1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hướng dẫn học sinh tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nguyễn du trong các đoạn trích truyện kiều ở sgk ngữ văn 10

124 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 665,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THÀNH LONG HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA NGUYỄN DU TRONG CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU Ở SGK NGỮ VĂN 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thái

Trang 1

NGUYỄN THÀNH LONG

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA NGUYỄN DU TRONG CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU

Ở SGK NGỮ VĂN 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - Năm 2011

Trang 2

NGUYỄN THÀNH LONG

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA NGUYỄN DU TRONG CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU

Ở SGK NGỮ VĂN 10

Chuyên ngành: LL&PP dạy học Văn - Tiếng Việt

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội

Thái Nguyên - Năm 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN !

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Hoàng Hữu Bội - Người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo - Nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, khích lệ em trong quá trình nghiên cứu và học tập tại trường

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Văn trường THPT Thái Hòa

và trường THPT Bố Lý - Tỉnh Vĩnh Phúc, bè bạn, đồng nghiệp cùng những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Long

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Long

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

B PHẦN NỘI DUNG 5

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA THIÊN TÀI NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN KIỀU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Sách giáo khoa Ngữ văn 10 nhận định về Truyện Kiều 5

1.1.2 Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của Nguyễn Du trong Truyện Kiều 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 33

1.2.1 Kết quả khảo sát về kiến thức của HS về Nguyễn Du và Truyện Kiều sau khi đã học xong chương trình Ngữ văn lớp 9 33

1.2.2 Giáo viên THPT với việc giảng dạy các đoạn trích Truyện Kiều 41 Chương II ĐỊNH HUỚNG DẠY HỌC CÁC TRÍCH ĐOẠN TRUYỆN KIỀU TRONG SGK NGỮ VĂN 10 THEO HƯỚNG KHÁM PHÁ NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN DU 57

2.1 Định hướng dạy học đoạn trích “Trao duyên” 58

2.1.1 Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Trao duyên” (theo ý kiến của một vài nhà nghiên cứu) 58

2.1.2 Phương án dạy học của SGV Ngữ văn 10 bộ cơ bản 62

2.1.3 Phương án dạy học của SGV Ngữ Văn 10 bộ nâng cao 63

Trang 6

2.1.4 Các phương án dạy học của một số sách tham khảo 65

2.1.5 Phương án dạy học do luận văn đề xuất 69

2.2 Định hướng dạy học đoạn trích "Nỗi thương mình" 70

2.2.1 Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Nỗi thương mình” (theo ý kiến của các nhà nghiên cứu) 70

2.2.2 Phương án dạy học của SGV Ngữ văn 10 bộ cơ bản 74

2.2.3 Phương án dạy học của SGV Ngữ Văn 10 bộ nâng cao 76

2.2.4 Các phương án dạy học của một số sách tham khảo 77

2.2.5 Phương án dạy do luận văn đề xuất 80

2.3 Định hướng dạy học đoạn trích "Chí khí anh hùng" 81

2.3.1 Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Chí khí anh hùng” (theo ý kiến của các nhà nghiên cứu) 81

2.3.2 Phương án dạy học của SGV Ngữ văn 10 bộ cơ bản 85

2.3.3 Phương án dạy học của SGV Ngữ Văn 10 bộ nâng cao 86

2.3.4 Các phương án dạy học của một số sách tham khảo 88

2.3.5 Phương án dạy do luận văn đề xuất 90

Chương III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 92

3.1 Thiết kế bài học 92

3.2 Thiết kế bài học 100

3.3 Thiết kế bài học 106

3.4 Dạy học thực nghiệm 111

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 111

3.4.2 Cách thức thực nghiệm 111

3.4.3 Kết quả dạy thực nghiệm 112

3.4.4 Kết luận chung về thực nghiệm 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác của văn học dân tộc Việt

Nam Vậy làm thế nào để bạn đọc - học sinh ngày nay thừa nhận đó là một kiệt tác? Mỗi một câu thơ Kiều, mỗi một đoạn thơ Kiều có nội dung phong phú, sâu xa, được diễn đạt bằng nghệ thuật tài tình Phải lựa chọn một hướng dạy học như thế nào sao cho có hiệu quả?

1.2 Truyện Kiều là kiệt tác của văn học dân tộc Việt Nam, nhưng nó ra đời từ cuối thế kỷ XVIII Nội dung Truyện Kiều với những bức tranh đời

sống, bức tranh thiên nhiên, những hình tượng nhân vật đã rất xa lạ với bạn

đọc - học sinh ngày nay Không những thế, ngôn ngữ Truyện Kiều với những

điển tích, điển cố được lấy từ văn học Trung Hoa, kể cả những từ ngữ được lấy từ ca dao cổ Việt Nam…vẫn rất khó hiểu với bạn đọc - học sinh ngày nay Vậy vấn đề đó phải giải quyết như thế nào? Điều đó cũng khiến chúng tôi

chọn đề tài: "Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật độc

đáo của Nguyễn Du trong các đoạn trích Truyện Kiều ở SGK Ngữ văn 10",

với hi vọng có thể đóng góp thêm một tiếng nói nhỏ bé vào vấn đề dạy học

Truyện Kiều trong nhà trường Từ đó với mong muốn tìm ra được những biện

pháp, khắc phục những khó khăn khi giảng dạy các văn bản đó Trước hết phục vụ cho chính mình, sau đó góp phần cùng bạn đồng nghiệp dạy tác phẩm

Truyện Kiều trong trường phổ thông đạt kết quả cao

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nói về những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của cụ Nguyễn

Du trong Kiệt tác " Truyện Kiều" thì từ xưa đến nay nhiều người đã bàn đến

Cuốn sách "Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm" (NXB Giáo dục Trịnh Bá

Đình, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu) đã thống kê và tuyển chọn khá đầy đủ về điều đó Trong các công trình nghiên cứu đó,

Trang 9

chúng tôi đặc biệt chú ý và tâm đắc nhất là cuốn "Tìm hiểu phong cách

Nguyễn Du trong Truyện Kiều" của nhà nghiên cứu Phan Ngọc Chúng tôi

đã vận dụng những khám phá tinh tế và tài ba của cụ Phan Ngọc vào việc tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du trong từng đoạn trích vào sách giáo khoa văn học trong nhà trường

2.2 Từ khi bộ sách Ngữ văn mới của Trung học phổ thông được thực thi đại trà trong nhà trường (từ năm học 2006 - 2007), sách giáo viên Ngữ

văn (Bộ chuẩn và bộ nâng cao) đã gợi ý cho giáo viên về những sáng tạo

nghệ thuật tài tình của Nguyễn Du trong từng đoạn trích Chúng tôi cũng vận dụng những gợi ý đó vào việc giải quyết vấn đề ở luận văn này

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo ý kiến của nhà nghiên cứu về Truyện

Kiều Lê Xuân Lít trong cuốn "Dạy và học Truyện Kiều - Những vấn đề

cần bàn" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội - 2007) để bổ sung thêm vào các

thiết kế dạy học các đoạn trích Truyện Kiều trong sách giáo khoa Ngữ văn 10

nhằm phục vụ cho đề tài của luận văn

2.3 Các luận án, luận văn về dạy học Truyện Kiều trong nhà trường đã có

- Luận văn Tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thanh Sơn: “Con đường

nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du cho học sinh phổ thông miền núi hòa bình” - Hà Nội 2002

- Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của Hoàng Thị Thanh Mai: “Dạy

học một số đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du ở THPT theo hướng lịch sử phát sinh” – Hà Nội 2010

Dựa vào kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi tìm hiểu thêm vấn đề ở một khía cạnh khác để mong góp thêm một tiếng nói vào

việc dạy học Truyện Kiều ở THPT

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Tìm ra những phương án dạy học có hiệu quả cho các đoạn trích Truyện

Kiều trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, theo hướng khai thác những sáng tạo

nghệ thuật độc đáo và tài tình của Nguyễn Du

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương thức hoạt động dạy và học của thầy và trò về các văn bản trích

từ Truyện Kiều trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 theo hướng tìm hiểu tài nghệ

của Nguyễn Du trong các đoạn trích đó

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về Truyện

Kiều và các công trình bàn về dạy học Truyện Kiều ở trường phổ thông

5.2 Khảo sát thực tế cảm thụ của học sinh đối với một số đoạn trích

trong Truyện Kiều và thực tiễn dạy học Truyện Kiều của giáo viên ở trường

THPT hiện tại

5.3 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính đúng đắn của những

phương án mà luận văn đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Vận dụng phương pháp tổng hợp lý luận để tìm hiểu các công trình

nghiên cứu về dạy học Truyện Kiều trong nhà trường phổ thông

6.2 Vận dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu thập được trong quá trình điều tra, khảo sát và quá trình thực nghiệm

6.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu khả năng cảm thụ của học sinh

lớp 10 về tác phẩm Truyện Kiều Từ việc nắm được thực trạng của việc dạy học Truyện Kiều để nghiên cứu đề tài một cách sát thực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Truyện Kiều cho học sinh lớp 10 THPT

Trang 11

6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm với tiền hành xây dựng thiết kế bài học và dạy thực nghiệm đối chứng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài (Cơ sở lý luận:

Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của Nguyễn Du ở Truyện Kiều Cơ

sở thực tiễn: Tình hình dạy học Truyện Kiều ngày nay ở các trường phổ thông)

Chương II: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du trong từng đoạn trích ở sách giáo khoa Ngữ văn

10 (Gồm: định hướng dạy học cho từng bài, nội dung khai thác và phương

pháp tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động học tập ở từng bài)

Chương III: Thực nghiệm sư phạm (Gồm: thiết kế bài học và dạy

thực nghiệm đối chứng ở một số trường THPT tại Vĩnh Phúc)

Trang 12

B PHẦN NỘI DUNG

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA THIÊN TÀI NGUYỄN DU TRONG

TRUYỆN KIỀU

Ở chương này luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của

vấn đề dạy học Truyền Kiều theo hướng tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật

của thiên tài Nguyễn Du Bởi vậy nội dung chính của chương này gồm 2 phần

- Phần 1 là cơ sở lý luận của đề tài bao gồm: cuộc đời, sự nghiệp văn học của đại thi hào Nguyễn Du, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của kiệt tác

Truyện Kiều, những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của ông ở Truyện Kiều

- Phần 2 là nói về cơ sở thực tiễn của đề tài bao gồm: Thực tế dạy học

Truyện Kiều ở trường THPT ngày nay và vốn hiểu biết ban đầu của học sinh

THCS khi bước vào học Truyện Kiều ở THPT (vì Truyện Kiều đã học ở lớp 9)

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Sách giáo khoa Ngữ văn 10 nhận định về Truyện Kiều

Theo SGK Ngữ Văn 10 (bộ chuẩn và bộ nâng cao) thì cuộc đời của Nguyễn Du có những nét riêng biệt sau đây có liên quan đến thành tựu sáng tác văn học của ông

1 Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống của nhiều vùng quê khác nhau (Ngữ văn 10 - chuẩn - Tr92) Bởi vì: Ông sinh ra ở Thăng Long, cha ông quê ở Hà Tĩnh, mẹ ông quê ở Bắc Ninh, vợ ông quê ở Thái Bình Đó

là tiền đề cho sự nghiệp sáng tạo văn học sau này của ông

2 Ở tuổi ấu thơ và thiếu niên, Nguyễn Du được sống trong cảnh sống giàu sang của gia đình quyền quý thời vua Lê, chúa Trịnh (cha ông giữ chức

Trang 13

Tể Tướng, anh trai làm quan tới chức Tham Trung) Vì vậy ông có điều kiện thuận lợi để học hành, dùi mài kinh sử và có dịp hiểu biết về cuộc sống phong lưu, xa hoa của giới quý tộc phong kiến

3 Do biến cố của lịch sử, Nguyễn Du rơi vào cuộc sống "Mười năm gió bụi" đầy khổ cực (nhà Nguyễn sụp đổ, Nguyễn Du về sống ở quê vợ tại tỉnh Thái Bình, sau đó vợ mất thì về quê cha ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh) Những trải nghiệm ở cuộc sống phong trần này đã khiến cho Nguyễn Du có vốn sống thực tế phong phú của dân nghèo cơ cực và học được lời ăn tiếng nói của dân gian, thông cảm sâu xa với mọi kiếp người bị đày đọa

4 Những năm cao tuổi ông ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn (làm tri huyện, tri phủ, cần chánh điện học sĩ) ông được cử đi sứ sang Trung Quốc Chuyến đi này đã giúp ông được trực tiếp tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa

và đặc biệt nâng tầm hiểu biết của ông về xã hội và thân phận con người Điều này để lại một dấu ấn sâu đậm trong những sáng tác văn thơ của ông Nguyễn Du đã sống một cuộc đời bi kịch Xuất thân trong gia đình quý tộc giàu sang, thế mà cơn lốc lịch sử đã hất đổ hết lầu son gác tía, đẩy ông vào cuộc đời sống lay lắt, lưu lạc, tha hương Nhưng bi kịch lớn nhất của ông là từng khao khát một sự nghiệp vẫy vùng cho phỉ chí, mà rút cuộc phải chấp nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có một hoạt động say sưa và nhất quán vì lý tưởng nào cả Nguyễn Du đã sống như một người dân thường giữa thế gian và nhờ thế ông thông cảm sâu xa với mợi kiếp người bị đày đọa Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố của cuộc đời và điều đó khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâu chưa từng có trong văn thơ Việt Nam (Ngữ Văn 10 - Nâng cao - Tr.153)

Theo SGk Ngữ Văn 10 (Bộ nâng cao) thì Truyện Kiều có những giá trị

nội dung và giá trị nghệ thuật sau đây:

* Truyện Kiều được Nguyễn Du dựa theo cốt truyện Tiểu thuyết chương

hồi của Trung Quốc: "Kim Vân Kiều Truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân

Trang 14

Nhưng bằng những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình, Nguyễn Du đã

làm cho Truyện Kiều trở thành một truyện thơ vừa giàu chất tiểu thuyết vừa

đậm chất trữ tình bậc nhất trong văn học Việt Nam

* Về giá trị tư tưởng

1 Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý

2 Truyện Kiều là tiếng khóc cho số phận con người

3 Truyện Kiều là bản cáo trạng đanh thép đối với các thế lực đen tối

4 Truyện Kiều là tiếng nói hiểu đời

* Về giá trị nghệ thuật

1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động

2 Mẫu mực về nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát

3 Tiếng Việt trong Truyện Kiều là một ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt,

giàu sức biểu cảm

* Do vậy, từ khi ra đời đến nay, Truyện Kiều luôn được mọi tầng lớp

nhân dân Việt Nam yêu chuộng Nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian

nảy sinh từ Truyện Kiều: vịnh Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều Trên thế giới ít có tác

phẩm văn học có sức sống mãnh liệt như vậy

Năm 1965 Hội đồng Hòa bình thế giới tổ chức kỷ niệm 200 năm năm sinh Danh nhân văn hóa Nguyễn Du và Truyện Kiều đã trở thành di sản văn hóa nhân loại… Đến nay Truyện Kiều đã được dịch ra khoảng 20 thứ tiếng trên thế giới: Pháp, Nga, Trung Quốc, Anh, Đức, Ba Lan, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ả Rập,…

1.1.2 Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

Theo giáo sư Phan Ngọc trong cuốn “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du

trong Truyện Kiều” thì Nguyễn Du có những sáng tạo nghệ thuật sau đây:

(Chúng tôi xin tóm lược các luận điểm chính của nhà nghiên cứu Phan Ngọc

và sắp xếp lại theo nhận thức của chúng tôi nhằm phục vụ cho luận văn)

Trang 15

1.1.2.1 Sự sáng tạo nghệ thuật đầu tiên của Nguyễn Du ở Truyện Kiều là thay đổi chủ đề của tác phẩm, chuyển chủ đề từ tình và khổ sang tài và mệnh

Ai cũng cho rằng: tài mệnh tương đố là một sáo ngữ, không có gì mới mẻ

Nhưng không phải như vậy Đây là lý thuyết của Nguyễn Du, ông vay mượn ở chính thời đại của ông Và cống hiến của Nguyễn Du là biến câu chuyện nhất thời thành câu chuyện muôn đời Nguyễn Du ở đây là một thiên tài

1.1.2.2 Sự sáng tạo nghệ thuật thứ hai của Nguyễn Du ở Truyện Kiều là

ông sử dụng một phương pháp tự sự riêng, không có trong “Kim Vân Kiều

truyện” cũng như trong truyện Nôm Việt Nam trước ông

 Tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc chỉ có sự việc và sự việc Nội dung của câu chuyện chẳng qua chỉ là những mưu mô móc xích lại với nhau, trong đó mỗi mưu mô đều có tính độc lập riêng và gồm rất nhiều tình tiết chi

li và tỉ mỉ Bởi thế mỗi hồi đều có tính độc lập riêng của nó Ngày xưa ở Trung Quốc đã có người kể chuyện “Tam quốc chí diễn nghĩa” hay “Thủy hử” để kiếm sống bằng cách kể lại một hồi hay nửa hồi trong một buổi sáng

từ quán trà này sang quán trà khác

“Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân có cấu trúc như vậy,

nó là một chuỗi những mưu mô

 Còn “Truyện Kiều” thì không có cấu trúc như vậy: mọi mưu mô đều biến mất Sự việc diễn ra do cái logic khách quan của cuộc sống Nguyễn

Du không chỉ gạt bỏ mọi âm mưu, mà còn gạt bỏ mọi tính chất li kỳ trong mưu mô (trong “Truyện Kiều” chỉ có một mưu mô, đó là mưu mô của Hoạn

Thư để hành hạ Kiều) Sau khi gạt bỏ mưu mô, Nguyễn Du còn gạt bỏ luôn

cả chi tiết bên ngoài

- Cống hiến nghệ thuật vô giá của Nguyễn Du là ông đã dùng một hệ

thống thao tác mà hàng thế kỷ sau mới hiểu được và vận dụng:

* Thao tác lập hồ sơ: tổ chức lại các sự việc chi tiết sao cho chúng chứng

minh cách đánh giá của mình là đúng (giá trị nghệ thuật là ở cách đánh giá sự việc chứ bản thân sự việc không có giá trị)

Trang 16

Ví dụ: Trong “Kim Vân Kiều truyện”, đoạn gia biến gồm 11 chi tiết, mọi

chi tiết đều được kể lại tỉ mỉ một cách khách quan Nguyễn Du làm khác hẳn Ông thu gọn lại 24 câu, không phải kể lại câu chuyện như nó xảy ra, mà để lập hồ sơ về công lí của chế độ quan lại:

- Nguyễn Du 3 lần khẳng định đây là một hành động oan trái

- Ông bố trí các chi tiết sao cho mọi kẻ bênh vực luật pháp phong kiến đều cứng họng

* Thao thác thứ hai là ông đặt sự việc vào một thế đối lập

Thí dụ: Đoạn Kiều trả ân báo oán, để biến cuộc khởi nghĩa của Từ Hải thành cuộc khởi nghĩa chân chính, Nguyễn Du đối lập công lí của quần chúng với pháp luật phong kiến mà ông gọi đó là “thói sai nha” Đây không phải là

“tiếng oan dậy đất” mà là “kêu mà ai thương”, không phải là „án ngờ lòa mây” mà là “đáng tình còn sao”, không phải là “kêu trời…nhưng xa” mà là

“lồng lộng trời cao”, “hại nhân nhân hại”…

Đặt sự việc trong những hoàn cảnh đối lập nhau như vậy sẽ gây nên

những kết quả nghệ thuật gì?

- Nó bắt ta phải nhớ một sự kiện trong nhiều hoàn cảnh: Nói đến chuyện

Kiều gặp Kim Trọng, ta lập tức nhớ đến Kiều có 4 lần gảy đàn chính (Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe lần thứ nhất, Kiều gảy đàn cho Hoạn Thư, cho

Hồ Tôn Hiến, cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp) Biện pháp đối lập này làm cho tự sự rất ít mà ý nghĩa lại sâu xa, phong phú Bốn lần gảy đàn trong những hoàn cảnh khác nhau của Kiều là bốn giai đoạn trong cuộc đời của nàng và tiếng đàn là tiếng nói nội tâm của nàng

- Nguyễn Du đã đổi mới hoàn toàn bố cục của “Kim Vân Kiều truyện”

Các sự kiện chính trong “Kim Vân Kiều truyện” và trong Truyện Kiều về

căn bản là như nhau, nhưng quan hệ số lượng của chúng lại khác nhau?

Thí dụ: “Kim Vân Kiều truyện” có 20 hồi, hồi 19 kết thúc khi Kiều nhảy

xuống sông Tiền Đường Toàn bộ câu chuyện tái hợp thu lại trong một hồi

Trang 17

Nhưng trong Truyện Kiều thì cái kết là mẫu mực của nghệ thuật Nó

chiếm 606 câu, tức 12,5 % tác phẩm (tiểu thuyết xưa coi nhẹ cái kết Trái lại, kịch coi trọng cái kết) Lúc này bất chấp truyền thống, Nguyễn Du đưa ra cái nhìn phi thường của mình Bấy giờ, “Hoa tàn mà lại thêm tươi Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa” Nguyễn Du đem đến một sự “bù đắp” như Arixtốt đã nói rất hay về nghệ thuật Hy Lạp Người xem được hưởng sự bù đắp ấy Tâm hồn của Nguyễn Du cũng lớn như nghệ thuật của ông Một người đàn bà giang hồ là hiện thân của người đàn bà trong trắng, thủy chung của toàn bộ giá trị của loài người thì trong tiểu thuyết Việt Nam xưa nay chỉ có một người Nguyễn Du đã nhìn Kiều với cặp mắt của Kim Trọng:

Như nàng lấy hiếu làm trinh Bụi nào cho đục được mình ấy vay Trời còn để có hôm nay Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời

 Tóm lại, cách tự sự của Nguyễn Du là mới mẻ và táo bạo, nó là một

cống hiến của phong cách ông đối với văn học Việt Nam Chính do cách tự sự mới mẻ và độc đáo ấy mà mỗi thời đại, mỗi người nghiên cứu đều có thể tìm

thấy ở Truyện Kiều những điều mới mẻ, chưa ai thấy

1.1.2.3 Sáng tạo nghệ thuật thứ ba của Nguyễn Du ở Truyện Kiều là đã

xây dựng lên đƣợc một loại hình tiểu thuyết phân tích tâm lý hiện đại Ông

là người đầu tiên trong văn học Việt Nam và là một trong những người đầu tiên trong văn học thế giới đã xây dựng lên được một loại hình tiểu thuyết

mới mẻ Và ông đã làm xuất hiện ba phạm trù mỹ học mới: ngôn ngữ tác giả,

ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ thiên nhiên

1.1.2.4 Đóng góp thứ tư của Nguyễn Du là trong nghệ thuật miêu tả tình yêu

 Nói đến Truyện Kiều, thế nào người ta cũng nhắc đến tình yêu và thậm

chí rất nhiều người chỉ thấy có vấn đề tình yêu Phải đến gần đây, sau cách

Trang 18

mạng tháng 8 người ta mới phát hiện ra rằng ngoài tình yêu, trong Truyện

Kiều còn chứa đựng những vấn đề xã hội Tình yêu theo nghĩa vợ chồng

thương nhau, trai gái thương nhau thì có từ thượng cổ, nhưng tình yêu như một phạm trù mỹ học lại ra đời rất muộn

 Sở dĩ câu chuyện tình yêu trong Truyện Kiều gây ra nhiều tranh cãi,

chính vì Nguyễn Du đã thể hiện tập trung nhất và táo bạo nhất kiểu lựa chọn

của thời đại Tình yêu trong Truyện Kiều sinh chuyện, chỉ vì ông đã chọn

những biện pháp làm việc quá trái ngược với cách nhìn của lễ giáo phong kiến

- Tình yêu trong Truyện Kiều luôn gắn liền với yếu tố thể xác Đây là

một nét bất biến trong phong cách thời đại, nhưng phải nói ở Nguyễn Du nó táo bạo hơn và cụ thể hơn Ông dám đi thẳng vào cái cá biệt

Sượng sùng, giữ ý, rụt rè

Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu

- Tình yêu luôn luôn gắn liền với sự mất mát, với lo sợ, với cảm giác rằng hạnh phúc rất mong manh, sớm chầy sẽ tan vỡ Ngay trong đêm tự tình với Kim Trọng, Kiều đã lo:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?

Khi Thúc Sinh tỏ ý muốn lấy nàng, Kiều đã lo ngại về tình yêu của Thúc Sinh

Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?

- Trong cách phân tích tình yêu của Truyện Kiều, là ở đây tình yêu hết sức

đa dạng Quá trình diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều riêng trong vấn đề tình yêu, thì sẽ thấy có bốn biểu hiện khác nhau Trong mối tình của nàng đối với Kim Trọng, đó là mối tình trong trắng đầu tiên của một cô gái Trong đoạn miêu tả mối tình của nàng với Thúc Sinh, đó là tình yêu tính toán trông đợi sự

Trang 19

nương tựa, nhưng không có yếu tố đắm say Trong đoạn miêu tả tình yêu của nàng với Từ Hải, chứa đựng sự tin cậy, thán phục đối với người tri kỷ Sau này gặp lại Kim Trọng, ta có một tình yêu khác, nặng về nghĩa, không mang tính chất đắm say, một sự tôn trọng lẫn nhau đối với một người bạn quý

- Nguyễn Du chứng minh người ta có thể cùng một lúc có nhiều mối tình khác nhau Về tính chất, Kiều yêu Từ Hải nhưng vẫn có thiện cảm với Thúc Sinh và nhớ Kim Trọng

- Truyện Kiều đã gây nên một xúc động lớn trong tâm hồn người Việt

Nam Người ta vịnh Kiều, tập Kiều, học tập cách diễn đạt ngôn ngữ của Kiều

1.1.2.5 Sự sáng tạo nghệ thuật thứ năm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nghệ thuật miêu tả tâm trạng

Truyện Kiều là quyển “Bách khoa toàn thƣ” của một ngàn tâm trạng

Người ta đã nói Sếchxpia là tác giả của một vạn tâm hồn Nhưng Sếchxpia là tác giả của hàng chục vở kịch Còn sự tập trung lại trong một tác phẩm chỉ ngắn 3254 câu thơ vô vàn tâm trạng khác nhau, tất cả đều đúng như sự thực, đồng thời hấp dẫn, lôi cuốn, thì đó là điều xưa nay chưa hề có Đó là đặc điểm

vô song của Nguyễn Du Trong Truyện Kiều số câu đã ít, nhân vật lại không

nhiều, tình tiết câu chuyện có thể nói không có gì, thế mà tính chất đa dạng của tâm trạng thực là vô địch Chính điều này mới giải thích được hiện tượng

từ trước đến nay ai cũng nói đến, nhưng không ai giải thích được Tại sao người ta lại bói Kiều? Kiều chứa đựng cái gì có vẻ như huyền bí đến nỗi con người Việt Nam chắp tay trước tác phẩm này, rồi mở ra tìm 3 câu trong một trang nào đó, đọc ở đấy lời phán đoán về số phận của mình

Thơ Nguyễn Du là thơ của muôn vàn tâm trạng nhưng đó là tâm trạng Việt Nam Nguyễn Du muốn tìm sự hòa hợp giữa con người với xã hội và đất nước Việt Nam

Trong những tâm trạng mà ta tìm thấy trong Truyện Kiều, có tiếng vọng

của Phật giáo Điều đó là dĩ nhiên, vì Nguyễn Du bắt buộc phải chấp nhận hệ suy luận của Phật giáo, để nâng những vấn đề ông nêu lên đến bậc thang toàn

Trang 20

nhân loại Nhưng vì đã chọn hệ suy luận của Phật giáo, cho nên tất yếu trong

Truyện Kiều có vang lên giọng nói chán nản của Phật giáo như tu là cõi phúc, tình là dây oan Có những câu chứa đựng tâm trạng bi quan:

Kiếp xưa đã vụng đường tu Kiếp này chẳng khéo đền bù mới xuôi

1.1.2.6 Sáng tạo thứ sáu của Nguyễn Du ở Truyện Kiều là vận dụng tài tình thơ lục bát

 Về gieo vần và thanh điệu

Thơ lục bát là thể thơ gồm từng cặp câu 6-8 lặp đi lặp lại không thay đổi

số chữ, trong đó câu lục chỉ có một vần ở chữ thứ 6, còn câu bát thì có hai vần, một vần ở chữ thứ 6 hiệp với chữ thứ 6 của câu lục ở trên, một vần ở chữ thứ 8 hiệp với chữ thứ 6 của câu dưới Tất cả đều là vần bằng, không có vần nào trắc, câu 8 như vậy là có hai vần bằng khác nhau, nếu vần này là phù bình thì vần kia phải là trầm bình, nghĩa là chữ thứ 6 nếu không có dấu thì chữ thứ

8 phải có dấu huyền, ngược lại cũng vậy Hai chữ đó không được cùng một thanh điệu

Thí dụ:

Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau, Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Ở 4 câu trên chữ thứ 6 ở câu lục hiệp vần với chữ thứ 6 ở câu bát ta - là Chữ thứ 8 ở câu bát hiệp với chữ thứ 6 của câu lục ở dưới: nhau - dâu.Tất cả đều

là vần bằng (không dấu và dấu huyền) Riêng ở câu bát, nếu chữ thứ 6 là dấu

huyền thì chữ thứ 8 phải là chữ không dấu: là - nhau, hoặc ngược lại: đau - lòng

 Câu thơ có hình thức đối xứng

Khi đặt câu thơ có khuynh hướng đối xứng thì có sự thay đổi trong

cách bố trí thứ tự các thanh điệu Trong Truyện Kiều có một số lượng câu khá

lớn có hình thức đối xứng:

Trang 21

- Mai cốt cách, tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười

- Làn thu thủy, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Trong những câu lục bát không đối xứng thì chữ thứ 4 ở câu lục và chữ

thứ 4 ở câu bát bắt buộc thanh trắc (chữ cõi và chữ mệnh ở câu thơ mở đầu

của Truyện Kiều) Nhưng khi có đối xứng, do chỗ chữ thứ ba và chữ thứ 6

trong câu lục đối nhau nên chữ này bằng thì chữ kia phải trắc: cách - thần,

thủy - sơn

Ở câu thơ bình thường thì chữ thứ ba là bằng, nhưng ở câu thơ có hình thức đối xứng nhất thiết phải trắc, bởi vì chữ thứ 6 ở câu cuối bao giờ cũng bằng Hiện tượng đối xứng trong câu bát là một loại kiến trúc không có trong thi ca dân gian Khi ta gặp nó trong cao dao thì ta phải cảnh giác Đó không phải là ca dao mà là thơ thực sự Đây là điều quan trọng của nghệ thuật làm lục bát Nếu bài lục bát dài vài chục mà không có câu đối xứng 3-3 hay 4-4 thì nghe nó sẽ như vè, mất sắc thái thơ

Đó là khi có ca khúc nội tâm thì câu thơ lục bát của Kiều lại được bố trí thành từng khổ (Nguyễn Du đã áp dụng kỹ thuật của thơ song thất lục bát vào

Truyện Kiều Với sự ra đời của thơ song thất lục bát, lần đầu tiên thơ Việt

Nam gồm từng khổ bốn câu một)

Trang 22

- Nguyễn Du đã thực hiện biện pháp tổ chức bài thơ dài thành nhiều

khổ khác nhau về số câu bằng cách nào?

Thứ nhất, sử dụng một hai chữ láy đi láy lại, với một khoảng cách đều

đặn, để tạo nên tính thống nhất của toàn khổ Đó là khổ thơ tả cảnh thanh

minh, buổi chiều chị em ra về với những từ láy âm dồn dập

Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Đó là khổ thơ tả nỗi buồn của Thúy Kiều trên lầu Ngưng Bích với hai

chữ "buồn trông" được lập lại 4 lần Đó là khổ thơ tả tâm trạng Kiều khi bước vào lầu xanh với 4 chữ "sao" ở từng câu trong các kết hợp "khi sao",

"giờ sao", "mặt sao", "thân sao", tạo nên bốn câu hỏi mà không có tiếng

trả lời:

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa

Khi sao phòng gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?

Thứ hai, Nguyễn Du còn bố trí xen nhau, cứ một đoạn tự sự, lại đến

một đoạn phân tích nội tâm, sau một đoạn đối thoại là một đoạn miêu tả thiên nhiên hoặc sự việc Ông không kể hai chuyện liền nhau, trong đối thoại

không ngừng có sự phân tích nội tâm xen vào để tách đối thoại ra Nhờ cách

Trang 23

làm này mà tính đơn điệu của thể lục bát dường như mất đi Nguyễn Du thường sử dụng 4 nhân tố: sự việc và hành động, phân tích nội tâm, đối thoại của các nhân vật, nhận xét của tác giả để tạo nên sự phân chia của bản trường

ca thành những đoạn lớn (Các truyện Nôm khác chỉ sử dụng được hai yếu tố:

tự sự - hành động và đối thoại nhân vật)

 Biện pháp lặp từ trong câu thơ

Biện pháp lặp từ không phải là biện pháp của từ chương học cổ, mà là biện pháp chủ đạo trong ca dao:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ, Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?

* Lặp 4 chữ: "Làm cho cho hại cho tàn cho cân" (1272)

* Lặp 3 chữ: - "Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng" (1284)

- "Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình" (240)

- "Hoa sao hoa khéo giã giày bấy hoa"? (1068)

- "Giật mình mình lại thương mình xót xa" (1234)

* Lặp hai chữ:- "Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn" (222)

- "Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng" (1258)

- "Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng" (1285)

- "Một ngày nặng gánh tương tư một ngày" (568) Biện pháp này đem lại cho câu thơ một sức nặng đặc biệt Khi nội tâm tràn đầy cảm xúc, thì ngôn ngữ cũng phải chứa đựng một độ thừa thãi khá cao, cái thừa đó là cái thừa nghệ thuật

Trang 24

 Quy tắc hiệp vần trong thơ lục bát

* Quy tắc một: Những vần hiệp với nhau bao giờ cũng phải đồng nhất về chung âm (âm cuối - một vần Việt Nam, gồm hai bộ phận chính là nguyên âm và chung âm)

- Vần in có thể hiệp vần với ên, en (cùng chung âm - n)

"Mất người còn chút của tin Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa"

- Ong có thể hiệp vần với ung, ông, uông (đồng nhất chung âm)

"Lạ gì bỉ sắc tư phong Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"

- Trong Tiếng Việt, chung âm bao giờ cũng chỉ có thể là một âm đơn, nhưng trong chữ viết có khi viết thành hai con chữ

Thí dụ: âm đơn ang viết với ng, inh viết với nh, ách viết với ch, chung

âm O viết với eo, ao, chung âm u viết với âu, au, chung âm y viết với ay, ây, chung âm i viết với oi, ai Đặc điểm tiêu biểu với chung âm là sau nó người ta không thể thêm bất kỳ âm gì nữa Chẳng hạn tai sau i không thể thêm gì nữa Trái lại trong tòa có thể thêm -n, -ng để có toàn, toàng

* Quy tắc 2: Sự hiệp vần của các nguyên âm theo quy tắc cùng dòng (tức cùng âm sắc, cùng bổng hay trầm)

Một âm tiết Tiếng Việt chỉ có một nguyên âm mà thôi Nguyên âm ấy có

thể là một nguyên âm đơn như a, ă, ơ, â, e, ê, i, u, ư, o, ô Nó cũng có thể

nguyên âm đôi như iê (ia), ươ (ưa), uô (ua) Tuy vậy, nguyên âm đôi vẫn

hoạt động như nguyên âm đơn

Tiếng Việt có tất cả 14 nguyên âm, được phân ra làm 3 loại theo âm sắc

- Dòng trước (bổng): i, iê (ia), ê, e

- Dòng giữa (trung hòa): ư, ươ (ưa), ơ, â, a, ă

- Dòng sau (trầm): u, uô (ua), ô, o

Trang 25

Nếu phân chia theo độ mở của miệng thì gồm 4 loại:

- Khép: i, iê, ư, uơ (ưa), u, uô (ua)

- Nửa khép: ê, ơ, â, ô

- Nửa mở: e, o

- Mở: a, ă

Thí dụ: Vần on vì có nguyên âm o thuộc dòng sau (trần) nên chỉ có thể hiệp vần với ôn, un và ngược lại Còn on không thể hiệp vần với một nguyên

âm dòng trước: en, ên, in và ngược lại

Các nguyên âm dòng trước có thể có những cách hiệp vần sau:

- i → e

"Đoạn trường thay lúc phân kỳ

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập gềnh"

- ing (inh) → eng (anh):

"Ví chăng duyên nợ ba sinh Làm chi đem thói khuynh thành trêu người"

Trang 27

- uô → ô:

"Có thảo thụ, có sơn hồ Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh"

Trang 28

* Tóm lại: Quy tắc hiệp vần của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là: chung âm đồng nhất, cùng dòng, a, ơ trước i hay u có thể kết hợp không cùng dòng

Một lý thuyết về vần giản dị đến thế và chặt chẽ như thế rất bổ ích cho mọi người làm thơ và nghiên cứu thơ

 Tính âm nhạc của câu thơ Nguyễn Du

- Sau khi chọn thể lục bát, Nguyễn Du phải chịu đựng những thiệt thòi

về âm nhạc của thể thơ

Trang 29

+ Thơ lục bát không chấp nhận một vần trắc nào hết

+ Vai trò của yếu tố trắc quá thấp trong câu thơ này (câu lục bát bắt buộc chữ thứ tư phải trắc, câu bát chỉ bắt buộc chữ thứ tư phải trắc)

Như vậy, Nguyễn Du chỉ còn một cách là vùng ra khỏi áp lực của vần bằng ở tất cả mọi nơi có thể làm được

Thí dụ: - " Có cổ thụ, có san hồ" - 4 chữ thanh trắc

- "Nước vỏ lựu, máu mào gà" 4 chữ thanh trắc

Theo khuôn mẫu thông thường, ở câu lục, chữ thứ hai, thứ 4, thứ 6 là

thanh bằng Nguyễn Du đã phá vỡ khuôn mẫu ấy 144 lần trong Truyện Kiều

để đạt được con số tối đa là 4 chữ có thanh trắc Trong câu bát, ba chữ thứ 2, thứ 6, thứ 8 dứt khoát phải là thanh bằng, cho nên khả năng tối đa về chữ trắc

ở đây là 5 Ví dụ:

- Chữ tài, chữ mệnh, khéo là ghét nhau (2)

- Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay (120)

Trong Truyện Kiều có 196 trường hợp như vậy

- Để đem đến tính âm nhạc của câu thơ, Nguyễn Du đã tạo nên một tính

đa dạng về nhịp điệu, về sự trùng lặp, về hài âm trong khuôn khổ tính đều đặn của nhịp điệu, vần luật và âm hưởng của câu thơ lục bát Ông là nhà thơ đạt đến trình độ âm nhạc cao nhất trong lục bát

Thí dụ: Ông tả hình ảnh sóng nước trên sông Tiền Đường

"Triều đâu nổi sóng đùng đùng

Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường (2619-20)

Trông vời con nước mênh mông (2635)

Ngọn triều non bạc trùng trùng

Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo (2969 - 70)"

Những chữ điệp trùng trùng, đùng đùng, mênh mông tạo nên ấn

tượng tiếng động như sấm và cảnh bát ngát của con nước Ông tả chiếc xe ngựa mới lên đường:

Trang 30

"Vó câu khập khễnh, bánh xe gập gềnh,"

Nhưng sau đó thì: "Đùng đùng gió dục mây vần,

Ông tả cái căm tức của Hoạn Thư:

"Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên

Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay."

Chữ cho lặp lại 4 lần trong 4 câu làm người đọc cảm thấy Hoạn Thư

nghiến răng

1.1.2.7 Sáng tạo thứ bảy của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nghệ thuật sử dụng Tiếng Việt

 Kỹ năng dùng từ: Cụ Phan Ngọc cho ta biết Nguyễn Du có ý thức

thực sự muốn giữ gìn tính trong sáng của Tiếng Việt, cố nói bằng ngôn ngữ

bình thường của quần chúng ít học Chính vì vậy nhân dân ai cũng biết

Truyện Kiều và có nhiều người thuộc Truyện Kiều

* Nguyễn Du có nói ông học ngôn ngữ của người trồng dâu, trồng gai, điều đó là sự thực

Thí dụ: "Mẹo lựa đã mắc vào khuôn" (821) - chữ mẹo lừa và chữ khuôn

là lấy ở thuật ngữ dệt vải Mẹo lừa là cái khổ dệt dùng để phân biệt những sợi chỉ mắc vào khung dệt Người ta mắc cái mẹo lừa vào khuôn rồi lồng các sợi chỉ qua Thành ngữ "đan dập giật giàm" là từ thường dùng của người nông dân Dập là cái để bắt cá, giàm là cái que xâu ngang mũi trâu, tiếng Nghệ Tĩnh "Đan dập giật giàm bỗng dƣng" có nghĩa là: thêu dệt nên chuyện mà

hãm hại người

* Nguyễn Du còn dùng cả những từ ngữ dung tục

Thí dụ: "Hở môi ra cũng thẹn thùng" (721) từ "hở môi" có vẻ thô tục, người bình thường sẽ nói hé môi Kiều nói với Kim Trọng sau khi tái hợp:

Trang 31

"Thiếp từ ngộ biến đến giờ Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa" (3097-8)

Đặt chữ thừa trước tính từ là một kiến trúc không thấy ai làm, nhưng đó

là ngôn ngữ trác tuyệt Hoặc câu:

"Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời" (3113)

Chữ dơ đặt ở đây cũng thấy ai làm được, chữ tục tằn nhưng ý thì rất đau

xót Cái vô định của ngôn ngữ cụ Nguyễn Du nó đúng với tâm trạng

* Nguyễn Du tìm mọi cách dịch tất cả các điển cổ chữ Hán ra tiếng Việt

để cho ngôn ngữ gần gũi với nhân dân Nguyễn Du không nói Hằng Nga mà nói Ả Hằng, không nói Lý Ký mà nói Ả Lý, không nói "hồng trần" mà nói

bụi hồng, …Ông còn dịch các điển tích ra Tiếng Việt: Chim xanh, chắp cánh liền cành, chén hà, giấc hòe…

* Ông còn cố hết sức dịch các từ ngữ Hán - Việt ra tiếng Việt Những

chữ cơ trời, cửa không, cửa thiền, chỉ hồng, chín suối, duyên trời, đào

non…là thuộc loại này

* Đặc biệt, Nguyễn Du rất trữ tình trong việc "cấu trúc tu từ"

từ: từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ láy âm

- Từ thuần Việt: Một từ đơn tiết, bất kể thuộc nguồn gốc gì, dù là Nam

Á (một, hai, trời), Thái (gà, vịt) hay Hán Việt (thiếp, ông, cô, cậu) đều

được người Việt xem là từ thuần Việt Khi một từ đa tiết được cấu tạo bằng những âm tiết có nghĩa tự thân chúng có thể làm thành từ được, thì cái từ ấy

được người Việt gọi là từ thuần Việt: ông bà, van lạy, xinh đẹp…

- Từ Hán Việt: một âm tiết Hán Việt là một âm tiết người Việt thấy có

nghĩa, nhưng không thể hoạt động thành từ đơn tiết, mà chỉ đóng vai một bộ

phận để tạo nên những từ đa tiết mà thôi Ví dụ: từ "thiên" là trời, không

đứng một mình làm thành từ đơn tiết mà nó chỉ dùng để cấu tạo thành tư đa

Trang 32

tiết: thiên đường, thiên hương, thiên nhiên, thiên hạ, thiên tài… Đó là

những từ Hán Việt

- Từ láy âm là một từ ít nhất có hai âm tiết, trong đó giữa các âm tiết có

quan hệ gần gũi nhau về âm thanh: dập dìu, lả lơi, hung hăng, háo hức, lờ

mờ, loi thoi, lơ thơ…Trong Kiều, có khá nhiều từ láy âm nguồn gốc Hán

Việt nhưng người Việt không hề cho đó là Hán Việt: thung dung, bàng

hoàng, bàn hoàn…

một âm tiết thuần việt so với một âm tiết Hán Việt Thí dụ: Khi đứng trước từ thuần việt "trời", "cỏ" thì trong óc người Việt có quan hệ một đối một giữa

trời và chữ cỏ khách quan tự nhiên với hình ảnh ngữ âm của chữ trời và chữ

cỏ Người Việt nhìn thấy cỏ là nghĩ ngay đến chữ cỏ, và ngược lại nghe chữ cỏ

là có ngay hình ảnh của cỏ trong tự nhiên (Trong tiếng Châu Âu giữa từ với hình ảnh khách quan của sự vật không có quan hệ trực tiếp như vậy, mà phải

thông qua từ loại, số, giống, cách) Bởi vậy từ thuần Việt có sắc thái cụ thể: Còn từ Hán Việt thì không phải như vậy Đứng trước từ "thiên" và từ

"thảo" thì trong có người Việt không có hình ảnh của sự vật khách quan

Người Việt nắm được nghĩa của hai từ HánViệt đó là do kết quả của sự so

sánh, đối lập bằng trí tuệ: thiên là hình ảnh khái niệm của trời, thảo là hình ảnh khái niệm của cỏ, chứ không phải là trời, là cỏ khách quan trong tự nhiên

Trong Truyện Kiều chúng ta chỉ bắt gặp thiên trong những kết hợp: thiên tài,

thiên nhiên, thiên đường… và chỉ bắt gặp thảo trong những kết hợp: thảo

am, thảo đường, cam thảo, thu thảo…

Nhìn chung, các từ thuần Việt cấp cho những hình ảnh quen thuộc,

giản dị, sinh động, có màu sắc, và có sức sống của hiện thực khách quan: trái lại

các từ Hán Việt cấp cho ta những khái niệm im lìm không có màu sắc, không có

vận động, mang hình ảnh những khái niệm vĩnh viễn của thế giới ý niệm

Trang 33

Bởi vậy, khi miêu tả một cảnh thực, bao giờ Nguyễn Du cũng dùng

từ thuần Việt, không dùng từ Hán Việt Thí dụ: Đoạn Kim Trọng trở về

Xập xè án liệng lầu không,

Cỏ lau mặt đất, rêu phong dấu giầy

Cuối tường gai góc mọc đầy,

Đi về này những lối này năm xưa

Đó còn là đoạn tả cảnh thiên nhiên buổi chiều khi Kiều nhìn thấy mộ Đạm Tiên (53-58), khi Kim Trọng quay lại nơi Kỳ ngộ (261-264), khi Kiều ngồi trên lầu Ngưng Bích (1033-58)

Cũng vậy, khi đi vào những suy nghĩ nội tâm, Nguyễn Du tránh dùng

từ Hán Việt để cho cảm xúc được sinh động, da diết, sôi nổi Hoạn Thư trù

tính việc trả thù (1545-1552)

Tính rằng cách mặt khuất lời, Giấu ta, ta cũng liều bài giấu cho

Lo gì việc ấy mà lo, Kiến trong miệng chén lại bò đi đâu?

Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên

Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay

Đó là bút pháp, như các cụ nói, "dùng chữ nước" của Nguyễn Du, bút pháp đã làm cho Nguyễn Khuyến phải sợ

Trang 34

Nguyễn Du đã sử dụng từ thuần Việt khi nói những đề tài thân mật Trái

lại, khi cần cấp cho sự việc sắc thái trang trọng ông dùng từ Hán Việt

Trong đoạn ca ngợi uy thế của Từ Hải dài 12 câu (2439-2450) có 13 từ Hán Việt, nếu thay thế bằng từ thuần Việt thì giá trị gợi cảm sẽ giảm đi:

"Thừa cơ trúc chẻ ngói tan,

Binh uy từ ấy sấm vang trong ngoài

Triều đình riêng một góc trời,

Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà

Đòi cơn gió quét mưa sa,

Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những loài giá áo túi cơm sá gì!

Nghênh ngang một cõi biên thùy, Kém gì có quả, kém gì bá vương!

Trước cờ ai dám tranh cường, Năm năm hùng cư một phương hải tần."

Đoạn tiếp theo, kể lại việc triều đình và Hồ Tôn Hiến chuẩn bị đối phó với Từ Hải, cũng có 12 từ Hán Việt dùng rất đúng chỗ:

"Có quan tổng đốc trọng thần,

Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài

Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,

Tiện nghi bát tiễu việc ngoài đổng nhung

Biết Từ là đấng anh hùng, Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn

Đóng quân làm chước chiêu An, Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng

Lại riêng một lễ với nàng,

Trang 35

Hai bên thể nữ ngọc vàng nghìn cân

Tên vào gởi trước trung quân

Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ"

Khi miêu tả việc oai nghiêm của việc báo ân báo oán của Thúy Kiều Nguyễn Du đã dùng từ Hán Việt dồn dập:

"Quân trung gươm lớn dáo dài,

Vệ trong thị lập cơ ngoài song phi

Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,

Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân

Trướng hùm mở giữa trung quân,

Từ công sách với phu nhân cùng ngồi

Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi, Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên."

Khi bọn tội phạm bị dẫn ra pháp trường, Kiều tuyên bố:

"Nàng rằng: Lồng lộng trời cao,

Hại nhân nhân hại sự nào tại ta! (2381 - 2)"

Để khẳng định vai trò quyết định của trời, Nguyễn Du viết:

"Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao (3243 - 4)"

* Trong vốn từ Tiếng Việt có một số từ thuần Việt và từ Hán Việt đồng nghĩa, nhưng sắc thái thẩm mĩ khách quan lại khác nhau Nguyễn Du thường dùng từ thuần Việt trong trường hợp cần nhấn mạnh tính thực tại của sự vật, còn dùng từ Hán Việt trong trường hợp cần nhấn mạnh sắc thái trang trọng,

Trang 36

Chữ quê được dùng mỗi khi nói đến quê hương có thực:

- "Buồn trông phong cảnh quê người" (565)

- "Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh cũng gần" (625)

- "Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê" (1800)

Khi hình ảnh quê hương tồn tại trong óc người ta như một hình ảnh có

thực, thì tác giả dùng: hồn quê, làng quê, nỗi quê Khi hình ảnh ấy bắt đầu lùi xa, nhưng vẫn còn thực, thì tác giả dùng chữ gốc phần: "Hơi tàn được thấy gốc phần là may" (2588) Trái lại chữ hương quan lại dùng chỉ quê

hương ở trong giấc mơ: "Giấc hương quan luống ngẩn ngơ canh dài" (1266)

Hai chữ cố nhân và người cũ là đồng nghĩa, nhưng được dùng trong

những hoàn cảnh khác nhau Kiều gặp lại Kim Trọng sau mười lăm năm lưu lạc: "Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa" Kim Trọng không phải cố nhân,

cũng không phải người cũ, đó là con người của mình trong ngày xa xưa, nhưng hiện nay đang đứng trước mắt mình Chữ người cũ là chỉ chính Thúy

Kiều trong câu nàng nói với Thúc Sinh hôm báo ân báo oán: "Lâm Tri người

cũ chàng còn nhớ chăng?" Nàng tự xưng mình là "người cũ" còn gọi Thúc Sinh là "cố nhân" tức là một người đã rất xa xôi đối với Thúc Sinh, vì nàng

đã là vợ Từ Hải Cần phải hiểu nàng là người cũ của Thúc Sinh vì nàng biết Thúc Sinh vẫn yêu nàng, nhưng Thúc Sinh nay chỉ là cố nhân mà thôi, nàng chỉ cảm ơn Thúc Sinh, mà không phải yêu như trước Chữ cố nhân còn dùng

để chỉ Giác Duyên, có nghĩa là Giác Duyên là người có ơn với nàng, quen biết từ xưa và gắn bó:

"Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn"

Nhưng chữ cố nhân trong câu: "Tìm đâu cho thấy cố nhân Ngâm câu

vận mệnh khuây dần nhớ thương" thì mới là tuyệt Lúc này Thúc Sinh tưởng Kiều đã chết, do đó nếu dùng chữ thuần Việt ở đây thì sẽ hỏng mất cả cái sắc thái bâng khuâng, cải vẻ xa vời như trong giấc chiêm bao

Trang 37

Chữ cha thuần Việt có nhiều từ đồng nghĩa trong Truyền Kiều: nhà

xuân, nhà thung, xuân đường Nguyễn Du dùng chữ cha để chỉ ông cha cụ

thể: "Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha" (606) Nhưng riêng ông cha của Thúc Sinh lại được gọi là xuân đường, mặc dù ông ta có mặt ở trong nhà:

"Lại vừa gặp khoảng xuân đường về quê" (1292) bởi vì Thúc Sinh rất sợ cha mình Người cha của Kim Trọng cũng được gọi là xuân đường, vì ông ta ở

xa Còn ông cha có mặt, thì Nguyễn Du dùng "nhà thung" Tóm lại, Nguyễn

Du hết sức chú trọng đến sự khu biệt về sắc thái gợi cảm của từ Việt và của từ Hán Việt, nhận thức rõ ràng sự khác nhau của chúng về mặt này

* Lớp từ thứ ba trong tiếng Việt là từ láy âm Lớp từ này được Nguyễn Du

sử dụng rất nhiều trong Truyện Kiều Không những thế, ông dùng biện pháp đảo

ngược để nêu bật tác dụng của từ láy âm: "Hãy còn thoang thoảng hương trầm

chưa phai" (300) Thậm chí ông còn đưa từ láy âm đứng ở đầu câu:

- "Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" (432)

Truyện Kiều có 507 từ láy âm thì có 102 đứng ở đầu câu Có 95 từ láy

âm đứng trước danh từ hay động từ:

- "Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người" (492)

- "Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu" (486)

Có 310 từ đứng sau danh từ hay động từ (theo đúng vị trí ngữ pháp thông thường):

- "Hình dùng chải chuốt, áo khăn dịu dàng" (1060)

- "Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng" (1128)

Các từ láy âm đem thêm những sắc thái gợi cảm gì, ngoài ý nghĩa thông báo?

Trang 38

- Các danh từ và đại từ điệp chỉ một khái niệm có tính bao quát:

Thệ sư kể hết mọi lời,

Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy (2307-8)

- Các tính từ điệp mang sắc thái giảm nhẹ, nhưng nếu đặt trước danh từ,

thì lại mang thêm sắc thái bao quát:

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh (55-8)

- Một từ láy âm có thể được một sắc thái biểu cảm riêng do khuôn láy

âm đưa đến Chẳng hạn các từ láy: vuông vắn, đỏ đắn, đều đặn thì có thể thêm sắc thái "hợp với một tiêu chuẩn nhất định" Các từ gập ghềnh, khấp

khểnh, nhấp nháy, trập trùng, phập phồng, nhập nhằng… có thêm nghĩa

là một cái gì không đều đặn

 Kỹ năng đặt câu

Để đem đến cho câu tư vẻ súc tích, chặt chẽ, rất cần thiết cho ngôn ngữ

thơ, Nguyễn Du đã sử dụng hình thức cân đối theo những kiểu lựa chọn sau:

*Sử dụng hình thức đối chọi với một tỉ lệ vừa phải để tách câu thơ

thành hai vế cân nhau

Thí dụ: - "Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười" (18)

- "Làn thu thủy, nét xuân sơn" (25)

Trong Kiều có 250 câu thơ theo hình thức ấy Ông cẩn thận đề phòng điều tai hại có thể xẩy đến khi dùng biện pháp này Đó là sự đối nhau quá chặt chẽ, sẽ khiến cho câu văn trở thành khó hiểu Muốn vậy ông dùng toàn những câu đối bằng chữ Việt, tránh dùng chữ Hán

* Bên cạnh lối đối chọi, ông dùng lối đối cân, tức là câu thơ cân đối chia thành hai vế, nhưng không chọi nhau bởi vì có những lặp lại ở cả hai vế

- "Ngựa xe như nước, áo quần như nen" (18)

Trang 39

- "Có cổ thụ, có sơn hồ"

Trong Kiều có 392 câu theo kiến trúc cân đối, cứ 100 câu có 12 câu cân đối

* Nguyễn Du còn sử dụng những kiểu đối vẫn thường dùng trong ca dao,

thường là hình thức cân đối cho 4 chữ trong câu

- Cân đối cho 4 chữ ở trước cả hai câu hoặc trước một câu:

"Sè sè nấm đất bên đường

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh" (57 - 58)

+ "Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai" (162)

- Cân đối cho 4 chữ ở giữa câu:

+ "Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm" (554)

+ "Gia đình tú khẩu cẩm tâm khác thường" (208)

- Cân đối cho 4 chữ ở cuối câu:

- Trong kỹ thuật đối, người xưa thích lối đối chọi từng chữ Thí dụ:

"Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh" Đây là lối đối phổ biến trong phú, trong thơ song thất lục bát, thơ Đường Luật Nguyễn Du sử dụng rất ít lối đối

này Trái lại ông thích một kiểu đối khác dân dã hơn Ông tách chữ láy âm

ra làm hai để tạo nên kiểu đối bình dân

Thí dụ: - "Hai em hỏi trước han sau"

- "Biết bao bướm lả ong lơi"

Đó là kiểu đối rất thông dụng trong khẩu ngữ: "ông nói gà bà nói vịt",

"lạ nước lạ cái"; "no nê chè chán" Ông thích sử dụng lối dùng chữ đưa đẩy:

Trang 40

"một hội một thuyền", "con ong cái kiến", "mẻo mả gà đồng", "nhớ cảnh nhớ người", "nhớ ít tưởng nhiều…"

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kết quả khảo sát về kiến thức của HS về Nguyễn Du và Truyện Kiều sau khi đã học xong chương trình Ngữ văn lớp 9

Kiệt tác Truyện Kiều đã được đưa vào chương trình Ngữ văn ở cả hai

cấp: cấp THCS và cấp THPT Như vậy là trước khi bước vào học kiệt tác

Truyện Kiều ở bậc THPT thì học sinh đã có một số vốn hiểu biết nhất định về

Nguyễn Du và Truyện Kiều( vì các em đã được học ở lớp 9 một số đoạn trích trong kiệt tác Truyện Kiều như: "Kiều ở lầu Ngưng Bích", "Mã Giám Sinh

mua Kiều", "Thúy Kiều báo ân báo oán" và một bài học về Nguyễn Du và

kiệt tác Truyện Kiều) Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát vốn hiểu biết ban đầu của học sinh về Truyện Kiều trước khi bước vào học lại Truyện Kiều ở lớp 10

điều tra bằng ngôn ngữ viết:

- Câu 1: Ở lớp 9, các em đã học kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du

Em còn nhớ những gì về thời đại, gia đình và cuộc đời của Nguyễn Du?

- Câu 2: Hãy tóm tắt Truyện Kiều một cách ngắn gọn, cô đọng?

- Câu 3: Truyện Kiều có những giá trị gì về nội dung và những giá trị về

nghệ thuật?

 Địa bàn khảo sát: Trường THPT Thái Hòa - Lập Thạch - Vĩnh Phúc

1: Kiến thức của học sinh về thời đại, gia đình và cuộc đời đại thi hào Nguyễn Du

Ngày đăng: 16/09/2014, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh: Từ điển truyện Kiều, NXB Khoa họa xã hội - Hà Nội 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Khoa họa xã hội - Hà Nội 1974
2. Hoàng Hữu Bội: Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10, NXB Giáo dục – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: NXB Giáo dục – 2006
3. Nguyễn Du: Truyện Kiều, NXB Văn hóa – Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du
Nhà XB: NXB Văn hóa – Hà Nội 1993
4. Nguyễn Du: Truyện Kiều, NXB ĐH, THCN - 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du
Nhà XB: NXB ĐH
5. Trịnh Bá Đĩnh: Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục – 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: NXB Giáo dục – 1999
6. Nguyễn Văn Đường: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, NXB Hà Nội – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: NXB Hà Nội – 2008
7. Dương Quảng Hàm: Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du, Việt Nam văn học sử yếu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Quảng Hàm
8. Hoài Hương: Truyện Kiều những lời bình, NXB Văn hóa thông tin – Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoài Hương
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin – Hà Nội 2000
9. Lê Đình Kị: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đình Kị
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1970
10. Vũ Văn Kính: Tìm nguyên tác Truyện Kiều, (khảo hiệu) NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh – Trung tâm nghiên cứu Quốc học – 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Văn Kính
Nhà XB: NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh – Trung tâm nghiên cứu Quốc học – 1998
11. Đặng Thanh Lê: Giảng văn Truyện Kiều, NXB Giáo dục – 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục – 1999
12. Đặng Thanh Lê: Truyện Kiều và thể loại truyện nôm, NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1979
13. Lê Xuân Lít: Dạy và học Truyện Kiều – Những vấn đề cần bàn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Xuân Lít
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2007
14. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên): SGK Ngữ văn 10 (tập I) NXB Giáo dục – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục – 2006
15. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên): SGV Ngữ văn 10 (tập I) NXB Giáo dục – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục – 2006
16. Phan Trọng Luận (chủ biên): Thiết kế bài học Ngữ văn 10, NXB Giáo dục – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Trọng Luận (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục – 2006
17. Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội – Hà Nội 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội – Hà Nội 1985
18. Nguyễn Khắc Phi(chủ biên): Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10, NXB Giáo dục – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khắc Phi(chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục – 2007
19. Trần Đình Sử (chủ biên): SGK Ngữ văn 10 (tập I), Ban khoa học xã hội và nhân văn, NXB Giáo dục - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục - 2006
20. Trần Đình Sử (chủ biên): SGV Ngữ văn 10 (tập I), Ban khoa học xã hội và nhân văn, NXB Giáo dục - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục - 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w