Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, Có niềm tự hào dân tộc, có đ
Trang 1=====o0o=====
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ
VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ MINH THỌ
THÁI NGUYÊN -2011
Trang 2=====o0o=====
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ
VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN -2011
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập thế giới hiện nay, nền kinh tế và xã hội việt nam đang đứng trước những thử thách đầy cam go Nguyên nhân cơ bản là do trình
độ quản lý yếu kém và sự thiếu thốn nghiêm trọng nguồn nhân lực có trình độ ở nhiều lĩnh vực So sánh với các nước trong khu vực, một điều rõ ràng là chúng ta
đã không chuẩn bị tốt về vốn người cho sự phát triển Trách nhiệm đó, một phần
rất lớn là thuộc về giáo dục đại học, mũi nhọn xung kích Xu thế “xã hội hóa”
giáo dục, mở rộng số lượng đầu vào để tăng lợi nhuận, đang là xu thế chủ đạo
Ngày nay, khi tri thức và sáng tạo đã trở thành yếu tố quan trọng nhất
để tăng trưởng và phát triển thì sự thành bại của công cuộc hội nhập trong một thế giới đang cạnh tranh quyết liệt tùy thuộc rất nhiều vào giáo dục - đào tạo
Đối với Việt Nam , vai trò của giáo dục được xác định rõ trong điều
35, hiến pháp 1992: [9, t 148]
“ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển
giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động
và sáng tạo, Có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”
Hiện nay Đảng và nhà nước ta khẳng định giáo dục và đào tạo là một trong ba lĩnh vực then chốt cần phải đột phá đề làm chuyển động tình hình kinh tế - xã hội, tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực Trong những năm qua nền giáo dục nước nhà đã có những chuyển biến tích cự, đa dạng hoá về mục tiêu đào tạo, loại hình đào tạo, loại trường về mô hình và sở hữu Giáo dục nước nhà đã thu hẹp được khoảng cách với nền giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 4Bên cạnh những thành tựu đó, giáo dục nước ta vẫn bộc lộ một số yếu kém Trong đó yếu kém lớn nhất là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ thống giáo dục đối với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước Chính vì vậy mục tiêu phát triển giáo dục đến năm
2020 ở nước ta là cần tạo ra bước chuyển cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Nâng cao chất lượng đào tạo là yếu tố quan trọng góp phần giúp cho các trường đại học và cao đẳng khẳng định uy tín và thương hiệu của nhà trường Chính vì vậy để tồn tại và phát triển trên thị trường giống như các ngành kinh tế thì các trường phải nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh
Hơn lúc nào hết, trường Cao Đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp đang đứng trước vận hội mới và trách nhiệm hết sức nặng nề, cần phải phát huy vai trò, vị trí đã và đang có nhằm góp phần tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước
Những yêu cầu cấp bách trên đòi hỏi trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp không những phải năng động trong việc phát huy tiềm lực hiện có mà phải nâng cao chất lượng đào tạo để đào tạo ra đội ngũ cán bộ, nhân viên, kinh tế, kỹ thuật và công nhân có tay nghề cao có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc tại các doanh nghiệp trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Với mong muốn đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào sự
nghiệp phát triển của nhà trường, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 52.Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu chung
Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo trong các trường Cao đẳng nói riêng Vận dụng để đánh giá chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp từ đó để xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo
- Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo cao đẳng tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công nghiệp
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo
+ Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo cao đẳng tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công nghiệp
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp
Trang 6- Phạm vi thời gian:
Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ
và Kinh Tế Công Nghiệp từ năm 2007 đến năm 2010
Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2010 đến tháng 9/2011
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đối với nhà trường có ý nghĩa thiết thực trong việc giám sát, đánh giá, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phát triển thương hiệu của nhà trường
Giúp cho các phòng ban chức năng, các khoa khác có các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo phụ hợp
5 Bố cục của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng giáo dục đào tạo
Chương 2: Đánh giá chất lượng đào tạo tại trường Cao Đẳng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đằng Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp
\
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.1 Một số vấn đề lý luận về chất lượng giáo dục đào tạo
1.1.1 Khái niệm về đào tạo
Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã nhấn mạnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Thật vậy, ngày nay đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Vậy đào tạo là gì? Xung quanh vấn đề này có nhiều khái niệm khác nhau như:
- Đào tạo là một quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ …để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân người học, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách
có năng suất và hiệu quả [7, tr11]
- Đào tạo là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao (Tổ chức lao động quốc tế)
- Đào tạo là một quá trình học tập lý luận và kinh nghiệm để tìm kiếm một sự biến đổi về chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực thực hiện công việc [6, tr314]
Như vậy có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo nhưng nhìn chung các quan niệm này đều có điểm chung là đào tạo là một quá trình cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng để họ có thể hoàn thành công việc của mình
1.1.2 Quan niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm đa chiều, được nhiều tác giả đề cập đến theo các cách tiếp cận khác nhau, sau đây là một vài định nghĩa về chất lượng:
- Theo tiêu chuẩn của nhà nước Liên Xô: Chất lượng là tổng thể những
thuộc tính của nó quy định tính thích dụng của sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu phù hợp với công dụng của nó [1,tr20] Như vậy, theo quan niệm này thì chất
lượng được xuất phát từ các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm
Trang 8Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải bán thứ mà thị trường cần nên có một số quan niệm khác về chất lượng trên góc độ người tiêu dùng như:
- Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for Quanlity
Control) cho rằng: Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm với yêu cầu của người
tiêu dùng [1, tr20]
- Gs Philip B Gosby (người Mỹ) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với
những yêu cầu hay đặc tính nhất định [6, tr21]
- Theo ISO 8402 :1994 thì chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể
tạo cho thực thể đó khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn [8, tr257]
- Theo ANSI (American National Stands Institute và ASQ (American Society
for Quanlity) thì chất lượng là tổng hợp những đặc tính và đặc điểm của một sản phẩm
hay dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Như vậy chất lượng là một khái niệm phức tạp Có nhiều quan niệm khác nhau
về chất lượng tùy theo góc độ của người quan sát nhưng các quan niệm đều có chung ý tưởng: Chất lượng là sự thỏa mãn một yêu cầu nào đó của người sử dụng (khách hàng)
Từ đó chúng ta thấy chất lượng phải có những đặc điểm cơ bản sau đây [1, tr24]:
Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con người
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của thực thể để thỏa mãn nhu cầu vì vậy khi đánh giá chất lượng ta phải xét đến đặc điểm của thực thể liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể
Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu vì vậy, nếu thực thể đáp ứng được các tiêu chuẩn nhưng không phù hợp với nhu cầu, không được thị trường chấp nhận thì vẫn coi là không chất lượng
Chất lượng phải gắn với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục, tập quán
Trang 9 Chất lượng phải được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu trên các phương diện: tính năng của sản phẩm, giá thỏa mãn, thời điểm cung cấp, dịch vụ, an toàn…
1.1.3 Quan niệm về chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là một vấn đề được các trường quan tâm, xung quanh vấn
đề này cũng có nhiều quan niệm khác nhau:
1.1.3.1 Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu vào”
Theo quan điểm của một số nước phương tây thì chất lượng của một trường học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó Theo quan điểm này thì nguồn lực chính là chất lượng, nghĩa là các trường được xem là có chất lượng cao nếu tuyển sinh được sinh viên giỏi, cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn tài chính để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường
Vậy quan điểm này đã bỏ qua quá trình đào tạo diễn ra trong thời gian dài trong nhà trường Đây là quan điểm xem quá trình đào tạo là “hộp đen”, chỉ dựa vào đánh giá “đầu vào”, không quan tâm đến chất lượng “đầu ra” Quan điểm này sẽ khó giải thích được tại sao một nhà trường có đầu vào cao nhưng hoạt động đào tạo hạn chế, sinh viên tốt nghiệp chưa chắc đã xuất sắc và một trường có đầu vào khiêm tốn nhưng sinh viên được cung cấp một chương trình đào tạo hiệu quả, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc [2, tr254]
1.1.3.2 Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra”
Theo quan điểm này chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra” của quá trình đào tạo, được thể hiện thông qua năng lực của sinh viên tốt nghiệp
Xung quanh quan niệm này vẫn nảy sinh hai vấn đề: một là không xem xét mối liên hệ giữa “đầu vào” với “đầu ra” Thực tế thì mối liên hệ này là có thực, tuy không phải là quan hệ nhân quả Thứ hai là cách đánh giá “đầu ra” của các trường cũng rất khác nhau [2, tr254]
Trang 101.1.3.3 Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”
Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên nếu tạo ra
sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và cá nhân của sinh viên “ Giá trị gia tăng” xác định bằng cách lấy giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”
Nhưng nếu đánh giá chất lượng theo quan điểm này thì nảy sinh vấn đề là phải có thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào”, “đầu ra” cho các trường vì hệ thống giáo dục của các trường rất đa dạng Hơn nữa nếu thiết lập được thước đochung thì “giá trị gia tăng” cũng không cung cấp thông tin để cải tiến quá trình đào tạo trong các nhà trường [2, tr254]
1.1.3.4 Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “giá trị học thuật”
Quan điểm này đánh giá chất lượng đào tạo chủ yếu dựa vào năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng viên tức là nếu một trường có nhiều giáo sư, tiến sĩ,
có uy tín khoa học thì được coi là có chất lượng cao.Nhưng liệu chúng ta sẽ đánh giá năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng viên như thế nào khi xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng [2, tr255]
1.1.3.5 Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “văn hóa tổ chức riêng”
Quan điểm này cho rằng chất lượng của một trường được đánh giá thông qua
“văn hóa tổ chức riêng” là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này khó áp dụng trong giáo dục vì nó có nguồn gốc từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại
1.1.3.6 Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “kiểm toán”
Đây là quan điểm coi trọng nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định theo họ, một cá nhân có đủ thông tin cần thiết để đưa ra các quyết định về chất lượng chính xác thì sẽ có chất lượng
Nhưng thực tế, không phải nhà trường nào có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin cũng đưa ra quyết định tối ưu [2, 255]
Trang 111.1.3.7 Một số quan niệm khác về chất lượng đào tạo
- Theo tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE-
International Network of Quality Assurance in Higher Education) thì: chất lượng là
sự trùng khớp với mục đích [2, tr256]
Theo quan điểm này chất lượng đào tạo được đánh giá thông qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã được đề ra cho một chương trình đào tạo đã thiết kế Khái niệm này được nhiều nhà phân tích và hoạch định chính sách giáo dục chấp nhận
- Theo Trần Khánh Đức (thuộc viện nghiên cứu phát triển giáo dục): chất
lượng đào tạo là kết quả của cả quá trình đào tạo, phản ánh ở các đặc trưng về nhân cách, phẩm chất, năng lực hành nghề mà người tốt nghiệp đạt được phù hợp với mục tiêu, chương trình đào tạo của từng ngành nghề cụ thể [8, tr259]
- Theo quyết định 65/2007/QĐ - BGDĐT ngày 01/11/2007: chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước
Như vậy xung quanh vấn đề chất lượng đào tạo có rất nhiều quan điểm khác nhau chất lượng đào tạo là một khái niệm mang tính tương đối Mỗi đối tượng khác nhau sẽ có những quan tâm khác nhau về chất lượng đào tạo phù hợp với lợi ích của
họ Với vị trí là sinh viên, giảng viên có thể quan tâm đến quá trình đào tạo như thế nào, còn các doanh nghiệp có thể quan tâm đến đầu ra của quá trình đào tạo Vấn đề khi đánh giá chất lượng đào tạo chúng ta cần đưa ra các tiêu chí làm thước đo để đánh giá Các tiêu chí này phải kết hợp hài hòa lợi ích của các đối tượng, sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường, đồng thời cũng phải thỏa mãn được nhu cầu của thị trường lao động và xã hội
1.1.4 Quản lý chất lƣợng đào tạo
1.1.4.1 Quản lý chất lượng và các công cụ quản lý chất lượng cơ bản
Theo ISO 9000:2000: quản lý chất lượng là các hoạt động nhằm điêu chỉnh
và kiểm soát một cơ quan, tổ chức về vấn đề chất lượng
Trang 12Như vậy, quản lý chất lượng có phạm vi rất rộng, nó không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ chức khác như nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu, các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị
Để quản lý chất lượng, các tổ chức thường dùng các công cụ cơ bản[1, tr 55-59]:
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspecstion) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật Để làm được điều này, phải kiểm soát các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm (như dây truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…), công cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản xuất)
- Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục tiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập
kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng
- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất có thể Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản
lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đó đặt ra
1.1.4.2 Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
Trang 13Bản chất của mô hình này là một hệ thống các văn bản quy định tiêu chuẩn
và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quy cách, các thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo ra một đầu ra “phù hợp với mục đích”
Mô hình BS 5750/ISO 9000 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt với những người sử
dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực tài lực và thời gian
Do mô hình này có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất hàng hóa nên ngôn ngữ trong
bộ tiêu chuẩn này vẫn xa lạ với giáo dục chẳng hạn mô hình gọi người học là sản phẩm, hơn nữa trong giáo dục khó tạo ra được các sản phẩm có chất lượng như nhau [2, tr269]
b Mô hình chất lƣợng quản lý chất lƣợng tổng thể (Total Quality Management - TQM)
TQM là mô hình quản lý chất lượng tập trung vào năm lĩnh vực:
- Sứ mạng và chú trọng đến khách hàng
- Tiếp cận các hoạt động có hệ thống
- Phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực
- Các tư tưởng dài hạn
- Sự phục vụ hết mực
Theo Sherr và Lozier (1991), có năm thành phần ảnh hưởng đến việc cải tiến chất lượng trong giáo dục: Sự trung thực; chia sẻ quan điểm; kiên nhẫn; hết lòng làm việc; và lý thuyết TQM Trong năm thành tố trên thì lý thuyết TQM có thể dạy và học được
Mặc dù mô hình TQM cũng xuất xứ từ thương mại và công nghiệp nhưng tỏ
ra phù hợp hơn với giáo dục Mô hình này không áp dụng một hệ thống cứng nhắc cho bất kỳ một cơ sở đào tạo nào, nó tạo ra một nền văn hóa chất lượng bao trùm toàn bộ quá trình đào tạo Triết lý của TQM là tất cả mọi người dù ở cương vị nào, vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao và hoàn thành một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng [2, tr269]
Thực chất của TQM là:
Trang 14- Cải tiến liên tục: triết lý quan trọng nhất của tqm là cải tiến không ngừng và
có thể đạt được do quần chúng, thông qua quần chúng sự cải tiến liên tục này thể hiện trong kế hoạch của các trường bằng các chu kỳ cải tiến, nâng cao dần theo vòng xoáy trôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợi ích lâu dài, từ trình độ xuất phát ở một thời điểm nhất định vươn không ngừng tới một trình độ cao hơn
Trong công tác đảm bảo chất lượng trong các ngành dịch vụ như giáo dục, chúng ta không thể cố định được một sản phẩm “không mắc lỗi” mà không làm giảm đi nhiều khả năng có thể đạt được mức độ hoàn hảo Vì vậy quá trình đảm bảo chất lượng phải cải tiến liên tục Khái niệm một sinh viên tốt nghiệp đạt chất lượng
“không mắc lỗi” được xét theo phương diện hạn chế đó là những bằng cấp tối thiểu [2, tr270]
- Cải tiến từng bước: Quản lý chất lượng tổng thể được thực hiện bằng một
loạt các dự án quy mô nhỏ có mức độ tăng dần Về tổng thể quản lý chất lượng có quy mô rộng, bao quát hết hoạt động của cơ sở đào tạo, song việc thực hiện nhiệm
vụ đó thực tế lại có quy mô hẹp, khả thi, thiết thực và có mức độ tăng dần Sự can thiệp mạnh không phải là phương sách tốt để tạo ra sự chuyển biến lớn trong quản
lý chất lượng tổng thể Các dự án đồ sộ nhiều khi không phải là con đường tốt nhất
vì thiếu kinh phí và nếu thất bạo sẽ dẫn tới sự thờ ơ, bất bình Các dự án nhỏ sẽ dễ thành công, tạo ra sự tự tin và làm cơ sở cho các dự án lớn sau này [2, tr270]
- Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng: chìa khóa để tạo ra thành
công trong quản lý chất lượng tổng thể là tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường vai trò của các cán bộ quản lý là hộ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo chức, sinh viên, chứ không phải là chỉ lãnh đạo, kiểm tra họ Trong quản lý chất lượng tổng thể mô hình cấp bậc trong hệ thống tổ chức quản lý nhà trường phải là mô hình đảo ngược (hình 1.1)
Trang 15Hình 1.1: Mô hình TQM đảo ngƣợc
Sự đảo ngược về thứ tự trong hệ thống tổ chức quản lý của nhà trường theo
mô hình quản lý chất lượng tổng thể không làm phương hại đến cơ cấu quyền lực của nhà trường, cũng không làm giảm sút vai trò lãnh đạo của các cán bộ lãnh đạo trường, khoa trong thực tế sự lãnh đạo của cán bộ quản lý vẫn giữ vai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể đảo ngược thứ bậc chỉ nhấn mạnh mối tương quan trong quá trình đào tạo hướng tới sinh viên như nhân vật trung tâm [2, tr271]
c Mô hình các yếu tố tổ chức
Mô hình này đưa ra 5 yếu tố để đánh giá như sau:
1 - Đầu vào: Sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào
tạo, quy chế, luật định, tài chính,…
2 - Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo,…
3 - Kết quả đào tạo: Mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả
năng thích ứng của sinh viên
4 - Đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ đáp ứng
nhu cầu kinh tế xã hội
Cán bộ giảng dạy và phục vụ
Cán bộ lãnh đạo trường, khoa
Sinh viên Cán bộ phục vụ
Cán bộ lãnh đạo cấp trường Cán bộ quản lý cấp khoa Cán bộ giảng dạy
Quản lý chất lượng tổng thể trong GDĐH
Trang 165 - Hiệu quả: Kết quả của giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với xã hội
Dựa vào 5 yếu tố đánh giá trên các học giả đã đưa ra 5 khái niệm về chất lượng giáo dục như sau:
1 Chất lượng đầu vào : trình độ đầu vào thỏa mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra
2 Chất lượng quá trình đào tạo: mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy
và học và các quá trình đào tạo khác
3 Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (sinh viên tốt nghiệp, kết
quả nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác so với bộ tiêu chí hoặc mục tiêu đã định sẵn
4 Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt các yêu cầu công tác của sinh viên tốt
nghiệp qua đánh giá của chính bản thân sinh viên, của cha mẹ, của cơ quan công tác
và của xã hội
5 Chất lượng giá trị gia tăng: mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp (kiến
thức, kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội và đặc biệt là hệ thống giáo dục [2, tr272]
Trong ba mô hình quản lý chất lượng giáo dục nêu trên, nếu xem chất lượng giáo dục là sự trùng khớp với mục tiêu thì sử dụng mô hình TQM là phù hợp hơn cả
mô hình cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược của giáo dục trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các chính sách lớn của chính phủ đối với giáo dục Và tùy thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng giáo dục có thể chủ động tác động đến những khâu, lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng từ đó nâng cao dần chất lượng giáo dục theo kế hoạch đã đề
ra [2, tr 272]
1.1.5 Đánh giá chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là một khái niệm động, đa chiều Vì vậy ta không thể dùng một phép đo đơn giản để đo lường và đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo Để đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo người ta thường dùng một bộ thước đo bao gồm các tiêu chí và các chỉ số tương ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường Các chỉ số này có thể là
Trang 17định tính nghĩa là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá hoặc chỉ số cũng có thể là định lượng, tức là đánh giá và đo lường bằng điểm số [2, tr 268]
Vậy tại sao chúng ta phải đánh giá chất lượng đào tạo, mục đích, nội dung và phương pháp đánh giá là gì?
1.1.5.1 Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng đào tạo
Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục của việt nam phát triển mạnh
mẽ Một mạng lưới giáo dục bao gồm các học viện, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đa dạng về loại hình, phương thức đào tạo đã được hình thành khắp cả nước Quy mô đào tạo nước ta đang tăng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Cùng với sự tăng nhanh của quy mô đào tạo thì một vấn đề ngày càng được quan tâm đó là chất lượng đào tạo Mặc dù chất lượng đào tạo ở nước ta trong vài năm gần đây đã có chuyển biến tốt, nhưng vẫn còn hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, và chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến của khu vực cũng như thế giới gần đây các hoạt động đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo đã được chú ý nhưng còn thiếu đồng bộ và chưa thành hệ thống Vì vậy, đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo cần phải được các cấp, các ngành và xã hội quan tâm.[2, tr279]
1.1.5.2 Mục đích đánh giá
Đánh giá chất lượng đào tạo trước tiên là để làm rõ quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và các dịch vụ xã hội theo các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường
Mặt khác, đánh giá chất lượng đào tạo còn nhằm mục đích xác định và so sánh theo các tiêu chuẩn kiểm định của nhà nước đã công bố xem đạt đến mức độ nào từ đó, nhà trường xác định các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức để
đề ra các chiến lược, kế hoạch và các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường đồng thời, nhà trường có thể đưa ra các kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp hộ trợ cho nhà trường trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của mình
Trang 181.1.5.3 Nội dung đánh giá
Trên cơ sở các tiêu chuẩn kiểm định và các quy định cụ thể về các chuẩn mực do nhà nước hoặc hiệp hội ban hành công tác đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường gồm một số nội dung sau đây [1, tr275]:
- Thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin, tư liệu, số liệu thống kê theo yêu cầu của các tiêu chí và tiêu chuẩn kiểm định đề ra
- Tổ chức thẩm tra, khảo sát ý kiến của cán bộ, giáo viên, giảng viên, sinh viên của nhà trường điều tra tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp và
ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ sở sử dụng nhân lực do nhà trường đào tạo, bồi dưỡng
- Tổng hợp các thông tin thu thập được theo các tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo
1.1.5.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Chất lượng giáo dục là một khái niệm động, nhiều chiều, khó định nghĩa một cách chính xác Vì vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo ta cần xem xét các yếu
tố tác động đến chất lượng đào tạo Vậy những yếu tố nào có thể tác động tới chất lượng đào tạo? Có nhiều nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo, tuy nhiên trong luận văn này, tác giả chỉ xem xét một số nhân tố cơ bản sau đây:
Mục tiêu và chương trình đào tạo
Mục tiêu đào tạo là đích mà nhà trường mong muốn đạt được sau một quá trình đào tạo Như chúng ta đã biết, chất lượng đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu đào tạo đề ra Vậy mục tiêu đào tạo là một căn cứ để đánh giá chất lượng của quá trình đào tạo Mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo được thể hiện trong hình 1.2 dưới đây [11, tr307]
Điều 33 luật giáo dục năm 2005 có ghi:” Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, có lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm”
Trang 19Hình 1.2: Quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
Mục tiêu đào tạo cần phải được cụ thể hóa cho từng ngành nghề trên cơ sở bám sát các yêu cầu của thị trường lao động, của xã hội về kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp người tốt nghiệp sau khi ra trường có thể làm việc với hiệu quả cao nhất
Bên cạnh mục tiêu đào tạo thì chương trình đào tạo cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo Chương trình đào tạo là điều kiện cơ bản, điều kiện tiên quyết bảo đảm chất lượng GD – ĐT của một trường đại học Một chương trình tốt, phù hợp sẽ tạo ra được sản phẩm tốt Ngược lại, một chương trình đào tạo lạc hậu, chậm đổi mới sẽ tạo ra sản phẩm lao động không phù hợp
Chương trình đào tạo là bản cụ thể hóa của mục tiêu đào tạo, nó quy định các chuẩn kiến thức, kỹ năng, phương pháp và hình thức đào tạo, cũng như cách thức đánh giá kết quả của mỗi môn học Muốn có chất lượng đào tạo tốt thì chương trình đào tạo phải cụ thể, cấu trúc hợp lý, giúp người học thu nhận được các kiến thức, kỹ năng đồng thời cũng phải đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong từng thời
kỳ Muốn vậy, chương trình đào tạo cần phải được chỉnh sửa, bổ sung trên cơ sở các tiêu chuẩn của bộ giáo dục và đào tạo, ý kiến của người học, người sử dụng lao động và các tổ chức khác
- năng lực phát triển nghề nghiệp
Trang 20Cơ sở vật chất, phương tiện trang thiết bị dạy học
Để thực hiện được quá trình đào tạo, mỗi cơ sở đào tạo cần được trang bị những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập Nói đến cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học là muốn nói tới hệ thống phòng học, thực hành, thư viện, giáo trình, giáo án, đèn chiếu, máy chiếu…
Cơ sở vật chất, phương tiện trang thiết bị dạy học là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Nó có vai trò hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học Thật vậy, chúng ta không thể đảm bảo chất lượng giáo dục nếu hệ thống các phòng học, phòng thực hành, thí nghiệm không đầy đủ không đáp ứng được các yêu cầu của việc dạy và học Ngạn ngữ Việt Nam
có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, hay ngạn ngữ nước ngoài có câu:”Nghe thì quên, nhìn mới nhớ, làm thì hiểu” Đúng vậy, các phương tiện và thiết bị dạy học giúp tối đa hóa thời gian mà việc học tập thực sự diễn ra, tối thiểu hóa các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho mối tương tác giữa thầy và trò [2, tr239] Nhờ các phương tiện và thiết bị dạy học , người học hứng thú với việc học, dễ nhớ, dễ hiểu hơn từ đó hình thành những
kỹ năng nhất định
Đội ngũ giáo viên
Bên cạnh mục tiêu, chương trình đào tạo và cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học thì một yếu tố khác quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đó là đội ngũ giáo viên Nếu có chương trình, sách giáo khoa tốt, thiết bị đầy đủ, thời lượng học hợp lý, nhưng giáo viên yếu năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức kém thì không thể dạy tốt và sẽ không có chất lượng tốt
Trong thời đại mới, nhà giáo không còn là người truyền thụ kiến thức, mà là người hỗ trợ, hướng dẫn cho người học tìm chọn và xử lý thông tin Vậy thì vai trò của nhà giáo trong thời đại mới sẽ như thế nào? Câu ngạn ngữ: “không thầy đố mày làm nên” còn đúng không? Trong thời đại hiện nay, vai trò của nhà giáo thay đổi nhưng vị trí của nhà giáo hoặc là không đổi hoặc là được nâng cao hơn so với trước nếu nhà giáo
Trang 21thỏa mãn được những đòi hỏi của thời đại mới Thật vậy, hội nghị Pari về giáo dục học đại học cho rằng phương thức giáo dục mặt đối mặt vẫn chiếm vị trí hàng đầu, tác dụng của sự tương tác giữa thầy và trò vẫn luôn được nhấn mạnh Trong mối tương tác đó, nếu nhà giáo có bề dày kinh nghiệm, trình độ sẽ đóng góp lớn cho quá trình học [2, tr85]
Ngoài trình độ chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy thì phương pháp giảng dạy của người thầy cũng rất quan trọng Người thầy có kiến thức chuyên môn sâu rộng, kinh nghiệp lâu năm nhưng phương pháp giảng dạy không phù hợp thì học trò cũng khó lĩnh hội được những kiến thức đó, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Như vậy, trong thời đại ngày nay nhà giáo cần phải thường xuyên trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, đạo đức đồng thời phải thường xuyên thay đổi phương pháp dạy học
Đội ngũ học sinh, sinh viên
Học sinh, sinh viên- người học là trung tâm của quá trình đào tạo, vì vậy người học cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo để hoạt động học thật
sự được diễn ra và nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo thì sự vận động của người học là yếu tố quan trọng Muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì người học cần phải chủ động trong quá trình học để có thể thu nhận các kiến thức, hình thành các kỹ năng, nhân cách phục vụ cho nghề nghiệp của mình
Bên cạnh đó, khi nói về đội ngũ học sinh, sinh viên với tư cách là một nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ta cũng phải quan tâm đến chất lượng đầu vào của học sinh, sinh viên Bởi người học chỉ có thể tiếp thu tốt các kiến thức chuyên môn thì các em phải nắm được các kiến thức cơ bản khi còn học phổ thông Mà muốn có được chất lượng đầu vào thì chúng ta cần nâng cao chất lượng công tác tuyển sinh, tuyển sinh đầu vào cần phải có sàn chung tối thiểu, tránh vì chạy theo số lượng mà quên đi chất lượng
Ngoài ra do hoạt động học tập của học sinh, sinh viên chịu sự tác động của môi trường học tập nên môi trường học tập cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Nói đến môi trường học tập trước tiên phải nói tới điều kiện học tập sinh hoạt: dịch vụ nhà ở, điện nước sinh hoạt, trật tự trị an trong nhà trường, phòng học, trang thiết bị Sinh viên không thể yên tâm học tập nếu như những điều kiện trên không
Trang 22được đảm bảo ngoài các điều kiện trên, thì cảnh quan trong nhà trường, khu vui chới, thể thao sinh hoạt văn nghệ, quan hệ giao tiếp bạn bè…cũng có ảnh hưởng tới tâm lý, tình cảm, sức khỏe để các em có thể học tập tốt
Quy mô đào tạo
Quy mô đào tạo của chúng ta trong những năm gần đây tăng rõ rệt do nhiều nguyên nhân: Do nhu cầu của thị trường lao động, do nhu cầu của người học, do chính sách của các trường quy mô đào tạo tăng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Bởi một khi số lương học sinh, sinh viên đầu vào tăng thì sẽ làm cho quy mô lớp học lớn Mỗi giáo viên khi lên lớp chỉ có thể bao quát được một số lượng học sinh, sinh viên nhất định Nếu quy mô lớp học quá lớn sẽ thì giáo viên không thể quan tâm đến tất cả các thành viên trong lớp, đồng thời việc đánh giá kết quả học tập cũng sẽ gặp khó khăn mặt khác nếu quy mô đào tạo lớn trong khi đó đội ngũ giáo viên ít sẽ dẫn đến tình trạng một giáo viên sẽ phải dạy quá nhiều giờ, nhiều lớp, nhiều ca Khi đó giáo viên không có thời gian để trau dồi kiến thức chuyên môn, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học thì không thể nâng cao chất lượng giảng dạy được Quy
mô đào tạo chuẩn được đưa ra là tỷ lệ sinh viên/giảng viên không quá 20; Đối với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ không quá 15; Các ngành kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn không quá 25 [4, tr 38]
Công tác tổ chức quản lý của nhà trường
Công tác tổ chức quản lý có nhiệm vụ hình thành nên các bộ phận, phân công công việc và phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong tổ chức nói chung trong đó có nhà trường Chính điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Theo
mô hình quản lý chất lượng TQM, muốn có chất lượng thì cần phải có sự hợp tác,
nỗ lực của tất cả các thành viên trong tổ chức Vì vậy việc phân công đúng nhiệm
vụ, công việc cho các thành viên có ảnh hưởng tới hiệu quả và chất lượng công việc Đó còn là cơ sở để người quản lý đánh giá chính xác khối lượng, chất lượng công việc làm căn cứ để phân phối thu nhập, thưởng phạt chính xác
Trang 23Muốn có được chất lượng đào tạo thì tổ chức nói chung cũng như nhà trường cần tổ chức bộ máy sao cho đơn giản hóa các thủ tục giúp giải quyết công việc một cách nhanh nhất
Ngoài ra trong nhà trường thì công tác quản lý còn có nhiệm vụ tổ chức các kế hoạch đào tạo cho từng năm học, từng học kỳ, từng tháng, từng tuần nhằm giúp học sinh có đủ khối lượng kiến thức khi tốt nghiệp; Tổ chức các buổi giao lưu sinh hoạt cho học sinh sinh vên; xây dựng, triển khai và kiểm tra việc thực hiện các nội quy, quy chế, giải quyết các khúc mắc cho học sinh sinh viên nhằm tạo nên những kỹ năng giao tiếp, ứng xử và có kỷ luật, nề nếp, tác phong, phẩm chất phục vụ cho quá trình làm việc sau này những công việc này đều có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường
Quan hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp
Nếu chỉ được đào tạo ở trong nhà trường thì người học mới chỉ lĩnh hội được các kiến thức về lý luận mặc dù hiện nay, các trường đã có các phòng thực hành, nhưng điều đó vẫn còn nhiều hạn chế Sản phẩm của quá trình đào tạo là người học đào tạo chỉ có chất lượng khi người học có được các kiến thức, kỹ năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội Vì vậy nhà trường cần phải tạo được mối quan hệ với các doanh nghiệp Đó là cơ sở để sinh viên tốt nghiệp thực hành những kiến thức lĩnh hội được từ nhà trường doanh nghiệp không chỉ là nơi để sinh viên thăm quan, thực tập mà nó còn có vai trò quan trọng trong việc thiết kế, điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp Qua việc sinh viên thăm quan thực tập tại doanh nghiệp, nhà trường có thể lấy ý kiến của các doanh nghiệp về chương trình, nội dung đào tạo làm cho chương trình đào tạo phù hợp hơn với thực tiễn sử dụng lao động góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Trên đây là các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Mỗi nhân tố có tác động đến chất lượng đào tạo theo các mức độ khác nhau Để nâng cao chất lượng đào tạo chúng ta cần có biện pháp tác động vào các yếu tố này, để
hoàn thiện chúng theo các tiêu chuẩn phù hợp
Trang 241.1.6 Cơ sở thực tiễn
1.1.6.1 Thực trạng giáo dục đại học, cao đẳng tại việt nam
Giáo dục đại học, cao đằng đó được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây, ngân hàng thế giới đó đầu tư cho giáo dục việt nam qua nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu USD nhưng tình hình giáo dục việt nam hiện nay cũng nhiều bất cập, 3 trong số những bất cập đó liên quan đến: mục tiêu, chương trình và phương pháp
* Mục tiêu: [15]
Cho tới thời điểm hiện nay, các trường Đại Học Việt Nam vẫn chưa xác định được mục tiêu cụ thể để đào tạo sinh viên GS.TSKH Vũ Minh Giang - Phó giám đốc ĐHQG Hà Nội (2006) lập luận rằng các trường đại học trên thế giới thường hướng đến 3 mục tiêu chính sau để đào tạo sinh viên: Trang bị kiến thức nghề nghiệp chuyên môn; Hướng dẫn sinh viên ứng dụng chuyên môn đó học vào công việc thực tế; Nâng cao trình độ nhận thức văn hóa cho sinh viên trong khi đó các trường Đại học ở Việt Nam lại hướng đến những mục tiêu to lớn, không cụ thể như: Trung thành với tổ quốc, xây dựng xã hội chủ nghĩa …nên nhiều lúc chính cả thầy
và trò cũng mơ hồ về mục tiêu dạy và học của mình
Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, nếu lấy 3 mục tiêu của các trường đại học trên thế giới áp dụng cho các trường Đại học Việt Nam thì sẽ thấy:
Mục tiêu 1: Giảng viên Việt Nam thường dạy cho sinh viên những kiến thức
cụ thể, những hiểu biết mà mình tích luỹ được trong kinh nghiệm giảng dạy mà không chú trọng đến việc dạy nghề cho sinh viên
Mục tiêu 2: Các giảng viên Việt Nam thường ít cập nhật kiến thức chuyên môn liên quan đến nhu cầu thực tế Bài giảng của thầy đôi khi không còn phù hợp với tình hình xã hội hiện tại Nếu sinh viên chỉ học ở trường, không có điều kiện va chạm với cuộc sống bên ngoài thì khả năng thích ứng với nhu cầu xã hội là thấp vỡ khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế là khá xa
Mục tiêu 3: Sinh viên đại học đương nhiên phải có trình độ nhận thức văn hoá cao, cụ thể là phải có những phẩm chất đặc biệt Các trường Đại học Việt Nam cho rằng việc giáo dục phẩm chất cho sinh viên thuộc về trách nhiệm của các bậc
Trang 25học phổ thông trước đó hoặc thuộc về chính bản thân sinh viên nên đó không chú trọng rèn luyện khía cạnh này
Từ phân tích trên cho thầy giáo dục đại học việt nam chưa có giải pháp để đào tạo theo nghĩa toàn diện vì chúng ta chưa có mục tiêu cụ thể
* Chương trình: [15]
Hiện nay, chương trình giáo dục Đại học tại Việt Nam vẫn còn kém hiệu quả Nguyên nhân do bộ khống chế quá chặt chẽ về chương trình khung và yêu cầu các trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc
Thầy Ngô Đăng Thành, giảng viên trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
đã có ý kiến: “Kiến thức chuyên ngành sinh viên được học quá ít Ví dụ, một chương trình cử nhân, bao gồm 125-130 tín chỉ tất cả các môn, trong đó có khoảng 80-90 tín chỉ là môn chung Các môn chung củ ngành cũng khoảng 20 tín chỉ Nên những kiến thức sẽ học để sau này sinh viên đi làm thực tế chỉ còn khoảng 20 tín chỉ nữa, tương đương với 4-5 môn”
GS TSKH Đỗ Trần Cát, Tổng thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước cho rằng Bộ phải xem xét và phân bổ lại chương trình học Ví dụ đối với môn chung như Triết học, kinh tế chính trị trong các trường đại học nên phân bổ số tiết ít hơn, để dành thời gian giảng dạy các môn chuyên ngành sẽ thiết thực hơn
Theo Th.S Đào Đức Tuyên, Phó trưởng khoa Ngoại ngữ (trường Đại Học Nông Lâm TPHCM) thì môn giáo dục thể chất được quy định trong trương trình khung của Bộ nên chăng đổi lại thành môn tự chọn vì như vậy sinh viên có thể lựa chọn những môn thể thao phục hợp với điều kiện sức khoẻ và thể lực của mình Môn giáo dục quốc phòng cũng vậy, nên chuyển sang thành môn tự chọn vì một tháng học ròng rã cả lý thuyết lẫn thực hành như hiện nay không cần thiết đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ
Thiết nghĩ, Bộ giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học phải tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại học chủ động biên soạn chương trình Chương trình khung của Bộ là chương trình chuẩn để các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi
Trang 26trường đại học sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng Đối với những môn chuyên ngành, trường sẽ giao cho khoa chủ động xây dựng chương trình Như vậy chương trình giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào nhu cầu thực tế của xã hội và trình độ của sinh viên, khoa sẽ điều chỉnh và cải tiến chương trình học một cách khoa học và kịp thời
* Phương pháp: [15]
Hiện nay giảng viên các trường Đại học Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống “thầy đọc, trò chép” Giảng viên lý giải rằng biết rằng phương pháp này khiến sinh viên không hứng thú nhưng họ phải truyền đạt hết nội dung giáo trình cho sinh viên theo số tiết mà bộ quy định Phương pháp dạy
và học hiện nay chủ yếu vẫn là chạy theo chương trình, đối phó với các kỳ thi, thi xong thi chẳng còn gì Sinh viên than rằng khi vào học đại học, họ có cảm giác hẫng hụt vì vẫn là hình thức “đọc, chép”, rất ít hội thảo, ít đề tài nghiên cứ, không tham khảo tạp chi chuyên ngành và khi ôn thi thầy vẫn cho vài chục câu hỏi không khác gì học sinh cấp 4
Sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trong các trượng đại học hiện nay chỉ mang tính hình thức Thiết bị giảng dạy như: như máy chiếu, video…chỉ là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy nhưng quan trọng hơn cả là việc ý thức giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm thể hiện qua việc cải tiến
về phương pháp và chương trình học thì vẫn chưa được chú trọng
Tóm lại các trường Đại học, cao đẳng ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên Những thay đổi này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà trường, giảng viên và sinh viên Biết rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải làm ngay vì nhà nước đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dục đào tạo, các trường đại học, cao đẳng phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu cho mình
Trang 271.1.6.2 Thực trạng giáo dục đại học, cao đẳng tại một số nước trên thế giới
a Trung Quốc- Lịch sử giáo dục sang trang mới [16]
Trung Quốc vừa thông qua một dự án cải tổ giáo dục hứa hẹn sẽ chi nhiều ngân sách hơn, dành cho nhiều đối tượng, thu hút nhiều sinh viên nước ngoài vào nâng cao chất lượng đào tạo
* Ưu tiên cho phát triển giao dục nông thôn
Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã gọi đây là “một chương mới trong lịch sử giáo dục Trung Quốc” Nền giáo dục nước này vốn gặp nhiều khó khăn - Từ việc thiếu ngân sách cho tới phát triển không cân đối giữa các khu vực đô thị và nông thôn Ưu tiên của chương trình phát triển giáo dục mới sẽ là dành cho vùng nông thôn - từ mẫu giáo tới các trường dạy nghề
Kế hoạch phát triển và cải cách giáo dục quốc gia trung và dài hạn 2020) dự kiến đến 2012 sẽ dành 4% GDP cho ngân sách giáo dục Trong năm
(2010-2008, ngân sách giáo dục của Trung Quốc chỉ chiếm 3,8% GDP trong khi mức bình quân của thế giới là 4,5% GDP Kế hoạch này cũng cam kết thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn bằng cách xây thêm trường học, đào tạo thêm giáo viên
và tăng thêm chỉ tiêu tuyển sinh đại học cho học sinh nông thôn, vùng kém phát triển kinh tế hay các khu vực sắc tộc thiểu số
Ngoài ra, cũng theo kế hoạch này, mọi công dân cho đến năm 2020 sẽ được phổ cập tiểu học, ít nhất 90% học sinh cấp II sẽ học tiếp cấp III, và hơn 40% học sinh tốt nghiệp trung học sẽ học tiếp đại học
Còn ở thành phố, học sinh sẽ được giảm bớt khối lượng bài tập ở nhà để có nhiều thời gian hơn cho hoạt động ngoại khoá Tính bình quân theo kế hoạch mới, mọi công dân Trung Quốc sẽ được đi học ít nhất là 11 năm
* Nhận thêm sinh viên nước ngoài và tăng học bổng du học
Riêng Bắc Kinh sẽ thực hiện chính sách thu hút, tăng lượng sinh viên nước ngoài lên 14%, đồng thời tăng thêm lượng du học sinh Trung Quốc ra nước ngoài Bắt đầu từ năm 2010 Bắc Kinh tiến hành cải cách trương trình đào tạo và thu hút thêm 10.000 sinh viên nước ngoài Đồng thời, Chính Phủ Trung Quốc sẽ phân phổ
Trang 28ngân sách để hỗ trợ sinh viên nghèo Trung Quốc thuộc những chuyên ngành thiết yếu đi du học nước ngoài
Nhiều đại học Trung Quốc đã liên kết với các đại học hàng đầu của Mỹ như Harvard, Standford, Yale… để sinh viên Bắc Kinh có nhiều cơ hội học tập tốt hơn thông qua các trương trình trao đổi học sinh
Theo thống kê của Bộ giáo dục Trung Quốc năm 2009 đã có 240.000 sinh viên từ 190 quốc gia và khu vực đến du học ở các đại học khắp Trung Quốc Số học bổng dành cho sinh viên Trung Quốc đi du học của chính phủ nước này cũng tăng thêm Hiện nay có khoảng 100.000 sinh viên Trung Quốc du học tại Mỹ, gấp 5 lần
số sinh viên Mỹ du học tại Trung Quốc
Theo tuyên bố chung nhân chuyến thăm Trung Quốc của tổng thống Mỹ Obama, chính phủ Mỹ cũng cam kết gửi 100.000 sinh viên đến Trung Quốc trong vòng 4 năm tới Các chuyên ngành ưa chuộng của sinh viên nước ngoài khi du học Trung Quốc là Hoa ngũ, Mỹ thuật, và Y khoa Tuy nhiên, các chuyên ngành khoa học, kinh tế và quản trị cũng ngày càng tăng sức hấp dẫn đối với sinh viên nước ngoài Khoảng 176 trường tiểu hóc, trung học, và đại học ở Bắc Kinh đã sẵn sàng nhận du học sinh nước nước ngoài
Những chuyển biến trong cài tổ giáo dục của Trung Quốc lại khiến Úc lo ngại Số lượng sinh viên Trung Quốc năm nay ghi danh vào các trường đại học Úc giảm chỉ còn một nửa Thị trường du học của Úc dang mất thị phần trước Mỹ và Anh vi chi phí du học tại Úc ngày càng cao hơn trước và vì các chính sách giáo dục của nước này cũng thiếu phần ổn định
b Hàn Quốc- Tăng đầu tư giáo dục nước ngoài [17]
Trong xu thế toàn cầu hoá giáo dục, Chính phủ Hàn Quốc cho biết sẽ nới lỏng quy định để các trường danh tiếng trên thế giới có thể mở chi nhánh trong nước, đồng thời tiếp cận thêm sinh viên nước ngoài đăng ký vào các trường đại học trong nước
Trang 29Nới lỏng quy định để tăng nguồn thu
Theo kế hoạch của Bộ giáo dục Hàn Quốc đề xuất giữa tháng 8 năm 2010, lệ phí bảo hiểm cho các sinh viên nước ngoài thuộc các lớp đào tạo ngôn ngữ sẽ được
hạ từ mức 70.000 won (khoảng 60USD) hiện nay xuống còn một nửa Ngoài ra sinh viên nước ngoài muốn du học Hàn Quốc sẽ nhận được các dịch vụ hỗ trợ mọi thủ tục cần thiết Cụ thể khi nộp đơn vào một trong những trường đại học của Hàn Quốc
đã được chấp nhận trước, các sinh viên sẽ được cấp thị thực nhập cảnh nhanh chóng Còn những ai đã được nhận vào các trường Đại học địa phương sẽ được phép ở lại Hàn Quốc sau khi kết thúc khoá học ngôn ngữ cho đến khi nhập học Trong khi hiện nay, nhiều sinh viên học ngôn ngữ muốn ở lại phai ghi danh tiếp một khoá học tương tự hoặc phải xuất nhập cảnh rồi quay lại với một thị thực mới
Mục tiêu của Bộ giáo dục Hàn Quốc là đến năm 2012 giáo dục phải thu hút tổng cộng khoảng 100.000 sinh viên nước ngoài Tính đến cuối năm qua, Hàn Quốc
đã có 75.850 sinh viên nước ngoài, trong số đó 70,5% là sinh viên đến từ Trung Quốc Với các trường ở nước ngoài muốn mở chi nhành tại Hàn Quốc, chỉ cần thoả mãn tối thiểu các quy định của nước này
Năm vừa qua, Ngân sách Hàn Quốc đã thâm hụt 4 tỷ USD vì các quy định cũ
đã hạn chế các trường nước ngoài mở chi nhánh và số lượng sinh viên đến du học Nếu quốc hội Hàn Quốc phê chuẩn các kế hoạch của Bộ giáo dục thì những kế hoạch này sẽ được xúc tiến kể từ đầu năm tới
Tăng tính cạnh tranh toàn cầu
Các trường Đại học Hàn Quốc cũng được khuyến khích mở chi nhánh ở nước ngoài Trường Đại học Hongik nổi tiếng thế giới về thiết kế và mỹ thuật đã xác định mở một học viện đồ hoạ ở Los Angeles, Mỹ Người phát ngôn của trường đại học này cho biết: “Tất nhiên sẽ phải học ngôn ngữ trước, nhưng chúng tôi thay đổi chương trình của khoa thiết kế 3D và các khoa có tính cạnh tranh khác để có thể mời giáo sư tầm quốc tế giảng dạy cho sinh viên Những giáo sư này hiếm khi nào đến Hàn Quốc nên không thể nào mời họ giảng dạy nếu không lập chi nhánh tại Mỹ” Bộ giáo dục Hàn Quốc cũng quyết tâm xây dựng một hệ thống đào tạo trực
Trang 30tuyến mới Đây là lĩnh vực mà Hàn Quốc rất nổi tiếng trong công đồng giáo dục quốc tế Những kế hoạch này nhằm đáp ứng số lượng sinh viên và trường nước ngoài ngày càng tăng ở Hàn Quốc Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc cho rằng: “Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc vẫn phải cải tiến Hàn Quốc cần phải nỗ lực hơn nữa
đề toàn cầu hoá nền giáo dục và nâng cao thế cạnh tranh trong thị trường giáo dục toàn cầu”
1.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Trước tiên đề tài cần phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Cao Đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp?
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao Đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công Nghiệp?
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Cơ sở lựa chọn điểm nghiên cứu
Trường Cao Đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp có 43 năm xây dựng
và phát triển và là một trong 4 trường thuộc bộ Công Thương trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Với số lượng tuyển sinh hàng năm 1500-2000 học sinh sinh viên Nâng cao chất lượng đào tạo là một yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công Nghiệp để khẳng định uy tín và thương hiệu của nhà trường
a Chọn mẫu điều tra:
- Đối với cán bộ giáo viên: Theo báo cáo tổng kết năm 2010 trường CĐ CN&KTCN có 250 cán bộ công nhân viên trong đó có 161 giáo viên và 5 khoa Để thăm dò ý kiến của giáo viên, cán bộ quản lý về khả năng ngoại ngữ, khả năng tin học, phương pháp giảng dạy, sử dụng đa phương tiện trong dạy học, mức độ nghiên cứu tài liệu tham khảo, tình hình nghiên cứu khoa học, khó khăn gặp phải khi bồi dưỡng trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, chương trình đào tạo, công tác quản
lý giảng dạy, tình hình học tập trên lớp của sinh viên, và về cơ sở vật chất của nhà trường chúng tôi tiến hành điều tra 150 cán bộ, giáo viên
Trang 31- Đối với sinh viên đang học tập tại trường: Chúng tôi tiến hành điều tra sinh viên hệ Cao đẳng khoá 04 của 04 chuyên ngành: Kế toán doanh nghiệp, công nghệ
kỹ thuật điện, công nghệ kỹ thuật xây dựng, hệ thống điện Cụ thể: để thăm dò ý kiến của sinh viên về cơ sở vật chất của nhà trường chúng tôi tiến hành điều tra 100 sinh viên; Thăm dò ý kiến của sinh viên về kết quả xếp loại tốt nghiệp, về an ninh trật tự ở khu vực Nhà trường và ký túc xá, nhận xét về đội ngũ giáo viên, công tác quản lý học tập đối với sinh viên chúng tôi tiến hành điều tra 180 sinh viên
- Đối với sinh viên đã tốt nghiệp: Chúng tôi tiến hành điều tra khoá 02 của
03 ngành: Kế toán doanh nghiệp, Công nghệ kỹ thuật điện, hệ thống điện
b Phương pháp triển khai điều tra:
- Xây dựng công cụ điều tra: Phiếu điều tra
- Phỏng vấn trực tiếp: Ghi chép lại thông tin
1.2.2.2 Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin
1.2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập tài liệu và thông tin thứ cấp
Từ các thông tin được công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, của trường Các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân về nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Đại học và Cao đẳng trong và ngoài nước, các chính sách phát triển giáo dục…
- Thu thập tài liệu và thông tin sơ cấp
Các số liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu để tài được thu thập dựa trên phương pháp điều tra chọn mẫu, thu thập số liệu của thông kê và phương pháp điều tra xã hội học Mục tiêu của điều tra nhằm thu thập thông tin sâu và những thông tin còn thiếu trong hệ thống thông tin để phục vụ cho nghiên cứu và phân tích
Việc thu thập số liệu mới chủ yếu dựa trên cơ sở điều tra cán bộ giáo viên, sinh viên đang học, sinh viên đã tốt nghiệp Sau khi xây dựng được mẫu phiếu điều tra, mẫu phiếu này sẽ được hoàn chỉnh sau khi tiến hành điều tra thử
Trang 321.2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các tài liệu khi thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hoá để tính toán các chỉ tiêu phục hợp cho phân tích đề tài Sử dụng phương pháp thống kê để hệ thống và tổng hợp tài liệu Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử lý trên Excel
1.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo trường Cao đẳng
Theo Quyết định số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 1/11/2007 Quy định nội dung các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo tại các trường Cao đẳng như sau: [3]
Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường Cao đẳng
(1) Sứ mạng của trường cao đẳng được xác định, được công bố công khai,
có nội dung rõ ràng; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, với các nguồn lực và định hướng phát triển của nhà trường; phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương và của ngành
(2) Mục tiêu của trường cao đẳng phù hợp với mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng quy định tại Luật Giáo dục và sứ mạng đã được tuyên bố của nhà trường; được định kỳ rà soát, bổ sung, điều chỉnh và được triển khai thực hiện
Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý
(1) Cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng được thực hiện theo quy định của Điều lệ trường cao đẳng và được cụ thể hoá trong quy chế về tổ chức và hoạt động của nhà trường
(2) Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng đáp ứng các tiêu chuẩn và thực hiện đầy
đủ quyền hạn và trách nhiệm theo quy định
(3) Hội đồng khoa học và đào tạo của trường có đủ thành phần và thực hiện được chức năng theo quy định của Điều lệ trường cao đẳng
(4) Các phòng chức năng, các khoa, các bộ môn trực thuộc trường, các bộ môn trực thuộc khoa được tổ chức phù hợp với yêu cầu của trường, có cơ cấu và nhiệm vụ theo quy định
(5) Các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các cơ sở thực hành, nghiên cứu khoa học của trường được thành lập và hoạt động theo quy định
Trang 33(6) Có tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, bao gồm trung tâm hoặc bộ phận chuyên trách; có đội ngũ cán bộ có năng lực để triển khai các hoạt động đánh giá nhằm duy trì, nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường
(7) Tổ chức Đảng trong trường cao đẳng phát huy được vai trò lãnh đạo và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
(8) Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong trường cao đẳng góp phần thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục và hoạt động theo quy định của pháp luật
(9) Đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý chuyên môn, nghiệp vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao
Tiêu chuẩn 3: Chương trình học
(1) Chương trình giáo dục của trường cao đẳng được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục được xây dựng với sự tham gia của các giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện của các tổ chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định
(2) Chương trình giáo dục có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của đào tạo trình độ cao đẳng và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường lao động
(3) Các học phần, môn học trong chương trình giáo dục có đủ đề cương chi tiết, tập bài giảng hoặc giáo trình, tài liệu tham khảo đáp ứng mục tiêu của học phần, môn học
(4) Chương trình giáo dục được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
và của ngành
(5) Chương trình giáo dục được thiết kế theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và chương trình giáo dục khác
Trang 34(6) Chương trình giáo dục được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chất lượng dựa trên kết quả đánh giá
Tiêu chuẩn 4: Hoạt động đào tạo
(1) Công tác tuyển sinh được đảm bảo thực hiện công bằng, khách quan theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
(2) Công khai số liệu thống kê hằng năm về người tốt nghiệp và có việc làm phù hợp với ngành nghề được đào tạo
(3) Tổ chức đào tạo theo mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục của trường đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội
(4) Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát triển năng lực tự học,
tự nghiên cứu và tinh thần hợp tác của người học
(5) Đổi mới phương pháp và quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học; đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với hình thức đào tạo, hình thức học tập và đặc thù môn học, đảm bảo mặt bằng chất lượng giữa các hình thức đào tạo
(6) Đảm bảo an toàn, chính xác trong lưu trữ kết quả học tập của người học (7) Kết quả học tập của người học được thông báo kịp thời Văn bằng tốt nghiệp và chứng chỉ học tập được cấp theo quy định và được công bố trên trang thông tin điện tử của nhà trường
(8) Có cơ sở dữ liệu về hoạt động đào tạo của nhà trường, tình hình sinh viên tốt nghiệp, tình hình việc làm và thu nhập sau khi tốt nghiệp
(9) Có kế hoạch đánh giá chất lượng đào tạo đối với người học sau khi ra trường và kế hoạch điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
Tiêu chẩn 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên
(1) Cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên thực hiện các nghĩa vụ và được đảm bảo các quyền theo quy định của Điều lệ trường cao đẳng
(2) Có chủ trương, kế hoạch và biện pháp tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên, cán bộ và nhân viên, tạo
Trang 35điều kiện cho họ tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ở trong nước và ở ngoài nước; chú trọng đào tạo và phát triển các giảng viên trẻ
(3) Có đủ số lượng giảng viên để thực hiện chương trình giáo dục và nghiên cứu khoa học; đạt được mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục nhằm giảm tỷ lệ trung bình sinh viên / giảng viên
(4) Đội ngũ giảng viên đảm bảo trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo theo quy định Giảng dạy theo chuyên môn được đào tạo; đảm bảo cơ cấu chuyên môn và trình độ theo quy định; có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học
(5) Đội ngũ giảng viên được đảm bảo cân bằng về kinh nghiệm công tác chuyên môn và trẻ hoá của đội ngũ giảng viên theo quy định
(6) Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên đủ số lượng, có năng lực chuyên môn
và được định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ có hiệu quả cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
(7) Tổ chức đánh giá các hoạt động giảng dạy của giảng viên; chú trọng việc triển khai đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học
Tiêu chuẩn 6: Người học
(1) Người học được hướng dẫn đầy đủ về chương trình giáo dục, kiểm tra đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo
(2) Người học được đảm bảo các chế độ chính sách xã hội và được chăm sóc sức khoẻ định kỳ, được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể dục thể thao, được đảm bảo an toàn trong khuôn viên nhà trường; được tư vấn việc làm và các hình thức hỗ trợ khác
(3) Người học được phổ biến, giáo dục về chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; được tạo điều kiện để tu dưỡng và rèn luyện chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và thái độ hợp tác; được tạo điều kiện để tham gia công tác Đảng, đoàn thể
Trang 36(4) Thực hiện đánh giá năng lực của người tốt nghiệp theo mục tiêu đào tạo;
có kết quả điều tra về mức độ người tốt nghiệp đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương và của ngành
Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng phát triển và chuyển giao công nghệ
(1) Xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động khoa học, công nghệ phù hợp với sứ mạng nghiên cứu và phát triển của trường cao đẳng
(2) Có chủ trương và tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên, nhân viên và người học tham gia nghiên cứu khoa học và phát huy sáng kiến
(3) Có các kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào việc nâng cao chất lượng dạy và học, quản lý của trường và các cơ sở giáo dục khác ở địa phương
(4) Có các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học đăng trên các tập san, các ấn phẩm khoa học; có các tài liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của trường
(5) Có các hoạt động kết hợp nghiên cứu khoa học với đào tạo; có các hoạt động về quan hệ quốc tế Kết quả của các hoạt động khoa học và quan hệ quốc tế đóng góp vào việc phát triển nguồn lực của trường
Tiêu chuẩn 8: Thƣ viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
(1) Thư viện có đủ tài liệu, sách, báo, tạp chí để tham khảo và học tập theo yêu cầu của chương trình giáo dục theo quy định Tổ chức phục vụ đáp ứng yêu cầu học tập của người học
(2) Có đủ các phòng học và diện tích lớp học cho việc dạy và học; có đủ các phòng thực hành, thí nghiệm và trang thiết bị theo yêu cầu của chương trình giáo dục
(3) Có đủ phòng làm việc cho các cán bộ, giảng viên và nhân viên cơ hữu theo quy định
(4) Có phòng máy tính được nối mạng đáp ứng nhu cầu học tập của người học; có biện pháp hỗ trợ người học tiếp cận với công nghệ thông tin
(5) Có ký túc xá, đảm bảo đủ diện tích nhà ở và sinh hoạt cho sinh viên nội
Trang 37trú và có các dịch vụ phục vụ người học theo quy định
(6) Có trang thiết bị và sân bãi cho các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao, đảm bảo diện tích khu thể dục thể thao theo quy định
(7) Có quy hoạch tổng thể về sử dụng và phát triển cơ sở vật chất của trường (8) Có biện pháp bảo vệ tài sản, trật tự, an toàn, an ninh cho cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên và người học
Tiêu chuẩn 9: Tài chính và quản lý tài chính
(1) Có quy chế chi tiêu nội bộ; thực hiện quản lý tài chính theo quy định về chế độ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
(2) Có các nguồn tài chính ổn định, đáp ứng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động hợp pháp khác của trường
(3) Thực hiện công khai tài chính để giảng viên, cán bộ, công nhân viên biết
và tham gia kiểm tra, giám sát
Tiêu chuẩn 10: Quan hệ giữa nhà trường và xã hội
(1) Thiết lập được các mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ sở văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao, thông tin đại chúng ở địa phương
(2) Thiết lập được các mối quan hệ giữa nhà trường với chính quyền và các
cơ quan, đoàn thể ở địa phương để thực hiện các hoạt động văn hoá - xã hội
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ CAO ĐẲNG TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
2.1 Khái quát về trường cao đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển [14]
Sau sự kiện vịnh bắc bộ năm 1965, đế quốc mỹ thực hiện cuộc ném bom bằng không quân ra miền bắc nhằm đánh vào các cơ sở kinh tế và giao thông huyết mạch ở miền bắc nước ta cản trở sự tiếp tế của hậu phương ra tiền tuyến và làm suy yếu miền Bắc XHCN Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, với tư tưởng chỉ đạo
từ trung ương: “Phải tích cực phát triển kinh tế ở miền bắc và chi viện đắc lực cho miền nam” Nhân dân miền Bắc đã đẩy mạnh phong trào hợp tác hoá nông nghiệp
và phát triển công nghiệp nặng Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, khu Gang Thép Thái Nguyên trở thành khu công nghiệp số một của đất nước và lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ Đến năm 1967, khu Gang Thép Thái Nguyên đã thực sự lớn mạnh trở thành niềm tự hào của ngành công nghiệp Việt Nam Do nhu cầu phát triển nó được chia thành 02 công ty: Công ty Gang Thép và Công ty Xây Dựng Công Nghiệp Tuy nhiên, có một đặc thù nổi bật thời kỳ đó là đa số lãnh đạo của khu liên hiệp Gang Thép Thái Nguyên là cán bộ quân đội chuyển sang làm kinh tế,
đó là thời kỳ đất nước rất thiếu cán bộ có trình độ đại học và công nhân kỹ thuật, nhu cầu tất yếu đặt ra là phải nhanh chóng có các trường lớp đào tạo cán bộ và CNKT cho ngành công nghiệp Vì vậy cuối năm 1966 trường Nghiệp Vụ Văn Hoá
ra đời nhằm dạy bổ túc văn hoá để nâng cao trình độ cho cán bộ và công nhân của công ty
Ngành công nghiệp Việt Nam càng phát triển, nhu cầu xây dựng công nghiệp bao gồm xây dựng dân dụng công nghiệp và xây dựng quốc phòng càng đòi hỏi lực lượng lao động có kỹ thuật đáp ứng, vì thế năm 1968, bộ công nghiệp chủ trương nâng cấp trường nghiệp vụ văn hoá thành một trường trung học kỹ thuật trực thuộc
bộ Ngày 30 tháng 10 năm 1968, theo quyết định số 1251/QĐ-BCN của Bộ trưởng
Trang 39Bộ Công Nghiệp Nặng trường Trung học Xây Dựng Cơ Bản đã ra đời trên cơ sở Trường Nghiệp Vụ Văn hoá của Công ty Xây Dựng Công Nghiệp thuộc liên hiệp Gang Thép Thái Nguyên
Đến năm 1997 theo quyết định số 817/QĐ-TCCB ngày 06/06/1997 trường Trung học Xây Dựng Cơ Bản được Bộ Công Nghiệp cho đổi tên thành trường Trung Học Xây Lắp Điện
Do tác động của cuộc cách mạng công nghệ làm cho các hàng hoá, những kiến thức cũ trở nên lỗi thời, nhiều phát minh và công nghệ mới ra đời Để nắm bắt
và áp dụng được nó, người lao động phải được đào tạo ở trình độ cao Mặt khác trường Trung Học Xây Lắp Điện có bề dày lịch sử phát triển 37 năm với đặc thù là trường duy nhất đào tạo ngành Xây Lắp Điện Đội ngũ này ra trường đã cống hiến nhiều cho các công trình xây lắp và quản lý vận hành lưới điện quốc gia nhưng chưa
có điều kiện được nâng cao trình độ Vì vậy, học sinh của trường cần được đào tạo liên thông lên trình độ CĐ để có nguồn nhân lực kỹ thuật bậc cao của ngành Do đó ngày 27/03/2006 theo quyết định số 1533/QĐ- BGD&ĐT của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo trường Trung Học Xây Lắp Điện được nâng cấp thành trường CĐ Xây Lắp Điện Vào năm 2007, theo quyết định 3699/ QĐ- BGD&ĐT, trường đã đổi tên thành trường CĐ Công Nghệ và Kinh Tế Công Nghiệp như hiện nay
Hiện nay, trường có hai cơ sở đào tạo:
+ Cơ sở 1: Xã Trung Thành- Huyện Phổ Yên - Tỉnh Thái Nguyên với diện
tích trên 5 ha,
+ Cơ sở 2: Phường Cải Đan - Thị xã Sông Công với diện tích trên 5 ha
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường
Bộ máy tổ chức của nhà trường thực hiện theo điều lệ trường CĐ do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành gồm có:
- Ban giám hiệu: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo, phó hiệu trưởng
phụ trách giáo dục quốc phòng và an ninh, phó hiệu hiệu trưởng phụ trách vật tư
- Các phòng chức năng:
+ Phòng đào tạo,
+ Phòng tổ chức – hành chính
Trang 40+ Phòng tài chính – kế toán
+ Phòng quản trị - đời sống
+ Phòng công tác HS – SV
+ Phòng nghiên cứu khoa học,
+ Phòng khảo thí và kiểm định chất lượng
+ Trung tâm thực nghiệm và chuyển giao công nghệ
- Các khoa chuyên môn: hiện nhà trường có 05 khoa gồm:
+ Khoa khoa học cơ bản,
- Đội ngũ giáo viên, giảng viên
- Các lớp học sinh sinh viên