Trong những năm qua hệ thống các trường Sư phạm tiến hành đào tạo giáo viên cho cả nước đã đáp ứng được những mục tiêu đặt ra, tuy nhiên về chất lượng cần phải nhìn nhận một cách khách q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TẠ THỊ ÁNH
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG TƯ VẤN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC
Mã số: 60.14.01
LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc gi¸o dôc
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ TÍNH
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo - PGS.TS Nguyễn Thị Tính, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em cách thức và con đường nghiên cứu đề tài để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên trường ĐHSP Thái Nguyên những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Với điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn bản luận văn của em còn có những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các nhà khoa học… những người quan tâm đến vấn đề này cho luận văn của em được hoàn thiện hơn và em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm đó!
Thái Nguyên, ngày tháng 8 năm 2011
Tác giả
Tạ Thị Ánh
Trang 3MỤC LỤC
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: 3
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
6.2.1 Phương pháp quan sát 3
6.2.2 Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện 3
6.2.3 Phương pháp điều tra 4
6.2.4 Phương pháp khảo nghiệm 4
6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 4
6.2.6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 4
6.2.7 Phương pháp bổ trợ 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TƯ VẤN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Các khái niệm công cụ 8
1.2.1 Khái niệm kỹ năng 8
1.2.2 Khái niệm tư vấn 9
1.2.3 Hình thành kỹ năng tư vấn 11
Trang 41.3 Những vấn đề cơ bản về hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
trường ĐHSP - ĐHTN 12
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên Sư phạm 12 1.3.2 Mục đích của hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
trường ĐHSP 14 1.3.3 Nội dung, nguyên tắc hình thành các kỹ năng tư vấn cho sinh
viên trường ĐHSP 15 1.3.3.1 Các kỹ năng tư vấn cơ bản cần hình thành cho sinh viên 15 1.3.3.2 Nội dung tư vấn cần trang bị cho cho sinh viên trường ĐHSP 16 1.3.3.3 Nguyên tắc hình thành các kỹ năng tư vấn cho sinh viên
trường ĐHSP 23 1.3.4 Các phương pháp và hình thức hình thành kỹ năng tư vấn
cho sinh viên trường ĐHSP 24 1.3.4.1 Phương pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 24 1.3.4.2 Hình thức hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
trường ĐHSP 30
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
trường ĐHSP 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34 Chương 2 THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TƯ VẤN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHSP - ĐHTN 35
2.1 Một vài nét về khách thể nghiên cứu 35 2.2 Thực trạng hình thành kỹ năng tư vấn của sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN 36
2.2.1 Nhận thức của cán bộ giảng viên và sinh viên về hình thành
kỹ năng tư vấn cho sinh viên 36 2.2.2 Thực trạng nội dung hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh
viên trường ĐHSP- ĐHTN 43 2.2.2.1 Thực trạng hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên qua
thông hoạt động dạy học 45 2.2.2.2 Thực trạng hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên qua
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 50 2.2.3 Thực trạng kỹ năng tư vấn của sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN 52 2.2.4 Những nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng 55
Trang 5Chương 3 BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TƯ VẤN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHSP - ĐHTN 58
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp hình thành kỹ năng tư
vấn cho sinh viên 58
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong quá trình hình
thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 58 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
giảng viên với việc phát huy tính tự giác, tính tích cực, tính
chủ động, độc lập sáng tạo của sinh viên trong quá trình
hình thành kỹ năng tư vấn 59 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa hình thành kỹ năng
tư vấn cho sinh viên với thực tiễn giáo dục phổ thông, với gia đình và xã hội 61 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung
với tính vừa sức riêng trong quá trình hình thành kỹ năng tư
vấn cho sinh viên 63
3.2 Các biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 65
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ giáo viên và sinh viên về
tầm quan trọng của kỹ năng tư vấn trong hoạt động dạy học
và giáo dục học sinh 65 3.2.2 Tạo môi trường tư vấn, hỗ trợ thuận lợi giúp sinh viên trải
nghiệm hình thành kỹ năng tư vấn 67 3.2.3 Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên thông qua hoạt
động dạy học các môn học chiếm ưu thế 70 3.2.4 Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên thông qua hoạt
động GDNGLL 72 3.2.5 Biên soạn tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện việc hình
thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 75 3.2.6 Phối kết hợp giữa giảng dạy các môn NV và rèn luyện
NVSPTX nhằm nâng cao hiệu quả của việc hình thành kỹ năng tư vấn 76 3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 77
Trang 63.3 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 78
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm: 78
3.3.2 Phạm vi và nội dung khảo nghiệm: 78
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 78
3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 79
3.3.4.1.Về sự cần thiết của các biện pháp 79
3.3.4.2 Về tính khả thi của các biện pháp 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của giảng viên và sinh viên về khái niệm tư vấn 36
Bảng 2.2: Nhận thức của SV và SV về khái niệm kỹ năng tư vấn 38
Bảng 2.3: Nhận thức của GV và SV về kỹ năng tư vấn 39
Bảng 2.4: Nhận thức của sinh viên về nội dung tư vấn 40
Bảng 2.5: Nhận thức của GV và SV về ý nghĩa của việc hình thành kỹ năng tư vấn 42
Bảng 2.6: Thực trạng kỹ năng tư vấn đã hình thành cho sinh viên 43
Bảng 2.7: Thực trạng nội dung tư vấn được quan tâm để hình thành kỹ năng tư vấn cho cho sinh viên 44
Bảng 2.8: Hình thức hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 46
Bảng 2.9: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của giảng viên trong quá trình hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 49
Bảng 2.10: Các hoạt động GDNLL giảng viên thực hiện việc hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 50
Bảng 2.11: Thực trạng kỹ năng tư vấn của sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN 53
Bảng 3.1: Sự cần thiết và mức độ quan trọng của các biện pháp nâng cao hiệu quả của việc hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 79
Bảng 3.2: Tính khả thi của các biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên 81
Trang 9NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Lý do chọn đề tài
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào năng lực và trình độ chuyên môn được đào tạo của nhà giáo, đứng trước những yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế và khu vực đã đặt ra cho người thầy giáo những cơ may và thách thức, những yêu cầu ngày càng cao về năng lực chuyên môn và trình độ nghiệp vụ sư phạm Trước yêu cầu phát triển của nghề nghiệp đòi hỏi giáo viên không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng bổ trợ như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thích ứng, kỹ
năng hướng dẫn và tư vấn tâm lý cho học sinh
Trong những năm qua hệ thống các trường Sư phạm tiến hành đào tạo giáo viên cho cả nước đã đáp ứng được những mục tiêu đặt ra, tuy nhiên về chất lượng cần phải nhìn nhận một cách khách quan và thực tế hơn bởi có một số lượng đông sinh viên tốt nghiệp còn thiếu tự tin khi đứng trước vấn đề của cuộc sống, khả năng giao tiếp, thuyết trình trước đám đông còn kém, sinh viên chưa có kỹ năng chăm sóc tâm lý và thuyết phục cảm hóa người học vì vậy dẫn tới chất lượng giáo dục phổ thông chưa cao Từ thực tế yêu cầu của
xã hội đòi hỏi các trường Sư phạm ngoài việc trang bị cho sinh viên hệ thống
kỹ năng dạy học, giáo dục cần phải hình thành và phát triển ở sinh viên các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hướng dẫn, tư vấn, chăm sóc tâm
lý học sinh, kỹ năng xác định giá trị ngầm định của bản thân, kỹ năng theo đuổi mục tiêu, kỹ năng hoạt động xã hội vv… Bởi nhờ có hệ thống kỹ năng trên mà người giáo viên mới có thể vận dụng tri thức một cách thành công và hiệu quả, những kỹ năng dạy học và giáo dục mới được phát huy tác dụng Trong các kỹ năng đó kỹ năng tư vấn có một vai trò vô cùng quan trọng
Trang 10Thực tế cho thấy chương trình đào tạo, nội dung và phương pháp đào tạo hiện nay ở các trường Sư phạm quá coi trọng việc trang bị kiến thức thiếu quan tâm đến việc phát triển kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo dục học sinh đặc biệt là chưa quan tâm đến phát triển hệ thống kỹ năng bổ trợ cho kỹ năng dạy học và kỹ năng giáo dục đó là kỹ năng mềm cho sinh viên, hơn nữa trong những năm gần đây do chính sách thu hút phần lớn sinh viên thi vào các trường sư phạm là sinh viên có đầu vào thấp hơn một số trường đại học như Kinh tế quốc dân, Ngân hàng, Bách khoa, Ngoại thương, Ngoại Giao vv và trong số đó lại có nhiều sinh viên được xuất thân từ nông thôn họ hạn chế về giao tiếp và kỹ năng hòa nhập, kỹ năng hoạt động xã hội vv Vì vậy sau khi tốt nghiệp nhận công tác ở trường phổ thông, sinh viên tỏ ra lúng túng trong giao tiếp, gặp khó khăn khi triển khai tổ chức hoạt động cho người học và xử
lý các mối quan hệ với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp vv… Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu:
“Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên và
khảo sát thực trạng kỹ năng tư vấn của sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN từ đó
đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
3 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn của sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
4.2 Khảo sát thực trạng quá trình hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
4.3 Xây dựng một số biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
5 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục của giáo viên ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp phụ thuộc vào một phần kỹ năng tư vấn của giáo viên cho hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh Nếu xây dựng được
hệ thống các biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
- ĐHTN sẽ nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi tiến hành sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Đọc và phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá những tài liệu liên quan đến đề tài, nhằm xây dựng hệ thống lý luận về kỹ năng tư vấn
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
Chúng tôi tham gia dự các buổi sinh hoạt, tọa đàm, giờ thực hành thí nghiệm… để quan sát hoạt động của sinh viên và giáo viên
6.2.2 Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện
Chúng tôi tiến hành đàm thoại, trao đổi cùng với sinh viên, giáo viên nhằm tìm hiểu thực trạng hình thành kỹ năng tư vấn của sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
Trang 126.2.3 Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng ankét với hệ thống câu hỏi đóng và
mở, để khảo sát thực trạng hình thành kỹ năng tư vấn của sinh viên ở trường ĐHSP - ĐHTN, thăm dò ý kiến của giảng viên và sinh viên về việc phát triển
kỹ năng tư vấn cho sinh viên trong tình hình hiện nay
6.2.4 Phương pháp khảo nghiệm
Chúng tôi sử dụng phương pháp khảo nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi, tính khoa học của biện pháp đã đề xuất
6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Chúng tôi tiến hành trao đổi kinh nghiệm hình thành, phát triển kỹ năng
tư vấn với các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và của bản thân
6.2.6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Chúng tôi tiến hành tham khảo ý kiến của các Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia tư vấn về kỹ năng tư vấn
Trang 138 Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần những vấn đề chung, kết luận và khuyến nghị luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
Chương 2: Thực trạng hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
Chương 3: Biện pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TƯ VẤN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Dựa vào lịch sử hiện có, ngành tư vấn ở các nước phát triển là một
ngành tương đối trẻ, trước những năm 1900, tư vấn chủ yếu là cho ý kiến, tập trung vào việc cung cấp những phúc lợi nhân đạo căn bản cho những người kém may mắn trong thời kì Cách mạng Công nghiệp Ban đầu, nó được dành riêng cho người trẻ, liên quan đến những chương trình hướng nghiệp và những bài học đạo đức căn bản, như làm điều đúng, sống tốt, tránh điều sai,
xa lánh điều xấu Trong thời gian đầu, tư vấn với chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin và hướng dẫn giáo dục
Năm 1970, Jesse B Davis là người đầu tiên thiết lập một cơ sở hướng dẫn có hệ thống ở tiểu bang Michigan, Hoa Kì Frank Parson, người cho xuất bản cuốn Chọn Nghề (1909), một năm sau khi ông qua đời Cứ thế, tư vấn từ
từ phát triển, trở thành một nghề có mặt khắp nơi, đóng góp những công việc thầm lặng của mình, cống hiến cho xã hội những hi sinh âm thầm trong công việc giúp đỡ những con người mệt mỏi và quá tải về mặt đời sống tinh thần
Riêng ở Việt Nam, chưa có một thông tin cụ thể nào về điểm khởi đầu hoạt động chính thức của ngành Tư vấn Lịch sử phát triển của ngành Tư vấn ở Việt Nam chưa có một tài liệu nào công bố rõ ràng về từng bước, từng giai đoạn
Ngày 18 tháng 12 năm 2006, Hội thảo khoa học Quốc gia: Tư vấn tâm
lý - giáo dục lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Đây có thể nói là một hoạt động tích cực, rất có ý nghĩa với những yêu cầu cơ bản, rất bức xúc của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay Tất cả có hơn 60 bài tham luận được gửi về đã trình bày rất nhiều ý kiến sôi động, phản ánh được nhu cầu cấp bách của tư vấn trong bối cảnh bức
Trang 15Dựa vào báo cáo của Hội thảo khoa học Quốc gia (2006), tư vấn tâm lý
- giáo dục đã được thực hiện trong nhiều năm gần đây, trên các địa bàn, đặc biệt là ở các thành phố Các trung tâm tư vấn cứ lớn dần lên và việc có một cuộc hội thảo cấp quốc tế như thế có thể nói là một bước nhảy vọt rất đáng khích lệ
Theo kết quả nghiên cứu của TS Trần Thị Giồng, Th.S Đỗ Văn Bình
và 11 đồng nghiệp, ở Thành phố Hồ Chí Minh (2003) có hơn 50 cơ sở tư vấn tâm lý hoạt động trên các lĩnh vực: Tình yêu - hôn nhân - gia đình, sức khỏe, HIV/AIDS, hướng nghiệp, trong đó hơn 60% do cơ quan Nhà nước hay ban ngành thành lập, phần còn lại do các hội, tư nhân, tổ chức tôn giáo… Điều này đã phản ánh được một thực tế: nhu cầu tư vấn là một nhu cầu rất thực của xã hội Việt Nam ta
TS Đinh Phương Duy (2006) đã nêu lên những câu hỏi nóng bỏng trong hội thảo là:
- Chuyên viên tư vấn và tham vấn có cần được đào tạo bài bản hay chỉ cần có kinh nghiệm hay một tấm lòng vì người khác?
- Có cần xây dựng một hệ thống lý luận riêng cho tư vấn, tham vấn tâm
lý ở Việt Nam?
Đặc biệt với tổng kết của PGS TS Bùi Ngọc Oánh (2006), những vấn
đề được nêu ra đã tạo nên hướng suy nghĩ cho công tác tư vấn nước nhà:
1 Xây dựng lý luận về công tác tư vấn, khái niệm tư vấn, tham vấn, tâm lý trị liệu… và sự phối hợp giữa các hình thức trên
2 Quy trình cơ bản của một ca tư vấn
3 Xây dựng các chương trình đào tạo chuyên viên tư vấn
Cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có hệ thống đào tạo và có bằng cấp (mang tính đồng bộ) trong lĩnh vực hoạt động tư vấn Điều này cũng dễ hiểu nhất là khi so sánh với các nước Âu Mỹ Đến năm 1981, ở Hoa Kỳ mới chính
Trang 16thức có một hệ thống tiêu chuẩn đào tạo chuyên viên tư vấn có bài bản Điều nay cho phép chúng ta lạc quan khi nhận định rằng ở Việt Nam vấn đề tổ chức và sắp xếp để tư vấn trở thành một ngành chuyên nghiệp chỉ là vấn đề nhanh hay chậm của thời gian Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng:
V.A.Kruchexki quan niệm: “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động - những cái mà con người đã nắm vững” Vì vậy người có kỹ năng là người đã nắm vững phương thức hành động trong một tình huống nhất định Ông đã tách kỹ năng ra khỏi kết quả hành động trong quá trình xem xét nó
A.G.Côvaliôv quan niệm: “Kỹ năng là những phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động” Ông cũng không đề cập đến kết quả của hành động Theo ông kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người, chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng
Tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách thức hành động tức là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng”
N.Đ Lêvitôv quan niệm, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác hay một hoạt động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện của nó Một người có kỹ năng nào
đó phải nắm được và vận dụng được cách thức hành động, đảm bảo cho hành động có kết quả Và vì vậy kỹ năng không chỉ là nắm được lí thuyết về cách thức hành động mà còn bao hàm khả năng vận dụng nó vào thực tiễn
Trang 17A.V Pêtrôvxki thì định nghĩa kỹ năng là: “sự vận dụng tri thức kỹ năng
kỹ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra”
Cùng với quan niệm trên ở Việt Nam, Vũ Dũng trong từ điển Tâm lí học đã định nghĩa: Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm
vụ tương ứng”
Các tác giả: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành cũng quan niệm: Kỹ năng là một mặt của năng lực của con người thực hiện một công việc có kết quả
Từ sự nghiên cứu các công trình nêu trên, các tác giả đều có chung nhận định là: Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng biểu hiện trình độ những thao tác
tư duy, năng lực hành động và mặt kỹ thuật của hành động
Chúng tôi sử dụng khái niệm sau làm khái niệm công cụ:
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống tham gia vào sự thành công của chúng ta
1.2.2 Khái niệm tư vấn
Theo các chuyên gia Hiệp hội Tâm lý học Mỹ
“Tư vấn tâm lý là quá trình giúp các cá nhân khắc phục những trở ngại tâm
lý trong quá trình trưởng thành, khiến người ta phát triển một cách lý tưởng”
Tác giả Trần Thị Giồng trong cuốn “Hạnh phúc trong tầm tay”: “Tư vấn là sự tương tác giữa nhà tư vấn và thân chủ, trong quá trình này, nhà tư vấn sử dụng các kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng để họ
tự giải quyết vấn đề đang gặp phải.”
Trang 18Trung tâm tư vấn - truyền thông sức khỏe sinh sản và phát triển cộng đồng: “Tư vấn là quá trình giao tiếp giữa nhân viên tư vấn và khách hàng nhằm giúp đỡ họ về mọi mặt để họ có thể phát triển những tiềm năng của bản thân, tự tìm ra những giải pháp giải quyết vấn đề và tự tin hơn khi hành động theo các phương án mà họ đã lựa chọn” Khái niệm tư vấn được khai thác dưới góc độ chung, tư vấn cộng đồng
Tác giả Phạm Tất Dong và Nguyễn Như Ất trong cuốn “Tư vấn hướng nghiệp”:
+ Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hành những lời khuyên đúng đắn và thích hợp chứ không phải là lời khuyên chung chung với một tình huống, một thời gian nhất định Và những lời khuyên, đóng góp ý kiến nhà tư vấn đưa ra chỉ thích hợp với một tình huống cụ thể, một chủ thể cụ thể tồn tại trong một hoàn cảnh và một thời gian cụ thể chứ nó không thích hợp với một hoàn cảnh khác, một chủ thể khác
và một thời gian khác
+ Tư vấn không chỉ đơn thuần là đưa ra lời khuyên mà còn phải chỉ vẽ hướng thực hiện lời khuyên đưa ra sao cho có thể đạt được hiệu quả cao nhất
Tác giả Nguyễn Thơ Sinh trong cuốn “Tư vấn Tâm lý căn bản”:
- Tư vấn là một nghề chuyên nghiệp, đòi hỏi phải có đào tạo bài bản, có trường lớp
- Tư vấn tập trung vào trợ giúp về vấn đề sống lành mạnh, thăng tiến đời sống quan hệ cá nhân, nghề nghiệp, và những quan tâm thuộc lĩnh vực bệnh lý tinh thần
- Tư vấn áp dụng với người có khả năng xử lý tốt và cả những người có vấn đề về rối loạn tâm lý dạng nhẹ
- Tư vấn phải dựa trên hệ thống lý thuyết về tư vấn
- Tư vấn là một quá trình phát triển trên bình diện ngăn ngừa và can thiệp
Trang 19- Tư vấn bao gồm nhiều chuyên môn khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thân chủ
Chúng tôi sử dụng khái niệm sau làm khái niệm công cụ:
Tư vấn là một hình thức hỗ trợ thông qua quá trình giao tiếp, đồng cảm giữa người tư vấn và đối tượng tư vấn nhằm giúp đối tượng giải đáp băn khoăn, thắc mắc, cung cấp thông tin, giúp đỡ họ phát triển tiềm năng để tự tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề và tự tin hơn trong hành động mà mình đã lựa chọn
1.2.3 Hình thành kỹ năng tư vấn
Trong xã hội con người tham gia vào rất nhiều mối quan hệ, chính trong quá trình ra nhập vào các mối quan hệ xã hội ấy đã nảy sinh ra rất nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn đòi hỏi phải giải quyết một cách hợp lí nhất Nhưng không phải lúc nào tự bản thân con người cũng có thể tự giác giải quyết được mà cần
có sự góp ý khuyên bảo của những người xung quanh Đặc biệt đối với các bạn trẻ nói chung và học sinh phổ thông nói riêng, đây là lứa tuổi có nhiều hoạt động sôi nổi và đa dạng nhất của cuộc đời, là lứa tuổi mà đời sống tâm lý hết sức phong phú nhưng cũng không kém phần phức tạp, sự phức tạp ấy thể hiện
rõ trong tình bạn, tình yêu, trong ứng xử giao tiếp… của học sinh, các em nhạy bén với những vấn đề mới của xã hội nhưng lại chưa có đủ kinh nghiệm để nhìn nhận, cảm nhận và xem xét Ở lứa tuổi này các quá trình tâm lý đang phát triển, nhưng do tuổi đời còn ít, sự trải nghiệm cuộc sống còn chưa nhiều nên kinh nghiệm sống còn thiếu, hoặc cũng có thể do khó khăn về hoàn cảnh riêng, khả năng thích ứng chưa cao… Vì vậy mà trong cuộc sống họ gặp không ít những khó khăn vướng mắc và đây là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến kết quả học tập và rèn luyện của học sinh phổ thông nhiều khi bị giảm sút Để giải quyết những vấn đề này cần có sự giúp đỡ từ phía các chuyên gia và các nhà giáo dục, các thầy cô giáo vì vậy hơn ai hết giáo viên vừa là nhà
Trang 20chuyên môn nhưng đồng thời là nhà tư vấn tâm lý cho người học Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho các trường sư phạm là cần quan tâm hình thành kỹ năng
tư vấn cho sinh viên trong quá trình đào tạo
Bản thân mỗi người sinh ra chưa có kỹ năng về một khía cạnh cụ thể nào, nhất là kỹ năng công việc, kỹ năng được hình thành dựa trên cơ sở của
hệ thống tri thức, kinh nghiệm mà mỗi cá nhân đã tiếp nhận và trải qua quá trình tập luyện, rèn luyện mới có được
Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên là đưa sinh viên vào những tình huống giả định hay có thật, giúp sinh viên có những tri thức hiểu biết về tư vấn, trên cơ sở đó có khả năng đưa ra những chỉ dẫn, góp ý và vạch ra phương hướng giải quyết cho người được tư vấn một cách hiệu quả nhất để họ tự giải quyết vấn đề đặt ra, thực chất là cung cấp thông tin cho đối tượng và giúp đối tượng giải quyết những vướng mắc của cuộc sống, học tập và sinh hoạt
1.3 Những vấn đề cơ bản về hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP - ĐHTN
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên Sư phạm
Khi nói đến đặc điểm tâm lý của sinh viên người ta thường đề cập tới một số đặc điểm cơ bản về sinh lý, tâm lý và mặt xã hội của nhóm tuổi này
* Về mặt sinh lý: Sinh viên bao gồm những người có độ tuổi từ 18 - 25
tuổi, hình thể đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp các chức năng Ở lứa tuổi này, hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởng thành… Điều này đảm bảo một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết, tinh tế giữa
vô số kênh vào và vô số kênh ra, làm cho trí tuệ của sinh viên vượt xa trí tuệ của học sinh phổ thông Đặc điểm quan trọng của thời kỳ này là chức năng sinh sản bắt đầu quá trình phát triển đầy đủ Giới tính đã phân biệt rõ rệt và phát triển đầy đủ ở mỗi giới cả về biểu hiện bên ngoài lẫn biểu hiện nội tiết tố Hơn nữa ở lứa tuổi sinh viên còn có nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và giáo dục
Trang 21* Về mặt tâm lý: Thời kỳ này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự
nâng cao năng lượng trí tuệ, biểu hiện rõ nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày càng khó khăn, phức tạp hơn, có tiến bộ rõ rệt trong các lập luận lôgic, trong việc lĩnh hội tri thức
Ở lứa tuổi này trí tưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ đã phát triển thành khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán Năng lực nhận thức của sinh viên phát triển họ có khả năng tự học, tự nghiên cứu một cách độc lập với những nội dung nhất định
Sự phát triển tình cảm của lứa tuổi sinh viên ở đây là một thời kỳ đầy xúc cảm đối với mỗi cá nhân Có nhiều tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống sinh viên, đòi hỏi họ phải phán đoán và quyết định trong khi họ còn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết xã hội Vì vậy, dễ nảy sinh những tình cảm không thích hợp khi phải ứng xử trước những tình huống đó
Đặc điểm tâm lý quan trọng của thời kỳ chuyển tiếp ở lứa tuổi sinh viên
là sự phát triển tự ý thức Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân, có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân
Tự ý thức là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá về hành động, kết quả hành động của chính bản thân về mặt tư tưởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú… Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo yêu cầu xã hội Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hoá và liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên
Tóm lại, sinh viên thuộc lớp thanh niên có độ tuổi từ 18 đến 25, là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành về phương diện tâm lý - xã hội Lứa tuổi sinh viên được đánh giá là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ; là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách; đặc biệt họ có vai trò “người lớn” thực sự (họ có quyền công dân, quyền
Trang 22xây dựng gia đình, quyền lao động kiếm sống…) Họ có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình, chịu trách nhiệm về hành vi và độc lập trong phán đoán Đây là thời kỳ có nhiều biến động mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội Sinh viên đã biết xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu dấn thân thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Vì vậy hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi
1.3.2 Mục đích của hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
Cùng với trình độ giáo dục được nâng cao và sự mở rộng về chức năng, vai trò người giáo viên đảm trách ngày càng phức tạp Họ phải đáp ứng đủ mọi nhu cầu từ học sinh đến đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, cơ quan hành chính giáo dục và xã hội Trường học yêu cầu giáo viên trong khoảng thời gian quy định hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục và giảng dạy, đồng thời đạt được hiệu quả tốt Với các học sinh khác nhau phải đảm bảo cho các em đều đạt được yêu cầu học tập, đây là một việc không dễ dàng Đặc biệt hiện nay đại đa số trường học đều căn cứ theo độ tuổi thực tế, không phải trình độ trí lực mà phân chia lớp, tức là chia lớp với chất lượng không giống nhau, giữa những học sinh tồn tại những cách biệt, cách thức truyền đạt bài giảng cho một cấp lớp thống nhất đặt ra yêu cầu cao hơn cho giáo viên
Nhưng nhìn từ phía học sinh thì các em không chỉ hi vọng giáo viên là người truyền đạt tri thức và người quản lí kỹ thuật mà còn hi vọng giáo viên
là người bạn trong cuộc sống, là tri âm và người trợ giúp về tâm lý
Vì vậy việc hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm nhằm mục đích đào tạo đội ngũ giáo viên có tính chuyên nghiệp, đáp ứng đòi hỏi của thực tế nghề nghiệp, thực tế cuộc sống luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng và góp phần nâng cao năng lực sư phạm cho người giáo viên Giúp họ vừa có kỹ năng nghề nghiệp vững chắc vừa có khả năng chia sẻ, lắng
Trang 23nghe, thấu hiểu, để từ đó có những lời khuyên, giải pháp tích cực giúp học sinh giảm bớt áp lực của việc học tập nặng nề, căng thẳng cùng với những tác động hai mặt xoay quanh các vấn đề liên quan đến đời sống của học sinh như đạo đức, lối sống, quan hệ giao tiếp ứng xử, tình bạn, tình yêu, sức khỏe, giới tính… Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm giúp nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo nhân cách người giáo viên
1.3.3 Nội dung, nguyên tắc hình thành các kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
1.3.3.1 Các kỹ năng tư vấn cơ bản cần hình thành cho sinh viên
Kỹ năng tư vấn là sự phối hợp kiến thức, kinh nghiệm ngôn ngữ tình cảm, hành vi, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười của nhà tư vấn một cách hài hòa hợp lý, thành thạo để giao tiếp với thân chủ nhằm giúp họ tìm ra các giải pháp và lựa chọn phương án giải quyết những vấn đề của bản thân theo hướng tích cực
Theo tác giả Richoad Nelson - Jones đã phân chia các kỹ năng tư vấn thành hai loại cơ bản là những kỹ năng thể hiện những hành vi bên ngoài và các kỹ năng trí tuệ Tuy nhiên cách phân loại này theo tác giả cũng chỉ mang tính tương đối
Chúng tôi đưa ra một số kỹ năng tư vấn:
- Kỹ năng quan sát: Quan sát hành vi, cử chỉ, nét mặt, thái độ, tác phong của đối tượng
Quan sát một cách kín đáo, tế nhị, lịch sự, để đối tượng không biết
- Kỹ năng lắng nghe: Lắng nghe để hiểu rõ đối tượng, để đối tượng cảm kích giãi bày tâm tư của họ; lắng nghe một cách kiên trì, chăm chú; lắng nghe một cách đồng cảm và chia sẻ
- Kỹ năng cảm thông và chia sẻ với đối tượng: Cần đặt mình vào vị trí của đối tượng để giúp họ giải quyết vấn đề Quá trình giao tiếp cần tôn trọng, chăm chú quan sát và lắng nghe, nếu chỗ nào chưa hiểu thì cần hỏi lại hoặc
Trang 24nhắc lại lời đối tượng để xác định chính xác vấn đề của họ Luôn động viên, khuyến khích, tạo cảm giác thoải mái, cởi mở để đối tượng tin tưởng
- Kỹ năng diễn đạt: Là khả năng truyền đạt, trình bày, mô tả, giải thích, đặt câu hỏi của người tư vấn đối với đối tượng được tư vấn trên cơ sở đó đưa
ra những định hướng, lời khuyên
Kỹ năng diễn đạt được thể hiện qua việc sử dụng từ ngữ rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và có sức thuyết phục
Kỹ năng thuyết phục đối tượng tư vấn: Thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ, thái độ, ánh mắt, nụ cười làm thay đổi nhận thức, tình cảm và hành vi của đối tượng tư vấn
Kỹ năng giải quyết vấn đề: Đứng trước một vấn đề của đối tượng, chủ thể tư vấn cần có cách giải quyết vấn đề mang tính nghệ thuật, sáng tạo
1.3.3.2 Nội dung tư vấn cần trang bị cho cho sinh viên trường ĐHSP
i Hình thành kỹ năng tƣ vấn về sức khỏe và tâm lý
Học sinh trung học phổ thông đang ở giai đoạn phát triển nhanh nhất
của lứa tuổi dậy thì Đây là giai đoạn đặc biệt của đời người Lúc này sức ép căng thẳng trong quan hệ với gia đình trở nên rất bức xúc Đối thoại giữa học sinh với gia đình trở nên tắc nghẽn Các em bị áp lực vì bị ảnh hưởng bởi bạn
bè xung quanh và còn chịu nhiều áp lực phát triển của cơ thể Do đó những lời tư vấn của giáo viên rất hữu ích đối với quá trình phát triển của các em
Nhất là đối với học sinh cuối cấp, nhiều cảm xúc và lo lắng vì những bận rộn luyện thi, có tình cảm với bạn khác giới, sắp sửa bước vào đời, lưỡng
lự đắn đo trước những quyết định chọn trường, chọn ngành học Nhu cầu tư vấn không chỉ giới hạn trong sách vở học đường mà cả những nhu cầu khác như tư vấn giới tính, sức khỏe, tình yêu
Nhiều trường hợp đặc biệt như kiến thức về AIDS và HIV, nghiện hút… là những vấn đề quan trọng cần được quan tâm ở lứa tuổi này Giai
Trang 25đoạn này là giai đoạn mà nhiều học sinh trải nghiệm qua hội chứng rối loạn Tình cảm trở nên phức tạp, tuy bên ngoài có vẻ trong sáng nhưng thật sự những đợt sóng ngầm luôn diễn ra bên trong ở lứa tuổi này Các em luôn sống trong trạng thái xúc cảm lẫn lộn Nhìn đời qua lăng kính màu hồng nên những lời khuyên thực dụng thường gây cho các em cảm giác khó chấp nhận
Tình bạn cùng giới, khác giới phát triển theo chiều sâu, phạm vi giao tiếp được mở rộng, vì thế nhu cầu kết bạn để có người chia sẻ, thông cảm, giúp đỡ là một điều tất yếu của bao học sinh, tình bạn ở lứa tuổi này phát triển hết sức phong phú và đa dạng đó cũng là lí do khiến các bạn học sinh gặp nhiều khó khăn trong quan hệ tình bạn đó là làm sao để chọn được bạn phù hợp với mình, cùng sở thích, cùng chí hướng có thể thông cảm và chia sẻ lẫn nhau những vướng mắc trong cuộc sống, trong học tập… Bên cạnh tình bạn thì tình yêu nam nữ ở lứa tuổi thanh niên là một thứ tình cảm đặc biệt, giàu chất thơ, chất trữ tình, thuần khiết, lý tưởng và lành mạnh, trong sáng Tuy nhiên trong lĩnh vực này họ gặp không ít khó khăn đó là sự cấm đoán của người lớn hay sự tò mò của các bạn cùng trang lứa Trong khi giải quyết những khó khăn này các em gặp rất nhiều vướng mắc và cũng không ít những tình yêu dẫn tới bế tắc bi kịch do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Lúc này điều mà các em cần là được tư vấn hỗ trợ về tình cảm để
có thể tìm ra lối thoát cho bản thân mình, làm sao để hài hòa nhiệm vụ học tập bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu về tình bạn, tình yêu
Nói đời sống tình cảm của thanh niên còn bao hàm trong đó mảng kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên, đây là một trong những vấn đề quan trọng và cần thiết nhất đối với cuộc sống của thanh niên hiện nay Những chủ
đề các bạn học sinh THPT cần được quan tâm và tư vấn đó là đặc điểm phát triển cơ thể, tâm - sinh lý tuổi VTN, kinh nguyệt bình thường và bất thường tuổi VTN, thai nghén và sinh đẻ ở tuổi VTN, các biện pháp tránh thai, tiết
Trang 26dịch âm đạo hoặc niệu đạo ở tuổi VTN, tình dục an toàn và lành mạnh… Vì thế ngay từ khi còn học tập trong nhà trường sinh viên sư phạm cần phải được trạng bị hệ thống những tri thức và các kỹ năng tư vấn về sự phát triển của lứa tuổi thanh niên mới lớn, tư vấn về đời sống tình cảm để có thể tự tin trở thành chuyên gia về tư vấn học đường trong tương lai
Như vậy hình thành kỹ năng tư vấn về sự phát triển của cơ thể, tư vấn
hỗ trợ về tâm lý là giúp sinh viên có tri thức hiểu biết về sự phát triển của học sinh theo lứa tuổi và đời sống tâm lý tình cảm của học sinh, trên cơ sở đó hình thành cho các em kỹ năng giúp đối tượng tư vấn giải quyết khó khăn vướng mắc nhất định trong các lĩnh vực của cuộc sống đời thường trước những vấn đề phát triển của cơ thể, trước vấn đề tình bạn, tình yêu, sức khỏe sinh sản vị thành niên…
ii Tƣ vấn, hỗ trợ về học tập
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để thực hiện thành công sự nghiệp lớn lao này đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Riêng đối với thanh niên học sinh trước hết phải nhận thức được tầm quan trọng của mình trong sự nghiệp chung Từ đó, xác định trách nhiệm của bản thân đối với sự đi lên mạnh mẽ của đất nước Trong tình hình mới đó, nhiệm vụ đặt ra cho mỗi thanh niên là phải học tập: Học tập một cách khẩn trương, kiên trì, không biết mệt mỏi để nắm lấy mọi tri thức cần thiết, chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học công nghệ, trở thành những người có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, những nhà quản lý giỏi trong tương lai góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, đưa đất nước sánh vai với bè bạn năm châu Phương pháp học tập chính là chìa khóa thành công của thanh niên chúng ta trên đường học tập ở nhà trường
Trang 27Học sinh THPT ngày nay có những bước nhảy vọt về quá trình học tập
và rèn luyện Các em mạnh dạn hơn, suy nghĩ táo bạo hơn, có những nhu cầu mới hơn, đặc biệt là nhu cầu về hoạt động Mặc dù học tập vẫn là hoạt động chủ đạo, song nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở lứa tuổi này khác rất nhiều so với các lứa tuổi trước Nó đòi hỏi ở các em tính năng động và độc lập cao hơn, tư duy logic nhiều hơn
Vì thế mà trong quá trình học tập các bạn học sinh THPT luôn gặp phải những khó khăn nhất định về phương pháp, cách thức tổ chức, sắp xếp công việc, việc lựa chọn ngành học, khối thi sau tốt nghiệp… Những khó khăn ấy là
lý do khiến các học sinh của chúng ta có nhu cầu được hỗ trợ, được tư vấn giúp
đỡ Trách nhiệm đó đặt lên đôi vai của những người thầy giáo, cô giáo trong nhà trường, đó chính là các bạn sinh viên sư phạm của chúng ta hôm nay những nhà sư phạm trong tương lai phải có kỹ năng tư vấn hướng dẫn quá trình
tự học cho học sinh, giúp học sinh học thành công và hiệu quả trong mọi tình huống
Hình thành kỹ năng tư vấn, hỗ trợ về học tập cho sinh viên sư phạm là giúp sinh viên nắm vững những kiến thức cơ bản về tự học, phương pháp học, cách học đồng thời có khả năng trợ giúp người khác học tập, chỉ dẫn cho người khác biết cách học hiệu quả
iii Hình thành kỹ năng tƣ vấn, hỗ trợ về quan hệ giao tiếp ứng xử
Trường học là nơi truyền bá những nét đẹp văn hóa một cách khuôn mẫu và bài bản nhất Nét đẹp văn hóa trong giao tiếp cũng đòi hỏi các nhà sư phạm dạy cho học sinh những điều mẫu mực nhất Việc xây dựng chuẩn mực
về lời nói, hành vi trong giao tiếp, ứng xử một cách mẫu mực trong các trường học nói chung và các trường sư phạm nói riêng đòi hỏi nhà trường phải đưa ra những chuẩn mực trong chương trình giảng dạy, giáo dục học
Trang 28sinh và đưa ra qui định về cách thức giao tiếp giữa giáo viên, học sinh, cán bộ quản lí, phục vụ của các trường
Văn hóa trong giao tiếp ứng xử hiện nay ở các trường chưa thực sự tạo nên vẻ đẹp và nét đặc trưng riêng biệt Hiện còn những biểu hiện trong lời ăn tiếng nói, cách ứng xử cũng như cách giao tiếp giữa sinh viên, học sinh với thầy cô giáo chưa thể hiện được nét văn hóa
giao tiếp là điều cần thiết để xây dựn g các mối quan hệ quản lí , giáo dục và giảng dạy Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo dựng môi trường sư phạm lành mạnh, có tác động tích cực tới việc hoàn thành sứ mệnh giáo dục của nhà trường Để tạo được mối quan hệ giảng dạy và giáo dục tốt đẹp đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía , cả những người làm công tác giảng dạy, quản lí cũng như người học Mỗi thầy cô giáo cần tìm ra những mặt tốt, những ưu điểm trong mỗi học sinh của mình để giúp các em phát huy cái tốt, đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, hạn chế những ảnh hưởng không tốt đến quá trình giao tiếp trong nhà trường nhằm tạo ra môi trường giao tiếp có văn hóa một cách bền vững
Trong nhà trường phổ thông, học sinh có nhu cầu giao tiếp rộng, ham hiểu biết và nhạy bén với những vấn đề mới nhưng lại thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh, do đó các em tỏ ra lúng túng trong ứng xử, hay giải quyết vấn đề, hoặc xử lý tình huống trong giao tiếp
Có những mối quan hệ mà tự học sinh không thể tự giải thoát hay tháo
gỡ, các em cần sự trợ giúp của giáo viên hay người thân Vì vậy giáo viên phải là người trợ giúp tốt nhất cho học sinh trong các mối quan hệ Tư vấn hỗ trợ về quan hệ giao tiếp ứng xử chính là việc giúp cho đối tượng được tư vấn giải quyết những vướng mắc về các quan hệ giao tiếp ứng xử, giúp họ hiểu
Trang 29những yêu cầu về chuẩn mực trong giao tiếp để người học có thể tiếp nhận, rèn luyện, từ đó có lời nói phù hợp với hành vi chuẩn mực
Hình thành kỹ năng tư vấn về giao tiếp cho sinh viên sư phạm là trang
bị cho sinh viên những tri thức hiểu biết về giao tiếp, trên cơ sở đó giúp sinh viên có kỹ năng giao tiếp và biết cách hướng dẫn và tư vấn cho người khác về giao tiếp để họ giao tiếp thành công và hiệu quả
iv Hình thành kỹ năng tƣ vấn nghề cho sinh viên
Tư vấn nghề là một hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một
cá nhân hay của một nhóm người muốn hiểu biết về một đối tượng hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh
Như vậy, tư vấn nghề có thể được hiểu như một hoạt động thông tin nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức, hiểu biết về thế giới nghề và huy động nghề, lĩnh vực nghề riêng biệt
Tư vấn nghề là một hoạt động có đối tượng, trong đó chủ thể là một cá nhân hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một lĩnh vực hoạt động nào
đó Chủ thể tư vấn là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyển tải thông tin nghề và có khả năng ứng xử với đối tượng để thoả mãn nhu cầu của đối tượng tư vấn ở mức độ cần thiết Do tính phức tạp về nhu cầu của đối tượng tư vấn, chủ thể
tư vấn cũng theo đó mà có thành phần xuất thân rất đa dạng: Đó có thể là những chuyên gia xã hội học, tâm lý học, y học, những chuyên gia về thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hoá, mỹ thuật
Đối tượng tư vấn có thể là bất cứ học sinh, nhóm học sinh, cha mẹ học sinh nào nếu họ có nhu cầu tư vấn
Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vị trí tạo nên sự tác động nhờ việc chuyển tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ Đối tượng tư vấn ở vị trí của
Trang 30những người được cải biến nhờ việc tiếp nhận, những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu hụt Kết quả cuối cùng của tư vấn có thể là sự chuyển biến về nhận thức và cũng có thể là sự thay đổi những quyết định lớn của cuộc đời Song, nếu thông tin thiếu toàn diện, ứng xử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể dẫn tới đối tượng tư vấn tới những nhận thức hoặc việc làm vô bổ - sự cải biến diễn ra theo chiều hướng xấu, kém hiệu quả
Nội dung tư vấn nghề là những thông tin theo nhu cầu của đối tượng tư vấn Những thông tin này nhằm đặt trước đối tượng sự lựa chọn quyết sách cho mình, có được sự định hướng để "cần phải" hay "không cần" thực hiện theo dự kiến trước đây hoặc những lới khuyên của chủ thể tư vấn Thông tin
tư vấn nghề bao gồm cả những mặt được và chưa được của đối tượng thoả mãn nhu cầu, kèm theo những lời khuyên "nên" hoặc "không nên" của chủ thể Nội dung tư vấn nghề có thể là thuận chiều nếu những thông tin do tư vấn mang lại giúp cho học sinh củng cố thêm những ý định của mình, làm sáng tỏ thêm những gì còn vướng mắc trong tiến trình đạt tới ước muốn cũng như kết quả sẽ đạt tới của đối tượng tư vấn Những thông tin loại này trong nội dung
tư vấn được hiểu như là nguồn thông tin thuận chiều so với ước nguyện của đối tượng Trong rất nhiều trường hợp, nội dung tư vấn nghề lại bao hàm những thông tin phản bác lại suy nghĩ của đối tượng, vạch rõ những yếu tố sai trái không thể chấp nhận được trong thực tiễn hoặc những cản trở khiến học sinh không có khả năng thực hiện được ước muốn Những thông tin loại này được gọi là những thông tin phản bác của chủ thể tư vấn đưa ra giúp đối tượng xem xét và quyết định
Trong hoạt động tư vấn, ngoài sự tham gia chính yếu của chủ thể và đối tượng, chúng ta còn thấy sự có mặt của những phương tiện hỗ trợ những phim, video, tranh ảnh và đôi khi thường gặp cả những cuộc thị sát thực tế tại
Trang 31hiện trường để đối tượng có điều kiện mắt thấy, tai nghe, làm sáng tỏ hơn những nhận định của bản thân
Kết quả của mỗi hoạt động tư vấn nghề được biểu thị qua mức độ thông hiểu, chấp nhận hay không chấp nhận những thông tin và lời khuyên có liên quan tới chuyên ngành do đối tượng đặt ra của chủ thể tư vấn cùng với những quy định cụ thể của đối tượng Không phải mọi cuộc tư vấn đều đi tới kết quả thuận chiều mà đôi khi nó chỉ là những gợi mở cho đối tượng một số thông tin cần thiết, trên cơ sở đó, đối tượng sẽ tiếp tục suy nghĩ, tự phân tích để đi tới quyết sách cho bản thân Hiệu quả của hoạt động tư vấn có thể mang tính tức thời (sau một lần tư vấn) và cũng có thể mang tính lâu dài (sau một số lần tư vấn) Ở trường hợp thứ hai, mỗi lần tư vấn, đối tượng có thêm những thông tin làm sáng tỏ mục đích cần đạt tới trong nhu cầu, tạo ra sự điều chỉnh cần thiết phù hợp hơn với thực tế
Về phía chủ thể, thông qua hoạt động tư vấn, họ sẽ thu thập được nhiều thông tin bổ ích về nhu cầu đa dạng của nhiều loại đối tượng, tìm được những kinh nghiệm trong giao tiếp với đối tượng trong những hoàn cảnh cụ thể, để
từ đó nâng cao khả năng và hiệu quả tư vấn
1.3.3.3 Nguyên tắc hình thành các kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
i Nguyên tắc đảm bảo sự tương tác:
Kỹ năng tư vấn của sinh viên không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu của sinh viên mà nó chỉ được hình thành thông qua hoạt động và bằng hoạt động, do đó cần tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động và tương tác với giáo viên và với các bạn trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoạt động GDNGLL
ii.Nguyên tắc trải nghiệm:
Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm và thực hành về kỹ năng tư vấn trong những tình huống có thật hay tình huống mang tính giả định
Trang 32iii Đòi hỏi phải có một quá trình tập luyện mang tính lâu dài:
Hình thành kỹ năng tư vấn không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình lâu dài khó khăn phức tạp và cá nhân phải trải qua một thời gian thử thách, đấu tranh động cơ giữa thói quen xấu và
kỹ năng mới hình thành
iv Nguyên tắc thay đổi hành vi:
Mục đích cao nhất của hình thành kỹ năng tư vấn là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực phù hợp với định hướng giá trị sống của
xã hội đặt ra, vì vậy giáo dục kỹ năng tư vấn cần gắn liền với giáo dục giá trị nghề dạy học của người giáo viên
v Thời gian:
Giáo dục kỹ năng tư vấn cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt, thời gian phải được tiến hành thường xuyên liên tục phải kết hợp giữa giáo dục và tự giáo dục, hình thành và tự hình thành kỹ năng tư vấn
1.3.4 Các phương pháp và hình thức hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
1.3.4.1 Phương pháp hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
i Phương pháp tập luyện
Phương pháp tập luyện là phương pháp giảng viên đưa sinh viên vào môi trường học tập, rèn luyện hay tham gia vào những hoạt động học tập, rèn luyện, thông qua đó để hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
Trong môi trường dạy học, giáo viên thường xuyên đưa ra những tình huống giáo dục, để sinh viên trải nghiệm và đòi hỏi sinh viên phải có khả năng tư vấn, hướng dẫn để xử lý vấn đề và nhiệm vụ do giáo viên đặt ra
ii Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Giảng viên lựa chọn những câu chuyện giáo dục có tính điển hình có chứa đựng nội dung hướng dẫn, tư vấn để đưa vào nội dung bài giảng giúp
Trang 33sinh viên trải nghiệm về kỹ năng hướng dẫn và tư vấn, thông qua đó giúp sinh viên hình thành phát triển kỹ năng tư vấn
iii Phương pháp thảo luận
Thảo luận là một dạng tương tác nhóm đặc biệt mà trong đó các thành viên cùng giải quyết một vấn đề cùng quan tâm nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung Thảo luận tạo ra một môi trường an toàn cho sinh viên kiểm chứng ý kiến của mình, có cơ hội để làm quen với nhau, để hiểu nhau hơn
Để hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên, giảng viên có thể đưa ra một tình huống hay một vấn đề mà học sinh vướng mắc trong học tập, rèn luyện yêu cầu người học làm việc theo nhóm bằng hình thức thảo luận để đưa
ra những lời khuyên, lời chỉ dẫn tốt nhất
iv Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp thực hành của sinh viên trong một số tình huống ứng xử cụ thể nào đó trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩa sáng tạo của các em Nó mang đến cho học sinh cơ hội luyện tập kỹ năng trong một môi trường được đảm bảo Đóng vai thường không có kịch bản cho trước, mà học sinh tự xây dựng trong quá trình hoạt động Thông qua đóng vai với tư cách là người tư vấn, người giúp đỡ, sinh viên trải nghiệm và rèn luyện kỹ năng tư vấn và giúp đỡ người khác
v Phương pháp giải quyết vấn đề
Thông qua cách giải quyết vấn đề và xử lý tình huống đặt ra, giúp sinh viên hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư vấn.Thường được vận dụng khi sinh viên phải phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động Giải quyết vấn đề giúp sinh viên có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nẩy sinh trong hoạt động, trong cuộc sống hàng ngày Ví dụ trong hoạt động "Thi hỏi đáp về tình bạn, tình yêu và gia đình" ở lớp 10 có một vấn đề đặt ra là: Có
Trang 34một bạn nữ không nêu được quan niệm về tình yêu và bạn đó nói rằng sẽ về hỏi mẹ Cả lớp nhao nhao lên khi biết rằng chính bạn đó đang yêu và đề nghị bạn phải nói rõ ý kiến của mình Bạn đỏ cả mặt và bỏ chạy ra ngoài Vậy nên giải quyết trường hợp này thế nào?
Như vậy, để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu của hoạt động, kích thích sinh viên tích cực tìm tòi cách giải quyết Đối với tập thể lớp, khi giải quyết vấn đề phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi cho việc giáo dục học sinh
vii Phương pháp giao nhiệm vụ
Đây là phương pháp thường được dùng trong nhóm các phương pháp giáo dục Giao nhiệm vụ là đặt sinh viên vào vị trí nhất định buộc các em phải thực hiện trách nhiệm cá nhân Giao nhiệm vụ cũng là tạo cơ hội để học sinh thể hiện khả năng của mình là dịp để các em được rèn luyện nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân Thông qua giao nhiệm vụ cần giúp đỡ hay tư vấn cho một đối tượng mang tính giả định nào đó đòi hỏi sinh viên phải có sự nỗ lực huy động trí tuệ và tiềm năng của mệnh để giải quyết và thực hiện nhiệm
vụ được giao
Trong việc tổ chức HĐGD và HĐDH, giao nhiệm vụ cho nhóm và cá nhân sẽ tạo nên thế chủ động cho các em khi điều hành hoạt động Điều đó sẽ giúp phát triển tính chủ động, sáng tạo, khả năng ứng đáp trong mọi tình huống của học sinh Cán bộ lớp sẽ chủ động hơn trong việc phân công nhiệm
vụ cho từng tổ, nhóm, cá nhân với phương châm "lôi cuốn tất cả mọi thành viên trong lớp" vào việc tổ chức thực hiện hoạt động, tham gia tự giác vào quá trình trải nghiệm, rèn luyện của cá nhân
Vì thế, muốn giao nhiệm vụ có kết quả, giảng viên cần hình dung được những việc phải làm, gợi ý cho sinh viên và yêu cầu các em phải hoàn thành tốt Khi giao nhiệm vụ, cố gắng đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, với
Trang 35khả năng của các em; không yêu cầu quá mức gây lo lắng, hoang mang trong học sinh Điều quan trọng hơn cả là giao nhiệm vụ phải đi liền với đôn đốc nhắc nhở và kiểm tra
viii Phương pháp diễn đàn
Diễn đàn là dịp để sinh viên được trình bày quan điểm của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến bản thân và tập thể các em Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo cơ hội cho nhiều sinh viên có thể được tự do nêu lên những suy nghĩ của mình, được tranh luận một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè Để diễn đàn có hiệu quả, giảng viên phải định hướng cho sinh viên có
sự chuẩn bị trước về nội dung và cách thức thể hiện Thông qua tham gia diễn đàn sinh viên được rèn luyện kỹ năng thuyết trình trước người khác, trước đám đông, tự tin trình bày về thái độ và quan điểm của mình và hình thành kỹ năng cảm hóa, thuyết phục đối với người nghe
ix Phương pháp tổ chức trò chơi
Sử dụng trò chơi như một phương pháp tổ chức hoạt động giúp học sinh có điều kiện thể hiện khả năng của mình trong một lĩnh vực nào đó của đời sống tập thể ở nhà trường cũng như ở cộng đồng Thông qua tổ chức trò chơi cũng là dịp để học sinh tập xử lý những tình huống nảy sinh trong cuộc sống đời thường, giúp các em có thêm kinh nghiệm sống
Đây là một vài phương pháp tổ chức HĐGD NGLL được vận dụng từ các phương pháp giáo dục và phương pháp dạy học Dĩ nhiên, khi vận dụng những phương pháp này, giáo viên cần linh hoạt, tránh máy móc áp dụng hoặc dập khuôn như vốn có của nó Trong một hoạt động, có thể đan xen sử dụng nhiều phương pháp khác nhau thì sẽ có hiệu quả hơn
x Phương pháp sử dụng tình huống
Phương pháp dạy học bằng tình huống là cách thức tương tác giữa người dạy và người học thông qua những tình huống dạy học, qua đó mà thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu dạy học
Trang 36Nói đơn giản, phương pháp dạy học bằng tình huống là giáo viên cung cấp cho người học tình huống dạy học, người học phân tích và hành động trong tình huống đó Kết quả là người học thu nhận được các tri thức khoa học, thái
độ và các kỹ năng hành động sau khi giải quyết các tình huống đã cho
Quá trình hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên có thể đưa họ vào những tình huống sư phạm thông qua đó sinh viên tích cực giải quyết tình huống bằng vốn hiểu biết của chính bản thân mình dần dần hình thành kỹ năng cho bản thân Giáo viên cần tạo ra những tình huống có liên quan để gây cho sinh viên những tâm trạng, những biểu tượng, những tình cảm, những động cơ và những hành vi cần thiết như: Giải quyết vấn đề, hay đưa ra những quyết định hoặc những lời yêu cầu đề nghị hay lời khuyên đối với người khác
Để thực hiện phương pháp dạy học bằng tình huống cần trải qua các giai đoạn cơ bản:
Giai đoạn chuẩn bị của giáo viên Đây là giai đoạn quan trọng nhất của dạy học bằng tình huống Vì ở đó diễn ra sự ủy thác của giáo viên Trong bước này giáo viên cần phải: Thứ nhất, xác định mục tiêu và nội dung giảng dạy cụ thể, mà người học phải đạt được Câu hỏi đặt ra ở đây là sau khi giải quyết xong tình huống người học sẽ đạt được cái gì? Cái đó có phù hợp với mục tiêu và nội dung cần dạy không?
Thứ hai, xây dựng tình huống dạy học Giáo viên cần thu thập tình huống, phân tích và lựa chọn thông tin, xác lập logic các sự kiện, tiên lượng trình độ nhận thức, kỹ năng hành động và thái độ của học sinh khi hành động trong môi trường các sự kiện đó
Thứ ba, cần phân tích trình độ nhận thức, kinh nghiệm và các đặc điểm tâm lí - xã hội của sinh viên để xác định mức độ có vấn đề của tình huống
Thứ tư, chuẩn bị các câu hỏi, các phương tiện kỹ thuật cần thiết cho việc giải quyết các tình huống của sinh viên
Trang 37Giai đoạn thực hiện Các việc chủ yếu: Giới thiệu tình huống cho người học, cung cấp thông tin về tình huống, nêu rõ công việc người học phải thực hiện, mục đích cần đạt Tổ chức cho người học hành động với tình huống theo nhiều hình thức: Làm việc độc lập của từng người học, làm việc theo nhóm, thảo luận cả lớp
Giai đoạn tổng kết: Giáo viên thực hiện chức năng nhận thức, kỹ năng, phương pháp mà người học thu nhận được thông qua việc giải quyết tình huống
xi Phương pháp dự án
DHDA là một phương pháp hay hình thức dạy học, trong đó người học
tự lực thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp nhằm giải quyết một vấn đề gắn với thực tiễn, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành thông qua việc thực hiện các dự án học tập và các tiểu dự án
Dạy học dự án đòi hỏi người học phải có tính tự chủ cao trong học tập Tức người học tự thiết kế một dự án có nội dung gắn với nội dung học tập, dựa trên cơ sở phân tích thực tiễn, cùng với tài liệu, người học thiết kế dự án, hoàn chỉnh dự án
Dạy học dự án là một phương pháp dạy học có cơ sở tâm lý học từ thuyết nhận thức và thuyết kiến tạo, được thiết kế trên quan điểm dạy học tích cực Dạy học theo dự án có vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học Giáo dục học nhằm trang bị cho sinh viên hệ thống tri thức về nghề dạy học đồng thời rèn luyện cho sinh viên kỹ năng sư phạm, kỹ năng nghiên cứu khoa học Thông qua đó mà giúp sinh viên nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đây chính là vốn cơ sở ban đầu giúp sinh viên có thể hình thành và phát triển
kỹ năng tư vấn
Trang 38Vì vậy, giảng viên có thể sử dụng phương pháp dự án để hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên bằng việc giao cho học sinh các dự án cụ thể có liên quan đến việc sử dụng kỹ năng tư vấn, trong đó giảng viên giữ vai trò chủ đạo
là người hướng dẫn, người tổ chức, chỉ đạo, tư vấn cho sinh viên về cách học tập, cách làm việc nhóm, làm việc đồng đội và làm việc cá nhân; sinh viên là người tham gia các dự án, kế hoạch dự án học tri thức và học phương pháp chiếm lĩnh và cách thức tư vấn hướng dẫn của giảng viên
xii Phương pháp định hướng hành động cho sinh viên
Trong quá trình hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên giảng viên có thể sử dụng phương pháp định hướng hành động cho sinh viên Thông qua phương pháp này giảng viên định hướng cho sinh viên những nhiệm vụ, công việc phải làm Điều này giúp phát triển tính chủ động, sáng tạo của học sinh Muốn định hướng được hành động cho sinh viên giảng viên phải hình dung trước công việc, định hướng cho các em những việc phải làm và yêu cầu các
em thực hiện tốt
1.3.4.2 Hình thức hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
i Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên thông qua hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học ở trường đại học là tổ chức và điều khiển một cách hợp lý nhất quá trình học tập của sinh viên, để đáp ứng những yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp sau này, sinh viên không những phải nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thuộc lĩnh vực môn họ theo học, mà còn phải có khả năng nhanh chóng thích ứng với những điều kiện mới của môi trường công tác Hay nói cách khác, họ cần phải có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề mới trong lĩnh vực chuyên môn mà họ theo đuổi
Vì thế nội dung của hoạt động dạy là tổ chức và điều khiển một cách hợp lý nhất quá trình học tập của sinh viên Để làm được điều đó, người giảng
Trang 39viên phải tổ chức bài học sao cho hợp lý nhất, biến logic khoa học của các tri thức thành logic sư phạm, phù hợp với khả năng lĩnh hội của sinh viên Trên thực tế, sinh viên học tập theo phương pháp tự nghiên cứu là chính, song người giảng viên tổ chức và điều khiến tốt quá trình học tập của sinh viên thì hiệu quả học tập của sinh viên sẽ cao hơn, sinh viên tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức hơn Chính vì vậy thông qua hoạt động dạy học giảng viên
có thể lồng ghép việc hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên bằng một số hình thức khác nhau như: Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về
kỹ năng tư vấn; phát huy tinh thần tự học tự nghiên cứu của sinh viên; làm mẫu để sinh viên bắt trước; thiết kế các bài tập thực hành về tư vấn và yêu cầu sinh viên thực hiện; thường xuyên liên hệ với thực tế hoạt động tư vấn cho học sinh ở trường phổ thông…
ii Hình thành kỹ năng tƣ vấn cho sinh viên thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Cùng với hoạt động học, trong quá trình học tập ở trường sư phạm, sinh viên còn tham gia rất nhiều hoạt động khác Đó là các hoạt động: Thảo luận nhóm, văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, hội thảo khoa học, hội thi nghiệp vụ sư phạm… những hoạt động này là điều kiện để sinh viên vận dụng kiến thức vào thực tế, mặt khác giúp hình thành cho sinh viên những kỹ năng
cơ sở, vì vậy những hoạt động này có vai trò quan trọng đối với việc hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên
Bên cạnh việc tham gia vào các hoạt động này, sinh viên cũng có thể tự trang bị cho mình những kiến thức thông qua các hình thức khá phổ biến trong thời đại thông tin như hiện nay, đó là các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, tạp chí, internet… qua đó các bạn đúc rút được những kinh nghiệm cho bản thân, chắt lọc những gì cần thiết cho mình từ đó kỹ năng tư vấn ngày một hoàn thiện hơn
Trang 40iii Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên qua rèn luyện NVSP thường xuyên
Thông qua các hoạt động rèn luyện NVSPTX, giúp sinh viên có tri thức hiểu biết về tư vấn và thực hành những hành vi tư vấn trong quá trình rèn luyện Thông qua các Hội thi NVSP, giúp sinh viên trải nghiệm khả năng tư vấn của bản thân với người khác
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường ĐHSP
* Điều kiện cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học là một nhân tố quan trọng trong quá trình hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên, nhà trường cần phải bố trí văn phòng tư vấn để giảng viên và sinh viên có điều kiện để thực hành đó là việc tư vấn hỗ trợ sinh viên trong trường Bên cạnh
đó cũng cần có nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên, trang bị đủ tài liệu nghiên cứu Nhưng trên thực tế hiện nay của nhà trường đại học nước ta, điều kiện vật chất và phương tiện dạy học còn quá nghèo nàn, thấp kém Hơn nữa việc sử dụng và bảo quản các phương tiện kỹ thuật dạy học ít ỏi hiện có của chúng ta cũng chưa được tốt, chưa mang lại hiệu quả giáo dục đào tạo Vì thế, một mặt chúng ta phải ra sức xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật tối thiểu cần thiết, mặt khác chúng ta phải tìm mọi cách sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học nhằm đạt kết quả mong muốn
* Yếu tố môi trường học tập: Môi trường học tập có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên Mối quan hệ tương tác giữa hoạt động dạy và hoạt động học diễn ra với những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp, thường xuyên và đa chiều từ các loại môi trường, đặc biệt là môi trường sư phạm Để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc hình thành
kỹ năng tư vấn cho sinh viên, giảng viên phải tạo ra môi trường học tập tốt cho sinh viên, phải là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, dạy cho sinh viên