Bên cạnh đó cũng đã có những đề tài nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá VTHKCC và hiệu quả VTHKCC trong các đô thị của Việt Nam.. Tuy nhiên, chưa có một công trình nà
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, không sao chép
Các số liệu và kết quả trong luận án này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Nghiên cứu sinh
Trang 2GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG VTHKCC TRONG ĐÔ THỊ 12
1.1 ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG GTVT ĐÔ THỊ 12
1.1.1 Đô thị - Đô thị hóa 12
1.1.2 Nhu cầu đi lại trong đô thị 15
1.1.3 Hệ thống giao thông vận tải đô thị 18
1.2 HỆ THỐNG VTHKCC TRONG ĐÔ THỊ 19
1.2.1 Một số khái niệm 19
1.2.2 Vai trò của VTHKCC trong đô thị 21
1.2.3 Các phương thức VTHKCC có sức chứa lớn trong đô thị 22
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG VTHKCC TRONG ĐÔ THỊ 24
1.3.1 Lý luận chung về hiệu quả 24
1.3.2 Hiệu quả VTHKCC trong đô thị 27
1.3.3 Cách tiếp cận về nâng cao hiệu quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt 46
1.4 KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VTHKCC TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ LỚN TRÊN THẾ GIỚI 49
1.4.1 Thủ đô TOKYO - Nhật Bản 49
1.4.2 Thủ đô Bắc Kinh - Trung Quốc 50
1.4.3 Thủ đô SEOUL - Hàn Quốc 51
1.4.4 Thủ đô PARIS - Pháp 52
1.4.5 Thủ đô BOGOTA - Colombia 52
1.4.6 Bài học kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả hoạt động VTHKCC từ các đô thị lớn trên thế giới 53
Trang 4CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
HỆ THỐNG VTHKCC TẠI THỦ ĐÔ HÀ NỘI 56
2.1. HIỆN TRẠNG VTHKCC TRONG CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM 56
2.1.1 Hiện trạng VTHKCC tại các đô thị đặc biệt 56
2.1.2 Hiện trạng VTHKCC tại các đô thị loại 1 59
2.1.3 Hiện trạng VTHKCC ở các đô thị khác 60
2.1.4 Đánh giá chung về hiện trạng VTHKCC tại các đô thị Việt Nam 61
2.2 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG VTHKCC TẠI THỦ ĐÔ HÀ NỘI 62
2.2.1 Hiện trạng mạng lưới tuyến xe buýt tại Hà Nội 63
2.2.2 Hiện trạng phương tiện hoạt động trên các tuyến 65
2.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động xe buýt .66
2.2.4 Hiện trạng tổ chức quản lí điều hành VTHKCC tại Hà Nội .67
2.2.5 Hiện trạng hệ thống vé 70
2.2.6 Kết quả hoạt động VTHKCC 71
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG VTHKCC TẠI HÀ NỘI 72
2.3.1 Quan điểm đánh giá 72
2.3.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống VTHKCC bằng xe buýt tại Hà Nội.74 2.3.3 Những tồn tại của hệ thống tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt 93
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG VTHKCC TRONG ĐÔ THỊ 97
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG GTVT VÀ HỆ THỐNG VTHKCC TRONG CÁC ĐÔ THỊ LỚN VIỆT NAM 97
3.1.1 Định hướng phát triển giao thông vận tải đô thị 97
3.1.2 Định hướng phát triển VTHKCC trong đô thị 99
3.1.3 Định hướng phát triển VTHKCC Hà Nội 100
3.2 CƠ SỞ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG VTHKCC 103
3.2.1 Đặc tính nhu cầu và phương tiện đi lại 103
3.2.2 Những vấn đề cần triển khai khi tổ chức hệ thống VTHKCC 104
3.2.3 Luận cứ nâng cao hiệu quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt 105
Trang 53.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THÓNG
VTHKCC BẰNG XE BUÝT 107
3.3.1. Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng 107
3.3.2. Nhóm giải pháp tổ chức quản lý vận hành 119
3.3.3. Nhóm giải pháp về phương tiện 132
3.3.4 Nhóm giải pháp hạn chế phương tiện cá nhân 140
3.4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP 143
3.4.1. Hiệu quả kinh tế 143
3.4.2. Hiệu quả xã hội 144
3.4.3 Hiệu quả về môi trường 145
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146
Trang 6
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại đô thị tại Việt Nam 13
Bảng 1.2: Qui mô đô thị và phương tiện đi lại chính 24
Bảng 1.3: Các quan niệm về hiệu quả VTHKCC 28
Bảng 1.4: Một số chỉ tiêu phản ánh mức độ tin cậy 40
Bảng 1.5: Một số chỉ tiêu phản ánh mức độ thuận tiện 41
Bảng 2.1 : Kết quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt TP HCM (2002-2011) 58
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt tại các Thành phố trực thuộc Trung ương 61
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu mạng lưới tuyến xe buýt tại Hà Nội năm 2012 63
Bảng 2.4. Một số đoạn tuyến có hệ số trùng lặp tuyến lớn tại Hà Nội 64
Bảng 2.5: Cơ cấu phương tiện buýt Hà Nội theo sức chứa qua các năm 65
Bảng 2.6. Phân tích mức độ sử dụng sức chứa phương tiện vào giờ cao điểm 66
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu khai thác phương tiện bình quân trên toàn mạng lưới 67
Bảng 2.8: Các loại vé sử dụng trong VTHKCC bằng xe buýt tại Hà Nội 70
Bảng 2.9: Kết quả hoạt động của xe buýt tại Hà Nội trên các tuyến trợ giá 73
Bảng 2.10: Mức độ đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Hà Nội 75
Bảng 2.11. Mối quan hệ giữa Doanh thu, Chi phí, Trợ giá 77
Bảng 2.12: Diện tích chiếm dụng động của các loại phương tiện 79
Bảng 2.13: Lượng xe máy lưu thông trên đường giảm do sử dụng xe buýt 80
Bảng 2.14: Xác định mức tiêu hao nhiên liệu cho 1 chuyến đi 81
Bảng 2.15. Lợi ích do tiết kiệm nhiên liệu 81
Bảng 2.16: Lượng khí xả cho một chuyến đi ứng với từng phương tiện 82
Bảng 2.17: Lượng khí xả - Chi phí xử lý khí xả giảm bớt khi có hệ thống buýt 82
Bảng 2.18: Hiệu quả hoạt động buýt Hà Nội mang lại cho xã hội 83
Bảng 2.19: Chi phí cho chuyến đi sử dụng xe máy 85
Bảng 2.20: Tổng hợp chi phí chuyến đi sử dụng ô tô con 86
Bảng 2.21: So sánh về thời gian và chi phí đi lại giữa PTCN và PTCC 87
Bảng 2.22: Mối quan hệ giữa thời gian đi bộ và thời gian chờ đợi 89
Bảng 2.23: Hệ số tương quan của các nhân tố 91
Bảng 2.24: Bảng ý nghĩa câu trả lời của thang đo Likert - 5 bậc 92
Bảng 2.25: Tiêu chí đánh giá mức CLDV dựa vào thang đo Likert 92
Trang 7Bảng 3.1: Định hướng phát triển cho các phương thức vận tải trong đô thị 98
Bảng 3.2: Định hướng phát triển của vận tải xe buýt tại Hà Nội 102
Bảng 3.3: Khoảng cách từ nút giao thông đến vị trí điểm dừng theo tốc độ dòng 113
Bảng 3.4 : Các thông số vận hành cho trước trên tuyến 32 124
Bảng 3.5: Nghiệm các thông số vận hành tối ưu trên tuyến 32 125
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu vận hành cơ bản trên tuyến 32 126
Bảng 3.7: Mức phát thải của xe buýt động cơ diesel theo các tiêu chuẩn EURO 134
Bảng 3.8: Mức phát thải khí CO2 theo loại nhiên liệu 134
Bảng 3.9 : Tổng hợp chi phí khai thác trên các tuyến cho các loại xe 137
Bảng 3.10 : Lượng khí thải do tất các các xe buýt thải ra trong 1 năm trên tuyến 138
Bảng 3.11 : Chi phí xử lý khí thải do các xe buýt thải ra trên tuyến 138
Trang 8
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Nhu cầu đi lại theo phương thức thực hiện 16
Hình 1.2: Hệ thống GTVT đô thị 18
Hình 1.3: Các yếu tố của hệ thống VTHKCC 20
Hình 1.4: Sơ đồ phân loại hiệu quả 26
Hình 1.5: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá lợi ích và chi phí cho đầu tư GTĐT 31
Hình 1.6: Sơ đồ tổng quát đánh giá hiệu quả VTHKCC Đô Thị 32
Hình 1.7: Mô phỏng hoạt động VTHKCC ở góc độ Nhà nước 33
Hình 1.8 : Mô phỏng hoạt động VTHKCC ở góc độ doanh nghiệp 36
Hình 1.9: Mô phỏng hoạt động VTHKCC ở góc độ hành khách 38
Hình 2.1. Phân loại tuyến xe buýt 64
Hình 2.2: Mô hình quản lý VTHKCC bằng xe buýt tại Hà Nội 68
Hình 2.3: Năng suất ngày xe vận doanh bình quân qua các năm 72
Hình 2.4 : Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại của VTHKCC Hà Nội 75
Hình 2.5: Biểu đồ chi phí - Doanh thu - Trợ giá qua các năm 76
Hình 2.6: Doanh thu, chi phí và trợ giá bình quân cho 1 HK qua các năm 77
Hình 2.7: Năng suất chuyến xe - hệ số lợi dụng sức chứa bình quân 78
Hình 2.8: Đặc điểm đối tượng sử dụng xe buýt 88
Hình 2.9: Cơ cấu thời gian chuyến đi của hành khách 88
Hình 2.10: Mối quan hệ giữa thời gian O - D và thời gian đi bộ 89
Hình 2.11: Mối quan hệ giữa thời gian O - D và thời gian chờ đợi 89
Hình 2.12: Cơ cấu các loại thời gian chuyến đi của hành khách 90
Hình 3.1: Mô hình các yếu tố nâng cao hiệu quả vận hành của VTHKCC 106
Hình 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt 107
Hình 3.3: Điều chỉnh lộ trình tuyến buýt với ĐSĐT/BRT 111
Hình 3.4 : Quy trình xác định vị trí các điểm dừng xe buýt 112
Hình 3.5 : Vị trí điểm dừng tại giao cắt 113
Hình 3.6: Xác định vị trí điểm dừng dọc tuyến 114
Hình 3.7: Bố trí kết cấu hạ tầng tại điểm trung chuyển cấp 1 116
Hình 3.8 : Bố trí cho người đi bộ và người khuyết tật qua đường 117
Hình 3.9 : Bố trí tại nhà chờ xe buýt 118
Hình 3.10 : Khoảng nghiệm tối ưu pareto cho tuyến 32 125
Trang 9Hình 3.11: Mô hình cơ sở dữ liệu VTHKCC Hà Nội 129
Hình 3.12: Hệ thống thông tin xe buýt đặc trưng 131
Hình 3.13 : Bảng thông tin thời gian thực tại điểm dừng xe buýt 131
Hình 3.14: Hệ thống quản lý xe buýt đặc trưng 132
Hình 3.15: Xe buýt cho người khuyết tật 139
Hình 3.16 : Bố trí thông tin bên ngoài xe buýt 140
Trang 10
PHẦN MỞ ĐẦU 1- LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đô thị hoá là một xu hướng tất yếu của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Đối với các nước đang phát triển quá trình đô thị hoá cùng với quá trình
cơ giới hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ trong đó có Việt Nam.
Sau gần 30 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm xấp xỉ 7,6%, tốc
độ đô thị hóa tại các đô thị lớn lên tới 3,4%/năm[31]. Sự tăng trưởng kinh tế cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh kéo theo sự bùng nổ về nhu cầu đi lại trong các đô thị, nhất là các đô thị đặc biệt lớn. Để đáp ứng nhu cầu đi lại các phương tiện vận tải phát triển không ngừng, đây thực sự là một thách thức với hệ thống giao thông đô thị. Sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện cá nhân là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và nhiều vấn đề khác của các đô thị đặc biệt như Hà Nội và thành phố Hồ Chí minh đang phải đối đầu[27]. Chính phủ cùng với Chính quyền các đô thị đã và đang nỗ lực tìm kiếm các công cụ để giải quyết tình trạng này, trong đó phát triển VTHKCC được xem là giải pháp hữu hiệu, trọng tâm[28][33].
Hơn một thập kỷ qua, hai đô thị đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước đi nhảy vọt và và chính sách ưu đãi để phát triển VTHKCC, tuy nhiên thực tế cho thấy mức đáp ứng nhu cầu của lực lượng này còn hạn chế (Hà Nội khoảng 10%, thành phố Hồ Chí Minh < 10% nhu cầu đi lại), trong khi đó
ở các thành phố tương tự trên thế giới tỷ lệ đáp ứng là rất cao. Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau dẫn đến tình trạng này, trong đó phải kể đến sự phát triển không đồng bộ của mạng lưới giao thông đô thị, sự yếu kém của hệ thống cơ
sở hạ tầng phục vụ cho VTHKCC, lực lượng phương tiện chưa tương xứng với nhu cầu đi lại của thị dân. Bên cạnh đó, việc tổ chức quản lý, giám sát điều hành hoạt động của phương tiện và người điều khiển phương tiện trên đường chưa tốt, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa cao, làm giảm tính hấp dẫn của dịch vụ nên chưa thu hút được đông đảo người dân sử dụng.
Số lượng người dân sử dụng dịch vụ VTHKCC thấp đồng nghĩa với hiệu quả hệ thống VTHKCC mang lại chưa cao. Trong bối cảnh đó, làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động VTHKCC nhằm thỏa mãn nhu cầu đi lại của thị dân và đáp ứng được
Trang 11Đã có nhiều chương trình, dự án nghiên cứu về phát triển VTHKCC tại Thủ đô
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh do các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện trong thời gian qua. Bên cạnh đó cũng đã có những đề tài nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá VTHKCC và hiệu quả VTHKCC trong các đô thị của Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy
đủ và chi tiết về thực tiễn hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC tại các đô thị Việt Nam, chỉ ra những điểm đã làm được và đặc biệt là những bất cập trong hoạt động của hệ thống. Từ đó, đưa ra các định hướng cũng như các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC, nhằm đáp ứng được các mục tiêu đặt ra, khuyến khích các đơn vị tham gia vào hoạt động cung cấp dịch vụ VTHKCC cũng như thu hút ngày càng nhiều người dân sử dụng.
Từ những vấn đề cấp thiết đặt ra của thực tiễn cũng như yêu cầu phải hoàn thiện
lý luận về hiệu quả hoạt động của VTHKCC, tác giả đã lựa chọn đề tài của luận án :
" Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC trong các đô thị ".
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về hệ thống VTHKCC và hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC đặc biệt là hệ thống VTHKCC bằng xe buýt.
Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động VTHKCC bằng xe buýt và hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt tại Thủ đô Hà Nội, từ đó chỉ ra được những tồn tại làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống.
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt cho Thủ đô Hà Nội trong đó luận án tập trung đi sâu vào các giải pháp nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt.
3- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu hệ thống VTHKCC trong đô thị, trọng tâm là hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt như: Khái niệm, phân loại hiệu quả ; Các yếu tố ảnh hưởng, các chỉ tiêu đánh giá, các phương pháp đánh giá hiệu quả VTHKCC, cũng như các vấn đề có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt.
Trang 12
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về lĩnh vực nghiên cứu:
Hệ thống VTHKCC gồm: VTHKCC sức chứa lớn (Tàu điện bánh sắt, tàu điện bánh hơi, tàu điện ngầm, Monorail, đường sắt đô thị, xe buýt, BRT…) và VTHKCC sức chứa nhỏ (Taxi, xe lam, xe lôi, xích lô ). Hiện nay, tại các đô thị của Việt Nam mới chỉ có loại hình VTHKCC sức chứa lớn duy nhất là xe buýt đang khai thác sử dụng, với mục tiêu chính của luận án là nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống VTHKCC, chính vì vậy luận án tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hệ thống VTHKCC bằng xe buýt và hiệu quả hoạt động của nó.
- Phạm vi về không gian:
Hiện nay tại Việt Nam có 5 đô thị trực thuộc Trung ương, trong đó có hai đô thị đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi đô thị có đặc thù riêng về quy mô, sự phát triển của xe buýt, khả năng trợ giá của Chính quyền đô thị cũng như đặc điểm đi lại của hành khách. Do hạn chế về thời gian, về nguồn tư liệu cũng như để đảm bảo tính chuyên sâu, không gian nghiên cứu luận án hướng vào đô thị đặc biệt tại Việt Nam, cụ thể là Thủ đô Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian:
Các số liệu thực tế luận án sử dụng để nghiên cứu đánh giá trong giai đoạn 2002-2012. Các chỉ tiêu định hướng của Chính phủ cũng như của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4- Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
Về mặt khoa học:
Luận án đã hệ thống hóa và làm phong phú hơn cơ sở lý luận về VTHKCC trong
đô thị và hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC trong đô thị. Phân tích làm rõ các quan điểm về hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC, các chỉ tiêu đánh giá cụ thể trên từng quan điểm và các yếu tố ảnh hưởng tới nó. Luận án cũng đã luận cứ nâng cao hiệu quả hoạt động VTHKCC bằng xe buýt, kết hợp với tình hình thực tế về hoạt động VTHKCC bằng xe buýt tại Thủ đô Hà Nội để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho hệ thống buýt phù hợp với giai đoạn đến năm 2020.
Về mặt thực tiễn:
Luận án đã đánh giá hiệu quả mà hoạt động buýt mang lại, cũng như chỉ ra được những bất cập trong hoạt động của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt tại Thủ đô
Hà Nội. Bên cạnh đó, luận án đã nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm từ các đô thị lớn trên
Trang 13thế giới để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC nói chung và hệ thống buýt nói riêng. Từ đó đề xuất các giải pháp, các khuyến nghị cho các doanh nghiệp khai thác nâng cao hiệu quả vận hành, giúp các chính quyền đô thị triển khai hoạt động của hệ thống một cách có hiệu quả, thu hút ngày càng nhiều người dân đô thị sử dụng dịch vụ .
Trang 14TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1- Phân tích đánh giá những công trình nghiên cứu trong nước
Cho đến thời điểm này, những nghiên cứu về VTHKCC, hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC ở nước ta thường có nguồn gốc từ các đề tài khoa học, các công trình dự án quy hoạch GTVTĐT và một số luận án.
Những nghiên cứu về VTHKCC trong đô thị Việt Nam được khởi đầu vào những năm 90 của thế kỷ 20 với chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước mang mã số KC10-02 của Bộ Giao thông vận tải và do nhóm chuyên gia của
trường đại học GTVT tiến hành ”Xây dựng luận cứ khoa học phát triển và tổ chức mạng lưới GTVT Thủ đô Hà Nội”. Chương trình nghiên cứu về mạng lưới giao thông
vận tải đô thị và đưa ra định hướng quy hoạch chung về mạng lưới giao thông vận tải
Hà Nội trong đó có mạng lưới VTHKCC[32]. Tuy nhiên vấn đề về hiệu quả VTHKCC chưa được đề cập nhiều.
Vấn đề phát triển VTHKCC được đề cập một cách tương đối hệ thống trong đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước KHCN 10-02 (1997-2000) do trường đại học Giao thông vận tải chủ trì thực hiện. Kết quả trực tiếp của đề tài là quy hoach hệ thống VTHKCC bằng xe buýt tại hai đô thị lớn của Việt Nam là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong các bản quy hoạch đó có đề cập đến vai trò, lợi ích của VTHKCC cũng như những đánh giá sơ bộ về hiệu quả của VTHKCC ở mức độ định tính[33].
Những kết quả nghiên cứu của các cơ quan và chuyên gia nước ngoài về VTHKCC trong đô thị cũng đã có đề cập đến hiệu quả các dự án phát triển VTHKCC như: Dự án nghiên cứu hỗ trợ giao thông đô thị Việt Nam của SIDA (Thụy Điển) năm
1994 [21]; Quy hoạch tổng thể giao thông đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
do JICA (Nhật Bản) tiến hành[37][38]. Tuy nhiên, vấn đề hiệu quả được đề cập trong những dự án này còn rời rạc, chủ yếu là đánh giá hiệu quả tài chính của dự án phát triển VTHKCC hoặc việc đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội chỉ mang tính định tính.
Một số nghiên cứu chuẩn bị dự án phát triển GTĐT tại Hà Nội [39] và Thành phố Hồ Chí Minh do Ngân hàng thế giới tiến hành trong giai đoạn 2004-2007; Đề án phát triển VTHKCC bằng xe buýt tại Hà Nội(Giai đoạn 2010-2020)[12] và Đề án phát triển VTHKCC tại Thành phố Hồ Chí Minh đã lên phương án quy hoạch tổng thể hệ thống VTHKCC cho các đô thị này, trong đó đã có những đánh giá khá toàn diện về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của việc đầu tư xây dựng hệ thống.
Trang 15Tuy nhiên những đánh giá này mang tính chất tổng hợp chung chưa đánh giá theo các chỉ tiêu cụ thể.
Bên cạnh những đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, cũng có một số luận án có đề cập đến vấn đề hiệu quả VTHKCC ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, đó là:
(1) Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thực năm 2006 với đề tài “ Nghiên cứu hoàn thiện phương thức trợ giá cho xe buýt công cộng ở các đô thị”[30]. Luận án
đã xác định đơn giá định mức để tính toán trợ giá và phương thức nghiệm thu thanh quyết toán trợ giá cho các đơn vị vận hành xe buýt. Kết quả của luận án là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí nói riêng và hiệu quả hoạt động của hệ thống buýt nói chung.
(2) Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thanh Chương năm 2007 với đề tài “ Nghiên cứu phương pháp đánh giá hiệu quả VTHKCC bằng xe buýt” [9]. Luận án đã
hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hiệu quả VTHKCC, xây dựng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả VTHKCC bằng xe buýt cũng như phương pháp đánh giá hiệu quả VTHKCC bằng xe buýt. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể vận dụng để đánh giá thực trạng hoạt động buýt tại Việt Nam, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động buýt.
(3) Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Văn Điệp năm 2011 với đề tài “Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá VTHKCC bằng xe buýt”[13]. Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá của tác giả đề xuất có thể tham khảo để đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống VTHKCC trong các đô thị ở Việt Nam.
(4) Luận án tiến sỹ của tác giả Vũ Hồng Trường năm 2013 với đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý VTHKCC trong các thành phố Việt Nam” [35]. Luận án đã chỉ ra được những bất cập của các mô hình quản lý VTHKCC ở các thành phố Việt Nam hiện nay, từ đó xây dựng các mô hình quản lý Nhà nước về VTHKCC trong các thành phố phù hợp với điều kiện và tiến trình phát triển của đô thị Việt Nam đến năm 2020. Những nghiên cứu của luận án là một trong những cơ sở để nâng cao hiệu quả công tác quản lý điều hành hoạt động buýt nói riêng và hoạt động hệ thống buýt nói chung.
2- Các nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến luận án
Hệ thống VTHKCC đô thị hiện đại trên thế giới có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm nay, cùng với sự ra đời của loại hình vận tải đường sắt đô thị và sau đó là các phương thức vận tải khác, để đáp ứng nhu cầu đi lại ngày một tăng của
Trang 16hệ thống VTHKCC được thực hiện bởi các tác giả và các tổ chức khác nhau của các quốc gia trên thế giới.
Hiệu quả VTHKCC có liên quan đến nhiều mặt và đã được đề cập bởi nhiều tác giả khác nhau. Liên quan đến vấn đề kinh tế, theo tác giả McCrosson (1978), Talley (1988), Giuliano (1981) thì hiệu quả có liên quan với sản lượng tiêu thụ ; Theo Fielding et al. (1978) hiệu quả là sự so sánh sản lượng sản xuất với sản lượng dự kiến hoặc mục tiêu ; Theo Keck et al. (1980), Fielding et al. (1985a), Takyi (1993), Lem et
al. (1994) hiệu quả là mức độ mà kết quả đầu ra được tiêu thụ[46]. Liên quan đến các mục tiêu đặt ra, theo tác giả Dajani and Gilbert (1978) thì hiệu quả là mức độ mà dịch
vụ vận tải thỏa mãn được các mục tiêu cá nhân và cộng đồng ; Theo Fielding and Lyons (1981) hiệu quả là mức độ dịch vụ đã tiêu thụ tương ứng với các mục tiêu của chính phủ đặt ra ; Hay theo Gleason and Barnum (1982) hiệu quả là mức độ mà một mục tiêu đã đạt được. Liên quan đến người sử dụng dịch vụ là hành khách, Theo Yeh
et al. (2000) hiệu quả là mức độ mà các dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu của hành khách ; Theo Hensher and Prioni (2002) hiệu quả cho người sử dụng chính là chất lượng dịch vụ [47][62].
Như vậy, hiệu quả VTHKCC được nhìn nhận trên các góc độ khác nhau, đã có nhiều nghiên cứu về đánh giá hiệu quả VTHKCC được thực hiện bởi nhiều tác giả trong những năm qua. Hai tác giả Richard Layard và Stephen Glaister đã nghiên cứu
về phân tích lợi ích và chi phí (Cost Benefit Analysis - CBA) trong đó có đề cập đến đánh giá vận tải hành khách trong đô thị[60]. Lợi ích và chi phí được các tác giả tính toán xem xét ngoài chỉ tiêu kinh tế bao gồm cả chỉ tiêu về kinh tế và xã hội. Các lợi ích mà VTHKCC mang lại bao gồm lợi ích kinh tế (Tiết kiệm thời gian chuyến đi ; Tiết kiệm nhiên liệu ; Giảm chi phí khai thác) và lợi ích xã hội (Giảm ùn tắc giao thông ; Giảm tai nạn giao thông ; Các ảnh hưởng tốt cho xã hội). Để đạt được lợi ích
đó thì chi phí phải bỏ ra ở đây bao gồm: Chi phí kinh tế (Chi phí đầu tư ; Chi phí khai thác ; Chi phí bảo dưỡng sửa chữa) và chi phí xã hội (Chi phí xử lý tiếng ồn ; Chi phí
xử lý ô nhiễm không khí và các hiệu ứng xấu đối với con người). Các chỉ tiêu đánh giá cũng xem xét đến mức độ hiện tại hóa ( Net Present Value - NPV) hay tương lai hóa (Net Future Value - NFV).
Các tác giả Geoffrey Gardner (Anh) nghiên cứu phân tích chi phí và lợi ích để lựa chọn phương tiện VTHKCC sức chứa lớn[50], tác giả Bruno De Borger (Bỉ ) và nhóm nghiên cứu lại đưa ra mô hình phân tích chi phí xã hội của VTHKCC. Phân tích
Trang 17có kết hợp với phân tích lợi ích - chi phí[58]. Để đánh giá một cách đầy đủ hơn các tác giả Dimitrios Tsamboula và George Mikroudis đưa ra phương pháp đánh giá tổng hợp
(EFECT - Evaluation Framework of Environmental impacts and Cost of Transport) là
sự kết hợp của phương pháp phân tích đa chỉ tiêu (MCA) và phương pháp phân tích lợi ích - chi phí ( CBA), xem xét tổng hợp các chỉ tiêu có thể mô tả qua sơ đồ sau [41]:
Tác giả Johan Holmgren nghiên cứu đánh giá hiệu quả vận hành vận tải công cộng bằng phương pháp phân tích biến ngẫu nhiên[52]: Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích biến ngẫu nhiên (SFA) với số liệu hàng năm, qua việc sử dụng
1 hàm chi phí để thể hiện mức chi phí nhỏ nhất là một hàm của mức độ đầu ra với giá các loại chi phí đầu vào: C = C (W, Q), trong đó W là giá các yếu tố đầu vào, Q là mức chất lượng dịch vụ đầu ra và giả định rằng các hoạt động được thực hiện có hiệu quả với điều kiện chi phí nhỏ nhất, có thể không phải là trường hợp xảy ra trong thực tế. Gọi Ci là tổng chi phí của tất cả các đơn vị ra quyết định I, N là đầu vào khác nhau trong quá trình sản xuất của M đầu ra, di là định lượng của sự không hiệu quả trong
- Sử dụng đất
- Ô nhiễm K.Khí
- Tai nạn GT
- Sức khỏe
Các chỉ tiêu
- NPV
- IRR
- B/C
Trang 18Ci = C(w1i, w2i, …, wNi, q1i, q2i, …, qNi) + di + ε i Tổng chi phí cho vận tải công cộng tại năm thứ t của khu vực i được ký hiệu (Ci,t) Kết quả đầu ra được đánh giá là số lượng chuyến đi được thực hiện (qi,t). Các yếu
tố đầu vào được đánh giá là lương lái xe (w1i,t), chi phí nhiên liệu (w2i,t) và chi phí vốn đầu tư (w3i,t) được xác định bằng lãi suất trái phiếu chính phủ. Từ đó chỉ ra hiệu quả vận hành hệ thống vận tải công cộng đã được thay đổi như thế nào trong thời gian đánh giá. Các kết quả này được sắp xếp và hình thành 1 cơ sở điểm chuẩn để đánh giá hiệu quả vận tải hành khách công cộng.
Nghiên cứu phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống vận tải công cộng của tác giả Sampaio et al. (2008)[45]: Nghiên cứu đã thực hiện trên 12 hệ thống VTHKCC của Châu Âu và 7 hệ thống VTHKCC của Braxin. Các hệ thống này được đặc trưng bởi cấu trúc năng lực cũng như cấu trúc giá vé khác nhau. Một hệ thống được coi là hiệu quả nếu phân bổ năng lực công bằng hơn giữa các nhóm dân cư cũng như thiết lập một hệ thống giá vé rộng rãi hơn. Chất lượng và hiệu quả trong hệ thống vận tải công cộng được phân tích và đánh giá qua một số mặt như sau: (Khả năng tiếp cận hệ thống ; Thời gian chuyến đi ; Độ tin cậy ; Tần suất hoạt động ; Hệ số sử dụng sức chứa tối đa của phương tiện ; Đặc trưng kỹ thuật phương tiện ; Thông tin chính xác và trang thiết bị hỗ trợ như nhà chờ, thời gian biểu và biểu đồ vận hành, chỉ dẫn trực quan về nhà ga, phương tiện ; Mức độ linh động của hệ thống). Nghiên cứu chỉ ra rằng có càng nhiều bên tham gia và tỷ lệ phân bổ năng lực càng đều nhau thì hệ thống càng có xu hướng hiệu quả hơn.
Tóm lại, nghiên cứu về hệ thống VTHKCC nói chung và hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC nói riêng trên thế giới nhất là ở các nước phát triển khá đầy
đủ. Nhiều nội dung có thể tham khảo trong nghiên cứu của luận án như: Quan điểm về hiệu quả, đánh giá hiệu quả và một số chỉ tiêu đánh giá trên từng quan điểm ; Các phương pháp đánh giá hiệu quả ; Luận cứ cơ bản để nâng cao hiệu quả nói chung và hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC nói riêng.
Kết luận rút ra:
Đánh giá hiệu quả vận tải công cộng là một lĩnh vực quan trọng trong các nghiên cứu về quy hoạch và tổ chức giao thông, có vai trò quan trọng trong việc tổng kết, so sánh cũng như rút ra kinh nghiệm trong xây dựng và tổ chức vận hành hệ thống VTHKCC. Qua đó, ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn đầu tư, phương án tổ chức vận hành cho những dự án mới hoặc quyết định nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả, chất
Trang 19Từ những kết quả nghiên cứu trong nước có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Các phân tích đánh giá hiệu quả VTHKCC của các công trình, dự án trong
nước còn mang tính rời rạc, cách đánh giá hiệu quả chỉ là một phần nhỏ trong những vấn đề nghiên cứu, chưa có tính toàn diện và quan điểm đánh giá chung. Các đánh giá chủ yếu là sử dụng phân tích tài chính dự án, còn đánh giá kinh tế, xã hội thì chỉ dừng
lại ở việc chỉ ra các chỉ tiêu định tính, mức độ lượng hóa chưa đề cập nhiều
- Các luận án nghiên cứu trong nước đã đề cập đến hiệu quả VTHKCC ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, hoặc đã đưa ra được các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả VTHKCC. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào ở trong nước vận dụng đánh giá hiệu quả hoạt động cụ thể của hệ thống VTHKCC trong đô thị tại Việt Nam, đưa ra định hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống.
Từ những kết quả nghiên cứu trên thế giới nhận thấy:
- Các nghiên cứu chủ yếu tập trung nhiều về vấn đề hiệu quả trên chi phí đầu tư, chi phí vận hành, so sánh và đánh giá kết quả hoạt động với những mức đầu tư và chính sách hỗ trợ VTHKCC. Trong khía cạnh này, vấn đề về cấu trúc đô thị, phân phối quyền lực giữa các nhóm lợi ích, các vấn đề về cạnh tranh cũng như những ràng buộc tạo ra sự khác biệt giữa chi phí thực tế và chi phí tối ưu của phương án đầu tư cũng như hành vi lựa chọn của người sử dụng đã được nghiên cứu, xem xét. Ngoài ra, đánh giá hiệu quả VTHKCC còn được chú ý về mặt phân phối lợi ích công cộng cho những nhóm đối tượng “dễ bị tổn thương” trong xã hội như người thu nhập thấp, người thất nghiệp, người già, người khuyết tật
- Vấn đề về nghiên cứu cấu trúc mạng lưới tuyến VTHKCC, các hình thức kết nối, phối hợp thông qua hệ thống điểm trung chuyển và phân cấp năng lực tuyến để tối
ưu hóa năng lực vận chuyển của hệ thống, nâng cao khả năng kết nối, đa dạng hóa khả năng lựa chọn hành trình cho hành khách thì hiện vẫn còn thiếu, chưa được nghiên cứu
kỹ càng. Ngoài ra, các vấn đề về đánh giá tác động môi trường, xã hội, xem xét những nhóm đối tượng được hưởng lợi và những nhóm bị thiệt hại khi vận hành tuyến VTHKCC, vận hành điểm trung chuyển cũng chưa được xem xét cụ thể.
3- Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, luận án tiếp tục bổ xung và hoàn thiện cả về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC trong các đô thị.
Trang 20- Nghiên cứu những bất cập làm suy giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC trong đô thị, trên cơ sở kết hợp giữa luận cứ nâng cao hiệu quả hoạt động với những nhận định từ phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động thực tế của hệ thống hiện nay.
4- Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chung phổ biến như: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề một cách khách quan và toàn diện. Trên nguyên tắc tiếp cận hệ thống luận
án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để làm rõ bản chất của hệ thống VTHKCC và hiệu quả hoạt động của nó. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phần cơ sở lý luận, luận án nghiên cứu, hệ thống hóa các tài liệu, giáo trình, tham khảo các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của luận án.
Trong phần phân tích đánh giá thực trạng, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá trên cơ sở các số liệu được công bố cũng như các số liệu thu thập được từ cơ quan quản lý Nhà nước về VTHKCC. Ngoài ra, luận án đã sử dụng phương pháp đặc thù đó là phương pháp điều tra, khảo sát kết hợp với phỏng vấn hành khách để thu thập dữ liệu và số liệu làm cơ sở đánh giá trên quan điểm của hành khách.
Để đề xuất các giải pháp, luận án sử dụng các phương pháp: Phương pháp phân tích tính toán, phương pháp chuyên gia, đặc biệt, luận án sử dụng phương pháp tối ưu hóa trong xây dựng một số mô hình toán học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống VTHKCC trong đô thị.
5- Kết cấu và nội dung của luận án
Luận án được trình bày trong 149 trang với 42 bảng biểu và 37 hình vẽ sơ đồ. Ngoài phần mở đầu, nghiên cứu tổng quan và kết luận kiến nghị, nội dung luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống VTHKCC trong đô thị ;
Chương 2: Phân tích đánh giá hiện trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống
VTHKCC tại Thủ đô Hà Nội ;
Chương 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC trong đô thị.
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG VTHKCC TRONG ĐÔ THỊ
1.1 ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG GTVT ĐÔ THỊ
1.1.1 Đô thị - Đô thị hóa
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại đô thị
a- Khái niệm
Đô thị được hình thành xuất phát từ lịch sử phát triển kinh tế xã hội, do sự phân công lao động xã hội mà chủ yếu là thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động trong nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp. Xã hội phát triển nhu cầu ngày càng cao, một bộ phận lao động xã hội tách khỏi sản xuất nông nghiệp để làm nghề thủ công, buôn bán, quản lý xã hội và cùng tập trung sống tại các điểm dân cư với hình thức cư trú mới lao động và sinh hoạt mang tính chuyên môn hóa cao tạo ra các điểm dân cư đô thị.
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, người dân sống và làm việc theo lối sống thành thị, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
b- Phân loại đô thị
Việc phân loại đô thị trên thế giới và Việt Nam có những sự khác biệt nhất định. Trên thế giới đô thị được phân loại chủ yếu dựa vào quy mô dân số, còn ở Việt Nam
đô thị được phân loại căn cứ vào rất nhiều tiêu thức. Sau đây luận án trình bày cách phân loại đô thị ở trên thế giới và tại Việt Nam.
* Phân loại đô thị trên thế giới: Theo quy mô dân số các đô thị trên thế giới được phân làm sáu loại như sau:
Trang 22* Phân loại đô thị tại Việt Nam:
Ở Việt Nam đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn và thị tứ có dân số từ 4000 người trở lên, 65% là lao động phi nông nghiệp[8] và được phân loại như sau:
Bảng 1.1: Phân loại đô thị tại Việt Nam
Quy
mô dân số
Mật độ dân số (Ng/km 2 )
Đô
thị
đặc
biệt
Là thủ đô hoặc có chức năng là trung
tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
khoa học kỹ thuật, du lịch dịch vụ,
bộ và cơ bản hoàn chỉnh.
> 90 %
> 1,5 triệu người.
Đô
thị
loại I
Là những đô thị rất lớn, trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học
kỹ thuật, du lịch dịch vụ, GTVT, công
bộ.
> 85 %
≥1triệu người
> 80 %
≥30 vạn người
> 75 %
≥15 vạn người
Đô
thị
loại
IV
Là đô thị trung bình nhỏ, trung tâm
chính trị, văn hoá xã hội, hoặc trung
tâm chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự
phát triển của một tỉnh hoặc một vùng
trong tỉnh
Đã và đang đầu tư CSHT kỹ thuật và các công trình công cộng từng phần. > 70 %
≥5 vạn người
≥ 4000 người
[25]
Trang 23Các đô thị từ loại III trở lên được gọi là thành phố. Trên thế giới tiêu thức cơ
bản để phân loại đô thị là dựa vào quy mô dân số, còn tại Việt Nam đô thị vừa được phân loại theo quy mô dân số vừa theo cấp quản lý, vì vậy có đô thị về cấp quản lý thì cao nhưng quy mô dân số lại thấp.
1.1.1.2 Đô thị hóa
Đô thị hóa là một quá trình biến đổi các khu vực lãnh thổ trở thành đô thị. Nó là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân
cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống[40]
Đô thị hoá là một quá trình chuyển dịch lao động từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng, phân tán trên một diện tích rộng khắp hầu như toàn quốc, sang hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ thương mại tài chính, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật cũng có thể nói là chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp[40].
và dân số, điều đó tạo ra sự đi lại tập trung với mật độ cao trong đô thị. Qua thống kê tình hình đi lại của người dân ở các thành phố trên thế giới, người ta đã rút ra kết luận sau: Dân số đô thị càng lớn thì nhu cầu đi lại tăng lên cả về số lượng chuyến đi và cự
Trang 241.1.2 Nhu cầu đi lại trong đô thị
1.1.2.1 Khái niệm, phân loại nhu cầu đi lại
Nhu cầu đi lại là số lượng chuyến đi bình quân của một người trong một đơn vị thời gian. Chuyến đi là sự di chuyển có mục đích với cự ly ≥ 500 mét.
Số chuyến đi bình quân của một người trong một ngày được gọi là hệ số đi lại, hệ
số này thường xác định trong thời gian là 1 ngày đêm.
365
cđ đl
Trang 25- Nhu cầu đi lại bằng phương tiện vận tải gọi tắt là nhu cầu vận tải là số
chuyến đi lại thực tế của người dân bằng PTVT. Trong thực tế không phải tất cả mọi người đều sử dụng PTVT để thỏa mãn nhu cầu đi lại, nên số chuyến đi của một người dân trong năm có sử dụng PTVT luôn nhỏ hơn chuyến đi thực tế của người đó trong một năm. Tại các nước phát triển, các chuyến đi bộ chiếm tỷ lệ khá lớn (Có thể lên tới 30%) và xu hướng các chuyến đi sử dụng phương tiện phi cơ giới ngày một tăng lên.
- Nhu cầu đi lại có thể được thực hiện bằng các loại phương tiện khác nhau:
Nhu cầu đi lại của hành khách trong phạm vi thành phố thường được thoả mãn bằng các PTVT thuộc sở hữu khác nhau như: PTVT cá nhân, phương tiện của lực lượng VTHKCC. Từ đặc điểm này ta thấy sản phẩm vận tải đáp ứng nhu cầu sẽ được tiêu thụ hết ngay sau khi nhu cầu được thỏa mãn hay nói khác đi nhu cầu vận tải không có sản phẩm dự trữ. Nhưng thực tế nó có thể dự trữ bằng năng lực vận tải.
- Nhu cầu đi lại ít có khả năng thay thế: thường chỉ có sự thay thế về phương
thức vận tải. Bởi vậy, việc phát triển phương thức vận tải này sẽ tác động trực tiếp với một mức độ nhất định đến cầu với phương thức vận tải khác.
Nhu cầu đi lại
(Tổng số chuyến đi của người dân)
Trang 26- Giá cả tác động chậm đến nhu cầu đi lại: Đối với phần lớn các loại hàng hoá
khác khi giá cả giảm thì cầu tăng lên. Còn trong vận tải hành khách, khi giá hạ thì phải sau một thời gian nhất định cầu mới có thể tăng. Giá cả dự kiến tăng giảm trong tương lai tác động không nhiều đến nhu cầu đi lại vì người mua không thể dự trữ sản phẩm
để tiêu thụ trong tương lai hay tạm giảm mức tiêu thụ trong hiện tại.
- Nhu cầu đi lại có nét đặc trưng theo hướng và mang tính thời điểm rõ rệt:
Nhu cầu đi lại thường xuất hiện theo thời điểm, tại các khu vực phát sinh ra các chuyến đi do vậy theo thời gian và không gian khác nhau, nhu cầu vận tải sẽ thay đổi đột ngột, do vậy trong đô thị người ta có sự biến động theo giờ cao điểm là rõ nét.
- Nhu cầu đi lại mang tính xã hội sâu sắc : Do nhu cầu đi lại là nhu cầu phát
sinh nên sự khác nhau về mức độ phát triển kinh tế - xã hội, số lượng, cơ cấu, mật độ dân cư và sự phân bố dân cư, thu nhập, sự phát triển của mạng lưới GTVT sẽ làm cho nhu cầu đi lại ở các đô thị là khác nhau.
Từ hình 1.1 có thể nhận thấy, để giải quyết nhu cầu đi lại trong đô thị có thể có hai hướng như sau:
- Phát triển mạng lưới VTHKCC trên mạng lưới giao thông hiện có cho đến khi khai thác hết năng lực thông qua của nó mà vẫn không thoả mãn được nhu cầu đi lại thì mới cải tạo và phát triển các tuyến giao thông.
- Cải tạo và phát triển mạng lưới giao thông luôn luôn gắn chặt với những phương tiện VTHKCC dự kiến sẽ sử dụng. Với sự lựa chọn của mình hầu hết các nước trên thế giới đã đầu tư phát triển nhanh chóng VTHKCC.
Vận tải hành khách công cộng giữ một vai trò chủ đạo trong việc đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong các đô thị hiện đại, hệ thống này đảm nhận từ (30 50)% (thậm chí tới 70%) nhu cầu đi lại của thị dân. Do vậy, phát triển VTHKCC được
Trang 271.1.3 Hệ thống giao thông vận tải đô thị
1.1.3.1 Cấu trúc của hệ thống giao thông vận tải đô thị
Giao thông vận tải đô thị là tập hợp các công trình, các con đường giao thông
và các PTVT khác nhau đảm bảo sự liên kết giữa các khu vực của đô thị với nhau[19].
Một hệ thống GTVT đô thị được tổ chức tốt và hoạt động có hiệu quả sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của đô thị. Ngược lại, nếu không giải quyết được vấn
đề về GTVT đô thị thì nó lại trở thành nguy cơ và lực cản lớn nhất đối với việc phát triển các chức năng khác của đô thị.Các thành phần cơ bản của hệ thống GTVT đô thị được mô tả ở hình 1.2.
+ Hệ thống giao thông tĩnh là cơ sở hạ tầng phục vụ phương tiện trong quá
Vận tải hàng hoá
Vận tải đặc biệt
Trang 28bên cạnh đó nó còn thực hiện nhiều chức năng khác như: Chức năng kỹ thuật, chức năng kiến trúc, chức năng môi trường
Mật độ mạng lưới đường đô thị cao: Để đáp ứng nhu cầu vận tải trong đô thị cũng như các chức năng của đô thị cần có một mạng lưới giao thông phù hợp. Đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ cao cùng với mật độ khổng lồ các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội… điều đó đòi hỏi mật độ mạng lưới đường đô thị cao hơn so với các khu vực khác.
Lưu lượng và mật độ đi lại trong đô thị cao nhưng có sự biến động rất lớn theo thời gian và không gian.
1.2.1 Một số khái niệm
Hệ thống là thể thống nhất được tạo lập bởi các yếu tố cùng loại, cùng chức
năng, có liên hệ chặt chẽ với nhau. Hay, hệ thống là thể thống nhất bao gồm những tư tưởng, những nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách chặt chẽ có lôgic[36]. Từ
hai khái niệm trên có thể rút ra hệ thống là tập hợp các phần tử theo những tiêu thức nào đó.
Vận tải hành khách công cộng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải
đô thị, nó là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu
đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định,
Trang 29Ở Việt Nam theo qui định về vận chuyển hành khách công cộng trong các đô thị của Bộ GTVT thì VTHKCC là tập hợp các phương thức, PTVT vận chuyển hành khách đi lại trong đô thị ở cự ly nhỏ hơn 50 km và có sức chứa lớn hơn 8 hành khách.
Hệ thống VTHKCC là tập hợp tất cả các phương thức VTHKCC cùng toàn bộ
cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự hoạt động của PTVT và các dịch vụ hỗ trợ phục vụ nhu cầu đi lại của cộng đồng cư dân đô thị. Hệ thống VTHKCC hoàn chỉnh là sự kết hợp hữu cơ của ba hệ thống con là:
- Các loại phương tiện VTHKCC
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật gồm: Cơ sở hạ tầng trên tuyến, Cơ sở hậu cần trong doanh nghiệp, hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác quản lý, vận hành phương tiện
và điều hành toàn mạng.
- Các dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ phục vụ hành khách gồm: Các dịch vụ phục vụ nằm ở khâu chuẩn bị và tác nghiệp đầu cuối của quá trình vận tải; Các dịch vụ bổ sung phục vụ hành khách nhằm nâng cao tính tiện nghi và khả năng tiếp cận của hành khách
Thông tin cho hành khách
Phát triển nhân lực (Đào tạo)
Trang 301.2.2 Vai trò của VTHKCC trong đô thị
Vận tải hành khách công cộng có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển đô thị nói chung và giao thông vận tải đô thị nói riêng, do nó có các vai trò chủ yếu sau:
- VTHKCC tạo lập các mối quan hệ thông thương giữa các khu vực trong thành phố, tạo thuận lợi cho việc phát triển chung của đô thị Nó là hình thức đáp ứng tốt nhất nhu cầu đi lại của người dân: Nhu cầu đi lại ngày một tăng cùng với
quá trình đô thị hóa và sự cải thiện mức sống của người dân. Trên các đường phố công suất luồng hành khách rất lớn, nếu sử dụng phương tiện cá nhân thì sẽ không đáp ứng nổi, khi đó chỉ có thể dùng phương tiện VTHKCC bởi vì công suất vận chuyển lớn (Ví
dụ: Xe buýt 6000 - 8000 HK/giờ; Tàu điện 3 toa 10000 - 15000 HK/giờ ). [14]
-Vận tải hành khách công cộng là biện pháp hữu hiệu để giảm mật độ phương tiện giao thông trên đường: Trong đô thị việc mở rộng lòng đường là hạn
chế, thực tế là khó có thể thực hiện được, trong khi đó nhu cầu đi lại ngày càng tăng, mật độ phương tiện trên đường ngày càng lớn, điều này dẫn đến tốc độ lưu thông thấp. Với ý nghĩa đó sử dụng VTHKCC để giảm mật độ giao thông là một biện pháp hữu hiệu. [14]
-Vận tải hành khách công cộng là giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải: Trong giao thông vận tải, ngoài hệ
thống cầu, đường còn có bến bãi, ga ra để cho phương tiện đỗ, dừng (Hệ thống giao thông tĩnh). Diện tích chiếm dụng giao thông tĩnh của PTCN cũng cao hơn PTVTCC.
Ví dụ tính theo chuyến đi thì diện tích chiếm dụng giao thông tĩnh của xe buýt là 1,5
m2/1 chuyến đi; xe máy là 3,0 m2/1 chuyến đi, xe con là 8 - 10 m2/1 chuyến đi. [14]
-Vận tải hành khách công cộng là giải pháp làm giảm tai nạn và giảm ô nhiễm môi trường: Việc sử dụng rộng rãi phương tiện VTHKCC không những làm giảm mật
độ giao thông trên đường, giảm tình trạng ùn tắc giao thông, mà còn làm giảm chủng loại phương tiện trên đường, nhất là giảm được các loại phương tiện thô sơ, do đó hạn chế được số vụ tai nạn giao thông. Mặt khác khi số lượng phương tiện trên đường giảm thì sự ô nhiễm môi trường do khí xả và tiếng ồn sẽ được hạn chế. [14]
- Vận tải hành khách công cộng còn góp phần tiết kiệm chi phí chung cho toàn xã hội: chi phí để mua sắm phương tiện cá nhân, tiết kiệm quỹ đất của đô thị, tiết
kiệm chi phí xây dựng mở rộng, cải tạo mạng lưới đường sá trong đô thị và tiết kiệm được số lượng lượng xăng dầu tiêu thụ cho đi lại trong khi nguồn năng lượng này là có hạn. [14]
Trang 311.2.3 Các phương thức VTHKCC có sức chứa lớn trong đô thị
1.2.3.1 Tàu điện ngầm
Tàu điện ngầm là PTVTHK mà cơ sở hạ tầng (Đường sá) phần lớn được đặt ngầm dưới đất. Tầu điện ngầm được xây dựng ở các đô thị có quy mô lớn (Dân số trên
1 triệu người) có công suất luồng hành khách từ 12.000 - 60.000 người trong một giờ theo 1 hướng vào giờ cao điểm[22]. Đây là hình thức có nhiều ưu điểm như: Tiết kiệm đất đô thị; Không gian kiến trúc thoáng đãng trên mạng giao thông ở mặt đất; Giải quyết được ách tắc giao thông do điều tiết được khối lượng và mật độ phương tiện, đảm bảo cảnh quan môi trường; Tốc độ giao thông rất cao, khả năng thông qua rất lớn và đảm bảo an toàn vận chuyển. Tuy nhiên, vốn đầu tư xây dựng hệ thống tàu điện ngầm rất lớn đặc biệt ở những nơi địa hình, địa chất phức tạp. Phạm vi áp dụng có hiệu quả đối với những tuyến có công suất luồng hành khách lớn và quy mô đô thị về dân số phải trên 1 triệu người.
1.2.3.2 Tàu điện bánh sắt
Tàu điện bánh sắt là PTVTHK khá phổ biến ở các đô thị có quy mô trung bình
và lớn. Nó là loại hình vận tải có khả năng thông qua lớn nhất so với các phương tiện vận tải PTVT trên mặt đất (15.000 hành khách/giờ/hướng), hơn nữa nó không gây ô nhiễm môi trường. Những năm gần đây xu hướng hiện đại hoá tàu điện bánh sắt bằng cách nâng cao tốc độ khai thác gọi là tàu điện bánh sắt cao tốc. Tàu điện bánh sắt cao tốc được chạy trên đường riêng không có giao cắt với các loại hình vận tải khác nên đảm bảo tốc độ cao ( 80-100 Km/h) và đảm bảo an toàn vận tải[22].
1.2.3.3 Monorail
Là loại PTVTHK hiện đại (Monorail lần đầu tiên được sử dụng ở thành phố Vuppeptal của Đức vào năm 1901 với chiều dài tuyến 13 km). Monorail có tốc độ cao (Bình quân có thể đạt 60 km/giờ) và khả năng chuyên chở lớn (Gần 25.000 HK/giờ theo một hướng). Nó có ưu điểm là diện tích chiếm dụng khoảng không ít. Loại này thường được sử dụng để vận chuyển hành khách từ các vệ tinh vào trung tâm thành phố có luồng khách lớn. Monorail hiện nay được sử dụng nhiều ở các nước phát triển
và ngày càng được hoàn thiện. Ngoài việc sử dụng Monorail trong thành phố, nó còn được sử dụng để vận tải hành khách liên tỉnh[22].
1.2.3.4 Xe điện nhẹ trên cao - LRT
Xe điện nhẹ trên cao là đoàn tàu một hoặc nhiều xe, chạy trên đường phố hoặc đường tách biệt, hoặc hỗn hợp cả 2 loại. LRT có khả năng chuyên chở 25.000 - 30.000
Trang 32hành khách/giờ theo một hướng và đạt tốc độ 30 - 40 km/giờ. LRT có ưu điểm là không giao cắt với đường phố, tiết kiệm quỹ đất, đặc biệt là khi không có khả năng mở rộng đường. Nó còn là một công trình kiến trúc đô thị làm tôn thêm mỹ quan của những thành phố hiện đại[22].
1.2.3.5 Tàu điện bánh hơi
Tàu điện bánh hơi là PTVTHK vận hành trên đường phố như xe buýt, song nguồn động lực dùng năng lượng điện do vậy phải có hệ thống 2 dây dẫn để truyền dẫn điện và các trạm biến thế. Tàu điện bánh hơi chỉ thích ứng với những vùng có mạng giao thông kiểu hướng tâm, mặt đường rộng rãi, công suất luồng hành khách không lớn lắm. Trong các đô thị lớn chúng chỉ là loại hình VTHK bổ sung, hỗ trợ cho các loại hình vận tải khác mà thôi[22].
1.2.3.7 Ô tô buýt
Ô tô buýt là PTVTHK phổ biến. Theo hiệp hội quốc tế về vận tải UATP (Union International and Transport Publics) tại hội nghị lần thứ 46 đó khẳng định về vai trò và tính phổ biến của ô tô buýt với tất cả các đô thị trên thế giới hiện nay.
Đặc điểm nổi bật cơ bản của ô tô buýt là có tính cơ động cao, thích ứng với những tuyến có công suất luồng hành khách không lớn lắm. Tuy nhiên, đây là hình thức có năng lực vận chuyển không cao, ô nhiễm môi trường đô thị, tốc độ khai thác thấp và giá thành tương đối cao. Xe buýt đóng vai trò chủ yếu trong vận chuyển hành khách ở những vùng đang phát triển của thành phố, những khu vực trung tâm và đặc biệt là những thành phố cổ. Kinh nghiệm phát triển giao thông của các đô thị trên thế giới cho thấy ở các thành phố quy mô dân số 1 triệu dân thì xe buýt là phương thức
đi lại chủ yếu của người dân [22].
Trang 33
Bảng 1.2: Qui mô đô thị và phương tiện đi lại chính
Dân số đô thị
(1.000 dân) Phương tiện giao thông chính
> 1.000 Giao thông ngoài mặt đường phố (Tàu điện ngầm, xe điện nhẹ
trên cao ) kết hợp với các phương tiện giao thông đường phố (Tàu điện, ô tô buýt, xe điện bánh hơi, xe đạp, xe máy, taxi).
1.3.1 Lý luận chung về hiệu quả
1.3.1.1 Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa lợi ích mà chủ thể nhận được và chi phí mà chủ thể bỏ ra để nhận được lợi ích đó trong những điều kiện nhất định. Hiệu quả được dùng để đánh giá, so sánh kết quả của một hoạt động nào đó với toàn bộ những hao phí ban đầu bỏ ra. Do vậy đến nay khái niệm về hiệu quả được gắn liền với một mục tiêu hay mục đích của một hoạt động nào đó[3].
Trên cơ sở đó các nhà kinh tế đã đưa ra các khái niệm khác nhau về hiệu quả: Khái niệm thứ nhất: Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết
quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và hao phí mà chủ thể phải bỏ ra để đạt được kết quả đó trong những điều kiện nhất định.
Khái niệm thứ hai: Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết
Khi xem xét hiệu quả phải xét trên khía cạnh: Mức độ đạt được mục tiêu. Chẳng hạn, mục tiêu của kinh doanh chủ yếu là lợi nhuận ; mục tiêu của hoạt động đầu
Trang 34tư nào đó là thu được các kết quả có ích cho chủ đầu tư, cho xã hội Việc đánh giá so sánh giữa hao phí nguồn lực với kết quả đạt được thường được xem xét ở các mức độ khác nhau và có các kết luận khác nhau. Người ta thường so sánh để tìm ra: Chênh lệch giữa các yếu tố đầu ra với các yếu tố đầu vào.
1.3.1.2 Phân loại hiệu quả
Để phân loại hiệu quả có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau.
a- Theo lĩnh vực hoạt động xã hội, hiệu quả có thể phân thành:
- Hiệu quả tài chính : cũng được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay hiệu
quả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí kinh tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để nhận được lợi ích đó.
- Hiệu quả KT - XH: là hiệu quả tổng hợp được xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh
tế, nó mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội mà toàn bộ xã hội nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích đó. Chủ thể của hiệu quả KT - XH là toàn bộ xã hội (Nhà nước, doanh nghiệp, người sử dụng) mà người đại diện cho nó là Nhà nước. Vì vậy, những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế xã hội xuất phát từ quan điểm toàn bộ xã hội, bao gồm những lợi ích, chi phí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội (Kinh tế, xã hội, môi trường, …) của tất cả các chủ thể trong xã hội.
- Hiệu quả kỹ thuật, công nghệ: Thể hiện ở sự nâng cao trình độ và đẩy mạnh tốc
độ phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ.
b- Theo quan điểm lợi ích, hiệu quả có thể phân thành:
- Hiệu quả của doanh nghiệp: là hiệu quả mang lại cho doanh nghiệp khi tiến
hành hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Khi nói tới hiệu quả doanh nghiệp người ta thường hay đề cập tới hiệu quả tài chính.
- Hiệu quả của cộng đồng: là hiệu quả mang lại cho cả cộng đồng khi tiến hành
một hoạt động nào đó. Hiệu quả cộng đồng thường gắn với hiệu quả xã hội.
- Hiệu quả Nhà nước: là hiệu quả chung mang lại cho toàn bộ nền kinh tế xã hội
dưới góc độ của nhà quản lý. Nó thường bao hàm cả hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.
c- Theo cách tính toán, hiệu quả có thể phân thành:
- Hiệu quả tính theo số tuyệt đối là hiệu số giữa kết quả thu được với hao phí đầu
vào để thực hiện hoạt động như: tổng lợi nhuận thu được; tổng số người được tạo việc làm, Hiệu quả tính theo số tuyệt đối thường còn gọi là kết quả của hoạt động nào đó.
Trang 35- Hiệu quả tính theo số tương đối: là tỷ số giữa kết quả thu được từ hoạt động nào
đó với hao phí nguồn lực đầu vào để thực hiện hoạt động đó[4].
d- Theo phạm vi tác động, hiệu quả có thể phân thành:
- Hiệu quả trước mắt: là những lợi ích trước mắt hay những lợi ích mang lại
a- Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và chỉ tiêu hiệu quả
Theo nguyên tắc này, chỉ tiêu hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu. Mục tiêu khác nhau, chỉ tiêu hiệu quả khác nhau, mục tiêu thay đổi, tiêu chuẩn hiệu quả thay đổi. Chỉ tiêu hiệu quả được xem như là thước đo để thực hiện các mục tiêu.
Phân tích hiệu quả của một phương án nào đó luôn luôn dựa trên phân tích mục tiêu. Phương án có hiệu quả cao nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiện các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất.
b- Nguyên tắc về thống nhất lợi ích
Theo nguyên tắc này, phương án được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp trong
đó các loại lợi ích. Bao gồm lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
- Về lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội được xem xét trong phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân. Theo nguyên tắc “lợi ích”, hiệu
Phân loại hiệu quả
Theo cách tính
toán
Theo quan điểm lợi ích
Theo lĩnh vực hoạt động XH
Theo phạm vi tác động
Trang 36- Về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài: không thể hy sinh lợi ích lâu dài để đổi lấy lợi ích trước mắt. Kết hợp đúng đắn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài là phương án được coi là có hiệu quả. Trong quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích lâu dài là cơ bản.
- Về kết hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội cũng như lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần: việc phân tích hiệu quả kinh tế các phương án cần đặt trong mối quan hệ với phân tích các lợi ích khác mà phương án mang lại. Bất kỳ một sự hy sinh lợi ích nào đều giảm hiệu quả chung của phương án đó. Trong đại bộ phận các trường hợp, lợi ích
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi những căn cứ tính toán hiệu quả phải được xác định chính xác, tránh chủ quan tuỳ tiện.
d- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tế
Theo nguyên tắc này, những phương pháp tính toán hiệu quả phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu. Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác[3].
1.3.2 Hiệu quả VTHKCC trong đô thị
1.3.2.1 Khái niệm hiệu quả VTHKCC
Hiệu quả VTHKCC là một khái niệm liên quan đến nhiều mặt và có nhiều quan niệm của các tác giả khác nhau. Bảng 1.3 giới thiệu một số quan niệm về hiệu quả được đưa ra trong lĩnh vực VTHKCC[46].
Trang 37Bảng 1.3: Các quan niệm về hiệu quả VTHKCC
Trên quan điểm kinh tế
tiêu của chính phủ đặt ra
Trên quan điểm của hành khách
Yeh et al. (2000) Hiệu quả là mức độ mà các dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu
của hành khách Hensher and Prioni (2002) Hiệu quả cho người sử dụng: chất lượng dịch vụ
ra (Đầu vào) để đạt được kết quả đó trong những điều kiện nhất định của VTHKCC.
Hiệu quả của VTHKCC phản ánh mức độ sử dụng các nguồn lực được đầu tư
vào VTHKCC để đạt được một số mục tiêu nhất định liên quan tới các lĩnh vực kinh tế
xã hội và môi trường nơi hệ thống VTHKCC đang hoạt động
Như đã trình bày ở mục trên, VTHKCC là một hệ thống. Hệ thống này hoạt động trong đô thị. Hoạt động của nó có đầu vào và đầu ra:
Trang 38- Đầu vào là các nguồn lực để cho hệ thống VTHKCC vận hành, có thể bao
+ Khí thải và tiếng ồn.
Thông thường hiệu quả hoạt động của VTHKCC thường được xem xét trên ba góc độ:
- Trên quan điểm nhà nước (người chịu trách nhiệm tổ chức quản lý xã hội,
trong đó có VTHKCC): Hiệu quả hướng tới giảm ô nhiêm môi trường, thúc đẩy bình đẳng xã hội, quy hoạch sử dụng đất hợp lý…
- Trên quan điểm của các nhà khai thác vận tải (Doanh nghiệp vận tải): Hiệu
1.3.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả VTHKCC trong đô thị
Để đánh giá hiệu quả hoạt động VTHKCC có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, sau đây luận án sẽ trình bày một số phương pháp cơ bản sử dụng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động VTHKCC.
Trang 39Hiệu quả đạt được = Giá trị kết quả đầu ra- Chi phí phải bỏ ra đầu vào
+ So sánh tương đối:
Giá trị kết quả đầu ra Hiệu quả đạt được =
Hai mức: Đạt và không đạt.
Ba mức: Kém, trung bình và tốt,
Năm mức: Rất kém, kém, trung bình, tốt và rất tốt.
Thường thì việc sử dụng thang điểm 5 mức là phù hợp, nếu sử dựng thang điểm nhiều mức hơn, đồng nghĩa với nhiều mức độ của chỉ tiêu, khi đó dễ nhầm lẫn trong nhận thức và đánh giá, còn nếu thang điểm nhỏ hơn thì khó phân biệt được sự khác biệt giữa các mức độ đạt được của hệ thống[13].
c- Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia, họ sẽ là người đưa ra những nhận định, những kết luận về hệ thống vì họ là người rất am hiểu về vận tải hành khách công cộng. Dựa vào những kết luận của từng chuyên gia để đưa ra nhận định chung cuối cùng.
d- Phương pháp phân tích lợi ích, chi phí (Cost Bennefit Analysis - CBA)
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong việc phân tích các dự án đầu tư trong đó có dự án đầu tư GTVT đô thị, phát triển đường sắt đô thị, lợi ích và chi phí được tính toán xem xét ngoài chỉ tiêu kinh tế bao gồm cả chỉ tiêu về kinh tế và xã hội. Phương án có thể mô tả như hình 1.5.
Trang 40Hình 1.5: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá lợi ích và chi phí cho đầu tư GTĐT[41]
e- Phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu
Hoạt động VTHKCC được tổ chức thực hiện đều nhằm tới mục đích đạt được đồng thời nhiều mục tiêu khác nhau về kinh tế, xã hội, môi trường ; Đồng thời đảm bảo lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau (Nhà nước, doanh nghiệp, hành khách).
Có những mục tiêu trong số này mâu thuẫn nhau, ví dụ mục tiêu tiết kiệm chi phí đầu tư kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường. Những mục tiêu này có thể được thể hiện bằng những chỉ tiêu định tính hoặc định lượng. Có những chỉ tiêu có thể lượng hóa được thành tiền nhưng có những chỉ tiêu không thể lượng hoá được thành tiền hoặc có thể lượng hóa được thành tiền nhưng rất khó khăn và khó đảm bảo độ chính xác. Trong những trường hợp này thì phương pháp đánh giá lợi ích - chi phí không thể
áp dụng được mà phải sử dụng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu.
Trong phương pháp đánh giá đa mục tiêu các mục tiêu sẽ được thể hiện thành các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng rồi được đánh giá tổng hợp qua một chỉ tiêu tổng hợp cuối cùng bằng cách các chỉ tiêu đó được làm cho đồng hướng, làm mất đơn
vị đo, được đánh giá về mức độ quan trọng (Theo phương pháp chuyên gia) rồi tính gộp lại trong một chỉ tiêu bằng phép bình quân gia quyền có trọng số bằng mức độ quan trọng đã đánh giá.
Sơ đồ tổng quát hoạt động đánh giá hiệu quả VTHKCC thể hiện ở hình 1.6.
1.3.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động VTHKCC
Chỉ tiêu là một công cụ phản ánh gián tiếp những thuộc tính bản chất của hiện thực khách quan mà ta cần nhận thức. Thực tế khách quan là cơ sở, là nguồn gốc duy nhất để từ đó mới có tư duy. Như vậy, chỉ tiêu là một loại công cụ (Công cụ ngôn ngữ)