như trên ta thấy có thể có ba nhóm chỉ tiêu

hiệu quả của hoạt động BHXH đó là :

Nhóm 1: Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hưu trí

Trang 16

16

Nhóm 2 : Các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển của bảo hiểm hưu trí

Nhóm 3 : Các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế xã hội của người về hưu

Sau đây là sự xác định cụ thể trong từng nhóm chỉ tiêu

6.1 Các ch ỉ tiêu hiệu quả trong hoạt động của bảo hiểm hưu trí

BHXH tập trung vào ba hoạt động chính đó là thu BHXH, quản lý quỹ

BHXH và chi trả BHXH Trong mỗi hoạt động đó có các chỉ tiêu cụ thể để

đánh giá mức độ hiệu quả cụ thể:

 Thu bảo hiểm hưu trí

Thu bảo hiểm hưu trí là một chỉ tiêu tổng hợp và hiệu quả của nó được

đánh giá trên các mặt chủ yếu sau:

- Tỉ lệ về số người đóng BHXH

Số người đóng

Tỉ lệ % người đóng = * 100

Số người phải đóng

Thực chất là thực hiện thu đúng và đủ số người đóng bảo hiểm hưu trí

Thu đúng ở đây chủ yếu là thu đúng đối tượng phải thu Số đối tượng phải

thu hiện nay là số người lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc, đăng kí

tham gia đóng bảo hiểm hưu trí Họ phải đóng BHXH trong đó có chế độ

Trang 17

17

hưu trí Số người này thường thay đổi do có sự thay đổi của các doanh

nghiệp trong quá trình kinh doanhà nước, nhất là số người lao động làm

việc ở khu vực ngoài quốc doanh Việc thu đúng thu đủ là rất cần thiết để

BHXH vừa đảm bảo lợi ích cho người lao động, vừa đảm bảo có những tác

dụng tích cực với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng

như với nền kinh tế nói chung Mục tiêu thu ở đây là đảm bảo thu 100%

đối tượng thuộc diện phải đóng BHXH và hưu trí

Chỉ tiêu này có thể áp dụng mở rộng ra cho tất cả số người lao động có

nhu cầu tham gia bảo hiểm hưu trí, và rộng hơn nữa là toàn bộ số người

lao động trong xã hội

- Thu đủ số tiền theo quy định cho chế độ hưu trí

Số tiền thu được

Tỷ lệ % tiền thu được = * 100

Số tiền phải thu

Số tiền thu được này phụ thuộc vào mức thu theo luật định và số lượng

người mà các cơ quan BHXH đã thu được, hay số người trực tiếp đóng bảo

hiểm xã hội Thu đủ là rất quan trọng không chỉ vì như đã đề cập ở trên

mà đó còn là bảo đảm một sự chủ động về nguồn tài chính, làm cho nguồn

quỹ BHXH được ổn định, giúp duy trì các hoạt động bình thường và ngày

cáng phát triển của chế độ hưu trí

- Thu đúng thời gian :

Đó là thời gian mà các đơn vị và cá nhân phải đóng BHXH theo quy

định của pháp luật hiện hành Nếu không thu đúng thời gian sẽ ảnh hưởng

đến kế hoạch tài chính trực tiếp của chế độ hưu trí Nhất là trong điều kiện

chế độ hưu trí áp dụng theo cơ chế thu của người đóng trả cho người

hưởng Còn trong chế độ hưu trí theo cơ chế của đầu tư ứng trước thì thu

Trang 18

18

kịp thời là một điều kiện quan trọng để ổn định và phát triển quỹ hưu trí

trong tương lai trên cơ sở các kế hoạch sử dụng quỹ để đầu tư sinh lời

 Chi trả BHXH

Trong hoạt động chi trả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng tập trung

vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Chi trả đúng đối tượng

Đảm bảo tiền hưu phải đến đúng người được hưởng.Đó phải là những

người hội đủ được điều kiện ràng buộc để được hưởng chế độ hưu trí Điều

này có liên quan đến công tác quản lý đối tượng hưởng chế độ hưu trí

Khác với người lao động khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội, sự di chuyển

hay thay đổi nơi ở của từng người về hưu phụ thuộc vào khả năng và điều

kiện sống mà họ lựa chọn Khi đó công tác quản lý phải có sự linh hoạt tốt

để không chỉ quản lý tốt mà còn được thực hiện chi trả thuận lợi đúng đối

tượng được hưởng chế độ này

- Chi trả đủ về số lượng

Chỉ tiêu chi trả đủ về số lượng phản ánh về số tiền chi trả đủ cho mọi đối

tượng được hưởng hưu trí theo quy định Đây là yêu cầu pháp lý, được luật

định thành các mức tiền hưu được hưởng Chi trả đủ cho người về hưu

phải được đảm bảo trên cơ sở số tiền mà quỹ hưu trí có được dùn để thanh

toán và sự an toàn của số tiền này trong quá trình chi trả cho các đối tượng

được hưởng chế độ hưu trí

- Chi trả kịp thời gian

Chi trả kịp thời gian chính là việc bảo đảm người về hưu phải được

nhận lương hưu đúng theo thời gian quy định Đây là điều rất quan trọng

vì tiền hưu là một loại thu nhập thường xuyên của người về hưu Đối với

Trang 19

19

các đối tượng này việc nhận lương hưu đúng hạn sẽ giúp cho họ có thể ổn

định được đời sống Đối với các cơ quan bảo hiểm điều này có ý nghĩa rất

lớn trong quản lý nói chung và thanh quyết toán cho chế độ hưu trí nói

riêng

Các chỉ tiêu rất quan trọng trong quản lý quá trình thực hiện BHXH ở

Việt Nam trong điều kiện hiện nay khi mà BHXH đang còn có nhiều thay

đổi cho phù hợp với quá trình đổi mới nền kinh tế xã hội ở nước ta

 Quản lý quỹ hưu trí

Chỉ tiêu của hoạt động này phản ánh qua quản lý số lượng tiền hay quy

mô quỹ bảo hiểm hưu trí nhằm bảo toàn giá trị của quỹ hưu trí cả về giá trị

danh nghĩa và giá trị thực tế Đồng thời đó còn là việc sử dụng quỹ này vào

các hoạt động khác nhau, làm phát triển không ngừng và nâng cao khả

năng thanh toán của quỹ hưu trí Đó chính là sự tăng cường nguồn lực tài

chính của chế độ hưu trí ở đây có nhiều chỉ tiêu cụ thể:

- Bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hưu trí

Chỉ tiêu về bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hưu trí là bảo toàn giá trị

thực tế của quỹ hưu trí trong các thời kỳ quyết toán tránh được những tác

động làm cho giá trị của quỹ này giảm đi Trong quá trình quản lý quỹ, có

thể có các trường hợp làm cho quỹ hưu trí giảm đi như:

+ Tiền quỹ bị tổn thất, mất mát

+ Tiền quỹ bị mất giá do lạm phát

+ Tiền quỹ đầu tư không thu hồi được

+ Tiền quỹ không thu hồi được ( nợ, nộp chậm )

+ Các thất thoát khác

- Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hưu trí qua các thời kỳ

Trang 20

20

Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hưu trí qua các thời ký là một trong những

chỉ tiêu quan trọng nhất trong quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí hiện nay Để

bảo đảm cho một tiềm lực tài chính ổn định và vững mạnh, quỹ hưu trí

phải tăng lên không ngừng Sự tăng lên này chủ yếu từ hai nguồn là :

+ Tăng thêm số người tham gia vào chế độ hưu trí

+ Sử dụng quỹ hưu trí đầu tư vào các hoạt động mang lại lợi nhuận

một cách an toàn

Tốc độ tăng thực tế của quỹ hưu trí như vậy phải cao hơn tốc độ tăng

của số người tham gia vào chế độ hưu trí và tất nhiên phải tăng với tốc độ

cao hơn tốc độ tăng của chi trả cho chế độ này Có như vậy mới tạo được sự

vững chắc, ổn định và phát triển không ngừng của chế độ hưu trí

- Khả năng cân đối thu chi của quỹ BHXH

Chỉ tiêu khả năng cân đối thu chi quỹ bảo hiểm hưu trí phản ánh độ an

toàn của quỹ hưu trí nói riêng và sự tồn tại chế độ hưu trí nói chung Để

bảo đảm tránh những rủi ro, thì quỹ tiền hưu phải đủ đảm bảo chi trả các

khoản chi của chế độ này chủ yếu bao gồm chi tiền lương hưu cho người

nghỉ hưu và chi cho hoạt động quản lý Đây là điều kiện cần thiết bất kể áp

dụng phương pháp cụ thể nào để tạo lập quỹ

Tổng thu và tổng chi trong biểu thức điều kiện trên được xác định và so

sánh tại một thời điểm tính toán Tổng thu và tổng chi có thể được xác định

khác nhau tuỳ theo phương pháp tạo quỹ được áp dụng trong hệ thống hưu

trí Vì theo các phương pháp khác nhau có thể cơ cấu thu và chi cũng sẽ

khác nhau

Tổng thu thực tế > Tổng chi

Trang 21

21

6.2 Các ch ỉ tiêu đánh giá sự phát triển của chế độ hưu trí

 Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí

Chỉ tiêu mở rộng phạm vi đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí

được tính qua tỷ lệ người lao động trong xã hội thực hiện vào chế độ hưu

trí trong tổng số lao động nói chung Đây là chi tiêu phản ánh kết quả thực

hiện mục tiêu mở rộng phạm vi hoạt động của chế độ hưu trí Trong điều

kiện ở các nước có nền kinh tế kém phát triển, số người tham gia vào chế

độ hưu trí không nhiều thì chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá quy mô

và sự phát triển của chế độ hưu trí qua các thời kỳ

Theo đuổi mục tiêu mọi người đều có quyền và được tham gia vào

BHXH để hưởng chế độ hưu trí nên trong quá trình phát triển và mở rộng

phạm vi hoạt động số người tham gia vào chế độ này phải tăng nhanh hơn

tốc độ tăng nguồn lao động xã hội Tỷ lệ tăng số lượng người tham gia chế

độ hưu trí được xác định trên cơ sở mục tiêu mở rộng của chế độ này ở

đây có thể lượng hoá chỉ tiêu này qua tỷ lệ phần trăm số người tham gia

vào chế độ bảo hiểm hưu trí và tốc độ tăng của tỷ lệ này qua các năm

Ngoài ra, cũng có thể tính thêm chỉ tiêu tỷ lệ tăng tương đối so với tỷ lệ tăng

lao động xã hội

 Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hưu trí

Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hưu trí là chỉ tiêu chủ yếu phản

ánh sự tăng thêm các hình thức mới trong việc đóng phí bảo hiểm và hưởng

chế độ hưu Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển về tổ chức hệ thống và các

hoạt động của chế độ hưu trí, qua đó tăng cơ hội và khả năng để mọi người

có thể tham gia vào chế độ này Hiện nay ở Việt Nam chúng ta mới áp dụng

Trang 22

22

một hình thức đóng để hưởng chế độ hưu trí trong đó dựa chủ yếu vào thời

gian đóng và tuổi đời khi nghỉ hưu

Tuy nhiên sự khống chế về số năm đóng tối thiểu như luật định hiện nay

là 15 năm kèm với điều kiện tuổi đời chỉ thích hợp với người có công việc

làm và thu nhập ổn định để đóng bảo hiểm xã hội, nhất là lao động làm việc

trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Việc linh hoạt về thời gian

đóng BHXH làm cho nhiều người có nhu cầu có thêm cơ hội để tham gia

vào chế độ này

Xét trên một góc độ khác, mức đóng cố định chỉ phụ thuộc vào mức thu

nhập hay tiền lương để tính BHXH cũng sẽ làm giảm sức hấp dẫn của chế

độ này khi nhiều người muốn đóng thêm trên mức bình thường để sau đó

được hưởng mức tiền cao hơn

6.3 Các ch ỉ tiêu bảo đảm quyền lợi kinh tế và xã hội của người về hưu

Quyền lợi về kinh tế xã hội cho người về hưu phải được phản ánh trong

thực tế đời sống kinh tế xã hội Có thể dùng các chỉ tiêu sau đây để đánh

giá :

 Mức bảo đảm các tiêu chuẩn sống của người về hưu

Chỉ tiêu này phản ánh qua mức lương của người về hưu nhận được và

mức bảo đảm thực tế cho cuộc sống của người về hưu qua tiền hưu Khi

tính toán cụ thể , mức bảo đảm của tiền lương hưu phải được tính đến các

mặt như :

- Mức tiền lương : mức tiền lương phải bảo đảm đầy đủ duy trì cuộc sống

của người hưởng lương hưu ở đây vừa phải bảo đảm giá trị tiền lương

danh nghĩa vừa bảo đảm cả giá trị thực tế là sức mua của tiền lương Nghĩa

Trang 23

23

là khi có những tác động làm mất giá trị của tiền lương hưu như tác động

của lạm phát thì cần phải được điều chỉnh kịp thời

- Tiền lương hưu hợp lý:

Tiền lương hưu hợp lý muốn nói đến tương quan so sánh giữa lương hưa

với các loại lương khác trong xã hội Về nguyên tắc thì tiền lương hưu

không thể cao hơn tiền của người về hưu khi đang còn làm việc, trừ trường

hợp người về hưu tham gia thêm hình thức bảo hiểm tuổi già khác ngoài

các hình thức và chế độ hưu trí thông thường Nhưng tiền lương hưu không

thể thấp hơn tiên lương tối thiểu Sự so sánh đó nhằm đánh giá tương quan

về mức sống giữa những người về hưu với các tầng lớp khác trong xã hội

 Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những người nghỉ hưu

Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những người nghỉ hưu phải được so

sánh đánh giá giữa đóng góp và hưởng thụ, theo nguyên tắc đóng nhiều

hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít Khác với các chế độ bảo hiểm ngắn hạn,

điều này rất cần đối với chế độ hưu trí vì việc đóng phí và hưởng trong chế

độ hưu trí liên quan đến những khoản tiền rất lớn trong thu và chi trả Và

có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các đối tượng tham gia cả trong

khi đóng và hưởng theo chế độ này Sự công bằng cũng có nghĩa tham gia

chế độ hưu trí như nhau thì quyền lợi được hưởng cũng phải như nhau

 Tăng sự tác động tích cực của chế độ hưu trí đến phát triển kinh tế và sử

d ụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội

Trang 24

24

Sự tác động tích cực của chế độ bảo hiểm hưu trí đến sự phát triển kinh

tế và ổn định xã hội là một chỉ tiêu mang tính định tính khó lượng hoá

Nhưng đây là một chỉ tiêu rất quan trọng vì có tác dụng trực tiếp đến

không chỉ người về hưu mà bản thân người lao động đang làm việc đã và có

thể sẽ tham gia vào chế độ hưu trí Chế độ hưu trí phải góp phần ổn định

kinh tế xã hội thông qua việc sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động đang

làm việc trong xã hội Chẳng hạn một chế độ hưu trí tốt làm cho lao động

trong xã hội được điều hoà hợp lý, cân đối hơn giữa các khu vực và thành

phần kinh tế, qua đó nguồn lực lao động được khai thác và huy động đúng

mục đích Việc sử dụng lực lượng lao động sẽ hiệu quả hơn Đảm bảo tái

sản xuất sức lao động xã hội, an toàn xã hội

III - Kinh nghiệm xây dựng các chế độ BHXH đối với người nghỉ hưu

1 Về điều kiện tuổi đời

ở các nước khác nhau, tuỳ theo các nhân tố dân số và kinh tế xã hội mà có sự

quy định tuỏi đời khác nhau giữa các nhóm nước và khác nhau giữa nam và nữ

trong cùng một nước Có thể có một số nước quy định độ tuổi nam và nữ như nhâu

nhưng có một số nước khác lại quy định tuổi nghỉ hưu của nữ thấp hơn nam Xác

định tuổi nghỉ hưu phụ thuộc rất nhiều yếu tố kể cả phụ thuộc vào nước có dân số

già hay trẻ Đối với nước có dân dố già, số người nghỉ hưu lớn, vì vậy họ phai nâng

tuổi nghỉ hưu thường cao hơn so với các nước đang phát triển Theo số liệu của văn

phòng lao động quốc tế trong 24 nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và

trong 40 nước đang phát triển thì tuổi nghỉ hưu đối với nam nữ như sau :

Bảng 1: Cơ cấu tuổi nghỉ hưu ở một số nước

Trang 25

25

thường đối những người làm những ngành nghề công việc trong điều kiện lao động

nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Điều kiện về tuổi đời ở một số nước được thể hiện :

- Nhóm Tây Âu và Bắc Mỹ

+ Mỹ, Canada : 65 tuổi ( chung cho cả hai giới )

+ Anh : 65 tuổi (nam) và 60 tuổi (nữ)

+ Pháp : 60 tuổi ( tối đa là 65 tuổi)

+ Đức : 65 tuổi (nam) và 63 tuổi (nữ)

- Nhóm các nước Châu á ( Ngoài ASEAN )

+ Trung Quốc : 60 tuổi (nam) và 55 tuổi (nữ)

Trang 26

26

+ Malaysia : 55 tuổi(cho cả hai giới)

+ Xingapo : 55 tuổi (cho cả hai giới)

+ Philipin : 60 tuổi (cho cả hai giới)

Như vậy có thể thấy tuổi nghỉ hưu của các nước giao động trong khoảng từ 55

đến 65 tuổi và có phân biệt giới tính Qua thống kê cho thấy chỉ có 34.62% số nước

có quy định tuổi nghỉ hưu ở cả nam và nữ là như nhau Đa số các nước ASEAN

quy định tuổi nghỉ hưu chung cả nam và nữ là 55 tuổi

2 Về việc xác định số năm đóng góp BHXH

Số năm dóng góp BHXH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công việc xác lập

chế độ hưu trí Vì vậy số thời gian đóng BHXH là một trong các điều kiện để được

hưởng trợ cấp hưu ở nhiều nước có quy định phải có một số năm đóng tối thiểu

Qua thống kê cho thấy số năm đóng BHXH dao động từ 15 đến 45 năm Một

nguyên tắc đặt ra trong chế độ hưu là độ tuổi được hưởng chế độ hưu xác định cao

thì đòi hỏi số năm bắt buộc phải đóng BHXH phải cao Số năm đóng BHXH thấp

(nhưng không được thấp hơn số năm tối thiểu) thì mức trợ cấp thấp hơn

Quy định thời gian đóng BHXH (tối thiểu) của một số nước như sau :

- Mỹ, Anh : Đóng góp 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc

- Pháp : người tham gia BHXH phải đóng góp 150 quỹ

- Đức : 15 năm đến 35 năm

- Liên Xô : Nam(20 năm), Nữ(20 năm)

- Ba Lan : Nam(20 năm), Nữ(15 năm)

- Hungari : 20 năm(cho cả hai giới)

Trang 27

27

Có rất nhiều cách xác định mức trợ cấp hưu trí Một số nước xác định mức đồng

đều, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia Nhiều nước

xác định mức trợ cấp theo thu nhập đã từng có của ngưoiừ lao động khi nghỉ hưu

Một số nhóm nước khác kết hợp cả hai cách

Trong phần trợ cấp có phần nền(cơ bản) là một mức đồng nhất cộng thêm phần

tỷ lệ thu nhập Tuy nhiên xu hướng chung là trợ cấp theo mức thu nhập đã từng có

của người lao động trước khi nghỉ hưu, phù hợp với đa ssố trường hợp là đóng góp

BHXH theo thu nhập

Mức trợ cấp hưu của một số nước:

- Mỹ : Mức trợ cấp hưu đồng nhất, tối đa là 11280USD/tháng, tính trên thu

nhập được bảo hiểm cho tới khi nghỉ hưu

- Anh : 32.85 Bảng/tuần cộng 12% thu nhập được bảo hiểm trong nước

- Pháp : 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất Lương được

tính theo các lần thay đổi lương

- Đức : 1,5% “lương ước tính” là tỷ lệ giữa thu nhập của người lao động so

với múc lương trung bình của cả nước nhân với “cơ sở tính toán chung” hiện thời

Trang 28

28

- Ba lan : 100% thu nhập bình quân của mức dưới 3000 ZLOTY một tháng của

12 tháng gần nhất cộng với 55% của phần còn lại và tăng 4% trợ cấp tính theo trợ cấp cơ bản cho mỗi năm công tác trên 20 năm

- Trung quốc : 60 đến 90% thu nhập trong tháng cuối, phụ thuộc vào thời gian

công tác

- ấn độ: Trả một lần tương ứng với số đóng góp của chủ và thợ đã trả cộng với

7.58& lãi

- Indonexia : Người nghỉ hưu được nhận một khoản trợ cấp một lần tương

đương với mức mà người sử dụng lao động và người lao động đã đóng góp trong suốt quá trình tham gia BHXH, cộng với khoản tiền lãi tăng thêm

- Malaysia : Tương tự như INDONEXIA

- Philipines : 1.5% lương bình quân của 120 tháng cuối cộng với từ 42 đến

102% của tiền lương bình quân của 10 tháng lương

4 Về mức đóng góp

Mức đóng góp cho chế độ hưu cũng có sự khác nhau giữa các nhóm nước Tuy

nhiên ở hầu hết các nước đều có sự phân chia đóng góp giữa giới chủ và giới thợ và

đóng riêng cho chế độ hưu chứ không gộp vào các chế độ khác chẳng hạn:

- Mỹ: Người lao động đóng 6.2% tiền lương ( nếu là lao động độc lập phải

đóng 12.4% ), người sử dụng lao động đóng 6.2 % tổng quỹ lương

Tiền lương cao nhất được dùng làm căn cứ để đóng BHXH là 57000 USD/ năm

- Anh : Người lao động đóng 2 % của 54 Bảng / tuần đầu tiên cộng thêm 9%

lương tuần của tiền lương từ 54 đến 405 Bảng Người sử dụng lao động đóng từ 4.6 % đến 10.4 %

Trang 29

29

- pháp : Người lao động đóng 6.54 % trong thu nhập được tính BHXH của

mình, người sử dụng lao động đóng 8.2 % tiền lương tối đa để đóng BHXH là 12360 FRANCS một tháng

- Đức : Người lao động đóng 8.75 % tiền lương, nếu người lao động có thu

nhập dưới 610 DM / tháng thì không phải đóng BHXH Người lao động độc lập phải đóng 15.7% Người sử dụng lao động đóng 8.75 % quỹ lương và đóng 7.5% nếu trong doanh nghiệp có người lao động có thu nhập thấp hơn 610 DM / tháng

5 Một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước

trên thế giới

Qua nghiên cứu về quá trình tổ chức và thực hiện hệ thống hưu trí của một số

nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

- Trong tất cả nước, vai trò của nhà nước của chính phủ trong hệ thống hưu trí là

rất quan trọng Nhà nước với tư cách là người đề ra định hướng cho sự hoạt động

hưu trí và là một sự bảo trợ rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống

này Đặc biệt là bảo trợ về tài chính ở các mức độ và hình thức khác nhau

- Xu hướng đa dạng hoá về tổ chức thực hiện, về nội dung và phương thức tiến

hành trong chế độ hưu trí là phổ biến Mặc dù vai trò của nhà nước là rất quan

trọng như đã nêu ở trên nhưng tham gia hoạt động trong hệ thống hưu trí không chỉ

có các tổ chức của nhà nước, các tổ chức khác ngoài khu vực nhà nước cũng có thể

tham gia với điều kiện tuân thủ đúng những quy định trong luật BHXH và hưu trí

Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để mọi thành viên trong xã hội

có nhu cầu đều có thể tham gia vào chế độ hưu trí

Trang 30

30

- BHXH cũng như bảo hiểm hưu trí là vấn đề của con người nói chung và đều

tuân thủ những nguyên tắc phổ biến của lĩnh vực này Tuy nhiên mỗi nước có

những đặc trưng riêng về tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình dân số và lao

động mà có những vận dụng cụ thể vào xây dựng cho mình một hệ thống hưu trí

phù hợp về nội dung và hình thức thực hiện Các yếu tố quan trọng để xác lập chế

độ hưu trí ở các nước khác nhau cũng khác nhau chẳng hạn tuổi đời, mức sống,

mức đóng góp Trong đó phải đảm bảo được lợi ích chính đáng của người tham

gia chế độ hưu trí và duy trì sự ổn định, đảm bảo cho hệ thống hưu trí phát triển

- Trong tất cả các nước, hệ thống hưu trí là cốt lõi của hệ thống BHXH nói chung

Trong khi các hệ thống BHXH khác có thể thực hiện bởi các tổ chức bảo hiểm khác

nhau, (như bảo hiểm thương mại về con người ) thì bảo hiểm hưu trí chỉ có thể

được thực hiện trong hệ thống BHXH Cải cách hệ thống BHXH chủ yếu và thực

chất là cải cách chế độ hưu trí

- Hệ thống hưu trí theo phương pháp PAYGO đã từng được thực hiện trên hầu

hết các nước có hệ thông BHXH nhưng đến nay hệ thóng này bộc lộ nhiều nhược

điểm và cần phải được thay thế bằng hệ thống khác Hệ thóng mới nà các nước

thực hiện nay đang chuyển sang thực hiện là hệ thống hưu trí thực hiện theo

phương pháp đầu tư ứng trước Nhưng đó là quá trình chuyển đổi trong một thời

gian dài

- Trước khi hệ thống cũ được thay thế hoàn toàn bằng hệ thống mới thì có tồn tại

sự song song hoạt động của hai hệ thống trong thời kỳ quá độ

Như vậy có thể nói BHXH và chế độ hưu trí đang là một trong những vấn đề xã

hội quan tâm rất lớn, có ý nghĩa kinh tế và chính trị rất quan trọng Nhận thức đúng

về bản chất chức năng của BHXH và chế độ hưu trí đang còn là một quá trình Chế

độ hưu trí đã được thực hiện từ rất lâu và có vai trò ngày càng quan trọng trong xã

Trang 31

31

hội nhưng quá trình phát triển cũng là quá trình tiếp tục nghiên cứu và đổi mới,

hoàn thiện không ngừng

Để có được một chế độ hưu trí thì nhận thức đúng bản chất của chế dộ này là

điều rất quan trọng Cùng với đó phải hiểu và vận dụng đúng những nguyên tắc

của chế độ này trong quá trình thiết kế những nội dung của chế độ và tổ chức hệ

thống hoạt động Trong đó có các yếu tố cơ bản như mức phí đóng bảo hiểm, thời

gian đóng cần thiết, tuổi đời khi nghỉ hưu, các mức lương phải được nghiên cứu

có căn cứ khoa học mới có thể đảm bảo cho chế độ này phát triển được Một hệ

thống hưu trí phát triển phải đảm bảo lợi ích của các bên tham gia trước hết là

người lao động với tư cách là đối tượng tham gia và hưởng bảo hiểm hưu trí, sau đó

là các tổ chức, các doanh nghiệp và toàn xã hội trong đó có Nhà nước

Trang 32

32

Chương II : Thực trạng chế độ bảo hiểm hưu trí tại BHXH Việt Nam

I Thực trạng về chế độ chính sách bảo hiểm hưu trí

Chế độ hưu trí là một chế đọ có vai trò to lớn trong hệ thống BHXH của mỗi

quốc gia , bởi lẽ chế độ hưu trí có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời những người

tham gia BHXH Chế độ hưu trí cũng là một phương tiện có thể ổn định được phần

nào đời sống người về hưu , đặc biệt trong số đó là hưu cô đơn không nơi lương tựa

hoặc những người đã có những đóng góp đặc biệt cho xã hội Thực hiện tốt chế độ

hưu trí trong hệ thống BHXH sẽ góp phần nâng cao đời sống xã hội giảm bớt khó

khăn cho người về hưu cũng như khó khăn chung cho bộ phận dân cư khác, nâng

cao uy tín của BHXH và các chế độ khác Có thể nói trong hệ thống các chế độ

BHXH, chế độ hưu trí là chế độ quan trọng hàng đầu Nó đã, đang và sẽ là một chế

độ BHXH có quy mô hoạt động to lớn về cả số lượng và chất lượng

Trang 33

33

Chính sách BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng khi áp dụng ở nước ta

đã có vai trò rất to lớn nhưng cũng bộc lộ một số nhược điểm qua các thời kỳ

1 Giai đoạn trước năm 1995

 Điều lệ tạm thời về BHXH năm 1961

Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945 , nhà nước Cộng hoà Xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, lúc đó là nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã

thực hiện các chế độ BHXH cho công nhân viên chức Điều đó được thể

hiện qua việc ban hành sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo

hiểm ốm đau, bảo hiểm tai nạn lao động và bảo hiểm hưu trí Cùng với sắc

lệnh 29/SL, một số sắc lệnh khác như sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và sắc

lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 cũng được ban hành sau đó, nhằm thực hiện tốt

hơn các chế độ cho người tham gia bảo hiểm xã hội

Các chế độ này được thực hiện đối với những người làm việc trong các

cơ quan của chính phủ và chính quyền các cấp trong thời kỳ kháng chiến

chống thực dân Pháp (1945-1954) Song các chế độ này vãn còn nhiều hạn

chế , một phần do thực hiện trong thời kỳ kháng chiến , điều kiện kinh tế

còn khó khăn thiếu thốn , tất cả mọi người chưa quan tam đến việc hưởng

chế độ , ttất cả phải lo cho tình hình kháng chiến

Sau này khi hoà bình lập lại trên miền Bắc, các chế độ đó mới chỉ đáp ứng cục

bộ những đòi hỏi trong từng giai đoạn và từng ngành hoạt động , chỉ nhằm giải

quyết các nhu cầu trước mắt nên chưa đồng bộ , toàn diện và lâu dài

Trước tình hình kinh tế , chính trị có những bước phát triển nhất định cùng với

việc thay đổi lại chế độ tiền lương Quán triệt dần nguyên tắc “ phân phối theo lao

động  Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961

về “ Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH thống nhất trong cả nước  Các

Trang 34

34

chế độ này được chính thức thi hành từ ngày 1/1/1962 trên cơ sở hình thành và sử

dụng quỹ BHXH tập trung, do sự đóng góp của các nhà máy, xí nghiệp và các cơ

quan Nhà nước Quỹ BHXH được quản lý và sử dụng vì lợi ích của công nhân viên

chức làm việc trong khu vực Nhà nước Việc quản lý BHXH do hai cơ quan quản

lý đó là: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quản lý 3 chế độ ngắn hạn là: ốm đau,

thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, còn Bộ Lao động - Thương binh -

Xã hội quản lý 3 chế độ dài hạn là hưu trí, tử tuất, mất sức lao động Điều lệ này

thực hiện 6 chế độ BHXH cho người lao động trong đó có quy định cụ thể về chế

độ hưu trí

Trong điều lệ, từ điều 42 đến điều 53 có quy định cụ thể về chế độ hưu trí như

quy định về thời gian công tác, tuổi đời và điều kiện lao động của công nhân viên

chức Nhà nước Cụ thể :

- Quy định tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60 tuổi và nữ là 55 tuổi Số năm công

tác quy định chung là 25 năm, đối với những người lao động làm việc ở

những ngành nghề độc hại nguy hiểm thì giảm 5 năm so với quy định

- Những người làm việc trong điều kiện làm việc đặc biệt, hoặc ở trong quân

ngũ thì thời gian công tác của họ được quy đổi theo hệ số

Chế độ hưu trí trong giai đoạn này chỉ được thực hiện cho cán bộ công nhân

viên chức làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước và quân nhân trong lực lượng

vũ trang

Qua đó ta có thể thấy : việc ban hành nghị định 218/CP kèm theo điều lệ tạm

thời về BHXH là một bước ngoặc lớn trong sự nghiệp BHXH ở nước ta Lần đầu

tiên quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động được quy định cụ thể trong chế độ

hưu trí Từ đây, bảo hiểm hưu trí được thống nhất và có đầy đủ tính pháp lý Điều

lệ đã giải quyết được vấn đề tính toán thời gian của người lao động cho phù hợp

Trang 35

35

với tình hình thực tế Từ đó đánh giá đúng mức đóng góp của người lao động cho

xã hội và đưa ra các mức lương tương ứng

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm tồn tại:

- Thời gian công tác nói chung là tất cả thời gian mà người công nhân viên

chức làm việc lấy lương hay sinh hoạt phí Nếu thời gian công tác nói chung

đối với nam là 25 năm và với nữ là 20 năm mà không có thời gian công tác

liên tục trong 5 năm thì họ không được hưu trí trợ cấp hưu trí Như vậy thì

rất thiệt thòi cho người lao động Đối với lao động nữ khi đủ 5 năm công tác

liên tục và có thời gian công tác nói chung nhiều hơn 25 năm nhưng họ cũng

chỉ được hưởng 45% lương chính Ngoài ra, do việc quy đổi hệ số thời gian

công tác lên đã dẫn đến tình trạng số người về hưu có độ tuổi về hưu thực tế

thấp hơn nhiều so với quy định Thậm chí có người số năm công tác quy đổi

gần bằng tuổi đời

- Điều lệ này vẫn còn nhiều hạn chế trong chính sách BHXH nói chung và chế

độ hưu trí nói riêng Như trong quy định về thu chi thì điều lệ không gắn thu

với chi Thu chi đều do quy ước không có quỹ BHXH riêng mà chỉ có quỹ

BHXH “ độc lập “ trong ngân sách Trên thực tế khi bắt đầu thực hiện điều lệ

này, cơ quan chủ quản về BHXH đã phải tiến hành chi ngay cho chế độ hưu

trí đối với nhiều người từ trước năm 1962 Do đó ngân sách dành cho chi lại

càng cao Chính vì vậy, điều lệ năm 1961 cần được sửa đổi, bổ sung nhiều

 Nghị định 236/HĐBT và chế độ hưu trí đối với người lao động

Sau nhiều năm thực hiện chính sách BHXH trên cơ sở điều lệ tạm thời về

BHXH , Đảng và Nhà nước đã nhận thấy rõ những điểm tồn tại và hạn chế của điều

lệ Đồng thời trong hoàn cảnh đó tình hình kinh tế xã hội nước ta có nhiều thay đỏi

quan trọng , đất nước đã thống nhất , nền kinh tế chuyển sang giai đoạn mới theo

Trang 36

36

xu hướng nhieeuf thành phần giảm bớt tập trung và bao cấp Cuộc sống của người

la động có nhiều biến đổi đặc biệt là cải cách tiền lương kéo theo đó là đời sống

của người nông dân và dân cư nói chung đặc biệt là đời sống của người lao động

ngày càng caovà các nhu cầu về đảm bảo xã hội cũng tăng lên

Trước tình hình thực tế đó , trên cơ sở kế thừa các ưu việt trong điều lệ tạm thời

về BHXH ban hành kèm theo NĐ 218/CP , Nhà nước đã ban hành NĐ 236/HĐBT

ngày 18/9/1985 với nội dung như sau :

- Về tuổi đời: Nghị định quy định nam công nhân viên chức đủ 60 tuổi( nếu là

quân nhân thì đủ 55 tuổi ) và có đủ 30 năm quy đổi, nữ công nhân viên chức

có đủ 55 tuổi ( nếu là quân nhân thì đủ 50 tuổi ) và có đủ 25 năm công tác

quy đổi thì được hưởng chế độ hưu trí Tuỳ theo điều kiện lao động, chiến

đấu, thời gian công tác mà có hệ số quy đổi khác nhau, người về hưu được

hai khoản là: trợ cấp một lần đầu tiền và tiền lương hàng tháng

- Cơ sở để tính lương hưu hàng tháng là lương chính và phụ cấp thâm niên(

nếu có ) ở tháng cuối cùng trước khi nghỉ hưu Trong trường hợp sức khoẻ

giảm sút hoặc do yêu cầu công tác phải chuyển sang công tác khác hoặc

hưởng lương thấp hơn mức cũ thì lấy mức lương cao nhất trong 10 năm

trước khi nghỉ hưu

- Về mức trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu tính trên tiền lương chính cộng

với tất cả các khoản trợ cấp đang hưởng của công nhân viên chức và quân

nhân sau thời gian nghỉ nguyên lương Cụ thể là :

+ Có đủ 25 năm công tác được hưởng trợ cấp 2 tháng lương

+ Có đủ 30 năm công tác được hưởng trợ cấp 3 tháng lương

+ Có đủ 35 năm công tác được hưởng trợ cấp 4 tháng lương

Lương hưu hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, nữ có đủ 25 năm

công tác thì được tính bằng 75% lương chính và phụ cấp thâm niên ( nếu có ) ngoài

Trang 37

37

ta cứ thêm 1 năm công tác được tính thêm 1% nhưng tối đa không quá 95% lương

chính và phụ cấp thâm niên

Như vậy, việc thực hiện chế độ hưu trí theo nghị định này về cơ bản cũng giống

như giai đoạn trước đó là còn nhiều hạn chế về tuổi đời, hệ số, phạm vi thực hiện

Cụ thể là :

- Phương pháp tính thời gian quy đổi tuy có nhiều điểm chặt chẽ song đã gây

ra một số vướng mắc cho người lao động trong việc dò tìm hồ sơ khi về nghỉ

hưu Việc tính thời gian quy đổi đôi khi gây ra sự mất cân đối

- Trong thực tế, tuổi nghỉ hưu trung bình vẫn còn thấp do được cộng cả hệ số

ưu đãi xã hội về thời gian và năm làm việc thực tế thành số năm được nhận

lương hưu Mặt khác lại còn chế độ ưu đãi với những đối tượng có sức khoẻ

giảm sút từ 18% trở lên

- Phạm vi thực hiện chế độ vẫn còn hạn hẹp, chỉ áp dụng đối vói công nhân

viên chức Nhà nước, chiếm xấp xỉ 12% tổng số lao động của cả nước nhưng

lại rất tràn lan Chế độ bị lẫn lộn giữa bảo hiểm và ưu đãi Cơ quan quản lý

không thống nhất bao gồm cả Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tổng liên

đoàn Lao động Việt Nam và Bộ y tế phụ trách việc giám định khả năng lao

động Còn xét một cách tổng hợp để cho công nhân viên chức về nghỉ mất

sức lao động hoặc về hưu, do các cơ quan xí nghiệp, các bộ ngành, các đoàn

thể các cơ quan đảng đoàn thể chính quyền và các cấp ra quyết định cơ quan

phụ trách theo dõi lại không ký quyết định cho nghỉ hưu là điều bất hợp lý

Mặt khác giữa thu với chi không gắn liền với nhau, phân tán, nhiều chỗ gây

ra tình trạng thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết cho người lao động về

hưu đúng chế độ chính sách hiện hành

- Tỷ lệ trợ cấp hưu so với lương cơ sở có mức cao nhất là 95% là một mức quá

cao, không thực tế Trên cơ sở cân bằng thu chi, ở cùng một thời điểm, tiền

Trang 38

38

thu BHXH là từ những người đang đóng BHXH phải đáp ứng được việc chi

trả cho những người đang hưởng trợ cấp hưu trí trong cùng thời gian đó

Song số người lao động chỉ bằng hơn 4 lần số người đang hưởng trợ cấp

trong cùng thời gian Tỷ lệ nộp BHXH của người lao động và người sử dụng

lao động là 20% vậy nếu xét về tổng số, số tiền thu BHXH không đủ để chi

cho tỷ lệ trợ cấp 95% lương của chế độ hưu trí không kể còn phải chi trả một

số chế độ khác như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Do vậy, ngân sách nhà nước luôn phải bù thiếu, chính vì lẽ đó mà cần phải

hạ thấp tỷ lệ trợ cấp đối với những người về hưu

- Điều kiện hưởng chế độ hưu trí còn lệ thuộc quá nhiều vào yêu cầu chính trị

của từng thời kỳ, còn bị chi phối bởi chủ trương tinh giảm biên chế Cho

nên số người về hưu trước tuổi còn rất cao ( trên 80% ) thậm chí có người về

hưu ở độ tuổi 40, khi về hưu có thời gian hưởng lương hưu rất dài, có thể có

thời gian hưởng nhiều hơn cả thời gian công tác Trong khi đó tiền đóng

BHXH là 5% chỉ bằng một phần nhỏ trong tỷ lệ trợ cấp hưu trí không kể

trong quá trình công tác được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao

động và bệnh nghề nghiệp và sau này còn chế độ tử tuất Trong khi đó

những người về hưu đủ tuổi, có thời gian công tác lâu dài lại được hưởng

hưu ngắn hơn do có thể họ chết sớm Tất cả những điều đó làm giảm ý nghĩa

kinh tế cũng như xã hội chế độ hưu trí Do vậy làm cho thiếu công bằng giữa

đóng góp và hưởng thụ

- Mức chi trả trợ cấp hưu trí nói chung là thấp, bình quân là 52.600đ /tháng/

người, tiền lương hưu thấp nhất là 52.000 đ/tháng / người ( chưa kể bù giá)

Nếu so với năm 1985 tiền lương hưu danh nghĩa cuối năm 1991 tăng 209,75

lần trong khi chỉ số giá cả tăng 536,8 lần cho nên tiên lương hưu thực tế chỉ

còn dưới 38% so với tháng 9/1985

Trang 39

39

- Ngoài ra đối tượng tham gia đóng BHXH theo NĐ 236/HĐBT vẫn chỉ bao

gồm công nhân viên chức Nhà nước mà không có một phần đông đảo người

lao động ở các đơn vị kinh tế khác Trong khi các đơn vị kinh tế phi Nhà

nước đang ngày càng phát triển như: Công ty liên doanh, công ty TNHH, tư

nhân Đây là đối tượng rất lớn mà BHXH cần phải khai thác

Như vậy, trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1993 chính sách và hệ thống

BHXH được tổ chức thực hiện dựa trên các quy định trong nghị định 218/CP và

NĐ 236/HĐBT và một số quyết định khác của Nhà nước.Thời gian này do ảnh

hưởng của hệ thống chính sách bao cấp cũ nên đã bộc lộ những mặt hạn chế như:

phạm vi đối tượng hẹp, sử dụng thời gian quy đổi quá lạm dụng, quỹ BHXH không

phát huy được vai trò là xương sống của cả hệ thống, mức trợ cấp hưu trí không

bảo đảm ổn định cuộc sống cho các đối tượng, chưa có quan hệ đóng BHXH với

hưởng BHXH mà chỉ có quan hệ hưởng BHXH với tiền lương Chế độ hưu trí bị

chi phối bởi nhiều chính sách xã hội khác và tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH

phân tán, hành chính quan liêu

Như vậy, các chính sách chế độ BHXH hiện tại không còn phù hợp nữa, nó

mang trong mình rất nhiều nhược điểm, gây ra nhiều khó khăn phức tạp trong công

tác quản lý và sử dụng lao động, đặc biệt không đáp ứng được yêu cầu của cơ chế

kinh tế nhiều thành phần và không bảo đảm được quyền lợi của người lao động,

sức lao động trong cơ chế thị trường đã trở thành hàng hoá Vì vậy đổi mới và hoàn

thiện hệ thống BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng là một đòi hỏi tất yếu

khách quan và cần phải làm ngay cho phù hợp với tình hình thực tế hiện tại

 Nghị định 43/CP và chế độ hưu trí

Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà

nước, cơ chế hoạt động của BHXH cũ không còn phù hợp nữa , đòi hỏi phải có sự

Trang 40

40

đổi mới trong bối cảnh xĩ nghiệp quốc doanh gắn với thị trường hoạt động theo

nguyên tắc bảo toàn vốn đưọc giao , đồng thời tự trang trải tự phát triển và nộp

nghĩa vụ với NSNN thì bảo hiểm hưu trí cũng phải tự tách khỏi sự bao cấp của

Nhà nước , hoạt dộng độc lập , tự hạch toán lấy thu bù chi , sự hỗ trợ của NSNN

chỉ là một phần nhỏ Với việc phát triển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần ,

các loại hình doanh nghiệp ngày càng được mở rộng ; sự chuyển dịch lao động và

quan hệ lao động cũng có những thay đổi Chính vì vậy , cùng với đội ngũ CNVC

Nhà nước còn có hàng chục triệu người lao động làm việc trong các thành phần

kinh tế ngoài quốc danh Vì vậy , bảo hiểm cho mọi người lao động cần được mở

rộng , thống nhất bình đẳng , đảm bảo nguyên tắc có đóng có hưởng , đóng ở mức

nào hưởng ở mức đó , gảim bớt gánh nặng cho NSNN

Trước những vấn đề bức thiết đặt ra trong công cuộc đổi mới này để BHXH trở

thành một chính sách rộng rãi thì cần phải có những đổi mới và hoàn thiện là việc

làm hết sức cấp thiết , theo các phương hướng sau:

- Đổi mới phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng đối với mọi người lao động

tham gia đóng BHXH có ý nghĩa là đối tượng tham gia đáng BHXH phải

được mở rộng, không có sự phân biệt theo khu vực và thành phần kinh tế

giữa trong và ngoài quốc doanh Tức là không thể có BHXH trong quốc

doanh khác BHXH ngoài quốc doanh Sự bình đẳng này phải được quy định

và bảo đảm bởi chế tài trong các văn bản pháp quy về bảo hiểm xã hội Theo

đó người lao động được hưởng chi trả BHXH trên cơ sở mức đóng góp và

thời gian đóng BHXH

- Đổi mới để bảo đảm công bằng trong quan hệ về bảo hiểm xã hội Vậy

BHXH phải được tổ chức và hoạt động tập trung độc lập và thống nhất trong

phạm vi toàn quốc, phải đổi mới về tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, hình

thành ngành BHXH tập trung Thành lập cơ quan quản lý BHXH độc lập

Ngày đăng: 25/03/2013, 16:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: Tỉ lệ % cấp bù từ NSNN cho các chế độ BHXH - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 2: Tỉ lệ % cấp bù từ NSNN cho các chế độ BHXH (Trang 56)
Bảng số 3 : Thu BHXH ( tính đến 31/12 hàng năm )  Chỉ tiêu - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 3 : Thu BHXH ( tính đến 31/12 hàng năm ) Chỉ tiêu (Trang 58)
Bảng 4 : Tham gia BHXH của lao động ngoài quốc doanh - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng 4 Tham gia BHXH của lao động ngoài quốc doanh (Trang 59)
Bảng số 7 : Tổng hợp đối tượng hưởng chế độ hưu trí  ( tính đến 31/12 hàng năm) - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 7 : Tổng hợp đối tượng hưởng chế độ hưu trí ( tính đến 31/12 hàng năm) (Trang 65)
Bảng số 8 : Nguồn chi trả BHXH và qui mô chi trả chế độ hưu trí  (đơn vị : triệu đồng  , tính đến 31/12 hàng năm ) - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 8 : Nguồn chi trả BHXH và qui mô chi trả chế độ hưu trí (đơn vị : triệu đồng , tính đến 31/12 hàng năm ) (Trang 68)
Bảng số 10 : Tình hình chi trả trợ cấp cho những người có trên 30 năm công tác. - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 10 : Tình hình chi trả trợ cấp cho những người có trên 30 năm công tác (Trang 71)
Bảng số 11: Tình hình thu chi quỹ BHXH ( đơn vị : triệu đồng ) - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 11: Tình hình thu chi quỹ BHXH ( đơn vị : triệu đồng ) (Trang 74)
Bảng số 12 :  Đầu tư quĩ nhàn rỗi năm 2001 - chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tại Việt Nam
Bảng s ố 12 : Đầu tư quĩ nhàn rỗi năm 2001 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w