1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

dạy học văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn đình chiểu ở sgk ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại

124 993 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu ở SGK Ngữ Văn 11 theo đặc trưng thể loại
Tác giả Vũ Thị Thu Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Huy Quát
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 661,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phương diện lí luận Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể đã được đặt ra từ những năm 70 của thế kỉ XX, được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn và GV

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HUY QUÁT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Huy Quát - Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học

tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn BGH các trường THPT Mai Sơn, THPT Hoàng Văn Thụ của tỉnh Yên Bái, những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua

Thái Nguyên , ngày 10 tháng 8 năm 2011

Tác giả

Vũ Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Vũ Thị Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

Danh mục ký hiệu, các chữ viết tắt iii

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

B PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Thể loại văn tế trong hệ thống thể loại văn học Trung đại Việt Nam 9

1.1.2 Đặc trưng của văn tế về mặt nội dung 15

1.1.3 Đặc trưng của văn tế về mặt hình thức 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Giáo viên với việc dạy bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” 29

1.2.2 Học sinh với việc học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” 47

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC BÀI “VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC” THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 53

2.1 Những vấn đề liên quan đến nội dung và nghệ thuật bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu 53

2.1.1 Bối cảnh thời đại 53

2.1.2 Về tác gia Nguyễn Đình Chiểu 56

2.2 Xác định nội dung dạy học “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” từ đặc trưng thể loại của tác phẩm 59

2.2.1 Giá trị nội dung 59

Trang 6

2.2.2 Giá trị nghệ thuật 65

2.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo đặc trưng thể loại 68

2.3.1 Khái niệm “hiệu quả” trong dạy học TPVC 68

2.3.2 Đề xuất các biện pháp dạy học cụ thể 70

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90

3.1 Thiết kế bài dạy: 90

3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm 103

3.2.1 Chọn lớp thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 103

3.2.2 Tổ chức dạy học thực nghiệm và dạy học đối chứng 103

3.2.3 Kết quả thực nghiệm (qua việc kiểm tra, đánh giá bài làm của HS và những ý kiến nhận xét của GV tham gia thực nghiệm sư phạm): 104

C PHẦN KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT : Trung học phổ thông TPVC : Tác phẩm văn chương Nxb : Nhà xuất bản

GS : Giáo sư

GV : Giáo viên

HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa

PT : phổ thông

Trang 8

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Về phương diện lí luận

Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể đã được đặt

ra từ những năm 70 của thế kỉ XX, được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn và GV văn học coi là một hướng tiếp cận có căn cứ để đạt hiệu quả trong dạy học văn Nếu không nắm vững được đặc trưng thi pháp của các thể loại văn học và lấy nó làm điểm tựa soi sáng cho việc tiếp cận các tác phẩm thì khó đạt được hiệu quả trong dạy học TPVC GS.Phan Trọng Luận đã chỉ ra một thực tế là “Do chưa phân biệt đầy đủ đặc trưng thi pháp của loại thể nên việc cắt nghĩa tác phẩm văn chương ở nhà trường đã có những hạn chế kéo dài nhiều năm qua chưa được khắc phục Truyện cổ tích bị biến thành một truyện ngắn hiện đại, ca dao chuyển thành văn bản thơ ngày nay Tác phẩm văn chương trung đại và hiện đại đồng nhất về thi pháp Có không ít giờ giảng thơ mà giáo viên lại đi quá sâu vào nhân vật, cốt truyện; giảng tự sự lại coi nhẹ, bỏ quên cốt truyện, nhân vật, lời kể Đó là kiểu giải thích dung tục về sáng tạo nghệ thuật, …”[20]

Thi pháp của một số thể loại văn học, đặc biệt là các thể loại văn học trung đại như: hát nói, phú, văn tế, cáo, chiếu,…còn gây nhiều khó khăn, lúng túng trong giảng dạy và học tập; mặc dù những năm gần đây, việc hình thành

và rèn luyện năng lực đọc hiểu tác phẩm theo đúng đặc trưng thể loại đã được chú ý Song đi vào tìm hiểu các tác phẩm cụ thể lại đòi hỏi có sự vận dụng sáng tạo để đạt hiệu quả mong muốn Riêng thể loại văn tế thì việc tiếp cận nó theo đặc trưng thể loại như thế nào vẫn chưa được bàn đến đầy đủ về mặt lý

thuyết Do vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Dạy học “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”của Nguyễn Đình Chiểu ở Sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo đặc trƣng thể loại” với mong muốn đóng góp một tiếng nói nhỏ bé vào việc

nâng cao hiệu quả dạy học bài văn này

Trang 9

1.2 Về phương diện thực tiễn

Văn tế là một thể văn cổ, giàu sắc thái trữ tình và tính nhân văn sâu sắc Nhiều bài văn tế thể hiện các cung bậc tình cảm sâu sắc của những tâm hồn lớn, gây xúc động mãnh liệt trong lòng người đọc và trở thành những tác phẩm

văn học có giá trị như: Văn tế thập loại chúng sinh (Nguyễn Du), Văn tế chị (Nguyễn Hữu Chỉnh), Văn tế Trương Quỳnh Như (Phạm Thái), Văn tế Phan

Châu Trinh (Phan Bội Châu),…Bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn

Đình Chiểu là một tác phẩm văn học độc đáo, tiêu biểu cho thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã khẳng định tác phẩm này là “Một trong những bài văn hay nhất của văn học Việt Nam” Phạm Văn Đồng trong bài “Nguyễn Đình Chiểu- Ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc” từng đặt bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ngang hàng với “Đại cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi, bởi một bên là bài ca về người anh hùng chiến thắng, một bên là bài ca về người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang Với nội dung trữ tình, ý nghĩa thời đại và sắc thái nhân văn, tác phẩm này đã được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 11 nhiều năm nay

Việc giảng dạy và học tập bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế nhất định đối với GV và HS, nhất là đối với HS dân tộc, miền núi Bởi đây là một văn bản dài và khó, được kết cấu theo kiểu biền văn, với thể phú luật Đường có nhiều từ Hán Việt và điển cố văn học Mặc dù SGK đã chú thích khá đầy đủ nhưng vẫn có những câu văn khó hiểu đối với cả người dạy và người học Về phía GV, nhiều người lúng túng về việc tiếp cận sao cho đúng đắn nhất bài văn tế tiêu biểu này và chưa biết cách khai thác các yếu tố thi pháp thể loại của tác phẩm Từ đó, dẫn đến việc giảng dạy chưa hay, chưa đạt hiệu quả, khiến phần lớn HS không có hứng thú tiếp nhận tác phẩm Về phía HS, đa số các em không thích học văn, lại càng không thích một tác phẩm cổ có nhiều từ ngữ khó hiểu, nhiều điển tích, điển

Trang 10

cố Đã từng xuất hiện “bài văn lạ” nói về bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là

“cứng nhắc, khó hiểu”, khó có thể làm rung động học sinh vì “em đọc xong

mà không hề có một chút xúc động hay thương xót” (Nguyễn Phi Thanh-

THPT Việt Đức- Hà Nội, năm học 2005- 2006) Thực trạng ấy càng thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thể loại văn tế

Cuốn sách đầu tiên viết về văn tế phải kể đến “Văn tế cổ và kim”

( 1960) Đây là một cuốn sách có giá trị, nhưng rất tiếc là trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi không có được văn bản gốc

Các công trình nghiên cứu như:“Việt Nam văn học sử yếu”(Dương Quảng Hàm), “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX ( Nguyễn Lộc), “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” (Trần Đình

Sử ) tuy mới chỉ nghiên cứu ở mức độ khái quát nhưng đã đưa ra những nhận xét, đánh giá có tính định hướng quan trọng trong việc tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống thể loại văn tế Đặc biệt, Dương Quảng Hàm trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” đã tìm hiểu hình thức của thể loại văn tế ở cách đặt câu, gieo vần, bố cục, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn tế Cuốn “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” của Trần Đình Sử cũng tìm hiểu hình thức thể loại của văn tế ở các mặt như: bố cục, ngôn ngữ nhưng chưa đi sâu vào những chi tiết, cụ thể tiêu biểu Đây là những tài liệu tham khảo vô cùng quý giá đối với đề tài của chúng tôi

2.2 Vấn đề giảng dạy TPVC theo loại thể đã có một số công trình

Từ những năm 70 của thế kỉ XX, vấn đề dạy học TPVC theo thể loại đã được bàn đến trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể”

do Trần Thanh Đạm, Huỳnh lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn

Trang 11

biên soạn, NXB GD, 1971 Công trình đề cập đến một số đặc trưng loại thể, thể loại và phương pháp giảng dạy các thể loại thơ, truyện, văn nghị luận, kí, kịch và những thể biền văn như: phú, cáo, văn tế,…Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu sâu về vấn đề dạy học TPVC theo loại thể, có đóng góp quan trọng đối với bộ môn phương pháp dạy học văn nói chung và phương pháp dạy học TPVC theo đặc trưng thể loại nói riêng Cuốn sách đã trở thành tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học TPVC sau này, là nguồn tư liệu quan trọng cho GV dạy văn ở nhà trường phổ thông

Cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)” của tác giả Nguyễn Viết Chữ, NXB ĐHSP, 2004 đã có những đóng góp nhất định

về mặt lí luận dạy học TPVC theo đặc trưng thể loại Tác giả đề cập những vấn đề chung liên quan đến phương pháp dạy học TPVC, đi sâu nghiên cứu phương pháp và biện pháp dạy học TPVC theo loại thể Cuốn sách đã hệ thống lại cách nhìn môn văn, các phương pháp, biện pháp dạy học văn

Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài viết về vấn đề giảng dạy TPVC theo loại thể được đăng trên các báo: Giáo dục thời đại, Nghiên cứu văn học, Tạp chí văn học,…Bài viết của tác giả Phạm Thị Thu Hương có nhan đề “Thi pháp học thể loại và việc đổi mới dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông” đã

khẳng định :“Vận dụng thi pháp như một “chìa khóa” mở cánh cửa văn

chương, đặc biệt là văn học trong nhà trường”[13]

Như vậy, vấn đề giảng dạy TPVC theo loại thể và thể loại ngày càng có

sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều tác giả Những tài liệu trên là cơ sở quan trọng để chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu này

2.3 Về dạy học thể loại văn tế và bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu, cũng có các công trình sau đây bàn đến

- SGV ngữ văn 11, tập I (bộ chuẩn) do GS Phan Trọng Luận tổng chủ

biên[19] trong đó có bài đề cập đến việc dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, đồng thời hướng dẫn GV cách thức tổ chức HS chiếm lĩnh văn bản tác phẩm

Trang 12

- SGV ngữ văn 11 , tập I (bộ nâng cao) do GS Trần Đình Sử tổng chủ

biên [30] cũng có phần hướng dẫn GV tổ chức HS chiếm lĩnh văn bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

- Thiết kế dạy học ngữ văn lớp 11 ( Nâng cao ) của tác giả Hoàng Hữu

Bội [2] có viết khá chi tiết về dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo đặc trưng thể loại

- Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Mai Hương [12] với đề tài “Con

đường hướng dẫn học sinh khám phá, chiếm lĩnh chiều sâu nghệ thuật của tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”(Nguyễn Đình Chiểu) để nâng cao hiệu quả dạy và học” đã đưa ra một số phương pháp, biện pháp giúp HS chiếm

lĩnh chiều sâu nghệ thuật của tác phẩm như: phương pháp đọc, phương pháp đặt câu hỏi, phương pháp giảng bình, phương pháp so sánh,…

Ngoài ra, còn có:

- Thiết kế bài giảng ngữ văn 11 do Nguyễn Văn Đường chủ biên [5]

- Kỹ năng đọc hiểu văn bản ngữ văn 11 do Nguyễn Kim Phong chủ

biên [25]

- Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 11 tập I do Nguyễn Hải Châu chủ biên [3]

- Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 11 (nâng cao) do GS Nguyễn

Đăng Mạnh chủ biên [24 ]

- Phân tích tác phẩm ngữ văn 11 do Trần Nho Thìn chủ biên [33]

Các cuốn sách nêu trên đã có những đóng góp đáng kể về mặt lí thuyết

và cách thức tiến hành dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ở SGK Ngữ Văn 11 theo đặc trưng thể loại Đó cũng là những căn cứ khoa học để chúng tôi tham khảo khi tiến hành luận văn này

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là :

- Tìm ra con đường tiếp cận văn bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo đặc trưng thể loại

- Đề xuất những phương pháp, biện pháp tiến hành giờ học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo đặc trưng thể loại, nhằm đạt hiệu quả mong muốn, phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở THPT hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là hoạt động dạy –học của GV và HS trong giờ đọc- hiểu bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu (đặc biệt là hoạt động tiếp nhận của HS đối với văn bản tác phẩm và hoạt động tổ chức, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tác phẩm đó của GV)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tình hình tổ chức dạy và học văn bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu (SGK Ngữ văn 11) ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ chính như sau :

- Tìm hiểu bản chất và đặc điểm của thể loại văn tế

- Khảo sát thực tế về dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ở trường THPT

- Đề xuất cách tiếp cận văn bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo đặc trưng thể loại và tổ chức hướng dẫn HS tìm hiểu bài văn tế theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm

Trang 14

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Dùng phương pháp tổng hợp những vấn đề lí luận để làm cơ sở lí thuyết cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thống kê :

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu thập được trong quá trình điều tra khảo sát và quá trình thực nghiệm

- Phương pháp điều tra khảo sát:

Khảo sát thực trạng dạy học bằng phiếu điều tra thăm dò ý kiến, phỏng vấn GV và HS, nghiên cứu giáo án của một số GV để có căn cứ thực tế cho

đề tài nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Thiết kế giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm, thực nghiệm đối chứng để đánh giá kết quả của những phương pháp, biện pháp dạy học do tác giả luận văn đề xuất

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Trang 15

1.2.1 GV với việc dạy bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

1.2.2 HS với việc học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

Chương 2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo đặc trưng thể loại

2.1 Những vấn đề liên quan đến nội dung và nghệ thuật bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

2.1.1 Bối cảnh thời đại

2.1.2 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu

2.2 Xác định nội dung dạy học “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” từ đặc trưng thể loại của tác phẩm

2.2.1 Giá trị nội dung

3.2.1 Chọn lớp thực nghiệm và thời gian thực nghiệm

3.2.2 Tổ chức dạy học thực nghiệm và dạy học đối chứng

3.2.3 Kết quả thực nghiệm

Trang 16

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Thể loại văn tế trong hệ thống thể loại văn học Trung đại Việt Nam

* Nguồn gốc:

Văn tế là một thể loại cơ bản trong văn học Việt Nam thời kì trung đại Văn tế vốn có nguồn gốc lâu đời ở Trung Quốc, nhưng nó không phát triển thành một thể văn quan trọng trong văn học Trung Quốc Chỉ đến khi sang Việt Nam, nó đã phát triển thành một thể tài đặc sắc với nhiều bài văn tế có giá trị cao của các tác giả có tên tuổi

Ở Trung Quốc từng có sự phân biệt Điếu văn, Tế văn, Ai từ, Lỗi Trước hết, Lỗi là bài văn chuyên kể công đức người chết, qua đó bày tỏ lòng xót thương đối với họ Trịnh Huyền chú thích: “Lỗi nguyên là lũy, chồng chất các hành vi, mỹ đức của người chết lúc còn sống, đọc để làm thụy, nhưng chỉ có lời

mà không có thụy (tức danh hiệu sau khi chết)…Lũy là thể văn người trên thương xót người dưới Người tiện không được lũy người quý, người ấu không được lũy người trưởng Đó là những quy định nghiêm ngặt, khắt khe” [31]

Ai từ là loại văn ai điếu người chết Đời Hán ở Trung Quốc có “ Lương Thị ai từ” của Ban Cố Sau này, Hàn Dũ có “ Âu Dương sinh ai từ”

Điếu văn là văn viếng người đã chết, gọi là “điếu từ”, “điếu thư”, nếu làm theo thể thơ thì gọi là “điếu thi” Điếu là “vấn chung”, tức là thăm hỏi người chết Điếu là đến, khách đến an ủi chủ (là người đã mất) Theo Ngô Gia Nghị, điếu còn có ý tự gửi lời xót thương cho nên nặng về hoài cổ “Điếu Khuất Nguyên” của Giả Nghị là bài điếu đầu tiên còn giữ lại được

Thể văn tế dùng để “tế trời đất, núi sông, còn gọi là kỳ văn hay chúc văn Theo Ngô Tăng Kỳ đời Thanh, có văn tế sông núi của Vũ Thành Vân;

Trang 17

văn tế cá sấu của Hàn Dũ Về sau, văn tế là bài văn dùng để tế người chết Từ

Sư Tăng đời Minh cho rằng: văn tế là lời văn để tế thân hữu Thời xưa, khi tế người chết chỉ mời về hưởng cỗ lộc, sau mới có thêm lời ca tụng đức hạnh để ngụ ý tiếc thương”[31]

Ở Việt Nam, khác với các thể loại cũng du nhập từ Trung Quốc như: thơ, phú, hịch,…thì văn tế ngay từ buổi đầu đã mang đậm bản sắc riêng so với thể loại văn tế ở cái nôi sinh thành Nếu ở Trung Quốc, văn tế có sự phân chia khá phức tạp, chồng chéo thì ở Việt Nam, nó kiêm luôn cả Lỗi, Điếu văn, Ai

từ Nó không bắt buộc phải tuân theo khuôn phép, lễ nghi nào mà thực sự dân chủ, là phương tiện hữu hiệu bày tỏ niềm tiếc thương với người đã mất không

hề phân biệt trên dưới, xa gần, thân sơ

Như vậy, các bài văn tế chính là một phần không thể thiếu được của các buổi tế lễ được tổ chức Tế vốn là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian khá phổ biến trong xã hội phong kiến Buổi tế thường được tổ chức ở ngoài trời, dựng đàn cao, khói hương nghi ngút, thu hút rất đông người tham

dự với không khí vô cùng trang nghiêm, kính cẩn Lễ tế có thể được tổ chức định kì theo tập tục truyền thống để tế sông núi, tế đất trời, tế thần linh, thành hoàng,…là dịp để người trần thế bày tỏ tấm lòng thành kính tới các đấng siêu nhiên Ngoài ra, lễ tế còn được tổ chức để tế những người đã mất với tấm lòng thành kính và thương tiếc vô hạn Gạt bỏ yếu tố mê tín thì tế lễ là hành vi ứng

xử đẹp đẽ, là sinh hoạt tinh thần có tính nhân văn sâu sắc

Văn tế được dùng để đọc trong các buổi tế như vậy chính là một cách bắc nhịp cầu nối liền đôi bờ âm dương cách trở, đưa linh hồn người chết về cõi thanh cao, siêu thoát Đó là cách an ủi vong linh người phận bạc và làm vơi nhẹ phần nào nỗi đau trong lòng người còn sống, để tôn vinh, ghi tạc hình bóng người đã khuất

Trang 18

* Khái niệm:

Theo sách “Việt Nam văn học sử yếu” (Dương Quảng Hàm) thì: “Văn

tế, chữ Nho gọi là tế văn, là một bài văn đọc lúc tế một hoặc nhiều người chết

để kể tính nết, công đức của người ấy, và tỏ tấm lòng kính trọng, thương tiếc của người đứng tế đối với người đã mất”[7]

Theo sách Thọ Mai (sách chép về lễ nghi cúng ngày xưa) thì văn tế có nghĩa rất rộng, bao gồm các loại văn dùng để tế thần, tế thánh (tế thánh Khổng Tử và học trò của ông), tế sống, tế ma, và cả các loại văn dùng để chúc mừng như chúc thọ, chúc việc thăng quan tiến chức,…Về sau, văn tế dùng theo nghĩa hẹp, chỉ với nghĩa là văn tế ma, gắn với phong tục tang lễ Khi chôn cất người thân, người ta thường dùng văn tế để tưởng nhớ người đã mất

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”:“Văn tế là một loại văn gắn với phong tục tang lễ, chủ yếu nhằm bày tỏ sự thương tiếc của tác giả và của những người thân đối với những người đã mất Nội dung văn tế thường xoay quanh hai ý chính: một là kể về cuộc đời của người quá cố, hai là bộc lộ tình cảm, thái độ của người sống trong giờ phút vĩnh biệt Mặc dù trong văn tế có những đoạn tự sự, kể lại cuộc đời của người quá cố, nhưng căn bản nó thuộc loại trữ tình Âm điệu chung của văn tế là bi thương.”[16]

Như vậy, văn tế là một thể loại trữ tình bày tỏ niềm thương tiếc đối với người đã mất mà không phân biệt trên dưới, xa gần, thân hữu Những bài văn

tế thể hiện những tình cảm lớn của những trái tim lớn, trái tim mang tình cảm của nhân dân, tình cảm tiên tiến của thời đại; thường là những tiếng khóc đời, khóc nước, khóc đồng chí, đồng bào của tác giả Những bài văn tế như thế thường gây xúc động mãnh liệt trong lòng người đọc và trở thành những tác phẩm văn học có giá trị

Âm hưởng chung của văn tế là bi thương, nhưng sắc thái biểu cảm ở mỗi bài có thể khác nhau, mỗi bài một vẻ Có bài chỉ thuần túy là một tiếng

Trang 19

khóc (“Văn tế Trương Quỳnh Như” của Phạm Thái) nhưng cũng có bài mang tính sử thi bi tráng (“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu,

“Văn tế Phan Châu Trinh” của Phan Bội Châu) Ngoài văn tế trang nghiêm còn có văn tế mang tính chất trào phúng nhẹ nhàng Đặc biệt, có khi văn tế còn được viết trong những hoàn cảnh khác, nhằm mục đích khác như dùng tế người sống Chẳng hạn “Văn tế sống vợ” của Tú Xương có giọng hài hước dí dỏm để khen vợ và làm lành khéo với vợ vì sự chơi bời phóng túng của bản thân mình:

“Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ;

Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ

Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn;

Người ung dung, tính hạnh khoan hòa, chỉ một nỗi hay gàn hay dở

…Mình đi tu cho thành Tiên thành Phật để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ;

Tớ nuôi con cho có rể có dâu để trọn vẹn đạo chồng, nghĩa vợ…” Trong văn học Trung đại, đặc biệt là ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, văn tế cùng với hịch là những thể loại phát triển nhất, có tính chất đại chúng, thích hợp trong việc biểu đạt những tình cảm lớn Nếu như hịch là để kêu gọi chiến đấu thì văn tế là để phúng viếng những người đã mất, những người hi sinh khi đất nước bị giặc Pháp đánh chiếm Những bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu là những kiệt tác, tiêu biểu cho văn học giai đoạn đầu chống Pháp Văn tế vốn có nhiều tính chất bi thương, nhưng ở giai đoạn này, vì được sáng tác trong các phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp rầm rộ nên không chỉ bi thương mà còn tuôn trào căm phẫn và khí thế hào hùng

Có bài văn tế để châm biếm bọn thực dân xâm lược như bài “Văn tế Cờ- ri- vi- ê” (tương truyền của Nguyễn Khuyến):

Trang 20

Hỡi ôi!

Ông qua bảo hộ

Cái tóc ông quăn, Cái mũi ông lõ

Đít ông cưỡi lừa, Miệng ông huýt chó

Lưng ông mang súng lục liên, Chân ông đi giày có mỏ

Nay tôi có:

Chuối một buồng, Xôi một chõ, Rượu một be, Trứng một ổ

Vâng lời quan trên Cúng ông một cỗ

Để ông khỏi hổ,

Ô hô! Thượng hưởng”

Trang 21

Hiện nay, thể văn tế vẫn còn tồn tại trong sinh hoạt tinh thần của nhân dân ta Trong những giờ phút vĩnh biệt giữa người còn và người đã mất, người ta thường đọc những bài văn tế (hay điếu văn) viết bằng văn xuôi chữ quốc ngữ Nội dung của các bài điếu văn ấy cũng giống như những bài văn tế

cổ, vẫn thấm đẫm tinh thần nhân văn, giàu sắc thái trữ tình Ngoài ra, các bài văn tế trào phúng vẫn được nhân dân sáng tác khá phổ biến để đả kích, châm biếm những thói xấu, mặt trái trong xã hội Chẳng hạn, nếu như ngày trước,

cụ Đồ Chiểu khóc thương những người nghĩa sĩ hy sinh vì nước, thì ngày nay các nhà đầu tư chứng khoán cũng tự khóc thương cho mình bằng “Văn tế tử sĩ…chứng khoán”( khuyết danh):

“Hỡi ôi!

Thị trường sụp đổ, Lòng người đau khổ

Ki cóp bằng lao động khó nhọc mười năm Tiền rủng rỉnh há cũng nổi danh

Mà một thoáng lên sàn, tiền mất, tật mang…”

Hay nhà văn Võ Thị Hảo làm bài “Văn tế dân oan” để phê phán thói quan liêu, tham nhũng vẫn tồn tại trong xã hội, gây nên bao cảnh khổ đau:

“ Kìa, người Việt Chúng tôi chết tức tưởi bởi những kẻ bạo ngược Những kẻ ăn lộc dân để hành hạ giết dân!

Kìa ngẩng lên xem Nơi nào đục khoét tiệc tùng, bán tước mua quan, lễ hội tưng bừng trộm cướp…”

Trang 22

Tóm lại, trong thời kì văn học Trung đại, văn tế là một thể văn được sáng tác khi tế, cúng người chết, thường có âm hưởng bi thương, gợi lên những tình cảm chân thành và những triết lí nhân sinh sâu sắc Đây là một thể văn khá độc đáo trong nền văn học của đất nước ta bởi những đặc trưng về mặt nội dung và hình thức của nó

1.1.2 Đặc trưng của văn tế về mặt nội dung

Yêu cầu về nội dung của văn tế bao giờ cũng phải có hai ý chính:

- Một là, giới thiệu công trạng, tài đức, sự nghiệp của người đã khuất

- Hai là, bày tỏ nỗi thương tiếc xót xa của người đứng tế (tức là một mặt nói lên mối quan hệ xã hội lúc còn sống của người vừa qua đời, mặt khác nói lên mối quan hệ giữa những người sống với người đã chết ấy) Cho nên yêu cầu chủ yếu của văn tế về mặt nội dung là phải chân tình

Loại trừ những bài văn tế thương vay khóc mướn (làm hộ cho người khác) hoặc là viếng thăm theo nghi lễ thường nghèo nàn về cảm xúc nên sáo rỗng công thức, còn lại những bài văn tế xuất phát từ những quan hệ thực, những tình cảm thực bao giờ cũng gây xúc động mạnh mẽ Giọt nước mắt chân tình xuất phát từ tình cảm đằm thắm, thủy chung luôn có sức truyền cảm rất lớn Điều cốt lõi trong một bài văn tế là biểu lộ được tình cảm chân thành Bởi vậy, những bài văn tế xuất phát từ tình cảm sâu sắc bao giờ cũng làm rung động lòng người Và khi tình cảm đó vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm

cá nhân thì thường gây nên những xúc động mãnh liệt trong lòng người đọc, người nghe Chính vì vậy, bài văn tế thường rất giàu sắc thái trữ tình và có tính nhân văn sâu sắc

Từ cuối thế kỉ XVIII về trước, văn tế chủ yếu hướng vào sự bộc lộ những tình cảm riêng tư (tình cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn,…).Từ thế kỉ XIX, đặc biệt từ khi Pháp xâm lược nước ta, văn tế được dùng rộng rãi, trở thành một công cụ tuyên truyền, một loại vũ khí sắc bén của người yêu nước

và cách mạng, phản ánh được những tình cảm tư tưởng của dân tộc

Trang 23

Chẳng hạn,“Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du là tiếng khóc của một tâm hồn vĩ đại trước cái chết oan khuất của những số phận bất hạnh dưới thời phong kiến Qua đó, chúng ta thấy được cả một bản án đối với chế độ phong kiến độc ác đã đầy đọa, vùi dập con người:

“Thương thay thập loại chúng sinh Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người Hương lửa đã không nơi nương tựa

Hồn mồ côi lần lữa bấy niên”

Trong “Văn tế Phan Châu Trinh”, chúng ta nhận thấy tấm lòng thương cảm sâu sắc của Phan Bội Châu đối với người bạn chiến đấu tuy khác chủ trương nhưng cùng chí hướng Trong “Văn tế Trương Định”, chúng ta tưởng như giọt nước mắt khóc thương người lãnh tụ nghĩa quân cũng chính là khóc than cho vận mệnh đất nước gặp buổi đau thương của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu:

“Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; than là than bờ cõi lúc qua phân, tháng ngày trông vua, ngơ ngẩn một phường tớ dại”

Ông đã hết lòng ca ngợi những sĩ phu như Trương Định, Phan Tòng một lòng vì nước, vì dân, đã hi sinh một cách dũng cảm Ông cảm phục trước tấm lòng “vì nước tấm thân đã gửi” của hai nhà chí sĩ yêu nước ấy ở buổi đầu chống Pháp:

“Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây,

Một giấc sa trường phận cũng may

Viên đạn nghịch thần treo trước mặt, Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay”

(Thơ điếu Phan Tòng)

Trang 24

Vào khoảng những năm từ 1930 đến 1945, xuất hiện nhiều bài văn tế của các chiến sĩ cộng sản viết trong nhà tù để viếng các đồng chí bị hy sinh Ở đây, ngoài tiếng khóc chân tình, chúng ta còn thấy những suy nghĩ sâu sắc về

lẽ sống, chết mà mãi mãi sẽ là những bài học về nhân sinh quan cao cả cho các thế hệ:

“Hình hài lấp, tinh thần nào lấp, mảnh gương trong muôn thủa không mờ; Chuyên chế còn, cách mạng hãy còn, cờ vô sản năm châu vẫn đỏ.” (Điếu đồng chí Nguyễn Phong Sắc- Hồ Văn Ninh)

Vì vậy trong một bài văn tế, cái quyết định về giá trị nội dung chính là

sự chân thành về cảm xúc và quan niệm đúng đắn về lẽ sống, chết Trong thời phong kiến, dĩ nhiên quan niệm về sống chết còn bị ràng buộc bởi thuyết định mệnh, nhưng một khi tác giả biết nêu lên cái nghịch cảnh giữa người tài đức anh hùng và cái chết oan khuất bạc mệnh, hoặc nêu lên được tinh thần vì nước quên thân của những con người trung nghĩa thì tác giả cũng đã thể hiện được quan điểm tư tưởng chân chính của mình

Văn tế ở Việt Nam hướng vào nhiều đối tượng: có văn tế vua, tế trung thần, tế nghĩa sĩ trận vong, tế chị, tế vợ, tế con, tế người yêu, tế thập loại chúng sinh, thậm chí có văn tế đồ vật, tế búi tóc hay tế chế độ,…Đó là một thể văn rất độc đáo, đặc biệt là thế giới hình tượng được phản ánh rất rộng Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã khẳng định: “Trong các thể loại văn học Việt Nam, không có thể loại nào thuần túy viết về người chết như là văn tế Tuy vẫn tin người chết có linh hồn, song thực tế chết là hết, đối diện với cái chết là đối diện với sự hư vô”[31] Chính vì thế, trước sự ra đi của những người thân, tác giả các bài văn tế đã hết sức đau buồn, thương tiếc vì sự chia

ly vĩnh biệt “Văn tế chị” của Nguyễn Hữu Chỉnh mở đầu viết:

Trang 25

“Than ôi!

Dòng nước chảy về đâu, biết có về Đông Hải vậy chăng?

Hồn phách chị ở đâu, biết có về Đông Hải vậy chăng?

Nhưng cuối cùng chỉ còn lại một cảm giác hư vô trong lòng người em trai trước một quy luật khắc nghiệt của thời gian, của đời người:

“Bui còn một chút hình hài đưa về đất cố hương, muôn nước nghìn non

Bùi Hữu Nghĩa làm bài văn tế khóc con gái đã khiến người đọc không cầm được nước mắt khi người cha kể lại rất nhiều những chi tiết sinh hoạt hằng ngày của đứa con gái bé bỏng vô cùng cảm động Nỗi đau của người cha mất con khó mà diễn tả cho hết được bằng lời:

Trang 26

“Ôi! Nước chảy mây trôi, sao dời nguyệt lặn

Nghiệp trăm năm từ ấy mà thôi, vàng ngàn lạng dễ mà cho đặng

Nhớ tiếng con cười, lời con thốt càng thêm chua xót đời con

Nhớ đến cách con đứng, dáng con ngồi, luống để nhớ để thương tu đặng Đường ra, ngả vào còn đó, con đi đâu cho rêu cỏ mọc xanh

Thúng may, rổ vá còn đây, con đi đâu cho mốc meo giếng trắng…” Nguyễn Đình Chiểu đã làm sống lại hình ảnh người nông dân mộ nghĩa Cần Giuộc trong bài văn tế nổi tiếng nhất của ông với những chi tiết mang tính chất sử thi hào hùng, có tác dụng cổ vũ lòng người Người nông dân ra trận với những trang bị, vũ khí thô sơ, giản dị nhất, chỉ với lòng yêu nước và

ý chí quyết thắng nhưng cũng lập được chiến công:

“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có…”

Văn tế là thể văn nói nỗi xót xa cô quạnh của người sống khi mất người thân Đây là cảnh những người mẹ, người vợ của nghĩa sĩ Cần Giuộc sau khi những người con, người chồng của họ không trở về sau trận đánh:

“Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ…”

Đọc những câu văn ấy, lòng ai mà không khỏi xót xa trước nghịch cảnh cuộc đời ấy Mẹ già chỉ biết trông cậy vào con lúc tuổi già xế bóng, vậy mà giờ đây mẹ ngồi khóc con trong túp lều bên ngọn đèn khuya hiu hắt Vợ yếu

Trang 27

phải dựa vào “bóng tùng quân”, vậy mà giờ đây phải chạy ngược chạy xuôi tìm lại hình bóng người yêu dấu trong nỗi cô đơn tuyệt vọng Thật đau đớn, não nùng cho hoàn cảnh những người thân của các nghĩa sĩ Nỗi đau dường như thấm sâu vào tim mọi người, lặng lẽ mà nhức nhối, dằn vặt lòng người còn sống

Còn đây là tình cảnh cô độc của Nguyễn Hữu Chỉnh khi mất chị:

“Bên trời góc bể, thân cố có ai, đất khách quê người, bui một chị một

em đã hình đơn bóng chiếc

Bát ngát thay!

Cành hoa trôi nước, chiếc nhạn về Nam

Vậy thì chén đất vàng từ đây, nấm cỏ xanh từ đây

Muôn nghìn kiếp cũng từ đây, thăm thẳm biết bao giờ lại thấy vậy chăng ”

Văn tế là thể văn nói lời an ủi, vỗ về, động viên của người đang sống trước cái chết của người thân, những người đã khuất đáng kính trọng để xoa dịu vết thương tâm hồn Những bài văn tế đã nuôi dưỡng đức tin cho con người rằng dù đã chết nhưng dường như linh hồn của họ mãi bất tử trong lòng người ở lại Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên bức tượng đài vĩnh viễn về người nông dân đánh giặc Với tác giả, với nhân dân thì dường như người anh hùng mãi bất tử, linh hồn của họ vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp :

“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.”

Trang 28

Như vậy, đặc trưng về nội dung của văn tế đã khiến cho thể loại văn học này mang một diện mạo độc đáo Trần Đình Sử đã kết luận về nội dung của văn tế như sau:“Văn tế là thể văn có khả năng phản ánh những phương diện bi kịch của kiếp người Với những lời an ủi thiết tha đôn hậu thì văn tế mãi mãi lưu giữ những nỗi đau, niềm hận khôn nguôi của đủ loại kiếp người trong thiên hạ”[29] Ngoài ra, văn tế còn có nội dung ngợi ca, tự hào về những người anh hùng, nghĩa hiệp Đó là đặc trưng về tính nhân văn sâu sắc của thể loại văn tế trong Văn học trung đại Việt Nam

1.1.3 Đặc trưng của văn tế về mặt hình thức

Về phương diện văn bản nghệ thuật, văn tế mang đặc điểm của biền văn Tính chất đối trượng, tức là yêu cầu ngữ cú sóng đôi đối xứng nhau của biền văn cộng với sự hiệp vần vốn có khiến văn tế trở thành một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh

Bằng việc khảo sát và tìm hiểu hình thức nghệ thuật của văn tế trên một

số phương diện chính, chúng tôi có được một số hiểu biết cơ bản về đặc trưng nghệ thuật của thể loại này

và sau này là văn tế viết bằng chữ quốc ngữ

*Văn tế thể tự do: Là thể văn tế không gò bó theo một khuôn khổ nào,

dài ngắn không nhất định

Trang 29

Thể tự do hoặc theo lối từ khúc, như bài “Văn tế Hoàng hậu” của Dương Ức sau đây:

“Than ôi ! Một áng mây ở Vu Sơn Một đám tuyết ở Lãng Uyển, Một đóa hoa ở Đào Nguyên, Một vầng trăng ở trên không

Bỗng đâu:

Mây tán, tuyết tiêu, Hoa tan, nguyệt khuyết

Phục duy, thượng hưởng!”

Hoặc theo lối lục bát như bài “Kêu hồn nước” của Nguyễn Quyền:

“Hồn xưa dòng dõi Lạc Long Con nhà Nam Việt người trong giống vàng

Chi Na chung một họ hàng Xiêm La, Nhật Bản cùng làng Á –Đông

Trời Nam một dải non sông Ngàn năm cơ nghiệp cha ông hãy còn

… Than ôi hồn nước ta ơi!

Tỉnh nghe ta gọi mấy lời đồng tâm!”

(1907) Hoặc theo lối thơ song thất lục bát như bài “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến, “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du:

Trang 30

“ Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương Tuổi già hạt lệ như sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”

(Khóc Dương Khuê- Nguyễn Khuyến) Hoặc theo lối văn xuôi cổ như bài “Văn tế chị” của Nguyễn Hữu Chỉnh:

“ Than ôi!

Dòng nước chảy về đâu, biết có về Đông Hải vậy chăng?

Hồn phách chị ở đâu, biết có về Đông Hải vậy chăng?

Hay là nơi Bồng Hồ, Lãng Uyển hay là nơi tử phủ, thành đô?

Ao vàng khơi thẳm, biết là thăng giáng nơi nao, bui còn một chút hình hài đưa về đất cố hương, muôn nước nghìn non, xa khơi cách trở

Ôi! Kiếp nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như lửa đóm, như chiêm bao, giây phút nên không, dù nhẫn trăm năm cũng chẳng mấy

Thương thay chị, mới hai mươi chín tuổi, cũng là kiếp hóa sinh Gửi mình vào tài tử mười ba năm, đã dốc một lời nguyền, song cay đắng có nhau,

mà vinh hiển chưa bao giờ được thấy Rơi máu ở nhân gian năm, bảy bận, chỉn còn hai chút gái, vả sữa măng dường ấy, đủ trưởng thành ngày khác cũng bằng không

Ôi! Tạo vật làm sao, con người thế mà đến điều đau đớn thế! Bên trời góc bể, thân cố có ai, đất khách quê người, bui một chị, một em đã hình đơn bóng chiếc

Bát ngát thay! Cành hoa trôi nước, chiếc nhạn về nam

Vậy thì chén đất vàng từ đây, nấm cỏ xanh từ đây, muôn nghìn kiếp cũng từ đây, thăm thẳm biết bao giờ lại thấy vậy chăng?

Giang đình một lá, quải biệt đôi nơi, chín suối là đâu?

Có linh xin hưởng…”

Trang 31

*Văn tế phỏng theo thể phú Đường luật: đây là thể thông dụng nhất

Về cách đặt câu, gieo vần, bố cục đều phỏng theo lối phú Đường luật (thể phú

có ở đời Đường, Trung Quốc) Cụ thể như sau :

+ Về cách gieo vần:

Văn tế theo thể phú Đường luật thường thiên về lối độc vận, phần lớn là vần trắc Chẳng hạn như bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu gồm có 30 câu với 30 vần: tỏ, mõ, khó, bộ, ngó, cỏ, cổ, chó, hổ, mộ, bố,

Chẳng hạn, trong một liên, mỗi câu tứ lục biến thể chia làm hai vế đăng đối nhau gọi là câu song quan:

“Chữ chung tình nghĩ lại ngậm ngùi, Câu vĩnh quyết đọc càng buồn bã”

(Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ- Nguyễn Du ) Hoặc chia làm hai vế không đăng đối, trên dài dưới ngắn hoặc trên ngắn dưới dài gọi là câu cách cú :

“ Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu )

Trang 32

Hoặc câu chia làm ba vế (thực chất là hai vế nhưng một vế tách ra làm hai) dài ngắn đối nhau gọi là câu gối hạc:

“ Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri;

Dấu địa linh con Lạc cháu Hồng, người sao trước có sau không, kinh sấm sét dễ đau lòng hậu bối.”

(Văn tế Phan Châu Trinh- Phan Bội Châu)

Mở đầu bài văn tế có nhiều cách:

- Dùng câu bát tự chuyển xuống cách cú hay gối hạc như trong bài

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu:

“Hỡi ôi!

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ,

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ…”

- Hoặc dùng cách cú chuyển xuống song quan như trong bài “Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ” :

“Chùa Phổ Cứu trăng dìu gió dặt, nỡ một ngày nên nghĩa trăm năm; doanh Đào Nguyên nước chảy hoa trôi, bỗng nửa bước chia đường đôi ngả

Chữ chung tình nghĩ lại ngậm ngùi,

Câu vĩnh quyết đọc càng buồn bã.”

- Hoặc dùng gối hạc chuyển xuống cách cú rồi song quan, như trong bài “Văn tế Phan Châu Trinh”:

“Than ôi!

Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri;

Trang 33

Dấu địa linh con Lạc cháu Hồng, người sao trước có sau không, kinh sấm sét dễ đau lòng hậu bối

Vẫn biết tinh thần di tạo hóa, sống là còn mà thác cũng như còn;

Chỉ vì thời thế khuất anh hùng, xưa đã rủi mà nay càng thêm rủi

Lấy ai đây nối gót nghìn thu

Vậy ta phải kêu người chín suối.”

Với sự đan xen, phối hợp các kiểu câu ngắn dài khác nhau, cộng thêm phép đối cả ý lẫn lời thì văn tế có hiệu quả diễn đạt tức thời, làm xúc động lòng người Chính nhờ cách sử dụng, bố trí các kiểu câu như trên nên tiết tấu

và âm hưởng của biền văn gần với thơ ca Biền văn nói chung và văn tế nói riêng được coi là chiếc cầu nối liền giữa thơ ca và văn xuôi là vì vậy.“Điều quan trọng cần chú ý trong câu biền văn không phải là số từ và hình thức câu

mà là âm hưởng của câu văn biểu hiện qua cách ngắt nhịp của nó Mỗi nhịp là một tiết tấu và từ cuối của mỗi nhịp được gọi là tiết tấu điểm Chính tiết tấu

điểm sẽ quy định luật phân phối bằng trắc trong câu, bảo đảm cho nhạc tính

của câu văn được du dương, trầm bổng”[37]

Trong các câu văn tế, thường mỗi vế không bao giờ có sự trùng lặp về thanh điệu ở các tiết tấu điểm mà trái lại luôn có sự xen kẽ giữa các thanh bằng và thanh trắc Hơn nữa, giữa hai vế thì thanh điệu ở các tiết tấu điểm thường đối lập bằng trắc với nhau Chẳng hạn:

(Vế 1) “Thân, dậu, tuất (T) mấy mươi năm (B) gian khổ(T),

Khi đào cây(B) khi đập đá (T), Giữa cõi trần(B) gió bụi (T) vẫn thung dung(B);

(Vế 2) Đặng, Hoàng, Ngô(B) ba bốn bác(T) hàn huyên(B),

Lúc uống rượu(T) lúc ngâm thơ(B), Ngoài cửa ngục(T) lầm than(B) mà khảng khái(T).”

(Văn tế Phan Châu Trinh- Phan Bội Châu)

Trang 34

Trong câu văn tế, nhờ sự đối lập về thanh điệu giữa các vế trên và vế dưới ở các tiết tấu điểm nên nhạc tính của hai vế luôn bổ sung cho nhau, làm cho câu văn khi đọc lên được thuận miệng, ngân vang hơn, cảm xúc bi ai thống thiết hơn

+ Về cách bố cục (hay là các đoạn mạch):

Cùng được viết theo lối phú, nhưng bố cục của một bài phú lại khác bố cục của một bài văn tế Một bài phú thường yêu cầu chia làm 6 phần: Lung khởi (mở bài), biện nguyên (nói nguyên ủy cho rõ đầu bài), thích thực (giải thích ý đầu bài), phu diễn (mở rộng ý đầu bài), nghị luận (bàn về ý đầu bài), kết lại (thắt lại ý đầu bài) Văn tế thì khác, bố cục của nó thường có 4 đoạn: Lung khởi, Thích thực, Ai vãn, Kết Kết cấu ấy làm cho bài văn tế có hai nội dung rất rõ ràng: công trạng, sự nghiệp của người chết và nỗi lòng của người sống Cụ thể:

- Đoạn mở đầu (Lung khởi): bắt đầu bằng những chữ như: Than ôi ! Thương ôi! Ôi ! Hỡi ôi ! Than rằng! thường luận chung về lẽ sống chết

- Đoạn kể công đức, sự nghiệp người chết (Thích thực) thường bắt đầu bằng những cụm từ : nhớ linh xưa, nhớ cha xưa, nhớ bạn xưa,…

- Đoạn nói nỗi niềm thương tiếc người chết (Ai vãn) thường bắt đầu bằng : Ôi!

- Đoạn tỏ tình thương nhớ người chết và lời cầu nguyện của người đứng

tế (Kết) thường bắt đầu bằng những từ: Tôi nay, con nay, bản chức nay,…

Mặt khác, hình thức bài văn tế bao giờ cũng phụ thuộc vào nội dung của nó Có trường hợp, để phục vụ cho cấu tứ của bài văn, tác giả có thể thay đổi hoặc thêm bớt trong các phần nói trên.Vì vậy, khi tìm hiểu một bài văn tế, chúng ta cần xuất phát từ nội dung, tư tưởng và tình cảm được thể hiện trong bài đó mà xác định bố cục, không nên căn cứ vào một quy tắc cố định để tính việc phân đoạn một cách máy móc, gượng ép

Trang 35

1.1.3.2 Về giọng điệu, ngôn ngữ nghệ thuật

Văn tế thuộc phạm trù văn chương trữ tình nên rất gần gũi với thơ trữ tình Nhân vật trữ tình trong văn tế - tác giả- thường bộc lộ mình một cách trực tiếp và mong muốn người đọc cùng chia xẻ cảm xúc đó với mình.Vì vậy, lời văn của văn tế rất giàu hình ảnh gợi cảm Tác giả thường khơi gợi những tình cảm trong đáy sâu tâm hồn khiến cho người đọc, người nghe xúc động như đang chứng kiến cái chết của một người nào đó với tất cả tấm lòng thương tiếc và những suy nghĩ lắng đọng về cuộc sống của một đời người

Muốn đạt được mục đích đó, ngoài yêu cầu phải có tình cảm chân thực

và cấu tứ sinh động, ngôn ngữ của văn tế phải là một ngôn ngữ giàu hình tượng gợi cảm và phong phú về nhạc điệu

Chẳng hạn, Nguyễn Đình Chiểu nghẹn ngào khóc nghĩa sĩ Cần Giuộc, khóc cho những người mẹ mất con, vợ mất chồng:

“Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”

Những câu văn dường như cũng than khóc đau đớn, vật vã Các từ láy:

“leo lét”, “dật dờ” diễn tả đúng cảnh, đúng tình, có sức gợi niềm đồng cảm của người đọc

Ngoài đặc điểm giàu hình tượng gợi cảm và nhạc điệu, ngôn ngữ của văn tế giàu sắc thái tu từ, thiên về tính chất trang hoàng và có nhiều điển tích, điển cố ước lệ (nhất là những bài văn tế cổ) Chẳng hạn cách dùng điển cố:“gươm hùm treo mộ” trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” :“Trăm năm

âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ” là dụng ý nghệ thuật của tác giả Đây cũng là một đặc điểm cơ bản về cách dùng từ trong biền văn nói chung, bởi “nếu như ở các hình thức văn học khác, việc dùng điển cố mới là một biện pháp tu từ điểm suyết vào quá trình hành văn thì trong biền văn, việc

Trang 36

dùng điển cố trở thành một đặc điểm nổi bật”[38].Việc sử dụng các điển tích, điển cố cũng là thủ pháp nghệ thuật quen thuộc của các nhà văn trung đại, khiến cho tác phẩm có màu sắc trang trọng, nhã nhặn, lời ít, ý nhiều

Trong văn tế, thủ pháp khinh từ hay được dùng, dường như để tránh nói đến cái chết, tránh nói đến những gì gợi lên số phận tàn khốc, bi thảm của người đã khuất Trước cái chết của nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu

viết: “Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng

trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ” Tác giả đã dùng những cụm từ nói về cái chết mà không có thực từ

“chết”, nhằm xoa dịu phần nào sự đau buồn thương tiếc của người thân, của nhân dân đối với các nghĩa sĩ

Tóm lại, với những đặc trưng về mặt nội dung và hình thức như trên, các bài văn tế tiêu biểu đã góp phần làm nên diện mạo sinh động của nền văn học dân tộc Bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu cũng mang đầy đủ những đặc trưng ấy Đây là một kiệt tác của văn học Trung đại Việt Nam Song, để thấy hết giá trị tiềm ẩn của kiệt tác này, thầy và trò cần tìm ra con đường tìm hiểu nó một cách hợp lý

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Giáo viên với việc dạy bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

1.2.1.1 Khảo sát giáo án dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” và tiến hành dự giờ của GV

Với mục đích nắm bắt được thực trạng GV với việc dạy bài văn tế trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số giáo án và dự giờ của một số GV hai trường THPT Mai Sơn và THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Chúng tôi đưa ra hai giáo án về bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” sau đây:

*Giáo án thứ nhất (của GV Hoàng Văn Huy, Trường THPT Mai Sơn)

Trang 37

- Nhận thức được những thành tựu xuất sắc về mặt ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng hình tượng, sự kết hợp nhuần nhuyễn tính hiện thực và giọng điệu trữ tình bi tráng tạo nên giá trị sử thi của bài văn này

Bước 2- Kiểm tra bài cũ:

Bước 3- Vào bài mới

HOẠT ĐỘNG CỦA GV- HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT

Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh

tìm hiểu tác phẩm

- Cho học sinh đọc phần tiểu dẫn

- GV diễn giảng thêm nhằm gợi

I Giới thiệu:

1 Hoàn cảnh ra đời của bài văn tế:

2 Thể loại : văn tế

Trang 38

lại không khí thời đại tác phẩm ra

đời

Hoạt động 2: Hướng dẫn tìm hiểu

chi tiết văn bản

Phân tích giá trị biểu cảm của 2

từ: “ cui cút”, “ toan lo”?

(TIẾT 2 )

GV: Phân tích diễn biến tâm lí

của người nông dân?

GV chia nhóm thảo luận

II Đọc- hiểu văn bản:

1- 1 Hoàn cảnh hi sinh của người nông dân nghĩa sĩ( câu 1- 2)

2- - Hình ảnh đối lập so sánh:

3- - Súng giặc > < lòng dân 4- - Đất rền > < trời tỏ 5- =>Khung cảnh bão táp của thời đại Sự đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo và

ý chí kiên cường của nhân dân 6- - Thái độ chết vinh còn hơn sống nhục Nhận thức được trách nhiệm và để lại tiếng thơm cho đời

7- 2- Nhớ lại cuộc đời người đã mất

8- a, Người nông dân nghèo khổ ( câu 3- 5) 9- - Hình ảnh người nông dân tội nghiệp lẻ loi đơn độc đối phó với sự nghèo khó “cui cút làm ăn , toan lo nghèo khó…”

10- - Biện pháp liệt kê, điệp :“Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung…”

11- - Quen với việc đồng áng , xa lạ với việc quân trường

12- b, Người nghĩa sĩ đánh Tây( câu 6- 9) 13- - Trông tin quan : trời hạn trông mưa 14- - Căm ghét quân giặc “nhà nông ghét cỏ” 15- - Căm thù cảm xúc: muốn ăn gan, cắn cổ

kẻ thù

16- - Căm thù lí trí: “Một mối xa thư đồ sộ…”

Trang 39

GV:Người nông dân ra trận với

trang bị và vũ khí như thế nào?

Khí thế chiến đấu của họ?

18- c, Dũng sĩ công đồn ( câu 10- 15) 19- - manh áo vải- đạn nhỏ 20- ngọn tầm vông đạn to 21- dao phay tàu thiếc tàu đồng 22- súng nổ

23- =>Thô sơ > < hiện đại 24-

25- Đốt nhà, chém, mã tà, ma ní 26- đạp, xô,đâm ngang, bọn hè trước, lũ 27- chém ngược ó sau

28- =>Khí thế chiến đấu: dũng cảm quên mình > < hèn nhát, khiếp sợ, hoảng loạn 29- - Sơ kết : Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một tượng đài bất tử về người nông dân yêu nước đã đứng lên như những anh hùng Lần đầu tiên trong văn học thành văn, người nông dân có một vị trí đoàng hoàng, đĩnh đạc mang tầm vóc và vẻ đẹp của mình Họ cũng thật bình thường nhưng cũng thật phi thường

30- 3- Tình cảm của tác giả

31- a, Đối với các liệt sĩ:

32- - Da ngựa bọc thây 33- - Gươm hùm treo mộ

Trang 40

34- - Vì tấc đất ngọn rau 35- - vì bát cơm manh áo 36- - vì triều đình hèn nhát

37- Ca ngợi cái chết cao cả Động cơ hi sinh cao đẹp “chết vinh còn hơn sống nhục” 38- - Lời văn vừa an ủi, vừa tri ân, vừa xót xa thương cảm, đồng thời là sự căm giận khôn nguôi đối với kẻ xâm lược

39- b, Đối với gia đình các liệt sĩ 40- - Đau đớn- mẹ già

41- Não nùng- vợ yếu 42- Tình cảnh xót xa trước cảnh tang tóc hiu hắt của gia đình các liệt sĩ Từ ngữ giản dị

có giá trị biểu cảm cao 43- c, Lo lắng cho số phận quê hương đồng bào

44- - Giặc vẫn còn đóng ở sông Bến Nghé 45- Bốn phía mây đen

46- Một phường con đỏ 47- =>xót xa vì quê hương vẫn trong cảnh điêu linh Bi thương nhưng không bi lụy bởi hình ảnh những con người ngàn năm

“sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn còn theo giúp cơ binh” Lời khấn nguyện như thôi thúc những con người đang sống hãy tiếp tục đứng lên chiến đấu diệt thù

Ngày đăng: 16/09/2014, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
2. Hoàng Hữu Bội (2007), Thiết kế dạy học ngữ văn lớp 11( Nâng cao), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học ngữ văn lớp 11( Nâng cao
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Nguyễn Hải Châu (chủ biên) (2007), Giới thiệu giáo án ngữ văn 11 tập I, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án ngữ văn 11 tập I
Tác giả: Nguyễn Hải Châu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
4. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) , Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Nguyễn Văn Đường (chủ biên) (2007), Thiết kế bài giảng ngữ văn 11, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng ngữ văn 11
Tác giả: Nguyễn Văn Đường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
6. Hà Nguyễn Kim Giang (2007), Phương pháp đọc diễn cảm, Nxb Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đọc diễn cảm
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: Nxb Đại Học Sư Phạm
Năm: 2007
7. Dương Quảng Hàm (1993), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1993
8. Nguyễn Trọng Hoàn (2003), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
9. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
10. Hà Thị Thu Huyền (2010), Dạy học các bài thơ Nôm Đường luật trong SGK Ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại, Luận văn thạc sĩ, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học các bài thơ Nôm Đường luật trong SGK Ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại
Tác giả: Hà Thị Thu Huyền
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Phạm Thị Thu Hương (2006),“Thi pháp học thể loại và việc đổi mới dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 135, tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học thể loại và việc đổi mới dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Năm: 2006
14. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
15. Nguyễn Kỳ (1996), “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, Nghiên cứu giáo dục, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Năm: 1996
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
17. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (1977), Điển cố văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977
18. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2007), SGV ngữ văn 11, tập I (bộ chuẩn), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV ngữ văn 11, tập I (bộ chuẩn)
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Phan Trọng Luận (chủ biên)(1998), Phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1998
20. Phan Trọng Luận (2009), Văn học nhà trường, Nhận diện- Tiếp cận- Đổi mới, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhà trường, Nhận diện- Tiếp cận- Đổi mới
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2009
21. Phan Trọng Luận (2003), Văn học giáo dục thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học giáo dục thế kỷ XX
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-  GV  :  Em  hãy  nhận  xét  2  hình - dạy học văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn đình chiểu ở sgk ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại
m hãy nhận xét 2 hình (Trang 38)
2.1. Hình tƣợng nghĩa sĩ Cần Giuộc - dạy học văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn đình chiểu ở sgk ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại
2.1. Hình tƣợng nghĩa sĩ Cần Giuộc (Trang 102)
Hình  tượng  người  nông  dân - dạy học văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn đình chiểu ở sgk ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại
nh tượng người nông dân (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w