1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc formant của nguyên âm tiếng việt trong kết hợp với âm tắc và thanh điệu (trên cơ sở khảo sát thực nghiệm) (thông tin đưa lên website

27 819 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 328,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Dựa vào việc mô tả cấu trúc formant của các nguyên âm đơntrong kết hợp với thanh điệu và âm tắc ở các vị trí khác nhau trong âmtiết, mục đích chính của l

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, trong đó mỗi

âm tiết là một đơn vị hoàn chỉnh đứng độc lập, là đơn vị cuối cùng trongviệc phân xuất các đơn vị của lời nói, đồng thời âm tiết cũng là cơ sở đểphân tích cấu trúc kết hợp các âm vị Từ lâu đã có nhiều tác giả đã quantâm nghiên cứu đơn vị cơ bản này, đặc biệt là bằng phương pháp thựcnghiệm Có thể coi Lê Văn Lý là người đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm

về thanh điệu Những nghiên cứu thực nghiệm về thanh điệu tiếng Việt

còn có thể kể: Nguyễn Hàm Dương (1962), Han Mieko (1968), HoàngCao Cương (1982), Cao Xuân Hạo (1986), Vũ Kim Bảng (1984), Nguyễn

Văn Lợi Những nghiên cứu thực nghiệm về formant tiếng Việt có thể kể:

Nguyễn Văn Ái (1973, 1974), Vũ Kim Bảng (2002)

Đối với âm tiết tiếng Việt, xét về các đặc trưng âm học của nó,

còn có một số vấn đề chưa được đề cập tới, đó là: mối quan hệ hay vai trò của âm đầu và âm cuối đối với nguyên âm (formant) và thanh điệu (âm vực và đường nét) Những kết quả nghiên cứu này có giá trị cả về mặt lí

thuyết cũng như ứng dụng thực tiễn

Trong vòng 50 năm qua, công nghệ thông tin đã phát triển nhanhchóng và mạnh mẽ Trong xu hướng chung đó cùng với vai trò của mạngInternet và mạng thông tin di động viễn thông nói riêng thì vấn đề xử lítiếng Việt cho tổng hợp và nhận dạng tiếng nói là một nhu cầu cấp báchđòi hỏi có những nghiên cứu thực nghiệm cụ thể về ngữ âm tiếng Việt

Từ những lí do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Cấu trúc formant của nguyên âm tiếng Việt trong kết hợp với âm tắc và thanh điệu (Trên cơ

sở khảo sát thực nghiệm) làm đề tài luận án.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chúng tôi đã tổng quan tình hình nghiên cứu về nguyên âm và cấutrúc formant của nguyên âm ở một số ngôn ngữ trên thế giới và trongtiếng Việt

2.1 Những nghiên cứu về formant của nguyên âm trên thế giới

Formant và cấu trúc formant của nguyên âm là một trong những

lĩnh vực nghiên cứu mang tính ứng dụng cao đã được thực hiện ở nhiềungôn ngữ trên thế giới Những lĩnh vực được nghiên cứu như: đặc điểmcấu trúc âm học của formant, sự ảnh hưởng của phụ âm tắc đến formantcủa nguyên âm, ảnh hưởng của tần số cơ bản của thanh điệu đến formant

Trang 2

của nguyên âm Những nghiên cứu ở các ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng ThụyĐiển, tiếng Trung Quốc…với những nghiên cứu của Peterson và Barney(1952), P.C Delattre, A M Liberman, F S Cooper (1958), Ladefoged vàMaddieson, G Fant (1959), Manjari Ohala và John J Ohala (1998), JamesJ.Hant và Abeer Alwan (1999), Yan Jingzhu (1995),

2.2 Những nghiên cứu về formant của nguyên âm tiếng Việt

Formant của nguyên âm tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứuHan Mieko (1968), Nguyễn Văn Ái (1973, 1974), Hoàng Cao Cương(1986), Vũ Kim Bảng (2002) công bố trong nhiều công trình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa vào việc mô tả cấu trúc formant của các nguyên âm đơntrong kết hợp với thanh điệu và âm tắc ở các vị trí khác nhau trong âmtiết, mục đích chính của luận án là: cung cấp các thông số âm học quantrọng cho quá trình tổng hợp tiếng Việt, nhận dạng giọng nói tiếng Việt

Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu cấu trúc formant của nguyên âm

ở nước ngoài và ở Việt Nam nhằm xác định rõ hướng nghiên cứu của đềtài

- Xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài trên cơ sở định rõ khái niệmcấu trúc formant của nguyên âm và những vấn đề liên quan

- Tìm các đặc điểm âm học liên quan đến formant của nguyên âmtrong quan hệ với thanh điệu và phụ âm tắc, phụ âm mũi; đồng thời xácđịnh sự tác động qua lại của yếu tố như phụ âm (phụ âm tắc, phụ âm mũi)

và thanh điệu đến formant của nguyên âm trên ba phương diện: trường độformant, vùng tần số formant và diễn tiến formant

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu trúc formant của cácnguyên âm tiếng Việt trong bối cảnh kết hợp với thanh điệu và phụ âm tắc

ở cả hai vị trí mở đầu và kết thúc âm tiết

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ giới hạn với cấu trúc formantcủa nguyên âm tiếng Việt với 6 phụ âm đầu tắc, mũi /m, n, , p, t, k/ và 6phụ âm cuối tắc, mũi /m, n, p, t/ và /, k/

5 Ý nghĩa và đóng góp của luận án

Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần chỉ ra

các đặc điểm cấu trúc formant nguyên âm tiếng Việt trong quan hệ với cácđơn vị chiết đoạn và siêu đoạn khác Trên cơ sở so sánh với một số tác giảkhác nhằm chỉ ra các nét đặc thù riêng của tiếng Việt được thể hiện ở cácformant

2

Trang 3

Về mặt thực tiễn: Những kết quả khảo sát của luận án là một tổng

quan nghiên cứu về formant của nguyên âm trong mối quan hệ với thanh

điệu và âm tắc Nó có thể làm cơ sở và ứng dụng cho các mục đích tổng hợp, nhận dạng và giám định âm thanh lời nói tiếng Việt

6 Phương pháp nghiên cứu: Để phục vụ cho việc mô tả cấu trúc

formant của nguyên âm trong các kết hợp, luận án sử dụng hai phươngpháp chính: phương pháp miêu tả và ngữ âm thực nghiệm Ngoài ra, một

số thủ pháp thống kê và so sánh cũng được sử dụng để trình bày, thể hiện

và nhận xét các kết quả

7 Tư liệu nghiên cứu: Tư liệu nghiên cứu được lấy từ giọng đọc

của 6 CTV là các phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam, giọng Hà Nội,

có độ tuổi từ 30 đến 40, được yêu cầu phát âm theo bảng từ

8 Bố cục của luận án: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu

tham khảo và Phụ lục luận án được cấu trúc gồm 4 chương: Chương Một số vấn đề cơ sở lí thuyết Chương 2- Mối quan hệ giữa formant củanguyên âm và thanh điệu Chương 3- Formant của nguyên âm trong kếthợp với âm đầu tắc và thanh điệu Chương 4 - Formant của nguyên âmtrong kết hợp với âm cuối tắc và thanh điệu

1-Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Khái niệm formant của nguyên âm

Formant được định nghĩa bởi Gunnar Fant (1960) "những đỉnh quang phổ của phổ âm thanh được gọi là các formant" Định nghĩa này

được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngữ âm học và các xử lí âm thanhtrong công nghệ [93, tr 45] Khái niệm này còn được Benade (1976) sửdụng với nghĩa tương tự "formant là những đỉnh được quan sát trong sựbao phủ của phổ được gọi là các formant"

Nhà vật lí học người Đức, Hermann, L (1989) đưa ra khái niệmformant để chỉ sự gia tăng về cường độ âm thanh của một hay một nhómtần số do tần số hoạ âm có cùng tần số với khoang cộng hưởng tạo nênđặc trưng của mỗi nguyên âm Những nghiên cứu sau này của các nhàngôn ngữ học ngày càng làm hoàn thiện khái niệm này (Lindblom, B,1986; Ladefoyed, P và Maddieson, I, 1990) Han Mieko (1969) trong

""Studies in phonology of Asian Languages: Vietnamese Vowel" đã định

nghĩa: "Nguyên âm được mô tả bởi khoang cộng hưởng tương đối lớntrong so sánh với phụ âm Khoang cộng hưởng này được mạnh thêm ởnhững vùng khác nhau theo khẩu hình đặc trưng của bộ máy phát âm của

âm thanh lời nói Những vùng có cộng hưởng tăng mạnh được gọi là các

Trang 4

formant Mỗi nguyên âm có một kiểu formant đặc trưng, và thực nghiệm

đã chứng tỏ rằng hai formant đầu tiên mang hầu hết thông tin về phẩmchất của nguyên âm" [98, tr 11]

1.2 Cấu tạo bộ máy phát âm của con người

Các cơ quan cấu âm bao gồm có phổi, khí quản, thanh hầu, cáckhoang họng, khoang miệng cùng với các bộ phận cấu thành của chúngtạo thành một nhóm được gọi bằng thuật ngữ là bộ máy phát âm (vocaltract) Bộ máy phát âm thường được chia ra thành hai phần, một phần nằm

ở phía trên thanh hầu, và một phần nằm ở phía dưới thanh hầu Nằm trongthanh hầu là các dây thanh: kẽ hở giữa các dây thanh được gọi là khethanh (glottis), và bộ máy phát âm phía trên khe thanh vì thế được gọi là

bộ máy phát âm phía trên thanh hầu (supraglottal), còn ở phía dưới nó là

bộ máy phát âm phía dưới thanh hầu (subglottal) Các công trình mô tảngữ âm về âm thanh lời nói chủ yếu quan tâm đến hoạt động phía trênthanh hầu

1.3 Những đặc trưng vật lý của âm thanh tiếng nói

Phần này trình bày các khái niệm về sóng âm, cao độ âm thanh,cường độ, trường độ của âm thanh

1.4 Đặc trưng cấu âm của nguyên âm và phụ âm

Các nguyên âm và các âm giống nguyên âm được tạo thành bằngcách thay đổi hình dạng của các khoang họng và miệng, nhưng không cómột sự tắc hoặc sự cản trở nào đối với luồng không khí Bên cạnh đó, kích

cỡ và hình dáng của bộ máy phát âm có thể bị thay đổi, về cơ bản hoạtđộng định vị của lưỡi và hai môi Vì vậy, hai hoạt động phát âm cơ bảnnhất trong khi tạo ra các âm nguyên âm khác nhau là hình dáng và vị trícủa lưỡi xác định hình dáng khoang miệng và khoang họng, còn hai môiđiều khiển hình dáng và khu vực thuộc phía trước của bộ máy phát âm Sựchúm môi cũng cung cấp một phương tiện mở rộng chiều dài chung của

bộ máy phát âm

Đặc trưng cấu âm của phụ âm được tạo ra do cơ chế luồng hơi từhầu sử dụng luồng hơi phía trên dây thanh Dây thanh khép lại, và thanhquản bị di chuyển lên trên và xuống dưới họng, dưới sự điều khiển của các

cơ thanh quản ngoài, để tạo ra luồng hơi Ngoài ra, các âm phụ âm cònđược tạo ra bằng cách sử dụng các khả năng cấu âm của lưỡi, răng và môitheo cách luồng không khí đi qua khoang miệng sẽ bị siết lại một cách độtngột hoặc tạm thời bị cản trở hoàn toàn

4

Trang 5

1.5 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt và mối quan hệ giữa các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính trong âm tiết

1.5.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt

Cho đến nay, trong phân tích ngữ âm tiếng Việt, có ít nhất là baquan điểm khác nhau về cấu trúc nội tại của âm tiết, phần này trình bàycác quan điểm và các mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt

1.5.2 Quan hệ giữa các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính trong âm tiết

Âm tiết tiếng Việt không chỉ là sự kết hợp của các âm vị đoạntính, mà còn các yếu tố siêu đoạn tính cũng làm nên nét đặc trưng có ýnghĩa của âm tiết Trong nội bộ âm tiết tiếng Việt, có nhiều mối quan hệnhư: quan hệ giữa âm đầu và âm chính, quan hệ giữa âm chính và âmcuối, quan hệ giữa phụ âm cuối và thanh điệu

Các mẫu khảo sát cho thấy thanh điệu có ảnh hưởng lớn đến trường

độ formant của các nguyên âm Khi đo trường độ nguyên âm ở tất cả cácmẫu trong kết hợp với thanh điệu chúng tôi nhận thấy đối với các thanhbằng như huyền và ngang, trường độ của nguyên âm dài hơn khi kết hợpvới các thanh trắc

Trong tương quan so sánh thì nguyên âm khi kết hợp với thanh điệu

có thể sắp xếp theo trật tự: từ dài đến ngắn tính theo ms như sau: huyền ngang - ngã - sắc - hỏi - nặng

-2.2 Vùng tần số formant của nguyên âm trong kết hợp với thanh điệu

Khi kết hợp với các thanh điệu khác nhau, vùng tần số formant củacác nguyên âm có sự thay đổi phụ thuộc vào kết hợp thanh điệu; nhữngthanh có đường nét gãy, trắc làm cho phần cuối của nguyên âm mà nó kếthợp có những biến động về vùng phân bố formant giữa F1 và F2

2.2.1 Vùng tần số của nguyên âm /i/

Khi kết hợp với thanh ngang tần số formant của /i/ thấp nhất 291Hzđối với nam và 312Hz đối với nữ Sự kết hợp với các thanh điệu khác làmcho tần số F1 của /i/ có xu hướng tăng từ 10 đến 50Hz, F2 có xu hướng

Trang 6

tăng cao hơn từ 30 đến 300Hz so với tần số F2 của /i/ khi kết hợp vớithanh ngang

2.2.2 Vùng tần số của nguyên âm /e/

Đối với nguyên âm /e/ thanh điệu không làm ảnh hưởng đến F2, ở

tất cả các kết hợp thanh điệu F2 luôn ổn định ở tần số 2210Hz (các CTVnam), và 2420Hz (CTV nữ) Thanh điệu làm thay đổi tần số F1, kết hợpvới thanh ngang F1 có tần số thấp nhất 394Hz (nam), 510Hz (nữ), sự kếthợp với thanh ngã khiến cho tần số formant của nguyên âm F1 biến đổi từthấp đến cao và tần số cao nhất 495Hz (nam), 570Hz (nữ)

2.2.3 Vùng tần số của nguyên âm //

Thanh điệu không làm biến đổi tần số F2 của //, F2 luôn duy trì ổnđịnh ở tần số 2300Hz (nam), 2500Hz (nữ) Thanh điệu khiến F1 của // có

xu hướng tăng dần trong khoảng 571-708Hz tùy từng kết hợp Trong đókết hợp với thanh ngã làm biến đổi F1 lên cao nhất, thanh ngang F1 thấpnhất

2.2.4 Vùng tần số của nguyên âm //

Thanh điệu không chỉ làm biến đổi tần số F1 mà còn làm F2 của// thay đổi đáng kể, F1 thấp nhất khi kết hợp với thanh ngang 399Hz(nữ), 353Hz (nam) F1 dao động trong khoảng 353- 710Hz, sự kết hợp vớithanh ngã làm cho F1 tăng mạnh Đối với F2 tần số thấp nhất khi kết hợpvới thanh nặng 1190Hz và cao nhất khi kết hợp với thanh ngã 1659Hz

2.2.5 Vùng tần số của nguyên âm //

Vùng tần số F1 của // dao động trong khoảng từ 400 đến 700Hz,trong đó các kết hợp với thanh ngang, thanh sắc có tần số thấp từ 400 đến450Hz, các kết hợp với thanh nặng có tần số cao nhất Vùng tần số F2thay đổi không đáng kể chủ yếu dao động trong khoảng 1200-1400Hz

2.2.6 Vùng tần số của nguyên âm /a/

Các thanh điệu làm cho forman của /a/ phân tán rời rạc lúc lên caolúc xuống thấp không ổn định Khoảng tần số F1 chuẩn của /a/ 707-1000Hz, F2 1190-1410Hz, tuy nhiên trong kết hợp với các thanh điệu tần

số F1 của /a/ đôi khi xuống rất thấp thậm chí chỉ ở mức tần số 431Hz,480Hz khi kết hợp với thanh ngã, thanh sắc Đối với F2 sự ảnh hưởng củathanh điệu khiến F2 của /a/ có chiều ngược lại, đó là tần số F2 tăng vọtdao động trong khoảng từ 1519 -1951Hz, sự ảnh hưởng này thể hiện rõnét nhất ở các thanh ngã, hỏi, sắc, nặng

2.2.7 Vùng tần số của nguyên âm /u/

Kết hợp với các thanh điệu F1 của /u/ dao động trong khoảng 510Hz, F2 nằm trong khoảng khá rộng 647-1700Hz, trong đó kết hợp với

322-6

Trang 7

các thanh cao như thanh ngang, thanh ngã có tần số F2 cao hơn các thanhkhác.

2.2.8 Vùng tần số của nguyên âm /o/

Theo nghiên cứu của chúng tôi /o/ khi kết hợp với thanh điệu có F1thấp nhất 420Hz cao nhất 550Hz F2 khi kết hợp với thanh điệu dao độngtrong khoảng 820Hz - 1370 Như vậy, khi kết hợp với các thanh điệu tần

số formant của nguyên âm /o/ tăng lên đối với cả F1 và F2 từ 100 đến400Hz

2.2.9 Vùng tần số của nguyên âm //

Đối với nguyên âm dòng sau // tần số F1 trung bình của // nằmtrong khoảng 595-707Hz, F2 trong khoảng 840-1000Hz Khi kết hợp với

6 thanh điệu khoảng tần số này cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu trước

đó Cụ thể F1 của // dao động trong khoảng rất rộng 430 - 1124Hz, F2của // 1002 - 1429Hz

2.3 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp với thanh điệu

2.3.1 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp thanh ngang

Kết hợp với thanh ngang khiến cho F1 của hầu hết các nguyên âmđều xuất phát từ tần số cao nằm trong vùng tần số đặc trưng của cácnguyên âm, sau đó có diễn tiến đi xuống và đạt mức thấp nhất ở điểm cuốicùng của diễn tiến formant

Ngược lại, ở tần số F2 diễn tiến đường nét formant của các nguyên

âm có ba dạng: một dạng xuất phát ở tần số thấp sau đó đi lên và kết thúc

ở tần số cao, dạng này xảy ra đối với các nguyên âm dòng trước /i, e, / vàdòng giữa /, , a/, nhiều chỗ cấu trúc formant bị phá vỡ, nhất là cấu trúcF2 của các nguyên âm dòng trước /i, e, / Dạng đường nét thứ hai xuấtphát ở tần số cao sau đó có đường nét đi xuống và hơi đi lên ở phần cuốitrường hợp hai nguyên âm dòng sau /u,o/, riêng // có đường nét F2 tươngđối bằng phẳng từ đầu đến cuối

2.3.2 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp thanh huyền

Cũng tương tự như thanh ngang khi kết hợp với thanh huyền diễntiến F1 của các nguyên âm xuất phát từ tần số cao sau đó đi xuống đềuđặn và kết thúc ở tần số rất thấp Diễn tiến F2 có chiều hướng ngược lại,

có hướng đi lên Tuy nhiên, ở trường hợp nguyên âm /o/ F2 lại có chiềuhướng đi xuống Kết hợp với thanh huyền làm cho cấu trúc F2 của // bịphá vỡ

Trang 8

Có thể nói, sự kết hợp với thanh ngang và thanh huyền không làmmất đi cấu trúc đặc trưng formant của các nguyên âm Nhìn chung, chúngvẫn giữ sự ổn định từ đầu đến cuối.

2.3.3 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp thanh ngã

Kết hợp với thanh ngã làm cho cấu trúc F1 của nguyên âm đi xuốngkhông đều đặn, thỉnh thoảng có đoạn đi lên ở giữa khiến cho đường nét F1

có hình sóng Một số đoạn cấu trúc formant của /a, u, / bị phá vỡ Thanhngã có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc F2 của nguyên âm Sự ảnh hưởng nàythể hiện rõ ở việc phá vỡ các đường nét F2 nhất là ở các nguyên âm dòngtrước /i, e, /, khiến cho F2 chỉ là những điểm rời rạc, đứt đoạn

2.3.4 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp thanh hỏi

Nhìn chung F1 của nguyên âm khi kết hợp với thanh hỏi có dạng đixuống đều đặn, càng về cuối diễn tiến formant mất ổn định cấu trúc bị phá

vỡ thành những điểm rời rạc với tần số rất thấp, những nguyên âm dòngsau /u, o, / cấu trúc F1 bị đứt đoạn Ở khu vực F2 cấu trúc chỉ được giữvững với hai nguyên âm /i, e/, các nguyên âm còn lại F2 bị phá vỡ thànhcác điểm lên xuống rời rạc không ổn định

2.3.5 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp thanh sắc

Kết hợp với thanh sắc diễn tiến F1 các nguyên âm bắt đầu ở tần sốcao, đi xuống đều đặn và kết thúc ở tần số thấp, cấu trúc F1 luôn được duytrì Trong khi đó, F2 bị phá vỡ cấu trúc thành các điểm rời rạc ở cácnguyên âm dòng trước, dòng giữa Các nguyên âm dòng sau có diễn tiếnF2 ổn định đi lên ở đoạn cuối, và kết thúc ở cao độ cao

2.3.6 Diễn tiến formant của nguyên âm trong kết hợp thanh nặng

Kết hợp với thanh nặng F1 của các nguyên âm tương đối bằngphẳng, F2 không ổn định đối với các nguyên âm dòng trước và dòng giữa,

- Thanh điệu có ảnh hưởng đến trường độ của nguyên âm, các kếthợp nguyên âm với thanh ngang, ngã có trường độ dài hơn các kết hợp vớithanh sắc, hỏi, nặng

8

Trang 9

- Thanh điệu cũng tác động đến vùng tần số của các nguyên âmđơn tiếng Việt Nhìn chung, những ảnh hưởng của thanh điệu làm cho tần

số F1, F2 của nguyên âm tăng lên đáng kể Sự ảnh hưởng này xảy ra ở cáckết hợp thanh cao, nhất là đối với các kết hợp thanh ngang, ngã, sắc

- Thanh điệu có ảnh hưởng tới diễn tiến formant của các nguyên

âm ngay ở phần đầu, sự ảnh hưởng này kéo vùng tần số formant củanguyên âm cao hơn hoặc thấp hơn tần số thông thường của nó tạo nên mộtđoạn đi lên hoặc đi xuống giữa thanh điệu và nguyên âm mà nó kết hợp.Điều này biến đổi cấu trúc đường nét formant làm cho nó có thể đi lên hay

đi xuống ở phần đầu so với cấu trúc ban đầu Một số thanh điệu khiến chotần số F2 của nguyên âm không ổn định mà bị phá vỡ thành các điểm rờirạc

Các giá trị âm học cấu trúc formant của nguyên âm trong kết hợpvới thanh điệu đã trình bày ở trên là cơ sở để chúng tôi so sánh với kết quảkhảo sát của những chương tiếp theo

Chương 3: FORMANT CỦA NGUYÊN ÂM TRONG KẾT HỢP VỚI ÂM ĐẦU TẮC VÀ THANH ĐIỆU

Chương này trình bày đặc điểm cấu âm của các âm tắc, sự ảnhhưởng của nhóm phụ âm tắc vô thanh /p, t, k/, nhóm phụ âm mũi /m, n, ŋ/trên các phương diện: vùng tần số, diễn tiến đường nét đoạn quá độ vàtrường độ formant của nguyên âm

3.1 Formant của nguyên âm trong kết hợp với âm đầu /p, t, k/

Các âm tắc /p, t, k/ trong tiếng Việt có một động tác khép hoàn toàntrước một động tác mở ra Khởi âm đột ngột phân biệt cấu âm của các phụ

âm tắc với các phụ âm xát Khởi âm của các âm xát là từ từ còn đặc điểm

cơ bản của các âm tắc, ngược lại, là một dải sóng điếc có một khoảng imlặng đằng trước, mà dưới những điều kiện nhất định thì một xung độngcủa các dải thanh âm có thể bị thay thế

3.1.1 Trường độ formant của nguyên âm

Trong một phạm vi nào đó, trường độ phụ thuộc và bị chi phối bởinhiều yếu tố khác nhau, cụ thể là bởi chất lượng của nguyên âm và cácphụ âm đứng sát cạnh nguyên âm Theo kết quả nghiên cứu, ảnh hưởngcủa các phụ âm kế cận lên trường độ nguyên âm là rất khác nhau, vàkhông phải lúc nào cũng dễ dàng phân biệt sự ảnh hưởng của một phụ âmđứng cạnh với những nét phát âm riêng một cách giản đơn đối với nguyên

âm liên quan Các kết quả khảo sát cho thấy phụ âm tắc /p, t, k/ cùng với

Trang 10

thanh điệu có ảnh hưởng trực tiếp đến trường độ formant của nguyên âmtrong ngữ cảnh CV Các nguyên âm khi đứng sau các phụ âm này cótrường độ formant ngắn hơn từ 50 đến 100 ms Trong đó, nguyên âmđứng sau /p/ có trường độ ngắn nhất so với hai phụ âm còn lại

Nghiên cứu cho thấy trường độ formant của nguyên âm khi đứngsau các phụ âm tắc vô thanh có xu hướng bị rút ngắn, điều này chứng tỏ vịtrí cấu âm của các phụ âm tắc /p, t, k/ có ảnh hưởng đến trường độformant của nguyên âm Trong số đó, một phụ âm khi phát âm đòi hỏiphải có một sự dịch chuyển của lưỡi như /t, k/, thì cần phải có thời gianhơn để tạo ra một phát âm phụ âm tính điều này làm cho nguyên âm đứngcạnh có trường độ dài hơn Vì vậy, các nguyên âm sẽ dài hơn khi đứngsau các phụ âm lợi và các âm mạc so với khi đứng sau các âm hai môi như/p/

3.1.2 Vùng tần số formant của các nguyên âm

Trong phần này, nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào nhữngảnh hưởng của các phụ âm vô thanh đối với vùng tần số formant của cácnguyên âm kế cận Chẳng hạn, các âm tắc vô thanh /p, t, k/ bắt đầu bằngmột luồng hơi thở ra từ phổi sinh ra một cao độ thấp hơn chi phối đến cácnguyên âm đứng sau

Qua dữ liệu khảo sát cho thấy, trong âm tiết CV ranh giới giữa âm

vị /p, t, k/ với nguyên âm theo sau có sự thay đổi rõ ràng, sự thay đổi nàykhông chỉ xảy ra ở vùng tần số chuyển tiếp giữa phụ âm và nguyên âm màngay cả trên biểu đồ sóng và biên độ cũng có sự thay đổi rõ rệt Biên độcủa nguyên âm đi sau tăng lên rất mạnh Trên biểu đồ phổ, các formantcủa nguyên âm có độ đậm rõ ràng hơn rất nhiều, tuy nhiên sự thay đổi trênbiểu đồ phổ xảy ra chậm hơn so với trên biểu đồ sóng trong khoảng thờigian 5-10ms Phụ âm đầu /p, t, k/ có ảnh hưởng đến vùng tần số formantcủa nguyên âm đứng sau, nó làm suy giảm vùng tần số formant củanguyên âm, đặc biệt ở những vùng tần số thấp như F1 và F2

Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực tần số của một phụ âm đềuđược điều chỉnh triệt để theo các formant của các nguyên âm đi sau, ảnhphổ vùng tần số xuất hiện của /p, t, k/ trước các nguyên âm /i, e,

u, o,  có một tâm vùng thấp hơn kéo tâm vùng của cácnguyên âm gần hơn với tâm vùng của /p, t, k/ hơn so với trường hợp cácnguyên âm độc lập Tâm vùng thấp và gần hơn với tâm vùng của /p, t, k/được thể hiện rõ nhất ở đoạn chuyển tiếp formant tiếp giáp giữa phụ âmtắc và nguyên âm nhất là đối với các nguyên âm có độ mở rộng /, a, /vùng tần số F1 bị suy giảm đáng kể

10

Trang 11

3.1.3 Diễn tiến vùng chuyển tiếp tần số formant

Ở những chỗ chuyển tiếp giữa phụ âm và nguyên âm trong cùngmột âm tiết các formants có đường nét chúc lên hay chúc xuống do nhữngchuyển đổi tư thế của các khí quan phát âm Chính những nét này là cácdấu hiệu để nhận diện các phụ âm Cụ thể, ở những mẫu nguyên âm đứngsau phụ âm đầu /p, t, k/ chuyển tiếp CV thường ổn định, và rất dễ dàngnhận thấy ranh giới giữa C và V V tại đoạn chuyển tiếp phụ thuộc chặtchẽ vào các đặc trưng của C, trong khoảng thời gian 50 – 60 ms đầu tiênF1 bắt đầu ở tần số thấp hơn tần số trung bình của nguyên âm khoảng50Hz, đi xuống đều đặn và có tần số thấp nhất tại điểm cuối cùng củađường nét formant của nguyên âm

Đối với F2, ở những nguyên âm dòng trước /i, e, / F2 bắt đầu vớitần số thấp có xu hướng đi lên, F2 của các nguyên âm còn lại đi xuốngđều đặn Khái quát các mô hình chuyển tiếp formant của phụ âm /p, t, k/với các nguyên âm như sau:

Cụ thể, đường nét diễn tiến chuyển tiếp của phụ âm /p/ đối vớiformant của nguyên âm được mô tả như sau: kết hợp với nguyên âm /i/,trong khoảng 20ms đầu, tần số của nguyên âm /i/ bị kéo xuống thấp nhất277Hz sau đó có diễn tiến đều đặn và ổn định ở vùng tần số 350-360Hz,F2 xuất phát ở vùng tần số thấp 1974Hz có xu hướng hơn đi lên 2078Hz

và giữ ổn định ở vùng tần số này Xu hướng diễn tiến này diễn ra ở cả tất

cả các nguyên âm khác Cấu trúc formant là những điểm liền nhau không

hề bị phá vỡ

Mô hình diễn tiến vùng chuyển tiếp formant F1, F2 của nguyên âm

trong kết hợp phụ âm /p/

Diễn tiến chuyển tiếp của phụ âm /t/ đối với formant của nguyên

âm được mô tả như sau: kết hợp với nguyên âm /i/, trong khoảng 15msđầu, tần số F1 của nguyên âm /i/ có diễn tiến đều đặn và ổn định ở vùngtần số trên 300Hz, F2 xuất phát ở vùng tần số cao 2035Hz có xu hướnghơn đi xuống đều 1744Hz và giữ ổn định ở vùng tần số này Xu hướngdiễn tiến này diễn ra ở cả tất cả các nguyên âm khác

Trang 12

ti tê te tư tơ ta tu tô to

Mô hình diễn tiến vùng chuyển tiếp formant F1, F2 của nguyên âm

trong kết hợp phụ âm [t]

Trong kết hợp phụ âm /k/ ở đầu, ở tất cả các nguyên âm diễn tiếnF1 không có sự thay đổi nhiều về tần số, đường nét F1 bằng phẳng và đềuđặn từ đầu đến cuối, diễn tiến này có ở tất cả các nguyên âm Đối với cấutrúc F2 ở đoạn đầu có điểm xuất phát ở tần số cao, có xu hướng đi xuốngtạo thành đường cong formant sau đó có diễn tiến ổn định

Mô hình diễn tiến vùng chuyển tiếp formant F1, F2 của nguyên âm

trong kết hợp phụ âm /k/

3.2 Formant của nguyên âm trong kết hợp với âm đầu /m ,n, /

Tất cả các âm mũi /m, n, ŋ/ có cấu âm phụ thuộc vào luồng hơi đi

qua khoang họng và khoang miệng, ví dụ âm /m/ của từ ma hay mi Các

phụ âm mũi kiểu như vậy được tạo ra với ngạc mềm hạ thấp xuống để choluồng hơi đi qua đường mũi, và với khoang miệng bị ngăn chặn trong suốtkhoảng thời gian phát âm phụ âm Trong hoạt động này, khoang họng vàkhoang mũi mở và khoang miệng đóng tất cả đều tham gia vào các thuộc

tính cộng hưởng của âm Chẳng hạn như /m, n, / như trong từ mê, nê và

âm đầu của từ nga, mạc hay ngạc mềm được hạ thấp nhưng lại có một

động tác khép hoàn toàn ở miệng (ở hai môi đối với /m/, giữa đầu lưỡi vàrăng hay chân răng đối với /n/, giữa phần sau lưỡi và ngạc mềm (mạc) đốivới //) Kết quả là toàn bộ không khí được dùng trong hoạt động tạo sảncủa chúng bị đổi qua mũi

Cấu âm của phụ âm mũi hữu thanh thể hiện bằng một dải sóng hữuthanh dài có biên độ và tần số thấp hơn tần số hữu thanh của nguyên âm,năng lượng tần số là các khoảng đậm nhạt yếu hơn ở khu vực nguyên âm

Ranh giới giữa âm mũi và các nguyên âm được nhận thấy trênbiểu đồ phổ bằng việc sự xuất hiện của các formant Kết cấu formant củacác phụ âm mũi về cơ bản giống với kết cấu formant của các nguyên âm.Tuy nhiên, hình dạng ba formant đầu tiên của chúng thường khác với hình

12

Trang 13

dạng formant của một nguyên âm bởi sự chuyển động đều đặn ổn định và

có phần đi lên rất đột ngột của hầu hết các formant là do trường độ tăngcường của hệ thống khoang cộng hưởng trong thế so sánh với trường độtăng cường của các nguyên âm bên cạnh Cường độ tổng thể của tất cả các

âm mũi là thấp hơn đáng kể so với cường độ tổng thể của các nguyên âm.Đoạn chuyển tiếp formant của phụ âm /m/ sang nguyên âm có trường độnằm trong khoảng 50 ms vùng mà tần số formant có sự thay đổi mạnh mẽ.Điểm kết thúc của âm vị /e/ được xác định trên biểu đồ sóng Âm/e/ là nguyên âm, tại điểm kết thúc các sóng đi lên hoặc đi xuống chu kỳđều đặn với biên độ giảm dần Trên biểu đồ phổ có thể nhận thấy rất rõcác formant F1, F2, F3 của âm vị /e/ Các phụ âm mũi /n/, /m/ có nănglượng thấp nhất trong các loại âm vị, do đó formant của hai âm này mờnhạt hơn nguyên âm /e/ Các F2, F3 của hai phụ âm /n/, /m/ ở đoạn tiếpgiáp với /e/ thường có cùng độ cao và song song với F2, F3 của /e/ do bịảnh hưởng của các formant này

3.2.1 Trường độ formant của nguyên âm

Trường độ formant của nguyên âm đi sau phụ âm tắc hữu thanhthường dài hơn đáng kể so với nguyên âm đứng sau các phụ âm tắc vôthanh tuy nhiên chúng vẫn ngắn hơn so với nguyên âm trong ngữ cảnhđộc lập

Ở các phụ âm, nét đặc được hiển thị bằng một vùng formant trội,đặt tại trung tâm, như đối lập với những âm vị mà trong đó một vùngkhông phải trung tâm trội lên Các âm mũi đặc có một vùng formant trộigiữa các formant mũi đặc trưng Những quan sát về những vị trí của

Ngày đăng: 16/09/2014, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w