38 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI .... Tuy nh
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 3
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Các loại hình cạnh tranh 4
1.1.3 Các công cụ cơ bản của cạnh tranh 5
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 6
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu 6
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu 6
1.2.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 8
1.2.3.1 Xuất khẩu trực tiếp 8
1.2.3.2 Xuất khẩu uỷ thác 8
1.2.3.3 Mua bán đối lưu 9
1.2.3.4 Giao dịch qua trung gian 9
1.2.3.5 Gia công quốc tế 10
1.2.3.6 Tái xuất 10
1.2.4 Nội dung của hoạt động kinh doanh xuất khẩu 10
1.2.4.1 Nghiên cứu thị trường 10
1.2.4.2 Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu 11
1.2.4.3 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu 12
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 12
1.2.5.1 Tự do hóa thương mại 12
1.2.5.2 Các yếu tố kinh tế 13
1.2.5.3 Các yếu tố luật pháp 13
1.2.5.4 Các yếu tố cạnh tranh 13
1.2.5.5 Yếu tố văn hoá 14
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN 14
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 15
Trang 21.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về cạnh tranh 15
1.4.2 Kinh nghiệm quốc tế về xuất khẩu 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA 18
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ – THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN 18
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 18
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 19
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN 20
2.2.1 Báo cáo kết quả hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian qua… 22
2.2.2 Mặt hàng xuất khẩu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 25
2.2.3 Các thị trường xuất khẩu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 28
2.2.3.1 Thị trường Nhật Bản 29
2.2.3.2 Thị trường EU 30
2.2.3.3 Thị trường Châu Phi 31
2.1.1 Hình thức xuất khẩu 32
2.3 NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN 33
2.3.1 Nâng cao nănglực cạnh tranh qua chất lượngcủa sản phẩm 33
2.3.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh qua đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu 33
2.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh qua giá xuất khẩu 34
2.3.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách nâng tầm thương hiệu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư Thương mại và Phát triển 34
2.4 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG
Trang 32.4.1 Những kết quả đạt được của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư
Thương mại và Phát triển 35
2.4.2 Những hạn chế của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư Thương mại và Phát triển trong thời gian qua 35
2.4.2.1 Công tác marketing chưa hoàn thiện 35
2.4.2.2 Nguồn vốn kinh doanh còn thiếu và chưa được sử dụng hiệu quả
36
2.4.2.3 Giá xuất khẩu vẫn thiếu tính cạnh tranh 36
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 37
2.4.3.1 Nguyên nhân chủ quan 37
2.4.3.2 Những nguyên nhân khách quan khác 38
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI 40
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN 40
3.1.1 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh chung của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 40
3.1.2 Chiến lược phát triển xuất khẩu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 42
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ĐT-TM VÀ PT 43
3.2.1 Giải pháp từ phía công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển 43
3.2.1.1 Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu 43
3.2.1.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu 43
3.2.1.3 Hạ giá thành sản phẩm 44
3.2.1.4 Các giải pháp đối với thị trường nước ngoài 45
3.2.1.5 Hoàn thiện hơn nữa nghiệp vụ xuất nhập khẩu 46
3.2.1.6 Nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ kinh doanh 47
Trang 43.2.1.7 Các giải pháp khác từ phía danh nghiệp 48
3.2.2 Một số kiến nghị đối với nhà nước 49
3.2.2.1 Hoàn thiện chính thương mại quốc tế 49
3.2.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu 50
3.2.2.3 Một số kiến nghị khác 50
KẾT LUẬN 52
Trang 5VÀ PT từ 2007- Quý I /2012 26 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của công ty TNHH ĐT-TM
VÀ PT quý I/2012 26 Bảng 2.4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty TNHH ĐT-TM VÀ
PT từ năm 2007- quý I/2012 28 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT năm 2011……….29
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
STT
Ký hiệu
Nghĩa đầy đủ Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
2 IMF International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và liên kết đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi khu vực và trên toàn thế giới, khiến cho sự cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như
là các doanh nghiệp tăng lên Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO cũng đã
mở ra rất nhiều cơ hội về mở rộng thị trường và tìm kiếm những đối tác mới Tuy nhiên, kèm theo đó cũng là những thách thức đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi mà số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tăng lên và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt
Một thực trạng rất đáng lo ngại là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hiện còn rất hạn chế Bởi lẽ, đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn Theo điều tra mới nhất, hiện có 51,3% doanh nghiệp có dưới
10 người lao động, 44% doanh nghiệp có từ 10 đến 200 lao động, chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300 lao động, 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, 37% doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng và chỉ có 8,18% doanh nghiệp có vốn từ 5 tỉ đến 10 tỉ đồng.Trong điều kiện quy mô doanh nghiệp nhỏ, vốn ít các doanh nghiệp Việt Nam lại gặp một thách thức rất lớn đó là chất lượng nhân lực của doanh nghiệp thấp Đội ngũ chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý doanh nghiệp còn rất thiếu kiến thức quản trị và kỹ năng kinh nghiệm quản lý Có thể nói,
đa số các chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh quốc tế, quản lý, kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… và kỹ năng quản trị kinh doanh, nhất là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế Điều đó được thể hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư - thương mại và phát triển là một công ty tuy còn non trẻ nhưng luôn nỗ lực để phát triển Công ty đã từng bước triển khai, phát triển các kế hoạch kinh doanh để đạt được những mục tiêu đề ra Công ty luôn phấn đấu hết mình để đóng góp cho sự phát triển chung của cả nước
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư - thương mại và phát triển, với mong muốn đóng góp một số ý kiến để
nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, em đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: phân tích và đánh giá về năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển Qua
đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của công ty
Nhiệ m vụ nghiên c ứu:
- Lý luận chung về cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa
- Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển trong thời gian qua
- Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, chuyên đề nghiên cứu về năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại
và Phát triển Về thời gian, chuyên đề nghiên cứu về công ty TNHH ĐT-TM VÀ
PT từ năm 2007 đến quý I năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong chuyên đề:
- Phương pháp diễn giải, quy nạp
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp thống kê học
5 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển trong thời gian qua
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển trong thời gian tới
Trang 11CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ XUẤT
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển"
Theo Từ điển Bách khoa Việt nam : “Cạnh tranh” (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất
Dưới góc độ kinh tế học, hai nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn sách về kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: “Cạnh tranh” (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai nhà kinh tế này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo
Từ những định nghĩa và quan điểm khác nhau ở trên, có thể rút ra kết luận rằng: “Cạnh tranh” là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Vì thế, để có cạnh tranh phải có các điều kiện như sau: Thứ nhất, cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (tùy thuộc từng vụ việc khác nhau) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mỗi chủ thể trong quá trình cạnh tranh với nhau) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng không gian nhất định Nó có thể có quy mô hẹp (trong một
Trang 12tổ chức, một nhóm ngành) hoặc rộng hơn (trong một nước, trong một châu lục) Thứ hai, phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh Các chủ thể đó có cùng một mục đích, mục tiêu và kết quả khá giống nhau, nghĩa là phải có một đối tượng cụ thể mà các chủ thể cùng hướng đến để giành giật Trong một nền kinh tế, đối với chủ thể canh tranh bên bán là các loại sản phẩm tương tự nhau có cùng mục đích phục vụ cho một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể sản xuất và được người tiêu dùng chấp nhận Ngược lại, đối với các chủ thể cạnh tranh bên mua thì cạnh tranh tức là giành được quyền mua các sản phẩm theo đúng chất lượng hay giá cả mà mình mong muốn
Thứ ba, sự cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể
và phải có những ràng buộc giống nhau mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ một cách chặt chẽ Trong một nền kinh tế, những ràng buộc này chính là
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về nhu cầu về sản phẩm của khách hàng hay các ràng buộc của luật pháp cũng như là thông lệ, quy tắc kinh doanh ở trên cùng
một thị trường
1.1.2 Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại Thứ nhất, căn cứ theo phạm vi nghành kinh tế, cạnh tranh được phân thành hai loại:
Cạnh tranh giữa các nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất về phía mình Trong quá trình này, có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các nghành
và kết quả là hình thành một tỷ suất lợi nhuận bình quân
Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng hoạt động trong một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá và dịch vụ Sự cạnh tranh này làm tăng hiệu quả sản xuất của ngành và tạo động lực phát triển hơn nữa cho toàn bộ ngành
Thứ hai, căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh, cạnh tranh được chia thành hai loại cạnh tranh:
Cạnh tranh không lành mạnh: là cạnh tranh dựa vào khai thác những kẽ hở của
pháp luật, trái với chuẩn mực xã hội và sẽ bị xử lý rất nặng khi bị phát hiện Ví dụ: buôn lậu, trốn thuế, hối lộ,…
Cạnh tranh lành mạnh: trái với cạnh tranh không lành mạnh thì cạnh tranh lành
mạnh là sự cạnh tranh hợp pháp, được xã hội ủng hộ Sự cạnh tranh lành mạnh
mang lại rất nhiều lợi ích cho xã hội và người tiêu dùng
Trang 13Thứ ba, căn cứ vào tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được phân thành ba loại:
Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh giữa rất nhiều người bán trên thị
trường mà không có nhà sản xuất nào có đủ sức mạnh để áp đặt giá cho cả thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng nhất, không có sự khác nhau về kiểu dáng, mẫu mã Để có thể tồn tại trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp phải tìm cách cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh thông qua tính kinh tế của quy mô
Cạnh tranh không hoàn hảo: là sự cạnh tranh giữa những người bán có các sản
phẩm được sản xuất ra không đồng nhất với nhau Mỗi sản phẩm có thương hiệu riêng, chất lượng, đóng gói, bao bì sản phẩm khác nhau để phân biệt đối với người tiêu dùng Quảng cáo, ưu đãi giá cả, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng … là những cách thức các doanh nghiệp thường sử dụng
Cạnh tranh độc quyền: là sự cạnh tranh mà trên thị trường chỉ một hoặc một
vài người bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ vào đó Giá cả của sản phẩm sẽ bị chi phối rất lớn bởi các nhà sản xuất Họ sẽ tìm cách để tối đa hóa lợi nhuận của mình, vì thế mức sản lượng và mức giá họ đưa ra sẽ không phải tại mức cân bằng hiệu quả của thị trường
Thứ tư, căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, cạnh tranh được chia làm ba loại:
Cạnh tranh giữa nguời bán với nhau: đó là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật
thị trường và khách hàng Kết quả là giá cả giảm xuống và người mua được mua với giá rẻ hơn Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào không đủ tiềm lực kinh tế thì sẽ không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần cho các đối thủ khác mạnh hơn
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: mức độ cạnh tranh này phụ thuộc phần
nhiều vào quan hệ cung cầu trên thị trường hàng hóa và dịch vụ Khi cung về một loại hàng hóa nhỏ hơn lượng cầu mà người tiêu dùng cần thì cuộc cạnh tranh trở nên khốc liệt và gay gắt Giá cả của hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, vì thế, người mua sẽ phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ mong muốn
Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người bán muốn bán hàng hoá của
mình với giá cao nhất trong khi người mua muốn mua với giá thấp nhất Lúc đó, giá cả hàng hóa tại mức cân bằng sẽ do cung cầu quyết định
1.1.3 Các công cụ cơ bản của cạnh tranh
Trong nền kinh tế mà sự canh tranh luôn diễn ra một cách khốc liệt như hiện nay, doanh nghiệp phải biết sử dụng hợp lý các công cụ cạnh tranh Các công cụ
Trang 14cạnh tranh cơ bản gồm có:
Cạnh tranh bằng giá cả: là cách thức cạnh tranh mà các doanh nghiệp đưa ra
một mức giá thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm lôi kéo khách hàng qua
đó tiêu thụ được nhiều hoá đơn hơn và phần nào tăng được lợi nhuận
Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm: là cách thức cạnh tranh mà doanh
nghiệp không còn đua nhau giảm giá mà thay vào đó là nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng phục vụ khách hàng Trong thời đại mà đời sống người dân ngày càng được nâng cao thì chất lượng là một trong những yếu tố được người tiêu
dùng quan tâm hàng đầu khi mua hàng hóa chứ không phải là giá cả
Cạnh tranh bằng kênh phân phối: doanh nghiệp thiết lập mạng lưới kênh phân
phối hợp lý, hiệu quả sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh Hàng hoá được cung cấp mọi lúc, mọi nơi, đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất Điều này sẽ
gây được thiện cảm và lòng tin nơi người tiêu dùng
Cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng cáo: quảng cáo và xúc tiến
bán hàng là những hoạt động nhằm nâng cao sức cạnh tranh và hình ảnh của hàng hóa đối với người tiêu dùng Thông qua các hoạt động này, người tiêu dùng sẽ biết đến sản phẩm nhiều hơn và bắt đầu thử nghiệm sản phẩm Các doanh nghiệp hiện nay thường tốn khá nhiều chi phí cho việc quảng cáo và xúc tiến thương mại
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu theo lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài nhằm thu về lợi nhuận Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc
tế theo IMF thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài
Theo điều 28, mục 1, chương 2, luật thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Xuất khẩu là một trong những hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương và ngày càng phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hội nhập quốc như hiện nay Từ những hình thức trao đổi sơ khai ban đầu, đến nay xuất khẩu đã xuất hiện thêm rất nhiều hình thức mới nhằm tạo thuận lợi cho các bên Nó diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, và trên phạm vi toàn cầu
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại chủ yếu của một
Trang 15trưởng và phát triển của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia bao gồm:
Thứ nhất, xuất khẩu có vai trò thúc đẩy đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Quá trình sản xuất phải liên tục đổi mới trang thiết bị công nghệ, hơn nữa, người lao động phải nâng cao tay nghề, phải học hỏi kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về chất lượng sản phẩm Kinh nghiệm cho thấy khi thay đổi thị trường chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu và đòi hỏi phải thay đổi mẫu
mã, chất lượng sản phẩm sẽ tất yếu xảy ra, điều này kéo theo sự thay đổi trang thiết
bị, máy móc, và lực lượng lao động Xuất khẩu giúp tạo ra những nền tảng kinh tế -
kỹ thuật để thường xuyên nâng cao năng lực sản xuất ở trong nước Vì thế, xuất khẩu giúp cho nước xuất khẩu tiếp thu được những thành tựu khoa học tiên tiến ở các nước phát triển hơn
Thứ hai, xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển Xuất khẩu không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ ,giúp cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển.Vì
có nhiều thị trường thì sẽ phân tán rủi ro do cạnh tranh Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước Thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăng năng suất
Thứ ba, xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó
có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa, nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế, nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu Là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng
Vì thế, xuất khẩu hàng hóa đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trong nước bằng việc mở rộng trao đổi và thúc đẩy việc tận dụng các lợi thế, các tiềm năng, các cơ hội của đất nước trong việc tham gia vào phân công lao động quốc tế Nó không chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, hỗ trợ cho sự phát triển mà còn trở thành yếu tố bên trong của sự phát triển, trực tiếp vào việc giải quyết những vấn đề của nền kinh tế như lao động, công nghệ, nguyên vật liệu, thị trường
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, xuất khẩu càng đóng một vai trò hết sức quan trọng Kết thúc năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 96 tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010 Cùng với đó, nhập siêu được kiềm
Trang 16chế ở mức ấn tượng đạt 9,5 tỷ USD, bằng 9,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng cao được coi là điểm sáng trong một năm đầy khó khăn của nền kinh tế Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá đều đạt và vượt các chỉ tiêu đặt ra Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng mạnh chủ yếu do đơn giá của nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng, trong đó giá nhiều mặt hàng đã tăng mạnh so với năm 2010 như: giá hạt tiêu tăng 65%; giá hạt điều tăng 42%; giá cà phê tăng 44%; giá cao su tăng 29% Nhờ sự tăng mạnh về giá
đã góp phần tạo nên giá trị lớn cho lĩnh vực xuất khẩu và đóng góp rất lớn vào tăng trưởng GDP trong năm 2011 Cùng với đó, các doanh nghiệp ngày càng khai thác được nhiều hơn những ưu đãi từ những lợi thế sau năm năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO và từ các hiệp định thương mại song phương, đa phương Từ đó không ngừng mở rộng và tìm kiếm thêm các thị trường mới để nâng cao kim ngạch xuất khẩu
1.2.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
Để nâng cao sức cạnh tranh, các doanh nghiệp xuất khẩu nên đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu Bằng việc áp dụng những hình thức xuất khẩu chủ yếu như sau:
1.2.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước hoặc từ khách hàng nước ngoài thông qua tổ chức của mình rồi xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ đó Một doanh nghiệp muốn xuất khẩu trực tiếp trước tiên cần phải có nguồn vốn đủ lớn, đội ngũ cán bộ công nhân viên phải có đủ năng lực và trình độ chuyên môn để có thể cải tiến tất cả các khâu trong hoạt động xuất khẩu Nó có những ưu điểm đáng kể như sau:
- Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp tại vì cắt giảm được các chi phí trung gian
- Nắm bắt ngay được nhu cầu của khách hàng nên có thể thay đổi sản phẩm, dịch vụ và những điều kiện bán hàng vì có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trường nước ngoài
1.2.3.2 Xuất khẩu uỷ thác
Xuất khẩu ủy thác việc mà theo đó bên được uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận phí uỷ thác Bên được uỷ thác mua bán hàng hoá là doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác Công ty uỷ thác
Trang 17mua bán hàng hoá là doanh nghiệp giao cho bên được uỷ thác thực hiện mua bán hàng hoá theo yêu cầu của mình và phải trả phí uỷ thác
Hình thức xuất khẩu ủy thác có ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, không cần bỏ vốn vào kinh doanh Thu được một khoản lợi nhuận đáng kể cũng như tạo được việc làm cho người lao động Còn trách nhiệm trong việc tranh chấp hoặc khiếu nại lại thuộc về người sản xuất chứ không phải là bên được ủy thác
Nhược điểm của phương thức xuất khẩu uỷ thác là phải qua trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hồng nhất định cho bên ủy thác Doanh nghiệp phải nắm bắt thông tin về thị trường nhanh nhạy Vì thế, doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức tốt nhất với khả năng của chính mình sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Cắt giảm được chi phí, doanh thu bán hàng tăng, thị trường mở rộng thuận lợi trong quá trình xuất nhập khẩu
1.2.3.3 Mua bán đối lưu
Buôn bán đối lưu(haymậu dịch đối lưu,thương mại đối lưu) là phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa,dịch vụ mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, giá trị lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với giá trị lượng hàng nhận về Mục đích của giao dịch không phải nhằm để thu ngoại tệ mà nhằm để thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương
từ phía đối tác
Buôn bán đối lưu có ưu điểm là tránh được những rủi ro về biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường Mặt khác, còn có lợi khi các bên không đủ ngoại tệ để thanh toán toàn bộ cho lô hàng nhập khẩu của mình Tuy nhiên, nhược điểm của buôn bán đối lưu là nó hạn chế quá trình trao đổi hàng hoá,dịch vụ, việc giao nhận hàng hoá khó diến ra một cách thuận lợi
1.2.3.4 Giao dịch qua trung gian
Giao dịch qua trung gian là hình thức giao dịch mà mọi việc tạo lập quan hệ
giữa người bán với người mua đều phải thông qua một bên trung gian thứ ba Người thứ ba thường là đại lý môi giới hay là người trung gian
Đại lý là một tổ chức hoặc một cá nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo
sự uỷ thác của người uỷ thác, quan hệ này dựa trên cơ sở hợp đồng đại lý Có rất nhiều đại lý khác nhau như đại lý hoa hồng, đại lý toàn quyền, tổng đại lý Môi giới là thương nhân trung gian giữa người mua và người bán Khi tiến hành nghiệp
vụ, người môi giới không đứng tên của chính mình mà đứng tên của người uỷ thác
Do quá trình trao đổi giữa người bán với người mua phải thông qua một người thứ ba nên tránh được những rủi ro như: do không am hiểu thị trường hoặc do sự
Trang 18biến động của nền kinh tế Tuy nhiên phương thức giao dịch này cũng phải qua trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hồng nhất định, nó làm cho lợi nhuận giảm xuống
1.2.3.5 Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên (bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu lại một khoản phí gọi là phí gia công
Đây là hình thức kinh doanh chủ yếu áp dụng cho những nước nơi có nhiều lao động, giá rẻ, nhưng lại thiếu vốn, thị trường Khi đó các doanh nghiệp có điều kiện cải tiến và đổi mới máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng lực sản xuất và thâm nhập vào thị trường thế giới
Mặc dù đây là hình thức kinh doanh mang lại khoản tiền thù lao thấp nhưng nó giải quyết được công ăn việc làm cho nước nhận gia công khi không có đủ điều kiện sản xuất hàng hoá xuất khẩu cả về vốn, công nghệ và có thể tạo được uy tín trên thị trường thế giới Đối với nước thuê gia công có thể tận dụng được lao động của các nước nhận gia công và thâm nhập vào thị trường của nước này
Hình thức này góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu, bởi không phải lúc nào hàng hoá cũng được xuất khẩu trực tiếp, hoặc thông qua trung gian như trường hợp bị cấm vận, bao vây kinh tế Khi đó thông qua phương pháp tái xuất các nước vẫn có thể tham gia buôn bán được với nhau
1.2.4 Nội dung của hoạt động kinh doanh xuất khẩu
1.2.4.1 Nghiên cứu thị trường
a Xác định mặt hàng xuất khẩu
Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu là một trong những bước ban đầu, cơ bản nhưng rất quan trọng và cần thiết để tiến hành hoạt động xuất khẩu Doanh nghiệp phải có một quá trình nghiên cứu chi tiết, phân tích kỹ lưỡng nhu cầu thị trường và của
Trang 19khách hàng để lựa chọn được những mặt hàng hợp với thị hiếu và thu được nhiều lợi nhuận nhất
b Xác định thị trường xuất khẩu
Sau khi đã lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu, bước tiếp theo doanh nghiệp cần phải tiến hành lựa chọn thị trường phù hợp để xuất khẩu mặt hàng đó Doanh nghiệp phải phân tích tổng hợp nhiều yếu tố bao gồm cả những yếu tố vi mô và vĩ
mô, cũng như là khả năng của chính mình để lựa chọn đúng thị trường Điều này yêu cầu doanh nghiệp phải đầu tư nhiều thời gian và chi phí để nghiên cứu thị trường và khách hàng
c Lựa chọn đối tác
Lựa chọn bạn hàng căn cứ khả năng tài chính, thanh toán của bạn hàng và căn
cứ vào phương thức, phương tiện thanh toán Việc lựa chọn bạn hàng luôn theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi Thông thường khi lựa chọn bạn hàng, các doanh nghiệp thường trước hết lưu tâm đến những mối quan hệ cũ của mình Sau đó, những bạn hàng của các doanh nghiệp khác trong nước đã quan hệ cũng là một căn
cứ để xem xét lựa chọn ở các nước đang phát triển Các bạn hàng thường được phân theo khu vực thị trường mà tuỳ thuộc vào sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn để buôn bán quốc tế, mà các quốc gia ưu tiên
d Lựa chọn phương thức giao dịch
Phương thức giao dịch là những cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới Hiện nay, có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch thông qua hội chợ hay triển lãm Tuỳ vào khả năng của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn phương thức giao dịch sao cho đảm bảo các mục tiêu của sản xuất kinh doanh
1.2.4.2 Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu
Đây là một khâu quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu, vì nó quyết định đến tính khả thi hoặc không khả thi của kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả của đàm phán sẽ là hợp đồng được ký kết Đàm phán có thể thông qua thư tín, điện tín và trực tiếp
Tiếp theo công việc đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, trong đó, quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua, còn người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá trị theo các phương tiện thanh toán quốc tế
Trang 20Với những hợp đồng phức tạp, nhiều mặt hàng thì có thể thêm các phụ kiện là
bộ phận không tách rời của hợp đồng
1.2.4.3 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng, hai bên phải thực hiện đúng những điều khoản mình đã cam kết trong hợp đồng Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ thực hiện những công đoạn sau:
Bước 1: mở L/C và kiểm tra L/C đó
Bước 2: chuẩn bị hàng xuất khẩu
Bước 3: kiểm định hàng hoá
Bước 4: thuê phương tiện vận chuyển
Bước 5: mua bảo hiểm hàng hoá
Bước 6: làm thủ tục hải quan
Bước 7: giao hàng lên tàu
Bước 8: thanh toán
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1.2.5.1 Tự do hóa thương mại
Tự do hoá thương mại là việc dỡ bỏ những hàng rào do các nước lập nên nhằm làm cho luồng hàng hoá di chuyển từ nước này sang nước khác được thuận lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng Những hàng rào nói trên có thể là thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, yêu cầu kiểm dịch, phương pháp đánh thuế, Các hàng rào nói trên đều là những đối tượng của các hiệp định mà WTO đang giám sát thực thi
Chính sách thương mại tự do hay chính sách đảm bảo cho hàng hoá và dịch vụ
tự do lưu thông là làm gia tăng cạnh tranh, khuyến khích khả năng sáng tạo và tạo
ra thành công Chính sách thương mại tự do này giúp người ta thu được thêm nhiều lợi nhuận từ việc sản xuất ở điều kiện tốt nhất, với kế hoạch hoàn hảo nhất và giá thành thấp nhất
Bảo hộ làm cho các nhà sản xuất trong nước trở nên cồng kềnh, không hiệu quả, cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm lỗi thời hoặc kém hấp dẫn Và cuối cùng, mặc dù được nhà nước bảo hộ và trợ cấp, các nhà máy vẫn phải đóng cửa và cắt giảm việc làm Nếu chính phủ các nước khác trên thế giới cũng áp dụng những chính sách tương tự thì thị trường sẽ bị thu hẹp và hoạt động kinh tế thế giới
Trang 21các cuộc đàm phán của WTO là ngăn chặn để không bị trượt vào cái dốc bảo hộ, vốn được xem là một biện pháp đi ngược lại với mục đích mà các quốc gia thành
viên đang tìm kiếm
1.2.5.2 Các yếu tố kinh tế
Bất cứ một nền kinh tế nào cũng đều phải chịu tác động của những yếu tố kinh
tế vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, … Những nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Khi lạm phát tăng như trong giai đoan hiện nay, đồng tiền trong nước bị mất giá, giá cả các sản phẩm trong nước sẽ rẻ hơn một cách tương đối so với các sản phẩm ở nước ngoài Vì thế, khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
Khi lãi suất tăng, người dân sẽ gửi tiền vào ngân hàng và nguồnvốn đầu tư sẽ giảm đi Hoạt động kinh doanh cũng gặp khó khăn khi phải đi vay với lãi suất cao hơn
Tỷ giá hối đoái là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu Vì thế Ngân hàng nhà nước luôn có những điều chỉnh để
tỷ giá luôn nằm trong một ngưỡng nhất định để không làm ảnh hưởng quá lớn đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như là các doanh nghiệp khác Khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ Điều này sẽ là yếu tố bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại có lợi cho xuất khẩu
1.2.5.3 Các yếu tố luật pháp
Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc tế, và các doanh nghiệp khi xuất khẩu vào nước nào thì phải tuân thủ luật pháp của nước đó Những yếu tố luật pháp ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp bao gồm:
Các quy định về chống bán phá giá
Các quy định về cạnh tranh, độc quyền
Các quy định về thuế, trợ cấp, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, hạn ngạch
Các quy định về bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn an toàn chất lượng
Các quy định về bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ
Các quy định về lao động, tiền lương, thời gian lao động
Các quy định giao hàng, thực hiện hợp đồng
1.2.5.4 Các yếu tố cạnh tranh
Cạnh tranh có thể thúc đẩy cho các doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị, nâng cấp chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Tuy nhiên, nó sẽ bất lợi các doanh nghiệp
Trang 22chậm phản ứng với những sự thay đổi của môi trường kinh doanh luôn diễn biến rất phức tạp
Các doanh nghiệp có thể nhận ra được các mối đe dọa chính hay thách thức với
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là trung tâm Sự hiểu rõ này sẽ giúp doanh nghiệp có thể đề ra những chiến lược hợp lý nhằm hạn chế sự đe dọa từ đối thủ và tăng cường khả năng cạnh tranh của mình
1.2.5.5 Yếu tố văn hoá
Đối với một doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì sự hiểu biết về văn hóa của các quốc gia là một điều vô cùng quan trọng Nó mang lại cho doanh nghiệp những sự thuận lợi to lớn trên bàn đàm phán cũng như là trong quá trình xuất khẩu hàng hóa sang cho phía đối tác của mình Hiểu biết được môi trường văn hoá sẽ giúp cho doanh nghiệp thích nghi một cách nhanh chóng với thị trường để từ đó có chiến lược đúng đắn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu của mình Yếu tố văn hoá hình thành nên những nhu cầu khác nhau của thị trường, tác động lớn đến thị hiếu của người tiêu dùng Doanh nghiệp chỉ có thể thành công trên thị trường quốc tế khi có sự hiểu biết nhất định về phong tục tập quán, lối sống của người bản địa, mà điều này lại khác biệt ở mỗi quốc gia
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, các quốc gia ngày càng phụ thuộc chặt chẽ với nhau cả về kinh tế và chính trị Chế độ mậu dịch tự do đã thay thế các hàng rào mậu dịch, lợi thế cạnh tranh của nhiều nước đã không còn
Trên thị trường quốc tế, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng gay gắt và quyết liệt hơn Các doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận cạnh tranh công bằng với các công ty nước ngoài để tồn tại và phát triển Vì vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Mặt khác, có rất nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu đã dẫn đến tình trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chỉ tập trung vào tìm cách giảm giá Tình trạng các doanh nghiệp xuất khẩu cạnh tranh với nhau, hạ giá một cách không cần thiết, đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu đã làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp về tính năng, chất lượng, công dụng và mẫu mã sản phẩm
Trang 23Hơn nữa, tiềm lực về tài chính đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân là rất hạn chế, vốn đầu tư ban đầu còn thiếu Thiếu vốn dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không có điều kiện để lựa chọn các mặt hàng có chất lượng cao trong xuất khẩu Đầu tư vào đổi mới các trang thiết bị và công nghệ hiện đại đảm bảo cho quá trình trước khi xuất khẩu của sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh
Trình độ công nghệ, trình độ của lực lượng lao động và năng lực quản lý điều hành doanh nghiệp cũng là những nhân tố quan trọng dẫn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn thấp Theo thống kê, khoảng trên 45% các doanh nghiệp đang sử dụng những công nghệ lạc hậu so với mức trung bình chung của thế giới
và các nước trong khu vực từ 15 năm đến 30 năm Sự yếu kém của đội ngũ quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thấy hết vai trò tối quan trọng của hoạt động quản trị, vì thế, chưa chú trọng đến đội ngũ quản lý, chưa quan tâm đến tuyển dụng, huấn luyện, đào tạo và tạo điều kiện cho các nhà quản lý nâng cao trình độ quản trị của mình
Cuối cùng, khi Việt Nam đã hội nhập WTO, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với các rào cản phi thuế quan của các nước thành viên Hiện nay, các rào cản này chủ yếu là các quy định về tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, nhãn mác hàng hoá, an toàn
vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường… Vì thế, trong quá trình tìm kiếm nguồn hàng để xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý đến các quy định của các nước, các khu vực khác nhau về các yêu cầu liên quan Điều này nhằm làm cho hàng hoá của doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đối tác, nhất là khách hàng khó tính như
EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…Mặt khác, các doanh nghiệp cũng cố gắng hạn chế liên quan đến các vụ kiện tụng Vì khi xảy ra các vụ tranh chấp, kiện cáo, mặc dù Việt nam đã có thuận lợi hơn trước khi là thành viên của WTO, được bảo vệ bởi cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, nhưng các doanh nghiệp vẫn phải chịu rất nhiều chi phí như thuê luật sư, tiền lưu kho hàng hóa … và còn có thể làm mất đi thương hiệu của mình
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về cạnh tranh
Thứ nhất, đừng cố vươn tới mục tiêu trở thành đơn vị số một trên thị trường mà
hãy là đơn vị độc nhất vô nhị trên thị trường đó Một trong những sai lầm cơ bản và
tệ hại nhất của các chiến lược gia là cạnh tranh với đối thủ trong cùng một hốc tường Việc bắt chước hoạt động của đối thủ cạnh tranh chính là sai lầm từ khía cạnh chiến lược Vì thế, đừng cố trở thành công ty số một hoặc số hai trong lĩnh
Trang 24vực của mình mà hãy trở thành đơn vị độc nhất vô nhị với những sản phẩm, dịch vụ độc đáo cùng với những hình thức marketing nổi bật
Thứ hai, các doanh nghiệp nên tập trung vào mục tiêu chính: tỷ suất lợi nhuận
từ đầu tư cao Đây là mục tiêu cơ bản nhất, còn sự tăng trưởng của công ty mới là mục tiêu thứ hai Mục tiêu thứ hai chỉ nên thực hiện sau khi đã hoàn thành mục tiêu thứ nhất Sự tập trung vào các mục tiêu này (tăng thị phần hay tăng doanh số) sẽ tạo ra những rủi ro nội bộ nghiêm trọng đối với chiến lược của công ty
Thứ ba, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp là nền tảng cho việc phân tích
chiến lược cạnh tranh Hiệu quả kinh tế của công ty có được là từ hai yếu tố: cấu trúc ngành (đưa ra những quy tắc cạnh tranh chung) và cấu trúc vị trí của công ty trên thị trường (nguồn gốc lợi thế cạnh tranh) Việc so sánh tỷ suất lợi nhuận từ đầu của các công ty từ nhiều lĩnh vực khác đơn giản sẽ chẳng có ý nghĩa gì trong phân tích cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đó
Thứ tư, thỏa hiệp là một phần của cuộc chơi Phần cơ bản của chiến lược là
chọn lựa đúng khi hai vị trí chiến lược không tương hợp, nghĩa là phải xác định xem công ty nên thực hiện việc gì và không nên thực hiện việc gì
Thứ năm, chiến lược cần phải thành công trong từng mắt xích của chuỗi tạo
dựng giá trị Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không thể được tập trung vào một hoặc một số mắt xích của chuỗi tạo dựng giá trị mà phải đạt được sự thành công trên tất cả các mắt xích
Thứ sáu, chiến lược cạnh tranh phải bất biến và cố định Sự bất biến trong chiến
lược chính là điều đảm bảo cho sự ổn định về doanh thu và lợi nhuận của công ty Không nên chạy theo sở thích của người tiêu dùng mà làm sai lệch chiến lược cạnh tranh của công ty Điều này đã được công ty Apple của Mỹ sử dụng một cách rất thành công Tất cả các sản phẩm của Apple đều đi trước xu hướng dẫn dắt người tiêu dùng chứ không bao giờ chạy theo sở thích của người tiêu dùng Việc thường xuyên tăng cường sự quan tâm tới đòi hỏi và cả sự than phiền của người tiêu dùng chính là mối đe dọa nghiêm trọng đối với quá trình và trình tự chiếc lược mà doanh nghiệp đã lựa chọn từ ban đầu
Thứ bảy, phân khúc thị trường là phần quan trọng trong việc tạo dựng chiến
lược Doanh nghiệp có thể lựa chọn bất cứ phân khúc người tiêu dùng nào, sản phẩm nào hay tạo động cơ mua sản phẩm hay dịch vụ Điều cơ bản để có được phân khúc lựa chọn được rõ ràng và không xảy ra sự xói mòn hay trùng lặp thì tất
cả các mắt xích của chuỗi tạo dựng giá trị cần phải phù hợp với những phân khúc này
Trang 25Thứ tám, quản lý của doanh nghiệp không phải là người sử dụng chiến lược mà
là động cơ của chiến lược Vai trò người đứng đầu doanh nghiệp trong việc tạo dựng và thực thi chiến lược dẫn đến các chức năng sau: đặt ra các câu hỏi mà câu trả lời cần được thể hiện trong kế hoạch chiến lược, lựa chọn các thành viên tham gia vào việc tạo dựng chiến lược, tham gia vào các giai đoạn đầu tiên của việc phát triển chiến lược trong từng bộ phận kinh doanh của công ty, để hội đồng quản trị của công ty biết các kế họach chiến lược cơ bản của công ty và thu hút các chuyên gia tư vấn bên ngoài công ty Hơn nữa, công ty cũng cần chú ý rằng, chiến lược cạnh tranh của mình cần phải liên quan đến tất cả các thành viên trong công ty chứ không phải chỉ có ban quản lý công ty Nếu như cán bộ, công nhân viên của công ty không tiếp nhận chiến lược đã lựa chọn thì điều này có nghĩa rằng họ không thể tiếp tục làm việc trong công ty
1.4.2 Kinh nghiệm quốc tế về xuất khẩu
Thứ nhất, luôn tìm hiểu kỹ càng về thị trường xuất khẩu Bao gồm các tiêu
chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường và đặc biệt là thói quen tiêu dùng của người dân nước xuất khẩu Để có được những điều này, doanh nghiệp phải tìm hiểu các tài liệu, tham khảo các đại sứ quán và cử các phái đoàn sang khảo sát nhu cầu thị trường
Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu Chúng ta đang ở trong bối cảnh cạnh
tranh xuất khẩu ngày càng gay gắt, đặc biệt là các loại hàng hóa giá thấp Ấn Độ, Trung quốc, Myanma tuyên bố sẽ tăng cường xuất khẩu các mặt hàng có giá trị thấp này trong năm nay Để bứt lên trong xuất khẩu, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế, thâm nhập một số thị trường khó tính như Mỹ và châu Âu thì phải xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm xuất khẩu Việt Nam
Thứ ba, nâng cao giá trị thay vì chạy theo số lượng Các nước xuất khẩu lớn
hiện nay trên thế giới đã không còn chú trọng đến kim ngạch xuất khẩu nữa mà chú trọng hơn đến giá trị trên mỗi đơn vị xuất khẩu Ví dụ như xuất khẩu gạo của Thái Lan luôn hơn Việt Nam về chất lượng vì thế doanh thu họ thu về trên một đơn vị gạo xuất khẩu cũng lớn hơn nhiều so với Việt Nam
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT
TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ – THƯƠNG MẠI
VÀ PHÁT TRIỂN
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển
* Tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển
* Thành lập ngày 28/4/2005 theo quyết định số 3505/QĐ/KHĐT
* Trụ sở chính: Số 24 Hoà Mã - Phường Phạm Đình Hồ - Quận Hai Bà Trưng –
- Thị trường chủ yếu là: Nhật Bản, EU, Châu Phi
Chức năng và nhiệm vụ của công ty: hoàn thành kế hoạch và chỉ tiêu đặt ra, kinh doanh đúng pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo ra nhiều phúc lợi cho
Trang 27xã hội Xây dựng và tổ chức các kế hoạch hoạt động, nghiên cứu nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế để tìm kiếm những cơ hội kinh doanh
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển
Trải qua một thời gian thành lập và phát triển, đến nay công ty đã có một bộ máy tổ chức khá hoàn thiện:
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT
Với số lượng ban đầu chỉ là 15 người, trải qua 7 năm hình thành và phát triển, hiện này số lượng cán bộ nhân viên của công ty lên tới 50 người Từ chỗ chưa có
cơ cấu tổ chức bộ máy rõ ràng, đến nay, công ty đã có các phòng ban riêng thực hiện những nhiệm vụ khác nhau
Giám đốc: là người có quyền quyết định thực thi kế hoạch, chiến lược phát
triển của công ty Thông qua sự cố vấn tham mưu của các phòng ban khác để đưa
ra những quyết định cuối cùng liên quan đến các hoạt động của công ty
Nhiệm vụ chủ yếu của giám đốc là:
- Giám sát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
- Ký kết các hợp đồng
- Thay mặt doanh nghiệp ký kết các hợp đồng kinh tế phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Bổ nhiệm hay bãi nhiệm cán bộ nhân viên trong công ty
Các phó giám đốc: là những người tham mưu cho giám đốc về các kế hoạch,
chiến lược phát triển công ty
PHÒNG XNK
P TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN
PHÒNG BAN KHÁC
PHÒNG
TỔ CHỨC
Trang 28Các phó giám đốc tổ chức và triển khai các quyết định của giám đốc tới các phòng ban trực thuộc theo sự phân công của giám đốc
Phòng kế toán tài chính: có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc những vấn đề
liên quan đến tài chính của công ty
- Xử lý các vấn đề liên quan đến tiền bạc của công ty
- Bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
- Duyệt chi những khoản đầu tư cho công ty
- Mở tài khoản tại ngân hàng
- Hạch toán, lập các báo cáo tài chính cho công ty
Phòng tổ chức: có chức năng tham mưu cho giám đốc và các phó giám đốc tổ
chức thực hiện công tác, xây dựng và lựa chọn mô hình tổ chức lao động sao cho phù hợp với đường hướng của công ty
Nhiệm vụ của phòng tổ chức:
- Chịu trách nhiệm tuyển dụng lao động, đào tạo bồi dưỡng cán bộ
- Thực hiện chế độ khen thưởng đúng mức, xây dựng chế độ lương thưởng cho nhân viên
- Tổ chức thi đua khen thưởng và kỉ luật trong công ty
- Tổ chức các công tác hành chính quản trị, mua sắm các trang thiết bị văn phòng
Phòng xuất nhập khẩu: thực hiện các giao dịch với đối tác của mình và báo cáo
kết quả lại cho phó giám đốc, giám đốc
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN
Từ năm 2007-2011, mặc dù gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty nhưng toàn thể cán bộ, nhân viên của Công ty đã không ngừng cố gắng, nỗ lực hết sức mình, sử dụng triệt
để mọi các phương thức kinh doanh: xuất nhập khẩu gián tiếp, xuất nhập khẩu trực tiếp, xuất nhập khẩu ủy thác và tự doanh Vì thế, Công ty dần dần khẳng định được
vị thế của mình trong kinh doanh
Hiện nay, công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT đã có thị trường rộng lớn từ trong khu vực lẫn quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng qua từng năm và mang
Trang 29Bảng 2.1.Kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT từ
năm 2007 – Quý I/2011
Trang 30sự cố gắng rất lớn của cả tập thể công ty Công ty TNHH ĐT-TM và PT đã không ngừng đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, hình thức xuất khẩu để đạt được những kết quả như mong muốn
Có thể thấy rõ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đã ảnh hưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu của công ty Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 2.026.000 USD lên đến đỉnh cao là năm 2010 với 2.987.000 USD nhưng ngay năm sau 2011 đã sụt giảm xuống còn 1.283.000 USD Cuộc khủng hoàng kinh tế tồi tệ nhất thập kỷ đã tác động đến tâm lý tiêu dùng của người dân các quốc gia trên toàn thế giới Vì thế họ đã cắt giảm chi tiêu một cách đáng kể và tăng tiết kiệm Mặc dù công ty đã có những sự thay đổi trong chiến lược xuất khẩu cũng như là các mặt hàng xuất khẩu nhưng vẫn không thể tránh khỏi những khó khăn chung của toàn thị trường Và đạt được những kết quả tăng trưởng như vậy là một thành công rất lớn của cả công ty Trong năm 2011, nền kinh tế thế giới một lần nữa bị lung lay bởi nguy cơ vỡ nợ công của các nước ở châu Âu mà nổi lên là Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Các nước này đã cắt giảm chi tiêu công, kéo théo đó là hàng loạt cắt giảm chi tiêu không đáng có trong dân chúng khiến cho nhu cầu nhập khẩu hàng hóa bị sụt giảm đáng kể Chính vì thế, những thay đổi của công ty nhằm cải thiện kim ngạch xuất khẩu đã không còn có tác dụng nữa
Hơn nữa, có thể dễ nhận thấy kim ngạch nhập khẩu của công ty luôn lớn hơn kim ngạch xuất khẩu khá nhiều Điều này cũng bị ảnh hưởng phần lớn bởi vì Việt Nam đang trong giai đoạn nhập siêu cao Tuy nhiên, vai trò của của xuất khẩu cũng rất quan trọng khi mang về một lượng ngoại tệ không nhỏ cho công ty Trong những năm qua, mặc dù gặp phải rất nhiều sự cạnh tranh trong việc tìm kiếm đối tác xuất khẩu, nhưng công ty đã không ngừng nâng cao năng lực của chính mình, tăng chất lượng nghiệp vụ và hình ảnh của công ty nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc xuất khẩu hàng hóa nhằm tăng kim ngạch và thu được nhiều lợi nhuận hơn Và còn góp một phần ngoại tệ cho đất nước
2.2.1 Báo cáo kết quả hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian qua
Hoạt động xuất khẩu hàng năm đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu của công ty từ đó đóng góp một phần thuế vào ngân sách của Nhà nước Những hoạt động xuất khẩu chính của Công ty là: xuất khẩu trực tiếp, nhận xuất khẩu ủy thác cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, liên doanh với các đối tác trong và ngoài nước
Trang 31Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của công ty từ 2007- quý I/2012
Năm
Kim ngạch xuất khẩu
Tỷ lệ tăng trưởng
(%)
Tỷ trọng trong kim ngạch xuất nhập khẩu (%)
Biểu đồ 2.2.Kim ngạch xuất khẩu của công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT từ
năm 2007 – Quý I/2012
Nhìn chung, các năm gần đây, tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của công ty luôn thấp, chỉ chiếm từ 25-35% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty nhưng có xu hướng giảm qua các năm
Trang 32Trong 4 năm từ 2007 đến 2010, hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, kim ngạch xuất khẩu luôn tăng Hai năm này, kim ngạch xuất khẩu của năm 2010 đã đánh dấu bước tiến vượt bậc của công
ty trong hoạt động xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu đạt 2.987.000 USD, và đóng góp 35,32% vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Công ty có thể đạt được mức tăng như vậy là nhờ công ty đã tìm được nhiều hợp đồng xuất nhập khẩu mang lại lợi nhuận cao Mà có được điều đó là nhờ các thành công sau:
Công ty đã đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu như: thủy hải sản, nông sản, lâm sản, nguyên vật liệu, máy móc, hóa chất, các thiết bị phụ tùng Vì thế đã nâng cao được khả năng cạnh tranh so với việc chỉ xuất nhập khẩu một số mặt hàng quan trọng Hơn nữa, việc xuất nhập khẩu nhiều loại mặt hàng khác nhau cũng hạn chế
sự ảnh hưởng của sự biến động trong kim ngạch Nếu một mặt hàng giảm số lượng thì sẽ có mặt hàng khác tăng số lượng Do vậy, đa dạng hóa các mặt hàng xuất nhập khẩu là một chiến lược đúng đắn của công ty
Hơn nữa, công ty cũng có một đội ngũ nhân viên tận tình, năng động, luôn cố gắng phát huy hết khả năng của mình để đóng góp cho sự phát triển của công ty Chính họ là những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của công ty ngày hôm nay
Công ty đã được thành lập hơn sáu năm và đang có những bước đi rất vững chắc Có được điều đó là nhờ luôn nâng cao chất lượng dịch vụ, khả năng phản ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của thị trường Nhờ đó, qua thời gian, công ty đã khẳng định được vị thế và tên tuổi của mình trong nước cũng như từng bước nâng cao hình ảnh của mình với các đối tác nước ngoài
Ban lãnh đạo, ban giám đốc và các phòng ban trong công ty luôn cố gắng tìm kiếm những hướng đi mới, những thị trường mới cho các sản phẩm Dưới sự chỉ đạo, đôn đốc kịp thời của các lãnh đạo trong công ty thì toàn thể nhân viên trong công ty luôn luôn tin tưởng và yên tâm làm việc
Hai năm cuối giai đoạn 2007 – 2011, khi Công ty nói riêng và kinh tế thế giới nói chung, chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình hình xuất khẩu của Công ty có chiều hướng chững lại và bắt đầu giảm Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của Công ty vẫn giữ ở mức cao đạt 2,6 triệu USD, nhưng lượng tăng không lớn Riêng năm 2011, lượng xuất khẩu lại giảm, thay vào đó là lượng tăng đáng kể hàng nhập khẩu, nguyên nhân là do:
Các sản phẩm xuất khẩu của công ty chịu sự cạnh tranh gay gắt của các công ty xuất nhập khẩu khác cả ở trong lẫn ngoài nước Giá cả thị trường trong và ngoài nước biến động khôn lường và tình hình buôn gian bán lận thương mại còn khá phổ