Điều tra tỉ lệ mắc bệnh béo phì của trẻ mầm non lứa tuổi 4 -5 tuổi ở huyện Đông Anh - Hà Nội. Nguyên nhân và biện pháp khắc phục (KL04250)
Trang 1CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1 1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tương lai Việc chăm sóc, bảo vệ và
giáo dục trẻ em ngày càng được toàn cộng đồng đặc biệt quan tâm Khi trẻ bị
bệnh tức là sự lớn lên và phát triển của cơ thể trẻ rối loạn, quá trình sinh học của trẻ không được bình thường Vì vậy, trẻ bị bệnh không những ảnh hưởng tới tính mạng, sự phát triển về thể chất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tỉnh thần và trí tuệ của trẻ
Việt Nam năm trong khối các nước đang phát triển, nền kinh tế còn gặp
nhiều khó khăn Trẻ em Việt Nam thường mặc một số bệnh như: bệnh suy
dinh dưỡng, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy Các bệnh do
dinh dưỡng đã giảm rõ rệt nhưng số trẻ suy dinh dưỡng nặng và vừa vẫn còn cao Tuy nhiên, những năm gần đây lại gia tăng với một tốc độ báo động tình
trạng thừa cân béo phì, bệnh tiêu đường, bệnh tim mạch, ung thư chủ yếu
do kinh tế phát triển nhanh đặc biệt ở các đô thị và thành phó
Béo phì là một loại bệnh mới gia tăng và có thé xem như một vấn đề
dinh dưỡng khẩn cấp với hơn 1,6 tỉ người lớn mắc phải trên toàn cầu Đây cũng là yếu tổ nguy cơ tiềm ấn cho các bệnh mãn tính khác như bệnh tim
mạch, ung thư, bệnh tiêu đường ở trẻ thửa cần béo phì khi trẻ lớn lên Việc
phòng và trị bệnh béo phì ở trẻ rất khó khăn, phần lớn do sự bất hợp lý của chế độ ăn uống, hoạt động thể lực và các hành vi lỗi sống Nhận thấy đây là
vấn đề y tế cộng đồng mới, nhiều nghiên cứu về béo phì đã được tiễn hành và các yếu tố nguy cơ cũng như giải pháp khắc phục đã được đề cập Tuy vậy vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập các yếu tố nguy cơ đến tình trạng thừa cân béo phì cũng như xác định tỉ lệ thừa cân béo phì của trẻ mầm non từ 4 - 5 tuổi
Trang 2tại huyện Đông Anh — một huyện thuộc ngoại thành của thành phố Hà Nội,
hiện nay đang rất phát triển về mọi mặt Điều này thúc đấy tôi nghiên cứu đề tài “Điều tra tỉ lệ mắc bệnh béo phì của trẻ mầm non lứa tuỗi 4 - 5 tuỗi ở huyện Đông Anh - Hà Nội, nguyên nhân và biện pháp khắc phục” là mong muốn cải thiện tình trạng thừa cân béo phì hiện nay
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ thừa cân béo phì và các yếu tố
nguy cơ ở trẻ từ 4 - 5 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Đông
Anh - Hà Nội, từ đó có các biện pháp khắc phục
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về bệnh thừa cân béo phì ở trẻ
- Nghiên cứu về chiều cao, cân nặng cơ thể trẻ
- Nghiên cứu về cha mẹ trẻ và chế độ đinh dưỡng cho trẻ
- Xác định tỉ lệ thừa cân béo phì của trẻ 4— 5 tuổi ở huyện Đông Anh
Trang 3CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Lịch sử nghiên cứu
2.1.1 Trên thế giới
Từ những năm trước công nguyên đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu
về con người như Aristot, Galen, Polyket
Sau công nguyên, việc nghiên cứu về con người lại càng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Năm 1967, hai nhà khoa học là Spavelski và Z.Zawatski đã xuất bản
cuốn sách “Những hằng số sinh lý trong lâm sàng nội khoa” và khẳng định
chiều cao trọng lượng cơ thé phụ thuộc vào hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh Yếu tố nội sinh gồm: giới tính, chủng tộc, di truyền, tuôi tác
Yếu tố ngoại sinh gồm: điều kiện môi trường, chế độ ăn uống nghỉ ngơi Công thức: Cân nặng x 100 / chiều cao
Trong đó:
Can nang: kg (kilogam)
Chiéu cao: cm (centimet)
Nếu chỉ số này là 30 — 40 tức cơ thể phát triển bình thường Nếu nhỏ
hơn là thiếu cân Nếu lớn hơn là thừa cân
Tổ chức Y Tế Thế giới khuyên dùng chỉ số khối cơ thể BMI (Body
Mass Index) để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị thừa
cân, béo phì hay gầy
BMI < 18,5 : gầy/nhẹ cân
18,5 <BMI <23 : Bình thường
23 < BMI < 25 : Thừa cân
Trang 4Cuốn sách “Hằng số sinh học của người Việt Nam” xuất bản năm 1975
là công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như Nguyễn Tấn Gi Trọng, Vũ
Triệu An, Bùi Thụ, Đỗ Xuân Hợp Ngoài ra, GS Chu Văn Tường, G8 Trần
Quy, BS Nguyễn Quang Anh, GS Đào Ngọc Diễn đã đề cập tới mối liên
quan giữa các chỉ tiêu hình thái (chiều cao, trọng lượng cơ thể ) với sức khỏe trẻ em qua cuốn “Bài giảng nhi khoa” xuất bản năm 1991
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Lê Thị Khánh Hòa, Hàn Nguyệt
Kim Chi, Lê Thị Ngọc Ái, Vũ Yến Khanh, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Tổ
Mai đã nghiên cứu trên địa bàn khá rộng như Lào Cai, Yên Bái, Hà Nội, Huế,
Đắc Lăk, TP Hồ Chí Minh trên đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi về các chỉ tiêu
chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực, vòng cánh tay với số lượng là
12286 em [14]
Lân đầu tiên, UBND TP.Hồ Chí Minh cho phép Trung tâm dinh dưỡng
triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học có tên: “Khảo sát khuynh
hướng béo phì và các yếu tố nguy cơ ở trẻ 4 — 5 tuổi tại các trường mầm non
nội thành TP.HCM năm 2005” do bác sỹ Phạm Thị Ngân Hà làm chủ nhiệm
đề tài Thời gian thực hiện 1 năm (kết thúc vào tháng 02/2006) với kinh phí
3.800 USD do trường Đại học Jutendo — Nhật Bản tài trợ [14]
Nghiên cứu “Tỉ lệ thừa cân, béo phì và các yếu tô liên quan của học
sinh mẫu giáo từ 4 — 6 tuổi tại quận 5 Thành phố Hỗ Chí Minh” năm 2006
Trang 5của tác giả Phùng Đức Nhật đã cho thấy tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì rất cao là 21,2% (trong đó 13,2% là thừa cân và 8% là béo phì) và rất nhiều nghiên cứu khác [14]
Từ 2 — 10 tuổi với trẻ gái và 2 — 12 tuổi với trẻ trai cân nặng tăng chậm,
trung bình mỗi năm tăng được 1,5 kg Cân nặng trẻ gái thường nhẹ hơn trẻ
trai khoảng lkg Chiều cao tăng chậm hơn năm đầu, trung bình tăng được 5,5
— 9cm với nam và 5 — 8cm với nữ [3]
Để ước tính chiều cao cho trẻ trên 1 tuổi, ta có thể áp dụng công thức sau:
X (cm) = 75 +5(N-]) (X = chiều cao, N = số tuổi tính theo năm)
Trọng lượng cơ thể trẻ từ 2 — 10 tuôi, tính theo công thức:
X(kg)=9+1,5(N-]1) (X = cân nặng, N = số tuổi tính theo năm)
2.2.1.2 Sự phát triển tâm vận động ở trẻ em
Quả trình phát triển tâm vận động có 4 khía cạnh:
- Các động tác vận động
- Sự khéo léo kết hợp các động tác
- Sự phát triển về lời nói
- Quan hệ của trẻ đối với người và môi trường xung quanh
Trẻ từ 3 — 6 tuổi: Đây là lứa tuôi sôi động nhất
Trang 6- Đôi tay trẻ khéo léo hơn nhiều những nắm trước, trẻ biết cầm dao, cầm kéo, buộc dây
- Đi lên xuống câu thang dễ dàng, đi xe bánh, đi cầu bập bênh
2.2.2 Đặc điểm bệnh lí trẻ em
2.2.2.1 Đặc điểm sinh học
- Tốc độ tăng trưởng chậm hơn
- Răng sữa bắt đầu mọc từ 6 tháng tuổi Đến 3 tuổi trẻ đã có đủ 20 răng Khoảng 6 tuổi trẻ đã bắt đầu thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn
- Chức năng cơ bản của các bộ phận dần dân hoàn thiện
- Chức năng vận động phát triển nhanh, hệ cơ phát triển, trẻ có khả
năng phối hơp động tác khéo léo hơn
- Trí tuệ phát triển nhanh, đặc biệt về ngôn ngữ
2.2.2.2 Đặc điểm bệnh lí
- Xu hướng bệnh ít lan tỏa
- Xuất hiện các bệnh có tính chất di ứng: hen phế quản, nỗi mè đay, viêm cầu thận cấp
- Do tiếp xúc rộng rãi nên trẻ dễ mắc một số bệnh lây nhưng nhờ tiêm phòng tốt nên hiện nay đã giảm rõ rệt
Trong giai đoạn này, việc giáo dục thể chất và tạo môi trường thuận lợi
cho sự phát triển tâm sinh lí có vai trò hết sức quan trọng
2.2.3 Các yếu tô ảnh hưởng
2.2.3.1 Các yễu tô ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ
Quá trình tăng trưởng của trẻ chịu ảnh hưởng tương tác của hai yếu tổ
cơ bản là di truyền và môi trường [3]
+ Di truyền:
- Giới tính, chủng tộc
- Các yêu tô gen
Trang 7+ Nội tiết: hormone các tuyến giáp, tuy, thượng thận, sinh dục, tuyến vên
+ Bệnh tật: Các bệnh về chuyên hóa, thận, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim
mạch, tiêu hóa
+ Khuynh hướng thế tục (secular trenđ): Là xu hướng tăng trưởng theo thời gian
2.2.3.2 Cac yéu t6 nh hưởng đến sự phát triển tâm vận động của trẻ
Yếu tổ bên trong: Sự phát triển tâm vận động diễn biến song song với trưởng thành của hệ thần kinh trung ương và cơ thể nói chung Trẻ sơ sinh, não chưa trưởng thành vì các tế bào thần kinh chưa được myelin hóa Quá trình myelin hóa hình thành sự phát triển tinh thần vận động [3]
Yếu tô bên ngoài: Môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn, sự tương tác
giữa thể chất và môi trường xã hội góp phần phát triển tế bào thần kinh Gia
đình và những cử chỉ hành động, lời nói đều có ảnh hưởng đến sự trưởng thành của trẻ [3]
Trang 82.3 Tình hình bệnh tật và tử vong ở trẻ em
2.3.1 Tình hình mắc bệnh ở trẻ em trên thế giới
Trẻ em chiếm gần 40% dân số trên thế giới (1991), tình hình mắc bệnh
chung là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, y học xã hội [3 |
Ở các nước phát triển, trẻ em thường mắc các bệnh do di tat bam sinh,
ung thư, còn các bệnh nhiễm trùng và do thiếu đinh dưỡng không đáng kẻ
Ở các nước đang phát triển, trẻ em thường mắc các bệnh do nhiễm
trùng và thiếu dinh dưỡng, bệnh truyền nhiễm, các bệnh do kí sinh trùng
2.3.2 Tình hình mắc bệnh ở trẻ em Việt Nam
Trẻ em Việt Nam thường mặc một số bệnh như bệnh suy dinh dưỡng,
bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy, các bệnh truyền nhiễm,
bệnh giun sán Các bệnh do dinh dưỡng rất nặng đã giảm rõ rệt nhưng số trẻ suy dinh dưỡng nặng và vừa còn cao Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A đã
giảm rõ rệt Bên cạnh đó lại gia tăng tình trạng thừa cân, béo phì, bệnh tiêu đường, tim mạch, ung thư, tai nạn
2.3.3 Tình hình tử vong của trẻ em ở các nước đang phát triển
Tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi còn rất cao Hằng năm, có khoảng hơn 12 triệu trẻ em đưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị chết, trong đó số trẻ tử vong ở giai đoạn sơ sinh khoảng 4 triệu, từ I — I1 tháng là 4110000 và
từ 1 — 5 tuổi là 4110000 Như vậy, 2/3 số trẻ tử vong dưới 5 tuổi xảy ra trong
năm đầu
Nguyên nhân tử vong chủ yếu là suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn trong đó đứng hàng đầu hô hấp cấp (25%), tiêu chảy (23%), uỗn ván sơ
sinh (5%), sốt rét (8%), sởi (9%) [3]
Trang 92.3.4 Các bệnh thường gặp ở trẻ em
2.3.4.1 Các bệnh liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa
Bệnh do thiếu dinh dưỡng gỗm: Bệnh suy dinh dưỡng, bệnh còi xương
do thiếu vitamin D, bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, bệnh thiếu máu do thiếu sắt, bệnh biếu cổ do thiếu lôt, bệnh thiếu vitamin BI, bệnh thiếu vitamin C
Bệnh thừa cân, béo phì tồn tại song song với thiếu dinh đưỡng
2.3.4.2 Bệnh thuộc hệ tiêu hóa
Bệnh tiêu chảy cấp tính, bệnh giun (giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim)
2.3.4.3 Bệnh thuộc hệ hô hấp
Bệnh nhiễm khuẩn: viêm mũi họng cấp, viêm amidan., viêm tai giữa,
viêm phối
Bệnh hen
2.3.4.4 Bệnh thuộc hệ tiết niệu
Bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bệnh viêm cầu thận cấp
2.3.4.5 Bệnh thấp tim
Bệnh thấp tim ban đâu (cấp I), bệnh thấp tim tái phát (cấp II)
2.3.4.6 Bệnh truyền nhiễm
Bệnh truyền nhiễm là bệnh nhiễm trùng có khả năng lây truyền sang
người xung quanh trực tiếp hoặc gián tiếp qua các môi giới trung gian (như
nước, thức ăn, vật dung, côn trùng )
Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp: Bệnh sởi, bệnh viêm gan do
virut, bệnh thủy đậu, bệnh cúm, bệnh sốt xuất huyết, bệnh viêm não Nhật Bản,
bệnh chân tay miệng, bệnh lao, bệnh quai bị bệnh bạch cầu, bệnh ho gà, bệnh
bại liệt, bệnh AIDS
Trang 10Một đứa trẻ khỏe mạnh là một đứa trẻ không những không có bệnh mà
phải có một trạng thái thoải mái về tâm thần, sống trong gia đình hạnh phúc, trong một xã hội lành mạnh, có thể chất tốt Nghĩa là các yếu tô về sinh lý, về
xã hội phải luôn gan chặt với nhau, hỗ trợ bô sung cho nhau Muốn có một
đứa trẻ khỏe mạnh phải chú trọng đến các yếu tố phát triển thể chất, tâm lí và môi trường sống lành mạnh
2.4.2 Chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã đề xướng một chương trình Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em gồm 7 nội dung, viết tắt băng Tiếng Anh 1a GOBIFFF:
- Theo dõi biểu đỗ tăng trưởng (Grawth chart)
- Bù nước bằng đường uống (Oral rehydratation)
- Bú sữa mẹ (Breast feeding)
- Tiêm chủng (Imumn1zation)
- Kế hoạch hóa gia đình (Family planning)
- Cung cấp thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em (Food Supplement)
Trang 11- Giáo dục sức khỏe cho bà mẹ (Female Education)
Theo Bộ Y tế Việt Nam có thêm nội dung: Phòng thiếu vitamin A và phòng các tai biến sản khoa [3]
2.5 Một số vấn đề về bệnh thừa cân, béo phì
2.5.1 Khái niệm
Béo phì là bệnh do mỡ tích lũy quá nhiều trong co thé, lam thay déi co
năng sinh lý, sinh hóa của cơ thể, dẫn đến các tổ chức mỡ tích tụ quá khối
Theo Đông y: Béo phì thường là bệnh “Trong hư ngoài thực” Trong hư
chủ yếu là khí hư Bệnh ở Tỳy, Thận, Can, Phế và Tâm Trên lâm sảng thường
gặp là Tỳ Thận khí hư, Can đờm mắt chức năng sơ tiết [14]
Ở trẻ em: Béo phì là sự tăng quá mức của lượng mỡ dự trữ dẫn đến cân nặng bất thường quá mức so với chiều cao của trẻ em
2.5.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại
2.5.2.1 Tính theo cân nặng tiêu chuẩn (CNTC)
Công thức: CNTC = chiéu cao (cm) — 100 x 0,9
Một người có cân nặng so với CNTC vượt từ 10 — 9,9% gọi là mập, từ
20% trở lên là béo phi
Trọng lượng cơ thể của trẻ nhỏ (kg) = tuổi x 2 + 8
2.5.2.2 Tính theo tỉ lệ phân trăm mỡ (ký hiệu F)
F = (4,570/mật độ cơ thể - 4,142) x 100
Nam giới F = 15%, vượt quá 25% gọi là béo phi
Trang 12Nữ giới F = 22%, vượt quá 30% gọi là béo phì
Béo phì được chia làm 3 độ:
Béo phì độ I: Cân nặng tử 20 — 30 %› CNTC
Béo phì độ II: Cân nặng tử 30 — 40 %4 CNTC
Béo phì độ III (nặng): Cần nặng từ 40 — 50 %2 CNTC
2.5.2.3 Tinh theo BMI
Công thức: BMI = cân nặng (kg)/chiều cao2 (m)
BMI < 18,5 : gầy/nhẹ cân
18,5 <BMI < 23 : Bình thường
23 < BMI < 25 : Thừa cân
25 < BMI < 30 : Béo phì độ I
30 < BMI < 55 : Béo phì độ II
BMI >35 : Béo phi độ II
2.5.2.4 Theo Đông Y, dựa vào triệu chứng lâm sàng có thể chia béo phì thành 5 loại sau
Loại Tỳ hư thấp trở: Béo phì, phù, mệt mỏi, uê oải, thân thể nặng, chân
tay nặng, tiểu it, bung day, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch trầm, nhu
Loại vị nhiệt thấp trở: Béo phì, đầu nặng, choáng váng, thân thé moi
mệt, khát, thích uống nước, rêu lưỡi hơi vàng nhờn, mạch nhu
Loại can khí uất trệ: Béo phì, ngực day, hông sườn trướng tức, kinh nguyệt không đều hoặc bề kinh, mắt ngủ, hay mơ, lưỡi sim, mach nhu
Loại thận dương suy: Béo phì, đầu váng, lưng đau, chân mỏi, ngũ tâm
phiền nhiệt, rêu lưỡi mỏng, đầu lưỡi đỏ mạch nhu
2.5.3 Tình hình thừa cần, béo phì
Tình trạng thừa cân béo phi đang có xu hướng gia tăng nhanh ở các
thành phố Tỉ lệ thừa cân béo phì thể hiện rõ nhất ở học sinh tiểu học từ 6 — 10
tuôi với 9% và trung học cơ sở là 6% [14]
Trang 13Kết quả điều tra dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng năm 2009 cho thấy
chỉ trong 9 năm từ năm 2000, tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì đã tăng 6,2 lần Tỉ lệ
thừa cân béo phì ở trẻ đưới 5 tuổi năm 2000 ở thành phố là 0,86%, ở nông
thôn là 0,5% Năm 2009, tỉ lệ tương ứng là 5,7% và 4,2% Kết quả điều tra
còn cho thấy trước năm 1995 thì tỉ lệ thừa cân ở trẻ em là không đáng kể, từ
năm 1996 trở đi bắt đầu gia tăng [4]
Ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996 có 2% trẻ dưới 5 tuổi thừa cân
béo phì, năm 2001 là 3,3% Xu hướng thừa cân béo phì xuất hiện ở lứa tuổi
49 — 59 tháng và tăng dần theo lứa tuổi, tỉ lệ trẻ nam cao hơn trẻ nữ
Nam 1997 — 1998, Viện Pasteur điều tra 3305 trẻ từ 3 — 10 tuổi tại
thành phố Nha Trang và kết quá có 3,5% trẻ thừa cân béo phì Năm 1999,
Nguyễn Thìn nghiên cứu lứa tuổi mẫu giáo tại Nha Trang cho tỉ lệ TC — BP 1a
4,2% [14]
Năm 2000, kết quả điều tra của Lê Thị Bạch Mai trên phạm vi cả nước
là 2,2% trẻ 6 — 14 tuôi thừa cân, trong đó 6,6% ở thành phó, nông thôn là
1,2% [14]
Điều tra Y tế quốc gia 2001 — 2002, tỉ lệ thừa cân béo phì trẻ 5 — 10 tuổi thuộc miền Đông Nam Bộ là 2,2%, Tây Bắc là 1,6%
Ở người trưởng thành, theo FAO (1990) tý lệ béo phì chung ở thành thị
của Việt Nam là 1,57%% tăng 4 lần so với năm 1985 là 0,4%
Theo điều tra của Viện Dinh Dưỡng (1994) tỷ lệ béo phì chung của
Việt Nam là 1,5%, trong đó khu vực thành thị là 5%
Tuy số liệu chưa thực day du va toan dién trén pham vi toan quéc
nhưng qua đó ta cũng có thể thấy rằng tỷ lệ thừa cân và béo phì tại Việt Nam đang gia tăng với một tốc độ rất nhanh và càng ngày số lượng người bị thừa
cân béo phì càng lớn, đặc biệt là sự tăng lên ở trẻ em
Trang 142.5.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cân béo phì
Theo đánh giá chung của các chuyên gia Viện Dinh Dưỡng: Nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng tình trạng TCBP ở cộng đồng chủ yếu là đo
sự bất hợp lý của chế độ ăn uống, hoạt động thê lực và các hành vi lối sống
Ngoài ra còn do yếu tô đi truyền, yếu tô kinh tế xã hội, tình trạng dinh đưỡng của người mẹ khi mang thaI
Thu nhập của người đân tăng lên làm thay đổi thói quen sinh hoạt và tập quán ăn uống đã khiến cho thể trạng của thế hệ người Việt Nam tăng trưởng hơn thế hệ trước Đồng thời cùng với sự hòa nhập vào nền kinh tế thế
giới đã du nhập vào Việt Nam phong cách ầm thực của các nước, đặc biệt là
các nước phương Tây, sự phát triển mạnh mẽ của các thực phẩm chế biến sẵn
đi kèm với công nghệ quảng cáo đã thu hút người dân và làm thay đổi phong cách âm thực của họ Công nghệ chế biến và nấu nướng cũng thay đổi nhờ
thêm chất béo và đường là các thành phần có giá trị nhưng lại không có lợi khi dư thừa nhất là với lối sống ít hoạt động và nhàn rỗi của nhiều tầng lớp xã hội hiện nay.Trong khi việc ăn nhiều chất bột, đường và đồ ngọt đều có thê gây béo phì Các thói quen như ăn quá nhiều cơm (>3 bát/bữa), ăn nhiều vào
bữa tối, thích ăn có chỉ số đường huyết cao, các món xào, rán, thức ăn chứa
nhiều chất béo, ăn thêm bữa phụ giàu béo, ăn với tốc độ nhanh là con
đường dẫn đến thừa cân béo phì
TCBP là do ít hoạt động thể lực: Hoạt động thể lực là yếu tô rất quan
trọng với tình trạng TCBP, tham gia vào trình thiết lập cân băng giữa năng
lượng tiêu hao và năng lượng ăn vào Mặt khác, hoạt động thể lực còn Ø1Úp CƠ thê chuyển hóa tích cực làm cho khối cơ săn chắc và ít tạo mỡ thừa Cuộc
sống văn minh hiên đại làm cho con người ít phải dùng sức lực để lao động nên hoạt động thể lực của con người có xu hướng giảm đi Cùng với chế độ
ăn uống nhiều năng lượng hơn, giảm hoạt động trong một lối sống tĩnh tại
Trang 15hơn, thời gian dành cho xem tivi, đọc báo nhiều hơn, ít các hoạt động thể dục
thể thao cũng là những yếu tổ thuận lợi gây TCBP
Những người hoạt động thể lực nhiều thường ăn thức ăn giàu năng
lượng nhưng khi thay đổi lối sống và ít hoạt động hơn, nếu họ vẫn giữ thói
quen ăn uống như trước thường dễ bị béo
Yếu tổ di truyền: BP có tính chất gia đình được xem là một yếu tô di
truyền, bố mẹ béo thì thường sinh ra con béo Tuy nhiên, mẹ béo sẽ ảnh
hưởng đến con nhiều hơn và đến tuổi dậy thì các em này sẽ có nguy cơ bị béo cao gấp 5,7 lần so với các em bé bình thường khác Gia đình có nhiều cá nhân
bị BP, nguy cơ BP cho các thành cho các thành viên khác càng lớn Điều này chứng tỏ yếu tô gia đình có liên quan tới BP, tuy nhiên trên cộng đồng, vai trò của yếu tô đi truyền này không lớn BP có tính chất gia đình còn đo tập quán
và thói quen ăn uống không đúng, thông thường người phụ nữ trong gia đình quyết định tập quán và các thói quen này Nhiều nghiên cứu đã cô gắng xác định xem nguyên nhân của tình trạng BP có tính gia đình là do đi truyền hay môi trường Hiện nay người ta đã có những bằng chứng kết luận rằng BP thường do yếu tổ môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền Dinh dưỡng giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và bệnh tật của con người [14] TCBP có liên quan với yếu tố kinh tế xã hội: Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người BP ở tầng lớp nghèo thường thấp Nguyên nhân là do nguồn cung cấp thực phẩm còn hạn chế, năng lượng tiêu hao nhiều không chỉ do lao động chân tay nặng nhọc mà tiêu hao năng lượng còn tăng lên do phương tiện
đi lại khó khăn và người béo như là biểu hiện của sự giàu CÓ, hấp dẫn giới
tính, người ta tin rằng béo là khỏe mạnh Ở các nước đã phát triển khi thiếu thức ăn không còn phố biến nữa thì tỷ lệ BP lại thường cao ở tầng lớp nghèo,
Ít học so với ở tầng lớp khá giả hơn Nguyên nhân là do tầng lớp nghèo vẫn
Trang 16giữ thói quen ăn uỗng có nguy cơ đối với TC còn tầng lớp khá giả lại có xu hướng kiểm soát tốt hơn tình trạng BP so với tầng lớp nghèo vì BP bị xem là
kém thông minh, chậm chạp và thiếu sự kiềm chế
Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai: Ngày nay những bà
mẹ mang thai được chăm sóc tốt hơn, nhu cầu dinh dưỡng được đáp ứng đầy
đủ hơn vì thế trẻ sinh ra thường nặng cân hơn Không những thế trong quá trình lớn lên trẻ em ngày càng được chăm sóc nhiều hơn, ngoài sữa mẹ trẻ
được uống thêm nhiều loại sữa và ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng dinh
dưỡng cao, ăn nhiều bữa, ăn vặt Đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng BP gia tăng nhanh ở trẻ em
2.5.5 Các hậu quả của TCBP gây ra
Trẻ TC — BP cé nguy cơ cao về các vấn đề sức khỏe cả khi còn nhỏ cũng như trong giai đoạn trưởng thành sau này như rối loạn chuyên hóa, tăng
huyết áp, bệnh tim mạch, đái thảo đường, một số bệnh ung thư, bệnh gan, ngừng thở khi ngủ làm tăng các rỗi loạn về tim mạch, bệnh về xương khớp và
các rối loạn về tâm lý
Nghiên cứu trên học sinh TCBP tại Hà Nội cho thấy tỉ lệ tăng huyết áp
tăng từ 16,6% năm 2000 lên 22,8% năm 2003, tỉ lệ đau khớp gối tăng từ 4,5% năm 2000 lên 11,6% năm 2003 Một nghiên cứu khác tại Hà Nội vào năm
2007 cũng cho thấy trong số trẻ TCBP được điều tra có tới 26% trẻ bị tăng
huyết áp, 43,5% trẻ có øglucose máu cao, 34,89% trẻ có cholesterol máu cao và
84,6% trẻ 10 tuổi mắc hội chứng chuyên hóa Tất cá các vấn đề sức khỏe trên
sẽ làm ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, phát triển của trẻ cả về thể chất và trí tuệ, làm giảm chất lượng cuộc song, tăng gánh nặng bệnh tật, thậm chí tăng tỉ lệ tử
vong Các nghiên cứu cũng đã chứng minh TCBP xảy ra càng sớm sé dé lai các hậu quả về sức khỏe và bệnh tật nghiêm trọng trong giai đoạn sau này của cuộc đời [14]
Trang 17CHUONG 3 DOI TUONG - THỜI GIAN - DIA DIEM PHUONG PHAP NGHIEN CUU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu 268 trẻ từ 4 - 5 tuổi ở các trường mầm non và cha mẹ của trẻ ở huyện Đông Anh — Hà Nội
3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 11 — 2011 đến tháng 2 — 2012 3.3 Địa điểm nghiên cứu
Huyện Đông Anh là một huyện thuộc ngoại thành của thành phố Hà
Nội có bề dày ngàn năm lịch sử dựng nước và chỗng giặc ngoại xâm Tuy
không có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng những năm gần dây, dưới sự lãnh
đạo của UBND thành phố Hà Nội, UBND Huyện Đông Anh và sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước, huyện Đông Anh đã phát triển không ngừng cả về
kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là giảo dục Nghành Giáo dục và Đào tạo
huyện Đông Anh luôn chú trọng tới sự nghiệp trồng người, hướng tới mục tiêu xây dựng “Nhà trường văn hóa — Nhà giáo mẫu mực — Hoc sinh thanh lịch”, được tặng nhiều bằng khen của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào
tạo và đặc biệt quan tâm đến giáo dục mâm non Vì vậy nhiều trường mam non đã đạt chuẩn quốc gia, CƠ SỞ Vật chất kỹ thuật hiện đại, đội ngũ giáo viên
có trình độ cao phục vụ tốt cho công tác chăm sóc và giáo dục trẻ như trường mam non Sao Mai, trường mầm non Kim Chung Với điều kiện tốt như vậy
trẻ mầm non chắc chăn sẽ được chăm sóc chu đáo hơn, sự phát triển cả về thể
chat va tinh thần sẽ có tiến bộ đáng kể Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu
dé tài này ở huyện Đông Anh — Hà Nội
Trang 183.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra
- Điều tra các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực, vòng bụng, vòng mông, vòng cảnh tay)
- Do bé day lớp mỡ dưới da:
+ Dụng cụ đo: sử dụng thước đo lớp mỡ dưới da Harpenden Skifold Caliper HOLTATN) của Thụy Sĩ
+ Vị trí đo: Cơ tam đầu và góc dưới xương bả vai bên trái
- Do tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể dựa trên nguyên lý đo điện trở sinh học
cơ thể bằng máy chuyên dụng với độ chính xác 0,1% Máy đo sẽ tính toán %
mỡ của cơ thể đựa vào cân nặng, chiều cao, tuôi và giới tính Kết quả được
phân loại béo phì theo ngưỡng > 25% đối với nam và >30% đối với nữ
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
Trẻ được cân bằng cân đồng hồ loại 30kg và đo chiều cao bằng thước
đo chính xác từng milimet
Khi cân không cho trẻ ăn no, không đi giầy dép, không mặc nhiều quân
áo Tốt nhất là nên cân vào buổi sáng Trên chiếc cân đồng hồ chia thành những vạch nhỏ đều nhau đảm bảo chính xác từng gram
Để đo chiều cao co thé được chính xác ta nên tiễn hành đo như sau: Do
vào buổi sáng Khi đo thước dây căng thắng áp sát vào tường nhà, vuông góc với mặt đất năm ngang Trẻ đi chân không đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thắng nằm ngang, hai tay bỏ thong bên mình Dùng thước vuông áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo Sau đó nhìn thước đo xem được bao nhiêu centimet Ngoài ra có thể đo chiều cao nằm cũng rất chính xác
Phụ huynh học sinh được phỏng vẫn qua bảng câu hỏi in sẵn
Trang 193.4.3 Phương pháp thống kê số liệu
Sau khi tổng hợp các số liệu đã thu thập được, các số liệu được xử lí
bằng phần mềm Microsoft Office Excel
3.4.4 Phương pháp đánh giá thừa cân béo phì
Có nhiều cách đánh giá tỉnh trạng thừa cân béo phì, tuy nhiên nhận định tình trạng này chủ yếu dựa vào số đo nhân trắc: Cân nặng/tuôi, chiều cao/tuôi, cân nặng/chiều cao
Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO (1985), với trẻ dưới 9 tuổi chỉ tiêu
đánh giá thừa cân trẻ em là cân nặng/chiều cao (CN/CC) so sánh với quân thê tham khảo NCHS (National Center for Health Statistics) Trong nghién ctru này chọn chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC như sau:
Bang 1 Cac chi tiéu danh gia TCBP
Don vi: Can nang (kg)
Chiéu cao (cm)
BP trung bình và nặng = TC trung bình và nặng + Thừa mỡ
Với người trưởng thành, Tổ chức Y Tế Thế Giới khuyến cáo dùng chỉ
số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) để đánh giá tình trạng TC — BP của
Trang 20người trưởng thành BMI là chỉ số cơ thể được các bác sĩ và các chuyên gia
sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị
béo phì, thừa cân hay không Nhược điểm duy nhất của chỉ số BMI là nó không thể tính được lượng chất béo trong cơ thể - yếu tô tiém ân các nguy cơ liên quan đến sức khỏe tương lai
Cách 2: Cách tính BMI theo tuôi:
BMI < 5%: Gầy
5% < BMI < 85%: Bình thường
85% < BMI < 90% - Bách phần vị BMI: Thừa cần mức ]
90% < BMI < 95% - Bách phân vị BMI: Thừa cân mức 2
95% < BMI - Bách phân vị BMI: Thừa cân mức 3
Trang 21Bảng 2 Cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ 4 — 5 tuổi Theo nguồn
“Who Child Growth Standards” (Mỹ) năm 2006 cân nặng và chiều cao trung
bình của trẻ 4— 5 tuổi như sau:
Don vi: Can nang (kg)
Chiéu cao (cm)
Trang 22
CHUONG 4 KET QUÁ NGHIÊN CỨU
VÀ BIỆN LUẬN
4.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm đối tượng điều tra
Để điều tra tình trạng béo phì ở trẻ lứa tuổi 4 — 5 tuổi, tôi tiến hành nghiên cứu 268 trẻ ở các trường mâm non huyện Đông Anh và 268 phụ huynh của trẻ được phỏng vấn qua phiếu điều tra
Bảng 3 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu
nhóm trẻ nam và nhóm trẻ nữ Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho đề tài
nghiên cứu được phản ánh khách quan và chính xác
Trang 23Bảng 4 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm phụ huynh của trẻ tham gia
Đa số các bà mẹ đều đang trong tình trạng dinh dưỡng bình thường (89,4%),
có 12 bà mẹ đang trong tình trạng nhẹ cân (5,3%) và có tới 12 bà mẹ bị thửa
cân và không có bà mẹ nào bị béo phì
Trang 24Tình trạng dinh dưỡng của những người trong gia đình trẻ có mối liên quan đến tình trạng béo phì của trẻ bởi vì bố mẹ béo thường sinh ra con béo
Mẹ béo sẽ ảnh hưởng đến con nhiều hơn, khi đến tuổi dậy thì các em này có
nguy cơ bị béo phì gấp 5,7 lần so với các em bé bình thường khác Vì vậy, béo phì có tính chất gia đình được xem là một yếu tố di truyền Gia đình có
nhiều cá nhân bị béo phì thì nguy cơ béo phì cho những thành viên khác càng
lớn Điều này cho thấy yếu tố gia đình có liên quan với béo phì, tuy nhiên trên
cộng đồng vai trò của yếu tố đi truyền không lớn Béo phì có tính chất gia đình còn đo tập quán và thói quen ăn uỗng không đúng mà thông thường người phụ nữ trong gia đình quyết định tập quán và các thói quen ăn uống này
Nhiều nghiên cứu đã có bằng chứng kết luận rằng béo phì thường do yếu tố
môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền Trong đó đinh đưỡng giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong các yếu tô môi trường ảnh
hưởng đến tình trạng sức khỏe và bệnh tật của con người
Xét theo độ tuôi của phụ huynh: Đa số cha mẹ của trẻ đều còn trẻ Ở độ
tuổi 20 — 30 tuổi có 52 ông bố (22,8%) và 96 bà mẹ (42,1%) Phụ huynh tham
gia nghiên cứu ở độ tuổi 30 — 40 tuổi chiếm tỉ lệ khá cao, có tới 140 ông bố (61,4%) và 120 bà mẹ (52,6%) Các ông bố ở độ tuổi trên 40 tuổi là 36 ông bố
chiếm 15,8%, chỉ có 12 bà mẹ trên 40 tuổi chiếm tỉ lệ rất nhỏ là 5,39%
Trình độ văn hóa của các ông bỗ bà mẹ tương đỗi cao Có 120 ông bỗ (52,6%) và 96 bà mẹ (42,1%) có trình độ Đại học, có 16 người trên Đại học Các ông bố bà mẹ còn lại đa số có trình độ cao đăng và trung cấp Không có
bà mẹ nào đưới trình độ cấp 3, có 8 ông bố trình độ cấp 2 (3,5%)
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trình độ học vẫn của cha mẹ có ảnh hưởng đến đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Trình độ học vẫn của cha mẹ thể hiện qua cách nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ Theo Viện chiến
lược và chính sách quốc tế: Học van của người phụ nữ đóng góp đến 43% đối
Trang 25với tình trạng dinh dưỡng của trẻ, trong khi an ninh thực phẩm chỉ đóng góp 26,1% [15]
Trình độ học vẫn của mẹ phản ánh sự quan tâm của xã hội đỗi với việc nâng cao trình độ, địa vị xã hội cho người phụ nữ Đồng thời có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc tiếp thu kiến thức mới nuôi dạy con cái
Ngoài ra, mẹ là người thường xuyên gần gũi và chăm sóc con Chính vì thế, việc cung cấp cho con đầy đủ các chất dinh dưỡng phụ thuộc nhiều vào
kiến thức về dinh đưỡng của các bậc cha mẹ Như vậy, trình độ học vẫn của
cha mẹ và điều kiện kinh tế gia đình có liên quan đến tình trạng đinh dưỡng của trẻ
Bảng 5 Kết quả nghiên cứu về tình trạng kinh tế gia đình trẻ
Điều kiện kinh tế gia đình cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
đinh dưỡng của trẻ Nếu như trình độ hoc van ảnh hưởng đến việc tiếp thu
kiến thức dinh đưỡng thì điều kiện kinh tế phản ánh khả năng đáp ứng nhu
cầu đinh dưỡng mà cha mẹ tiếp thu được Đông Anh là một huyện thuộc
ngoại thành Hà Nội đang rất phát triển, đời sống kinh tế của người dân đã được cải thiện đáng kể do mức thu nhập của người dân tương đỗi cao so với
một số vùng miền ở Việt Nam Số gia đình có thu nhập từ 5 triệu đến 10 triệu
chiếm tỉ lệ cao nhất là 58,8% tương ứng với 134 cặp cha mẹ Có 68 gia đình đạt thu nhập trên 10 triệu/tháng chiếm gần 1/3 số gia đình được nghiên cứu
Số gia đình có thu nhập dưới 5 triệu không đáng kể và chiếm tỉ lệ rất nhỏ là
Trang 2611,4% Tôi nhận thấy rằng trẻ được sống trong gia đình có điều kiện kinh tế
tốt thường sẽ được chăm sóc tốt hơn nhờ đó mà trẻ được phát triển toàn diện
cả về thể chất va tinh than
4.2 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng và vận động của trẻ tham gia nghiên cứu
Bảng 6 Kết quả nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng thừa cân
của trẻ với các đặc tính của trẻ
tình trạng đinh dưỡng bình thường chiếm 78,7% và số trẻ suy đinh dưỡng là
32 trẻ chiếm tỉ lệ 11,9% Như vậy, trong 268 trẻ tham gia nghiên cứu tỉ lệ trẻ
bị mắc thừa cân béo phì và suy dinh duéng gan tương đương nhau Đây là một con số tương đối cao trong cộng đồng
Xét theo giới tính và độ tuôi:
Trong số 25 trẻ bị thừa cân béo phì thì tỉ lệ TCBP giữa trẻ trai và trẻ gái
có sự chênh lệch rât lớn Trẻ trai có tỉ lệ thừa cân cao hơn gâp 2,6 lần so với