1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh

107 833 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 673,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm văn học Có thể nói, hội thoại trong các tác phẩm văn học là đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

………

NGUYỄN THỊ GẤM

HỘI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT

“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hùng Việt

Thái Nguyên – 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Gấm

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vào năm 1987, “Nỗi buồn chiến tranh” xuất hiện trong đời sống

văn học Việt Nam như một viên ngọc với hình thù và màu sắc khác lạ Vẻ đẹp dị biệt của nó đã khiến nhiều người lầm tưởng trong nó hàm chứa cả những chất độc, để rồi, khi nhìn nhận lại, người ta phải thừa nhận nó thực sự

quý giá Đọc “Nỗi buồn chiến tranh”, nhà văn Nguyên Ngọc đã ca ngợi:

"Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới" [46]

“Nỗi buồn chiến tranh” cũng đã được Frank Palmos và Phan Thanh Hảo dịch sang tiếng Anh và xuất bản năm 1994 với tựa để "The Sorrow of War" Tác phẩm nhận được sự ca tụng rộng rãi từ các độc giả nước ngoài, và

được một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh

Để góp phần làm nên những thành công ấy, không thể không nhắc đến

sự đóng góp của ngôn ngữ nghệ thuật, trong đó hội thoại chiếm một vị trí đáng kể

1.2 Với Ngôn ngữ học Việt Nam, Ngữ dụng học đã không còn xa lạ

Trong các nội dung nghiên cứu của ngữ dụng học, các vấn đề về hội thoại có

vị trí rất quan trọng vì nó chính là nội dung phản ánh vai trò của ngôn ngữ trong thực tế giao tiếp Ở nước ta, trong thời gian qua, một số tác giả đã vận dụng lí thuyết ngữ dụng học vào việc nghiên cứu ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học Mặc dù vậy, đây vẫn là vùng đất màu mỡ cần được khai phá nhiều hơn nữa, đặc biệt với những khoảng còn ẩn chứa bao điều thú vị như

“Hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh””

Trang 4

1.3 Bản thân người viết có niềm yêu thích với ngôn ngữ học nói

chung và Ngữ dụng học nói riêng, luôn có mong muốn được tìm hiểu nhiều hơn nữa về lĩnh vực này để phục vụ cho công việc học tập và giảng dạy

Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi đã chọn “Hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”” làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm văn học

Có thể nói, hội thoại trong các tác phẩm văn học là đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:

“Hội thoại trong truyện ngắn của Nam Cao” (Luận án tiến sĩ của Mai

Thị Hảo Yến, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) Ở luận án này, tác giả đã làm sáng tỏ lý thuyết về hội thoại trong dụng học bằng việc miêu tả cấu trúc các hình thức thoại dẫn trong truyện ngắn Nam Cao

“Hội thoại trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám (đặc điểm sử dụng từ ngữ trong quan hệ với nhân vật)” (luận văn thạc sĩ của

Phạm Văn Khanh,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) Tại công trình này, tác giả chủ yếu tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ trong hội thoại của các nhân vật, qua đó thấy được sự phù hợp giữa ngôn ngữ hội thoại và hình tượng nhân vật trong tác phẩm Nam Cao

“Bước đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng” (luận văn thạc

sĩ của Hoàng Thị Quỳnh Ngân, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2008) Trong luận văn này, tác giả chủ yếu đi vào tìm hiểu đặc điểm của lời thoại, qua đó thấy được những nét đặc sắc trong sáng tác của nhà văn miền núi Vi Hồng

Trang 5

“Hội thoại trong “Dế mèn phiêu lưu kí”” (luận văn thạc sĩ của Giáp

Thị Thuỷ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009) Ở luận văn này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu về cấu trúc hội thoại và sự thể hiện các quan hệ

liên nhân – phép lịch sự trong “Dế mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài

Ngoài ra, còn có thể kể tới một số bài viết như: “Các kiểu thoại dẫn trực tiếp, tự do trong truyện ngắn Nam Cao” (Mai Thị Hảo Yến); “Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng” (Đinh Trí Dũng); “Hiệu quả nghệ thuật của lời thoại nhân vật trong truyện ngắn “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp” (Nguyễn Thị Hương); “Chất quê kiểng trong lời thoại của bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” của Kim Lân” (Lương Thị Bình);

“Hành vi nhận xét đánh giá qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai” (Cao Xuân Hải); “Từ hô gọi trong lời đối thoại và độc thoại của nhân vật qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Lê Thị Sao Chi); “Ngôn ngữ đối thoại nhân vật trong sáng tác của Frank Kafka” (Đỗ Thị Thu Hằng); “Nghệ thuật tổ chức đối thoại trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng”

(Châu Minh Hùng) Trong các bài viết vừa nêu, các tác giả đã bàn tới một số khía cạnh cụ thể liên quan đến hội thoại trong một số tác phẩm văn chương được nhắc tới

2.2 Nghiên cứu về “Nỗi buồn chiến tranh”

Đã có một số công trình nghiên cứu về “Nỗi buồn chiến tranh” dưới

cái nhìn của văn học như:

“Cách xử lý đề tài chiến tranh qua hai tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” và “Ăn mày dĩ vãng”” (luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008);“Dòng hồi ức trong “Nỗi buồn chiến tranh”” (luận văn thạc sĩ của Hoàng Bích Hậu, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008); “Nhịp điệu kể trong “Nỗi buồn chiến tranh”” (luận

văn thạc sĩ của Đinh Thị Huyền, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008)

Trang 6

Từ góc độ ngôn ngữ học, công trình “Ngôn ngữ nghệ thuật trong

“Nỗi buồn chiến tranh” (luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Xuân,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008) đã tìm hiểu về một số đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm Tuy nhiên, hội thoại lại chưa được tác giả lưu tâm tới

Công trình “Trường nghĩa và việc phân tích tác phẩm văn học trong

“Nỗi buồn chiến tranh””(luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Lê Mĩ, Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội, 2006) đã tìm hiểu đặc điểm của trường nghĩa chiến tranh, vai trò của trường nghĩa này với việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm và mối quan hệ giữa trường nghĩa với phân tích tác phẩm văn học

Điểm qua những công trình như trên, có thể khẳng định rằng, từ trước

tới nay, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về hội thoại trong tiểu thuyết này như một đối tượng nghiên cứu riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” ở

một số khía cạnh, luận văn nhằm chỉ ra đặc điểm và vai trò của hội thoại trong tiểu thuyết này dưới góc nhìn của ngữ dụng học, từ đó góp phần khẳng định những đặc sắc về ngôn ngữ của tác phẩm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý thuyết về ngữ dụng học, đặc biệt là về hội thoại như khái niệm hội thoại, cấu trúc hội thoại, quy tắc hội thoại, v.v làm điểm

tựa cho việc tìm hiểu hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh”

- Trên cơ sở lý thuyết, tập hợp và xử lý tư liệu về hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh”

Trang 7

- Miêu tả những đặc điểm cơ bản của hội thoại (như hình thức, cấu trúc cuộc thoại, tính chất đoạn thoại, ), vai trò của hội thoại với việc thể hiện nội dung tác phẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”

Tác phẩm đã được xuất bản nhiều lần dưới cả hai tên gọi: “Nỗi buồn chiến tranh” và “Thân phận tình yêu” Trong luận văn này, chúng tôi lấy bản in “Nỗi buồn chiến tranh” của Nhà xuất bản Phụ nữ, xuất bản năm 2005

làm văn bản để nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Có thể nghiên cứu “Nỗi buồn chiến tranh” ở nhiều góc độ khác nhau,

song trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về đặc điểm hội thoại được thể hiện trong tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp miêu tả (với hai thủ pháp chính là phân tích và

tổng hợp)

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các cấu trúc hội thoại, hình thức hội thoại, vai trò của hội thoại với việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm

- Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được áp dụng để tính đếm tần số xuất hiện và phân loại các cấu trúc hội thoại, các kiểu quan hệ, làm cơ sở phân tích, nhận xét các đặc điểm của hội thoại, đánh giá vai trò của hội thoại trong tiểu thuyết

“Nỗi buồn chiến tranh”

Trang 8

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về lý luận

Luận văn cho thấy khả năng áp dụng các tri thức về ngữ dụng học nói chung, về hội thoại nói riêng để nghiên cứu ngôn ngữ trong một tác phẩm cụ thể Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm cơ sở cho việc phân tích ngôn từ nghệ thuật trong tu từ học hay làm sáng tỏ phong cách ngôn ngữ tác giả qua tác phẩm của họ

6.2 Về thực tiễn

Trước hết, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp độc giả có cái nhìn

cụ thể hơn về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của “Nỗi buồn chiến tranh”- cuốn tiểu thuyết đã từng gây nhiều ý kiến trái chiều trên văn

đàn Việt Nam

Đồng thời, luận văn còn là những gợi ý bổ ích, phục vụ cho việc dạy

và học ngôn ngữ văn học nói chung và ngữ dụng học nói riêng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết và thực tế liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh”

Chương 3: Vai trò của hội thoại trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm

Trang 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TẾ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Lý thuyết hội thoại

1.1.1 Khái niệm hội thoại

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy quan trọng nhất của con người Nhờ có giao tiếp bằng ngôn ngữ mà con người có thể thuận lợi trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, cảm xúc, thiết lập hoặc gỡ bỏ những sợi dây liên hệ tình cảm

Trong thực tiễn, giao tiếp ngôn ngữ được thể hiện dưới hai dạng cơ bản

là hội thoại và độc thoại Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, “hội” có nghĩa là họp lại với nhau, gặp nhau, “thoại” là lời nói, nói chuyện Như vậy,

theo cách hiểu thông thường, giản đơn thì hội thoại nghĩa là hai hay nhiều người nói chuyện với nhau, tác động đến nhau bằng lời

Hội thoại, từ khi trở thành đối tượng của Ngữ dụng học, đã được nhiều tác giả như C.K Orecchioni, H.P.Goice, G.Leach, D Wilson, …quan tâm tìm

hiểu, và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Theo GS Đỗ Hữu Châu, “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, 201] Chức năng làm

môi trường sống của ngôn ngữ của hội thoại đã được nhà lý luận ngôn ngữ

Xô Viết M Bakhtin nhấn mạnh: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người Sống tức là tham gia và đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý Con người tham gia vào cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình, bằng mắt, tay, tâm hồn, tinh thần và hành vi Nó trút hết con người nó vào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn

Trang 10

đối thoại của cuộc sống con người, gia nhập cuộc hội thảo thế giới Bản ngã không chết, cái chết chỉ là sự ra đi Con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc thoại không bao giờ kết thúc Đối thoại là một phương diện của tồn tại con người, nó cho thấy có cả một bộ mặt tự nhiên sinh động của hiện thực” [32, 11]

Một cuộc hội thoại sẽ chịu sự chi phối của các yếu tố sau:

- Thoại trường: Thoại trường chính là hoàn cảnh không gian, thời gian nơi diễn ra cuộc thoại Thoại trường có thể mang tính công cộng, ví dụ như trong cuộc họp, buổi hội thảo, trên giảng đường, trong lớp học Thoại trường cũng có thể mang tính riêng tư, ví dụ như trong nhà bếp, phòng ngủ Không chỉ có không gian, thời gian mà khả năng có mặt của những người mới tham gia vào cuộc thoại đang diễn ra cũng được xem là đặc điểm của thoại trường Một cuộc đối thoại mang tính riêng tư, ví dụ như của đôi trai gái đang yêu nhau, sẽ thay đổi ít nhiều về nội dung, cách thức khi có mặt thêm người thứ

ba, dù sự xuất hiện đó là khách quan và người thứ ba kia không hề xen vào cuộc thoại [3]

- Thoại nhân: Thoại nhân là những người tham gia vào cuộc thoại Trước hết, các cuộc thoại khác nhau ở số lượng người tham gia Căn cứ theo tiêu chí này, các nhà nghiên cứu đã chia hội thoại thành các dạng: song thoại (cuộc thoại gồm hai thoại nhân), tam thoại (cuộc thoại gồm ba thoại nhân) và

đa thoại (cuộc thoại gồm ba thoại nhân trở lên), trong đó, song thoại là dạng

cơ bản, phổ biến nhất Không chỉ số lượng mà cương vị và tư cách của thoại nhân, ví dụ như tính chủ động hay bị động của các đối tác (đối ngôn), cũng ảnh hưởng rất lớn đến các cuộc thoại.[3]

- Đích giao tiếp: Đích giao tiếp là mục tiêu cần đạt đến trong mỗi cuộc thoại Có cuộc thoại có đích rõ ràng, được xác định từ trước khi diễn ra hội thoại (ví dụ như hội thảo khoa học, thương thuyết ngoại giao ) Ngược lại,

Trang 11

cũng có những cuộc thoại lan man, không xác định trước đích hoặc đích không rõ (ví dụ như các cuộc tán gẫu, nói chuyện phiếm ) [3]

- Hình thức cuộc thoại: các cuộc thoại còn khác nhau ở chỗ có hay không có hình thức cố định Các cuộc hội thảo, thương thuyết ngoại giao thường có hình thức cố định, chặt chẽ, mang tính nghi lễ Trong khi đó, các cuộc trò chuyện trong đời thường sẽ không bị bó buộc bởi bất kì nghi lễ, hình thức nào [3]

1.1.2 Vận động hội thoại

Hội thoại là một vận động bằng ngôn ngữ, là cách các thoại nhân sử dụng các yếu tố ngôn ngữ để tác động qua lại lẫn nhau, nhằm đạt được mục đích nhất định Bất cứ một cuộc thoại nào cũng gồm ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác Trong đó hai vận động trao lời và trao đáp là do từng thoại nhân thực hiện và phối hợp với nhau tạo thành vận động thứ ba- tương tác

Trao lời là hoạt động của người phát (kí hiệu SP1) tạo ra diễn ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến người nhận SP2

Trao đáp là quá trình người nhận chuyển thành vai người phát đáp lại lời thoại

Sự thay đổi luân phiên vai người phát - nhận giữa các thoại nhân làm nên hoạt động trao- đáp trong hội thoại Qua hoạt động này, thoại nhân thông qua diễn ngôn và các biểu hiện phi ngôn ngữ của mình để tác động qua lại lẫn nhau, làm thay đổi nhau Hoạt động tác động qua lại lẫn nhau của các nhân vật trong giao tiếp chính là sự tương tác trong hội thoại

Chính nhờ sự tương tác mà hội thoại trở thành hoạt động giao tiếp đặc

biệt thú vị và hấp dẫn của con người, trong đó “mỗi nhân vật tương tác là những nhạc công trong bản giao hưởng vô hình mà phần nhạc họ chơi không được biên soạn từ trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn tiến của cuộc hoà nhạc, một cuộc hoà nhạc không có nhạc trưởng” [3, 219]

Trang 12

1.1.3 Quy tắc hội thoại

Để hội thoại thành công, các thoại nhân bắt buộc phải tuân theo một số quy tắc nhất định Qua nghiên cứu thực tế, K Orecchioni đã hệ thống các quy tắc thành ba nhóm như sau:

- Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời

- Các quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại

- Các quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại

Theo GS Đỗ Hữu Châu, chúng ta nên có thêm một nhóm quy tắc thứ tư: Nhóm quy tắc điều hành nội dung hội thoại Nhóm này gồm hai nguyên tắc: Nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu

Cụ thể như sau:

1.1.3.1 Quy tắc luân phiên lượt lời

Mỗi lần SP1 hay SP2 nói là một lượt lời Các lượt lời có thể được một người điều chỉnh hoặc do các thoại nhân tự thương lượng ngầm với nhau Khi tham gia hội thoại, các thoại nhân phải ý thức rõ ràng về vai trò nói và nghe của nhau Để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn, giao tiếp thuận lợi, mỗi thoại nhân phải tuân thủ các quy tắc sau:

Vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại

Mỗi lần chỉ một người nói

Lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt

Vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài

Nhường lời cho người hội thoại với mình, không được cướp lời người khác khi người đó chưa kết thúc

Nối tiếp lời của người tham gia hội thoại kịp thời, tránh không được để khoảng yên lặng giữa các lượt lời quá dài

Trang 13

Trật tự của người nói không cố định, ngược lại luôn thay đổi

1.1.3.2.Quy tắc điều hành nội dung hội thoại

Các quy tắc điều hành nội dung hội thoại chính là các quy tắc điều hành quan hệ giữa nội dung của các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại

* Nguyên tắc cộng tác hội thoại:

Nguyên tắc này được Grice nêu ra năm 1967, được thể hiện qua 4 phương châm:

- Phương châm về lượng:

Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đáp ứng đủ như đòi hỏi của đích hội thoại

Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi

- Phương châm về chất:

Hãy làm cho những đóng góp của anh là đúng, đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng

Đừng nói những điều mà anh không đủ bằng chứng xác thực

- Phương châm quan hệ:

Hãy làm cho phần đóng góp của anh có liên quan đến vấn đề đang đề

* Nguyên tắc quan yếu:

Theo Wilson và Sperber, một phát ngôn chỉ quan yếu khi nó có hiệu lưc nào đó với ngữ cảnh và trong những điều kiện giống nhau., hiệu lực với ngữ cảnh càng cao thì tính quan yếu của phát ngôn càng lớn Từ nền tảng đó,

Trang 14

K Orecchioni đã tìm ra bốn phương diện mà một phát ngôn có thể quan yếu: quan yếu về ngữ dụng, quan yếu về lập luận, quan yếu về hứng thú và quan yếu về đề tài Một phát ngôn được xem là quan yếu về ngữ dụng khi nó có hệ quả với hành động, cách cư xử của những người tham gia hội thoại; quan yếu

về lập luận khi nó làm cơ sở để người nghe rút ra những suy ý làm thay đổi hiểu biết hay tín điều của người nghe; quan yếu về hứng thú khi thu hút được

sự quan tâm của người nghe, quan yếu về đề tài khi nó có quan hệ với nhau và cùng quan hệ với đề tài của cuộc thoại mà nó tham gia vào

Để cuộc thoại thành công, các thoại nhân luôn phải tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Một trong những khía cạnh của sự ảnh hưởng đó là thương lượng hội thoại Thương lượng hội thoại thể hiện ở các bình diện sau:

- Về phương diện hình thức hội thoại, các thoại nhân thoả thuận với nhau về ngôn ngữ được dùng

- Về cấu trúc hội thoại, các thoại nhân thương lượng về sự mở đầu, kết thúc và lượt lời của các nhân vật

- Về nội dung hội thoại, các thoại nhân thương lượng với nhau về các vấn đề đưa ra hội thoại

- Về thời gian, thương lượng hội thoại có thể diễn ra từ đầu, trong quá trình hội thoại hoặc trong một số trường hợp cá biệt, thương lượng hội thoại

có thể diễn ra trước khi cuộc hội thoại bắt đầu

- Về cách thức, thương lượng hội thoại có thể diễn ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

1.1.3.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại

Khi tham gia vào một cuộc thoại, ngoài các quy tắc ngôn ngữ, thoại nhân còn phải tuân thủ những quy ước của xã hội như quy tắc thẩm mỹ, quy tắc đạo đức, quy tắc lịch sự

Trang 15

“Lịch sự”, theo cách hiểu thông thường, là cách giao tiếp đúng mực,

theo khuôn phép, khiến cho người giao tiếp với mình hài lòng Từ góc độ Ngữ dụng học, lịch sự còn được xem xét cùng với thể diện để đảm bảo tính toàn vẹn và đầy đủ Phép lịch sự là tổng thể những cách thức mà thoại nhân dùng

để giữ gìn thể diện cho nhau

Lịch sự gồm 2 bình diện:

- Lịch sự quy ước: Trong khi tiến hành hội thoại, thoại nhân phải tuân theo những quy ước, nghi thức giao tiếp được cộng đồng chấp nhận và tuân theo

- Lịch sự chiến lược: Khác với lịch sự quy ước, lịch sự chiến lược mang tính riêng biệt cho từng cuộc giao tiếp cụ thể Lịch sự chiến lược được thể hiện thông qua việc chọn đề tài hội thoại và thực hiện các hành động ngôn ngữ [3, 226-282]

1.1.4 Cấu trúc hội thoại

Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc của hội thoại, đi kèm với mỗi dạng cấu trúc là các đơn vị hội thoại tương ứng

Theo trường phái phân tích hội thoại, đơn vị hội thoại là các lượt lời Harvey Sark - người đặt nền móng đầu tiên trong trường phái này cho rằng dưới các lượt lời không còn đơn vị nào khác ngoài các phát ngôn Dù khác nhau về kiểu loại, phong cách nhưng trong các cuộc hội thoại, các lượt lời thường đi với nhau tạo thành từng cặp gần như tự động Hai phát ngôn được coi là cặp kế cận phải thoả mãn các điều kiện sau: kế cận nhau, do hai thoại nhân khác nhau nói ra, được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, có tổ chức riêng sao cho bộ phận riêng thứ nhất đòi hỏi phải có bộ phận riêng thứ hai Những cặp kế cận thường thấy là: cặp chào – chào, cặp hỏi - trả lời, cặp trao - nhận, cặp đề nghị - đáp ứng, Cốt lõi của lý thuyết phân tích hội thoại là cặp kế cận

Trang 16

Theo trường phái phân tích diễn ngôn, đơn vị hội thoại là phát ngôn và cặp thoại Trường phái này cho rằng: Hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúc theo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi So với trường phái phân tích hội thoại, trường phái phân tích diễn ngôn đã quan tâm tới các đơn vị trên và dưới lượt lời một cách toàn diện và sâu sắc hơn

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ – Pháp, coi hội thoại là một tổ chức có trật tự , nên cũng có các đơn vị cấu trúc từ lớn đến nhỏ Đó là các đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham

thoại và hành vi ngôn ngữ

1.1.4.1.Cuộc thoại

Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất Đó là cuộc tương tác bằng lời, tính từ khi các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến khi kết thúc quá trình này Cuộc thoại được xác định theo:

+ Sự thống nhất về thoại nhân: khi thoại nhân thay đổi thì cuộc thoại thay đổi

+ Sự thống nhất về thoại trường, tức là sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra cuộc thoại

+ Sự thống nhất về chủ đề

Nói như Ke Brat-Orecchioni thì “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một không gian-thời gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [3, 313]

Như vậy, trong cuộc trò chuyện, các nhân vật tham gia có thể trao đổi nhiều vấn đề khác nhau, hết vấn đề này đến vấn đề khác, nhưng bao giờ cũng phải có mở đầu và kết thúc Điểm bắt đầu và kết thúc đó chính là ranh giới

của cuộc thoại Thời đoạn bắt đầu được gọi là “mở thoại” và thời đoạn kết

Trang 17

thúc được gọi là “kết thoại” Phần trung tâm cuộc thoại được gọi là “thân thoại”

Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại bao gồm:

Đoạn thoại mở thoại

Đoạn thoại thân thoại

Đoạn thoại kết thoại

Với một số cuộc thoại, chúng ta có thể nhận thấy các dấu hiệu phân định ranh giới cuộc thoại như dấu hiệu mở đầu ( chào hỏi, giới thiệu, ), dấu hiệu kết thúc (chào tạm biệt, ) Mặc dù vậy, những dấu hiệu như thế không thể xem là bắt buộc, đặc biệt trong trường hợp giao tiếp giữa những người thân quen

1.1.4.2 Đoạn thoại

“Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại bao gồm các diễn ngôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa (thống nhất về chủ đề) và về ngữ dụng (thống nhất về đích) [5, 555]… Nói cách khác, đó là một số cặp trao đáp có

mối quan hệ mật thiết về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó là đơn

vị có một chủ đề duy nhất Về ngữ dụng, đó cũng là đơn vị có đích hội thoại duy nhất Căn cứ vào chức năng, có các loại đoạn thoại sau: đoạn thoại mở thoại, đoạn thoại thân thoại, đoạn thoại kết thoại Cấu trúc, dung lượng của các đoạn thoại này là khác nhau

Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định,

dễ nhận ra Đoạn thân thoại thường có dung lượng lớn và cấu trúc phức tạp

Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc thường được nghi thức hoá và lệ thuộc vào nhiều yếu tố như mối quan hệ giữa các tham thoại, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích cuộc thoại, v.v

Đoạn thoại mở đầu phần lớn được công thức hoá mang nhiều tính chất nghi thức Ngoài chức năng mở ra cuộc thoại, đoạn thoại mở đầu còn thực

Trang 18

hiện vai trò thương lượng hội thoại như thống nhất về chủ đề, thăm dò đối phương, thử giọng điệu hội thoại, Thông thường, trong đoạn mở thoại người

ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hoà khí cho cuộc thoại Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, người mở thoại

cố tình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó

Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp

gỡ, để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng, Theo nguyên tắc lịch sự, cần tránh kết thúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt

Có thể nói, ranh giới phân định các đoạn thoại còn chưa rõ ràng, gây nhiều khó khăn cho người nghiên cứu Mặc dù vậy, đây vẫn là đơn vị thực có,

và đôi khi, để phân biệt đoạn thoại này với đoạn thoại kia, người nghiên cứu ngoài các dấu hiệu hình thức buộc phải dựa vào trực cảm của mình

vào trạng thái “hẫng”

Trang 19

Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có hơn hai tham thoại tham gia, có nhiều hành vi ngôn ngữ trong quan hệ ràng buộc lẫn nhau Cặp thoại phức tạp

có rất nhiều dạng phức tạp khác nhau Đó có thể là cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp Ngược lại, đó cũng có thể là cặp thoại chỉ có một tham thoại dẫn nhập với rất nhiều tham thoại hồi đáp Trường hợp khác là dạng cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở cả hai phía

Xét về mặt tính chất, có cặp thoại chủ hướng / cặp thoại phụ thuộc, cặp thoại tích cực / cặp thoại tiêu cực

Cặp thoại chủ hướng là cặp chủ đạo, giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạn thoại Cặp thoại phụ thuộc là cặp thoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cặp thoại khác Cặp thoại phụ thuộc có chức năng bổ trợ, giải thích thêm cho những khía cạnh hay chi tiết nào đó của các tham thoại trong cặp thoại chủ hướng

Cặp thoại tích cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp thoả mãn đích của tham thoại dẫn nhập Ngược lại, cặp thoại tiêu cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp không thoả mãn đích của tham thoại dẫn nhập

Trang 20

Tham thoại được cấu thành từ hai phần: phần cốt lõi và phần mở rộng Phần cốt lõi của tham thoại bao gồm hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi hồi đáp thích hợp của người đối thoại Hành phụ thuộc giữ vai trò biện minh, củng cố, đánh giá hỗ trợ cho hành vi chủ hướng Hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập còn quyết định bản chất cặp thoại Tên cặp thoại được xác định theo tên của hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập

Phần mở rộng là các thành phần nằm ngoài khung tham thoại Các thành phần này không tham gia vào nội dung mệnh đề mà chỉ thực hiện chức năng liên kết các phát ngôn với nhau Vị trí thành phần mở rộng rất linh hoạt, nó có thể đứng đầu, đứng cuối hoặc chen vào gữa tham thoại Mặc dù không tham gia vào mệnh đề nhưng chúng có vai trò khá quan trọng, đó là đưa đẩy, rào đón, tạo lập quan hệ để cuộc thoại thành công một cách thuận lợi hơn

1.1.4.5 Hành vi ngôn ngữ

Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của cấu trúc hội thoại Để hiểu được các tham thoại, cặp thoại, đoạn thoại, chúng ta đều phải căn cứ vào hành vi ngôn ngữ

Hành vi ngôn ngữ, hiểu một cách đơn giản, là hành động được thực

hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ Đó là “một đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm – âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó.” [59, 107] Người đầu tiên phát hiện ra bản chất của hoạt động trong lời nói là Austin trong công trình “Từ

Trang 21

ngữ làm nên sự vật thế nào?" Theo Austin, có ba loại hành vi ngôn ngữ lớn,

đó là: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời

- Hành vi tạo lời: Là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ với quy tắc của ngôn ngữ để tạo ra các phát ngôn, diễn ngôn với hình thức nhất định và nội dung tương ứng trong một cuộc giao tiếp

- Hành vi mượn lời: Là hành vi phát ra lời nói để nhằm đạt đến một hiệu quả nằm ngoài lời đó, tức là mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả nào đó ngoài ngôn ngữ ở các nhân vật giao tiếp

- Hành vi ở lời: Là hành vi mà người nói thực hiện ngay trong lời nói của mình Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận [5, 514-515]

Qua việc phân tích như trên, có thể thấy hành vi ngôn ngữ được hiểu rộng gồm ba loại: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời Mặc dù vậy, trong một số trường hợp, hành vi ngôn ngữ được hiểu hẹp hơn, dùng để chỉ hành động ở lời nói Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, bởi hành động ở lời và hiệu lực của hành động ở lời mới là đối tượng của Ngữ dụng học

Chủ yếu dựa vào động từ ngữ vi, Austin chia hành vi ngôn ngữ thành

5 phạm trù khác nhau:

- Phán xử: Đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào lý lẽ vững chắc

- Hành xử: Đây là hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó

- Cam kết: Đây là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nhất định

- Trình bày: Đây là hành vi được dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt, lập luận, giải thích cách dùng từ ngữ

Trang 22

- Ứng xử: Đây là những hành vi phản ứng đối với các cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan

Khác với J Austin, dựa trên mười hai tiêu chí, trong đó quan trọng nhất là đích ở lời, hướng khớp lượng ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề, J Searle đã phân loại các hành vi ngôn ngữ thành 5 nhóm sau:

- Tái hiện : Gồm một số hành động tiêu biểu như: miêu tả, kể, xác nhận, khẳng định, thông báo, báo cáo,…

+ Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để xác nhận

sự có mặt hoặc vắng mặt một sự việc nào đó

+ Hướng khớp ghép là lời-hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực) + Trạng thái tâm lý là sự mong muốn ở người phát

+ Nội dung mệnh đề là một mệnh đề đánh giá theo tiêu chí Đúng/Sai

- Điều khiển : Gồm các hành động : yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai, mời, khuyên,…

+ Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để đặt người nhận vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai

+ Hướng khớp ghép là hiện thực-lời nói (hiện thực phải phù hợp với lời) + Trạng thái tâm lý là sự mong muốn ở người phát

+ Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người nhận

- Cam kết : Gồm các hành động: hứa, đe dọa,

+ Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động trong tương lai:

+ Hướng khởi ghép là hiện thực-lời nói (hiện thực phải phù hợp với lời) + Trạng thái tâm lý là ý định của người phát

+ Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người phát

- Biểu cảm : Gồm các hành động: khen, phê bình, chê, xin lỗi, cảm ơn,…

Trang 23

+ Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để bày tỏ trạng thái tâm lý

+ Hướng khớp ghép là lời hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực) + Trạng thái tâm lý thay đổi theo từng loại hành vi (vui thích/khó chịu, mong muốn/chối bỏ…)

+ Nội dung mệnh đề là hành động hoặc tính chất nào đó có tư cách là nguồn gây ra cảm xúc của người phát

- Tuyên bố: gồm các hành động: tuyên bố, tuyên án, buộc tội,…

+ Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để làm cho nội dung mệnh đề trở nên có hiệu lực (trở thành hiện thực)

+ Hướng khớp ghép vừa là lời-hiện thực, vừa là hiện thực-lời

Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và cách thức diễn đạt còn được chia ra thành hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là “những hành vi chân thực, có nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với điều kiện sử dụng, đúng với cái đích ở lời của chúng” [3, 256]

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp còn còn được gọi là hành vi tại lời tái sinh Một hành vi ngôn ngữ được gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói Mỗi hành

vi ngôn ngữ gián tiếp đều chứa đựng nhiều lớp nghĩa, nhiều ý tứ mà không phải người tiếp nhận nào cũng có thể phát hiện ra một cách dễ dàng

Như vậy, có sự phân biệt rõ ràng về cách thức nói năng giữa hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là cách nói thẳng, nói trắng, nói toạc ra Ngược lại, hành vi ngôn ngữ gián tiếp lại là cách nói úp mở, quanh co, bóng gió Tuy nhiên, giữa hai loại hành vi này luôn có mối quan hệ khăng khít, gắn bó Muốn nhận biết được

Trang 24

hành vi ngôn ngữ gián tiếp thì trước hết người nghe phải nhận biết được hành vi ngôn ngữ trực tiếp Hành vi ngôn ngữ gián tiếp chính là kết quả của hoạt động suy ý từ hành vi ngôn ngữ trực tiếp

Khi nói đến vấn đề phân loại hành vi ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Wittgerstein đã từng bi quan cho rằng đó là điều không thể, bởi trong thực

tế, các hành vi ngôn ngữ vô cùng đa dạng và phong phú, với những ranh giới nhận biết còn mập mờ Việc phân loại hành vi ngôn ngữ là vô cùng khó khăn, và cho đến hôm nay vẫn chưa hoàn tất

1.2 Hội thoại trong tác phẩm văn học

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng, nó hữu hạn, trừu tượng và luôn luôn tồn tại trong trạng thái tĩnh Ngược lại, lời nói là sự hiện thực hoá ngôn ngữ, nó là sản phẩm của sự sáng tạo cá nhân, nó cụ thể, vô hạn, phong phú và sống động như chính cuộc sống con người vậy

Hội thoại là hoạt động hành chức của ngôn ngữ Trong tác phẩm văn học, hội thoại là kết quả sự sáng tạo của nhà văn dựa trên sự mô phỏng hội thoại trong đời sống Tuy không phải là sao chép nguyên xi, nhưng hội thoại trong văn học càng gần gũi với đời sống bao nhiêu thì càng chân thực và sinh động bấy nhiêu Mặc dù vậy, trong tác phẩm văn học, tác giả có quyền sắp đặt

để nhân vật hội thoại ở đâu, khi nào, với ai để thể hiện tốt nhất ý đồ nghệ thuật của mình

Có thể nói, hội thoại trong văn học thể hiện sự tương tác giữa các chức năng cơ bản của lời nói tự nhiên như chức năng giao tiếp, chức năng nhận thức với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật Hội thoại văn học tham gia vào quá trình xây dựng hình tượng, khắc hoạ tính cách nhân vật, cá thể hoá tình huống, thể hiện phong cách nhà văn

Trang 25

1 3 “Nỗi buồn chiến tranh” – Đôi nét về tác giả, tác phẩm

1.3.1 Đôi nét về tác giả

Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1952 tại huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An Bút danh Bảo Ninh chính là tên quê hương của tác giả - xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Năm 1969, Bảo Ninh nhập ngũ và chiến đấu tại mặt trận B3, tiểu đoàn

5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 trên chiến trường Tây Nguyên Chính trong những năm tháng này, nhà văn đã trải nghiệm mọi cảm giác, đã tận mắt chứng kiến những khổ đau, chết chóc đến kinh hoàng mà chiến tranh gây ra

Năm 1975, khi hoà bình lập lại, Bảo Ninh giải ngũ và bắt đầu học đại học tại Hà Nội sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam

Từ năm 1984 đến năm 1986, Bảo Ninh học khoá II Trường viết văn

Nguyễn Du, sau làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ và trở thành hội viên Hội nhà

văn Việt Nam từ năm 1997

Các tác phẩm tiêu biểu : Trại bảy chú lùn (1987), Nỗi buồn chiến tranh (1987), Lan man trong lúc kẹt xe (2003),

Ngoài ra, Bảo Ninh còn viết một số truyện ngắn về đề tài chiến tranh,

trong đó truyện “Khắc dấu mạn thuyền” đã được dựng thành phim Truyện ngắn "Bội phản" trong tập truyện "Văn Mới" do Nhà xuất bản Văn học xuất

bản, cũng đã được ông gửi gắm nhiều tình cảm và suy nghĩ vào trong các nhân vật

1.3.2 Đôi nét về tác phẩm

“Nỗi buồn chiến tranh” được xuất bản lần đầu năm 1987 với nhan đề

“Thân phận tình yêu” Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên, đan xen

giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn học Phương Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính

Trang 26

chiến đấu vì vận mệnh đất nước, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc

độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá

nhân Chính vì thế, tác phẩm đã gây nên nhiều ý kiến, nhiếu dư luận trái chiều, và sau đó đã bị cấm, không được in lại

Dù không ít ý kiến cho rằng “âm hưởng của tác phẩm còn đậm chất bi,

âm hưởng hùng còn bị chìm lấp đâu đó, chưa tạo nên đầy dủ nét bi hùng của một thời đại đã qua”, dù có nhà phê bình đánh giá “tác giả ác” khi đọc những

chi tiết khủng khiếp, đay nghiến nhưng việc được in lại đúng tên khai sinh

“Nỗi buồn chiến tranh”, giải Nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 và sự

yêu mến của độc giả đã một lần nữa khẳng định lại giá trị của tác phẩm Nhà

văn Nguyên Ngọc ca ngợi: "Đây là một cuốn sách nghiền ngẫm về hiện thực Tác giả với tư cách của người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên, nhìn ngắm mà đứng trong, thậm chí ở đáy của cuộc chiến Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới" Chu Lai cũng cho rằng văn phong của “Nỗi buồn chiến tranh” mang đậm chất Bảo Ninh “riêng biệt, say say, đắm đuối và không giống bất cứ ai ” [41,4]

Bởi “Nỗi buồn chiến tranh” đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại – đó là câu chuyện của thân phận, của tình yêu, của chiến tranh”[34] nên

ngay sau khi được hai tác giả Frank Palmos và Phan Thanh Hảo dịch sang

tiếng Anh, xuất bản năm 1994 với tựa để "The Sorrow of War", tác phẩm đã

được ca tụng rộng rãi Trên các trang web, độc giả nước ngoài đánh giá đây là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh, nhân vật trong tác phẩm được tái hiện một cách chân thực, nhân bản, mang những cảm xúc rất

con người “Vượt ra khỏi sức tưởng tượng của người Mĩ, “Nỗi buồn chiến tranh” đã đi ra từ chiến tranh Việt Nam, đã đứng ngang hàng với những cuốn tiểu thuyết vĩ đại của thế kỉ Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn Một thành quả lao động tuyệt đẹp!” [55]

Trang 27

Có thể nói rằng, trải qua bao sóng gió, thăng trầm, “Nỗi buồn chiến tranh” đã khẳng định được giá trị đích thực của mình trong lòng độc giả “Nỗi buồn chiến tranh” là một câu trả lời cho những trăn trở của Nguyễn Minh Châu gần chục năm vè trước: “Bao giờ chúng ta mới thực sự có những cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh? Bao giờ những cây bút đã từng lăn lộn trong chiến tranh sẽ đem lên trang giấy những điều sở đắc nhất, những bài học đường đời chỉ riêng anh mới khám phá thấy trong hoàn cảnh chiến tranh

và có thể làm bài học cho nhiều hoàn cảnh khác?” [54,3]

TIỂU KẾT

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến trong cuộc sống Khi ngữ dụng học ra đời, hội thoại trở thành đối tượng được bộ môn này đặc biệt chú ý Đi vào xem xét hội thoại, cần chú ý tới đặc điểm của thoại trường, thoại

nhân, đề tài giao tiếp, mục đích cuộc thoại và hình thức hội thoại

Hội thoại bao gồm ba vận động: trao lời, trao đáp, tương tác dưới sự chi phối của các nguyên tác hội thoại: nguyên tắc luân phiên lượt lời, nguyên tắc điều hành nội dung hội thoại và nguyên tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Hội thoại là một cấu trúc có tôn ti với các đơn vị là cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và hành vi ngôn ngữ

Trong tác phẩm văn học, hội thoại có nhiều chức năng: khắc hoạ tính cách nhân vật, cá thể hoá tình huống, thể hiện tư tưởng tác phẩm, phong cách tác giả

Bảo Ninh là nhà văn được biết đến với cách viết mới mẻ và độc đáo

Tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của ông đã từng gây nhiều tranh cãi, và

được đánh giá là một trong những thành tựu nổi bật của văn học đổi mới

Trang 28

Việc tìm hiểu lý thuyết hội thoại và đôi nét về tác giả, tác phẩm là

nhằm xác lập cơ sở để nghiên cứu hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh”, chỉ

ra những đóng góp của hội thoại vào thành công của tác phẩm

Trang 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HỘI THOẠI TRONG

“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”

2.1 Đặc điểm cuộc thoại

2.1.1 Hình thức hội thoại

Theo thống kê của chúng tôi, trong “Nỗi buồn chiến tranh” có tất cả

66 cuộc thoại Chúng tôi tạm đặt tên các cuộc thoại đó theo số thứ tự như sau:

Bảng 1: Bảng thống kê các cuộc thoại trong tác phẩm

1 “Thà chết không hàng!” đến “… thà chết!” 7

5 “Đánh nhau còn xơi…” đến “ xoay vần.” 20 - 21

7 “Ai ở trong ấy ” đến “…cái hoạ gì đây.” 30 -31

Trang 30

STT Từ lời thoại đến lời thoại Trang

13 “Chỉ cần đồng chí ” đến “ bi thảm lắm ạ!” 68

14 “Cả Ngọc Hoàng…” đến “ con người.” 71 - 72

18 “Anh ấy thế nào…” đến “ khổ lắm thay!” 87

23 “Đừng chạm vào tao…” đến “…hahaha ” 109 - 111

24 “ Chỉ cất lên ” đến “ một cách nào đó.” 111- 116

25 “Ái dà…” đến “ xem lại nhân tính.” 117-122

27 “Tôi…” đến “ từ cái sân thượng này.” 129 - 130

28 “Một mối tình…” đến “ sẽ lấy nhau chứ?” 132

29 “Phải, căn phòng này…” đến “ khác nữa.” 133

Trang 31

STT Từ lời thoại đến lời thoại Trang

45 “Vì bạn của Hưng tạt qua nhà báo cho em hay.” 194

46 “Chúng mày đi đâu…” đến “ hớt lẻo đấy!” 196

48 “Trông ai về kìa!” đến “…tạm biệt hộ em.” 202 - 203

49 “Mau, mau…” đến “ ra rồi.” 204-207

50 “Trong cái rủi…” đến “ sao nữa.” 208

Trang 32

STT Từ lời thoại đến lời thoại Trang

51 “Để em phanh lại cho…” đến “ phải không Kiên?” 208 – 216

52 “Sao mà buồn thế ” đến “…mất hết” 219-222

53 “Càng thích!” đến “…chẳng ai thấy đâu.” 223 - 224

54 “Máy bay!” đến “…dừng tàu lại!” 226

55 “Can đảm lên…” đến “ mà thôi.” 229

57 “Chết rồi…” đến “ đi đây.” 235-241

58 “Viết lách thế nào ” đến “…kia kìa!” 250

59 “Đấy, họ sống như thế …” đến “ khổ kinh người.” 256 - 257

61 “Bác có một sở nguyện…” đến “Cháu hiểu không?” 258 - 259

64 “Chúng mình ăn gì…” đến “ mất rồi.” 279- 286

65 “Người yêu à?” đến “Thật đấy!” 289-291

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong “Nỗi buồn chiến tranh”, Bảo

Ninh chủ yếu sử dụng hình thức song thoại và đa thoại Các tam thoại có số lượng ít hơn hẳn Cụ thể như sau :

Trang 33

Bảng 2: Hình thức hội thoại trong các cuộc thoại

cuộc thoại Có nhiều cuộc song thoại dài, dung lượng lớn, ví như cuộc thoại

56 giữa 2 nhân vật Kiên và Hoà, cuộc thoại 47 giữa Kiên và Phương Ngược lại, có những đa thoại dung lượng nhỏ, như cuộc thoại 1, 2, 24 Độ ngắn dài của các cuộc thoại phụ thuộc vào sự chủ động hay bị động của các thoại nhân Thoại nhân chủ động, tích cực trong cuộc giao tiếp khiến dung lượng cuộc thoại được đảm bảo, dù chỉ là song thoại Ngược lại, trong một số đa thoại, nhiều thoại nhân thụ động trong vai nghe khiến cho cuộc thoại có dung lượng ngắn

Trang 34

Hình thức các cuộc thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” cũng thay đổi

rất linh hoạt Có những cuộc thoại chuyển từ song thoại sang đa thoại và ngược lại

2.1.2 Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại

Trong “Nỗi buồn chiến tranh” các thoại nhân giao tiếp với nhau trong

cả ba hoàn cảnh: riêng tư, công cộng và vừa công cộng, vừa riêng tư Trong

đó, hoàn cảnh giao tiếp mang tính công cộng chiếm đa số (62,1%)

Xét về mặt nghi thức, các cuộc thoại trong tác phẩm đều diễn ra trong hoàn cảnh không nghi thức, mang tính chất tâm sự, chuyện trò đời thường Ở một số cuộc thoại, tuy đề tài giao tiếp không mang tính riêng tư, đời thường nhưng tính nghi thức cũng đã bị phá vỡ Ví dụ như cuộc thoại

số 5 giữa Kiên và trưởng ban quân lực về việc Kiên được cử đi học tại trường Sĩ quan lục quân:

“- Đánh nhau còn xơi, chả biết bao giờ mới mãn cuộc - Trưởng ban quân lực rầu rĩ nói khàn khàn- Phải giữ giống không thì tiệt Sau vụ thu hoạch thất bát dù có đói nhăn vẫn phải chọn những hạt thóc tốt nhất cho mùa sau Khi các cậu học xong trở về thì bọn tớ, lớp cán bộ chỉ huy hiện nay chả chắc còn sót mống nào Trung đoàn, và nói chung chiến tranh, là do chính các cậu xoay vần.”

[tr.21]

Trang 35

Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại thể hiện qua bảng khảo sát sau:

Bảng 3: Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại

2.1.3 Vai giao tiếp trong các cuộc thoại

Quan hệ vai giao tiếp trong “Nỗi buồn chiến tranh” bao gồm cả hai

loại vai cao- thấp và ngang bằng Quan hệ vai giao tiếp cao - thấp là quan hệ giữa những người có tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội không bình đẳng với nhau, ví dụ như quan hệ giữa Kiên và cha mình trong cuộc thoại 31:

“ - Ai đấy? – Nghe tiếng chân, ông ngẩng lên hỏi, giọng khàn khàn

- Con, con đưa cơm lên, cha xơi cơm đi

- Ờ – Ông nói, rồi lại nặng nề nhìn xuống.”

[tr.149]

Trang 36

Ngược lại, quan hệ vai giao tiếp ngang bằng là quan hệ giữa những người có tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội bình đẳng nhau, ví dụ như quan hệ giữa Kiên, Toàn và Phương trong cuộc thoại 46:

“ – Chúng mày đi đâu vừa nãy? – Toàn chặn hai đứa lại ở cửa toa

- Đi trốn chứ đi đâu! Phương leo lẻo

- Nói dối! – Mắt trợn trừng, giọng Toàn vỡ ra, ngụt ngạt.- Chúng mày làm gì, tao thấy, tao biết, tao

- Đừng làm ầm lên, Toàn! – Phương thì thào vội vã- Từ rày sẽ chơi vợ chồng, mày muốn đi chơi thì không được mách

61 giữa Phương, Kiên và mẹ Phương:

“ – Con hãy thay mẹ đàn một khúc tặng Kiên đi!

Có vẻ hơi miễn cưỡng, Phương vâng lời mẹ, ngồi xuống trước dương cầm, nâng nắp đàn lên, nhìn Kiên hỏi:

- Anh thích chơi bài gì?

- Mình ấy à? Bản nào bác và Phương thích Hình như Phương thích Môda Mình cũng thế

- Ồ, chứ không phải là “Sống là đây mà chết cũng là đây à? – Phương khẽ cười- Hay là “Trường ca sông Lô”?

Trang 37

- Cũng hay chứ sao, Phương Nhạc Văn Cao cơ mà - Mẹ Phương nói- Nhưng con đàn một bản của Môda đi “Xônát mộng ảo cung mi thứ” để tiễn người ra trận.”

[tr 261]

Trong cuộc thoại này, quan hệ vai giao tiếp giữa Kiên và Phương là ngang bằng, nhưng quan hệ vai giữa anh và mẹ Phương lại là cao- thấp Tương tự như vậy, quan hệ vai giữa Phương và Kiên là ngang bằng, nhưng quan hệ vai giữa cô và mẹ lại là cao - thấp

Cụ thể, quan hệ vai giao tiếp trong tác phẩm thể hiện qua bẳng khảo sát sau:

Bảng 4: Quan hệ vai giao tiếp trong các cuộc thoại

Trang 38

Có thể nhận thấy rằng, quan hệ vai giao tiếp ngang bằng chiếm tỉ lệ lớn nhất (65,1%) trong các cuộc thoại, kế đến là quan hệ vai cao - thấp (27,3%) và cuối cùng là quan hệ vai vừa cao thấp, vừa ngang bằng (7,6%) (kiểu quan hệ vai này chủ yếu gặp trong các tam thoại và đa thoại)

2.1.4 Sự phù hợp với các nguyên tắc hội thoại

Có 31 trên tổng số 66 cuộc thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” đảm

bảo phù hợp với tất cả các nguyên tắc hội thoại Các cuộc thoại còn lại vi phạm nguyên tắc luân phiên lượt lời và nguyên tắc chi phối quan hệ liên nhân

Bảng 5: Sự phù hợp với các nguyên tắc hội thoại của cuộc thoại

Nguyên tắc

hội thoại

Cuộc thoại

Luân phiên lƣợt lời

Điều hành nội dung

Chi phối quan hệ liên nhân

Trang 39

Nguyên tắc

hội thoại

Cuộc thoại

Luân phiên lƣợt lời

Điều hành nội dung

Chi phối quan hệ liên nhân

Trang 40

Nguyên tắc

hội thoại

Cuộc thoại

Luân phiên lƣợt lời

Điều hành nội dung

Chi phối quan hệ liên nhân

Ngày đăng: 16/09/2014, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2003), Từ điển Hán - Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2003
2. Lương Thị Bình (2002), Chất quê kiểng trong lời thoại của bà cụ Tứ (trong Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân), Ngữ học trẻ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất quê kiểng trong lời thoại của bà cụ Tứ (trong Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân)
Tác giả: Lương Thị Bình
Năm: 2002
3. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
4. Lê Thị Sao Chi (2005), Từ hô gọi trong lời đối thoại và độc thoại của nhân vật qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Ngữ học trẻ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hô gọi trong lời đối thoại và độc thoại của nhân vật qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Lê Thị Sao Chi
Năm: 2005
5. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2001), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
7. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
8. Đinh Trí Dũng (1999), Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Ngữ học trẻ 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Đan (1994), Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc thoại, đoạn thoại, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc thoại, đoạn thoại
Tác giả: Nguyễn Thị Đan
Năm: 1994
10. George Yule (2003), Dụng học, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học
Tác giả: George Yule
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
11. Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật (1999), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
12. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
13. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích hội thoại, Viện thông tin KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hội thoại
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2000
14. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
15. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb ĐH Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia
Năm: 2008
16. Cao Xuân Hải (2005), Hành vi nhận xét, đánh giá qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai, Ngữ học trẻ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi nhận xét, đánh giá qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai
Tác giả: Cao Xuân Hải
Năm: 2005
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
18. Dương Tuyết Hạnh (1999), Cấu trúc của tham thoại, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc của tham thoại
Tác giả: Dương Tuyết Hạnh
Năm: 1999
19. Dương Tuyết Hạnh (2007), Tham thoại dẫn nhập trong sự kiện lời nói nhờ, Tạp chí Ngôn ngữ số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham thoại dẫn nhập trong sự kiện lời nóinhờ
Tác giả: Dương Tuyết Hạnh
Năm: 2007
20. Dương Thu Hằng (2005), Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Ngữ học trẻ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
Tác giả: Dương Thu Hằng
Năm: 2005
21. Hoàng Bích Hậu (2008), Dòng hồi ức trong “Nỗi buồn chiến tranh”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng hồi ức trong “Nỗi buồn chiến tranh”
Tác giả: Hoàng Bích Hậu
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1. Hình thức hội thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
2.1.1. Hình thức hội thoại (Trang 29)
Bảng 2: Hình thức hội thoại trong các cuộc thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 2 Hình thức hội thoại trong các cuộc thoại (Trang 33)
Bảng 3: Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 3 Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại (Trang 35)
Bảng 4: Quan hệ vai giao tiếp trong các cuộc thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 4 Quan hệ vai giao tiếp trong các cuộc thoại (Trang 37)
Bảng 5: Sự phù hợp với các nguyên tắc hội thoại của cuộc thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 5 Sự phù hợp với các nguyên tắc hội thoại của cuộc thoại (Trang 38)
Bảng 6: Cấu trúc các cuộc thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 6 Cấu trúc các cuộc thoại (Trang 44)
2.2.1. Hình thức hội thoại trong các đoạn thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
2.2.1. Hình thức hội thoại trong các đoạn thoại (Trang 45)
Bảng 8: Hình thức hội thoại trong các đoạn thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 8 Hình thức hội thoại trong các đoạn thoại (Trang 51)
Bảng 9: Hoàn cảnh giao tiếp trong các đoạn thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 9 Hoàn cảnh giao tiếp trong các đoạn thoại (Trang 53)
Bảng 10: Quan hệ vai giao tiếp trong các đoạn thoại - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 10 Quan hệ vai giao tiếp trong các đoạn thoại (Trang 54)
Bảng 11: Cấu trúc các đoạn thoại  Cấu trúc - hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Bảng 11 Cấu trúc các đoạn thoại Cấu trúc (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w