1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng của ngân hàng trung ương

100 470 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 620,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích, đánh giá những bất cập, rủi ro trong công tác quản lý của Ngân hàng Trung ương đối với vàng dự trữ và hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản của các tổ chức tín dụng...67 2.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VÀNG VÀ QUẢN LÝ VÀNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 5

1.1 Lịch sử, vai trò của vàng và chức năng quản lý vàng của Ngân hàng Trung ương 5

1.1.1 Lịch sử tiền tệ của vàng 5

1.1.2 Vai trò của vàng 6

1.1.3 Chức năng quản lý vàng của Ngân hàng Trung ương 7

1.2 Các hình thức đầu tư, kinh doanh vàng thuộc dự trữ ngoại hối và trên tài khoản 9

1.2.1 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới giá vàng 9

1.2.2 Lý do đầu tư vào vàng 12

1.2.3 Các hình thức kinh doanh vàng 13

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối, quản lý thị trường vàng và bài học rút ra 17

1.3.1 Quản lý vàng thuộc Dự trữ quốc tế 17

1.3.2 Quản lý giao dịch hàng hoá trên các thị trường được cấp phép của Tiểu vương quốc Ả rập 20

1.3.3 Quản lý thị trường vàng của Trung Quốc 23

1.3.4 Một số bài học rút ra 29

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀNG THUỘC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM 31

2.1 Thực trạng công tác quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước và hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam 31

2.1.1 Thực trạng công tác quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước 31

2.1.2 Thực trạng quản lý hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hiện nay 43

Trang 2

2.2 Phân tích, đánh giá những bất cập, rủi ro trong công tác quản lý của Ngân hàng Trung ương đối với vàng dự trữ và hoạt động kinh

doanh vàng trên tài khoản của các tổ chức tín dụng 67

2.2.1 Đối với vàng dự trữ 67

2.2.2 Đối với hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản của các tổ chức tín dụng 72

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG THEO CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 83

3.1 Định hướng công tác quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước và hoạt động kinh doanh vàng theo chức năng của Ngân hàng Nhà nước 83

3.1.1 Đối với hoạt động kinh doanh vàng trên thị trường vàng trong nước 84

3.1.2 Đối với vàng thuộc Dự trữ Ngoại hối Nhà nước 85

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước 86

3.2.1 Gia tăng lượng vàng về con số tuyệt đối trong tổng Dự trữ ngoại hối Nhà nước ở mức hợp lý 86

3.2.2 Đa dạng hoá hình thức đầu tư vàng, không nên cất trữ đơn thuần trong các kho của Ngân hàng Nhà nước như hiện nay như đầu tư vàng trên thị trường quốc tế dưới dạng gửi vàng, cho thuê vàng vật chất, mua bán vàng trên tài khoản 87

3.2.3 Xử lý số vàng vật chất hiện có 87

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh vàng trên thị trường vàng trong nước 88

3.3.1 Lộ trình nới lỏng công tác quản lý thị trường vàng trong nước 88

3.3.2 Giải pháp 88

3.4 Các giải pháp hỗ trợ của các bộ ngành 91

PHẦN KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DTNHNN Dự trữ ngoại hối Nhà nước

NHNN Ngân hàng Nhà nước

HĐBT Hội đồng Bộ trưởng

NHTW Ngân hàng Trung ương

PBOC Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung HoaSGE Sàn giao dịch vàng Thượng Hải

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Những mốc quan trọng trong lịch sử tiền tệ của vàng 5 Bảng 1.2 Một số Sở giao dịch hàng hoá lớn có giao dịch vàng trên thế giới 8 Bảng 1.3: Quy mô vàng thuộc Dự trữ quốc tế của các nước từ 2000-2009 17 Bảng 1.4: Lượng vàng nắm giữ và tỷ lệ so với tổng dự trữ của một số nước

cuối năm 2009 19 Bảng 2.1: Số giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vàng, gia công chế tác

vàng do các Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố đã cấp tính đến tháng 11/1999 45 Bảng 2.2: Số liệu hạn mức, thực hiện sản xuất vàng miếng từ 2001 - 2009 60 Bảng 2.3: Số liệu hoạt động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh

vực sản xuất, gia công vàng trang sức mỹ nghệ từ 2005-2010 62

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Theo thông lệ quốc tế, đa số ngân hàng trung ương các nước đều đượcgiao nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại hối để thực hiện việc điều hành chínhsách tiền tệ và ổn định tỷ giá cũng như giá vàng trong nước Trong cơ cấu đầu

tư dự trữ ngoại hối, ngoài các ngoại tệ mạnh chiếm tỷ trọng lớn trong thanhtoán xuất nhập khẩu, vay nợ và đầu tư, vàng cũng chiếm một tỷ trọng nhấtđịnh với hầu hết các nước Trong hoạt động quản lý vàng, hầu hết các nướcđều dự trữ vàng dưới hình thức vàng trên tài khoản và ít đầu tư vàng dướidạng vật chất

Đối với Việt Nam, theo Luật NHNN (Điều 5), một trong những nhiệm

vụ được giao là quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng đồng thờiNHNN cũng có nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (DTNHNN) baogồm có vàng được đầu tư trên thị trường trong nước và quốc tế để đảm bảomục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá, giá vàng

Tuy nhiên, việc quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước trongthời gian qua còn có những tồn tại, hạn chế sau:

- Tỷ trọng vàng trong DTNHNN rất thấp, không thay đổi về mặt hiệnkim (hiện chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 2% trong tổng DTNHNN) mặc dù tổngDTNHNN trong thời gian qua tăng trưởng mạnh mẽ (đặc biệt là năm 2007)

- Vàng DTNHNN mới chỉ được quản lý dưới hình thức vàng vật chấttại các kho vàng trong nước của NHNN, chưa được đầu tư một cách có hiệuquả trên thị trường quốc tế

- Hoạt động can thiệp bình ổn giá vàng của Quỹ Bình ổn tỷ giá và giávàng mới thực hiện dưới hình thức hỗ trợ bán ngoại tệ cho các doanh nghiệpnhập khẩu vàng mà không thực hiện can thiệp bán vàng trong khi vàng thuộcDTNHNN chủ yếu là vàng vật chất

Ngoài ra, về qui mô đầu tư vàng thuộc DTNHNN, hiện nay, các nước

có những quan điểm dự trữ vàng rất khác nhau, một số nước dự trữ nhiều

Trang 6

vàng, trong khi đó một số nước lại dự trữ ít vàng Ví dụ, Mỹ dự trữ vàng lêntới trên 77% tổng dự trữ ngoại hối Trong khi đó, NHTW Châu Âu lại dự trữkhoảng 25%, còn với Thái lan và các nước Châu Á khác chỉ dự trữ ở mức

kiêm tốn 2-5% (số liệu vào cuối năm 2009, nguồn: Hiệp hội vàng thế giới WGC) Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả quản lý số vàng hiện có, NHNN

cũng cần phải có nghiên cứu toàn diện về tỷ lệ vàng thích hợp cần được duytrì trong DTNHNN

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, nhiều ngân hàng và công tykinh doanh vàng thành lập sàn kinh doanh vàng trên tài khoản cũng như kinhdoanh vàng vật chất một cách tự phát với qui mô lớn nhằm mục đích đầu cơ,chứa đựng nhiều rủi ro, đe doạ đến sự an toàn của tổ chức tín dụng cũng nhưtạo ra nguy cơ gây mất ổn định xã hội Do vậy, có quá nhiều thành viên viênbao gồm cả cá nhân tham gia hoạt động này và chưa có quy định các tỷ lệ antoàn đối với các tổ chức tín dụng và công ty kinh doanh vàng khi cung ứnghoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản Đồng thời, cững chưa có qui địnhnào với các tổ chức này khi cho vay để ký quỹ đầu tư kinh doanh vàng trêntài khoản

Với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý DTNHNN trong thờigian tới cũng như chấn chỉnh hoạt động kinh doanh vàng trong nước bao gồmhoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản, NHNN cần phải nghiên cứu để có

lộ trình nới lỏng hoạt động kinh doanh vàng trong nước, khắc phục những tồntại và hạn chế nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý vàng theochức năng của NHTW

Hiện nay, NHNN đang tiến hành việc sửa đổi các quy định pháp lý liênquan đến dự trữ ngoại hối nàh nước cũng như chuẩn bị ban hành các văn bảnđiều chỉnh hoạt động kinh doanh vàng nói chung, kinh doanh vàng trên tài

khoản nói riêng nên đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh

doanh vàng theo chức năng của Ngân hàng Trung ương” sẽ là một nghiên

cứu thiết thực, tạo tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp cần thiết để nâng cao

Trang 7

hiệu quả quản lý vàng theo chức năng của NHTW nói chung và hiệu quảquản lý vàng thuộc DTNHNN nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý vàng thuộc DTNHNN và hoạtđộng quản lý thị trường vàng trong nước của NHNN, đặc biệt là hoạt độngkinh doanh vàng trên tài khoản thời gian qua

- Phân tích những bất cập, rủi ro trong công tác quản lý vàng thuộcDTNHNN và hoạt động quản lý thị trường vàng trong nước thuộc chức năng củaNHNN, đặc biệt là hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản của các TCTD

- Đề xuất các giải pháp và lộ trình thực hiện các giải pháp nâng caohiệu quả đầu tư vàng thuộc DTNHNN và nâng cao hiệu quả quản lý hoạtđộng kinh doanh vàng theo chức năng của NHNN (bao gồm kinh doanh vàngtrên tài khoản của các TCTD)

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Lý luận chung về vàng thuộc DTNHNN với những nội dung cơ bản

về khái niệm, vài trò của vàng trong DTNHNN, các hình thức đầu tư vàngtrên thị trường quốc tế

- Kinh nghiệm quốc tế về quản lý vàng thuộc DTNHNN, xu hướngquốc tế về dự trữ vàng và quản lý hoạt động kinh doanh vàng thuộc chứcnăng của NHTW

- Thực trạng công tác quản lý hoạt động kinh doanh vàng thuộc chứcnăng quản lý của NHNN và việc quản lý vàng thuộc DTNHNN trong thờigian gần đây Từ đó, đề xuất cấc giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vàngthuộc DTNHNN và hoạt động kinh doanh vàng trong nước thuộc chức năngcủa NHNN

4 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng lý thuyết và kinh nghiệm tổng kết về quản lý vàng thuộc dựtrữ ngoại hối và quản lý vàng theo chức năng của NHTW

- Đánh giá tình hình thực trạng và so sánh với kinh nghiệm quốc tế vềquản lý vàng thuộc DTNHNN và quản lý hoạt động kinh doanh vàng trongnước nhằm đúc rút kinh nghiệm

Trang 8

- Sử dụng trợ giúp kỹ thuật và tư vấn của các chuyên gia trong và ngoàinước cũng như các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước.

5 Những đóng góp của Đề tài

- Đề tài xây dựng một cơ sở lý thuyết về vai trò quản lý vàng thuộcDTNHNN và hoạt động kinh doanh vàng thuộc chức năng của NHTW, lộtrình tự do hoá hoạt động quản lý vàng thuộc chức năng của NHTW mà cácnghiên cứu trước đây chưa đề cập rõ

- Đề tài tổng kết được kinh nghiệm của một số nước về việc quản lývàng thuộc DTNHNN và hoạt động hinh doanh vàng trong nước thuộcchức năng của NHTW mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập hoặc đềcập sơ lược

- Từ các nội dung nêu trên, đề tài gợi mở định hướng nới lỏng hoạtđộng quản lý vàng thuộc DTNHNN và hoạt động kinh doanh vàng trong nướcthuộc chức năng của NHNN theo lộ trình

- Đề tài tổng hợp được thực trạng công tác quản lý vàng thuộcDTNHNN và hoạt động quản lý vàng trong nước thuộc chức năng của NHNNcũng như chỉ ra được những bất cập, rủi ro, lỗ hổng pháp lý trong công tácquản lý vàng thuộc DTNHNN và quản lý thị trường vàng thuộc chức năngquản lý của NHTW mà các nghiên cứu trước chưa đề cập

- Đề tài đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lývàng thuộc DTNHNN và hoạt động kinh doanh vàng trong nước thuộc chứcnăng quản lý của NHNN theo lộ trình và sự phối hợp với các bộ ngành màcác đề tài trước đây chưa đề xuất

6 Kết cấu của Đề tài

Chương I: Cơ sở lý luận chung về vàng và quản lý hoạt động kinh

doanh vàng của Ngân hàng Trung ương

Chương II: Thực trạng công tác quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà

nước và quản lý hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vàng và hoạt động

kinh doanh vàng theo chức năng của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam

Trang 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VÀNG VÀ QUẢN LÝ

VÀNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1 Lịch sử, vai trò của vàng và chức năng quản lý vàng của Ngân hàng Trung ương

1.1.1 Lịch sử tiền tệ của vàng

Việc sử dụng vàng như một loại tiền tệ đã trải qua quá trình lịch sử lâudài Lịch sử tiền tệ của vàng có thể tóm tắt như trong bảng sau:

5000 năm trước Công nguyên Vàng là phương tiện trung gian trao đổi

700 năm trước Công nguyên Electrum- hợp kim tự nhiên giữa vàng và

bạc dùng để đúc những đồng tiền đầu tiên

500 năm trước Công nguyên Những đồng tiền đầu tiên được đúc bằng

vàng nguyên chất với trọng lượng và độ tinhkhiết được đảm bảo

1300-1400 sau Công nguyên Thời kỳ của tiền giấy cùng với những đồng

tiền vàng, bạc và tiền kim loại khác

Từ năm 1850 Chuyển từ chế độ song bản vị tiền vàng và

bạc sang chế độ bản vị đơn: Chế độ bản vịvàng đầy đủ

Sau năm 1914 Chuyển đổi dần sang chế độ bản vị vàng

khối, giấy bạc được đảm bảo bằng vàng khốivới tỷ lệ do pháp luật quy định

Sau năm 1925 Chuyển dần sang chế độ bản vị vàng chuyển

đổi, nguồn dự trữ tiền tệ có thể giữ dướidạng tiền đảm bảo bằng vàng Sau năm

1940, đồng tiền duy nhất các NHTW có thểdùng để mua vàng là USD với bản vị chuyểnđổi giá ngang nhau là 35USD/ oz

Từ năm 1968 Bãi bỏ chế độ giá vàng ấn định 35USD/oz

Thị trường vàng chia thành Thị trường chínhthức cho các giao dịch của NHTW với giá

ấn định cũ và Thị trường tự do cho cácthành viên khác

Năm 1971 Mỹ bỏ chế độ chuyển đổi USD ra vàng.Năm 1973 Các NHTW được quyền bán vàng ra thị

trường tự do, chế độ tỷ giá thả nổi

Năm 1978 Các NHTW được mua vàng từ thị trường tự

do Các nhà kinh doanh tư nhân và chínhthức được tự do kinh doanh vàng

Nguồn: World Gold Council (WGC)

Trang 10

1.1.2 Vai trò của vàng

Vàng vừa có vai trò là một hàng hoá đặc biệt vừa có vai trò là tiền tệ

- Vai trò hàng hoá của vàng:

Hàng hoá là sản phẩm của lao động, được trao đổi, mua bán nhằm thoảmãn nhu cầu nào đó của con người Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sửdụng hay ích dụng của hàng hoá thoả mãn nhu cầu nào đó của con người vàgiá trị hay lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hànghoá Với cách hiểu này, vàng được coi là một loại hàng hoá do có đầy đủ haithuộc tính kể trên

Giá trị sử dụng của vàng rất đa dạng Vàng trước tiên được dùng làm

đồ trang sức, mỹ nghệ do vàng có mầu sắc rực rỡ, dễ gia công và lâu bền vớithời gian Đồ trang sức bằng vàng từ lâu đã được ưa chuộng nhờ tính thẩm

mỹ và độ bền của vàng, là biểu tượng của sự giàu có và quyền lực Ngày nay,với sự phát triển của trình độ kim hoàn, sản phẩm trang sức bằng vàng có mẫu

mã ngày càng phong phú, thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng và

do đó nhu cầu vàng trang sức vẫn không ngừng tăng cao ở các quốc gia

Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, vàng còn là nguyên liệu quantrọng trong các ngành dược, thực phẩm, cơ khí và điện tử

- Vai trò tiền tệ của vàng:

Vàng có đầy đủ chức năng của tiền tệ đó là: thước đo giá trị, phươngtiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới Vàng được dùng đểlàm chuẩn đo giá trị của các tài sản khác đặc biệt là tài sản có giá trị lớn nhưnhà cửa, đất đai… Việc sử dụng vàng là thước đo giá trị chung cho tất cả cácloại hàng hoá giúp cho việc trao đổi được thực hiện dễ dàng thông quaphương tiện thanh toán là vàng

Ngoài ra, vàng còn là phương tiện cất trữ phổ biến hơn bất kỳ loại tiền

tệ nào do tính chất vật lý bền vững của vàng trước nguy cơ xảy ra thiên tai,chiến tranh, hoả hoạn Đồng thời, tiền vàng khác tiền giấy ở chỗ tiền vàngluôn giữ được giá trị lâu dài, không phải là tài sản nợ của bất kỳ quốc gia nào

do đó giá trị tiền vàng không phụ thuộc vào tình hình chính trị và sự kiểm

Trang 11

soát của các quốc gia như tiền giấy Đó chính là lý do vàng được lựa chọn làphương tiện cất trữ phổ biến, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hayleo thang chính trị

Vàng cũng đóng vai trò tiền tệ thế giới do vàng được chấp nhận thanhtoán ở các quốc gia, không phân biệt biên giới lãnh thổ Do vậy, vàng thườngđược NHTW các nước nắm giữ như một tài sản dự trữ quốc tế bên cạnh cácđồng tiền mạnh để hỗ trợ cán cân thanh toán trong trường hợp đối mặt vớikhủng hoảng, thiên tai hay chiến tranh

1.1.3 Chức năng quản lý vàng của Ngân hàng Trung ương

Như đã phân tích tại phần vai trò của vàng, một trong hai vai trò quantrọng của vàng là vai trò tiền tệ Trên thực tế, mặc dù vai trò tiền tệ của vàng

có giảm theo thời gian cùng với sự phát triển của tiền giấy nhưng không thểhoàn toàn mất đi đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và tiền tệ quốc tế Dovậy, với chức năng là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, hầu hếtNHTW các nước đều có chính sách quản lý vàng thông qua việc quản lý vàngthuộc dự trữ ngoại hối quốc gia và quản lý thị trường vàng trong nước

Đối với hoạt động quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc tế, hầu hếtNHTW các nước đều được giao quản lý tài sản dự trữ trong đó có vàng đểthực thi chính sách tiền tệ

Đối với hoạt động quản lý thị trường vàng trong nước, tuỳ vào mức độ

sử dụng vàng như một loại tiền tệ ở từng quốc gia mà chính sách quản lý cũngkhác nhau

Ở những nước phát triển, giá trị đồng nội tệ ổn định hoặc có đồng nội tệ

là đồng tiền tự do chuyển đổi, thị trường tài chính và các công cụ đầu tư tàichính phát triển thì vàng chỉ đóng vai trò là hàng hoá hoặc công cụ đầu tư tàichính thông thường Do vậy, thường không còn hạn chế đối với hoạt độngkinh doanh vàng ở các thị trường này Ở rất nhiều nước, vàng được giao dịchnhư hàng hoá tại các Sở giao dịch hàng hoá chính thức Các Sở giao dịchhàng hoá được thành lập dưới dạng công ty, có tư cách pháp nhân độc lập, do

tư nhân đầu tư 100% hoặc kết hợp giữa vốn tư nhân và Nhà nước Hoạt động

Trang 12

của Sở do các Uỷ ban chuyên trách như Uỷ ban chứng khoán và hàng hoágiám sát và quản lý Khi đó, NHTW không thực hiện chức năng quản lý đốivới hoạt động kinh doanh vàng Dưới đây là một số Sở giao dịch hàng hoá lớn

có giao dịch vàng trên thế giới:

Bảng 1.2 Một số Sở giao dịch hàng hoá lớn có giao dịch vàng trên thế giới

Sở giao dịch Tên viết

tắt Địa điểm Hàng hoá giao dịch

New York Mercantile

Exchange (CME Group) NYMEX

New York,

US

Energy, Precious Metals, Industrial Metals

Dubai Gold &

Commodities Exchange DGCX Dubai Precious Metals

Hong Kong Mercantile

Tokyo Commodity

Exchange TOCOM Tokyo,Japan

Energy, Precious Metals, Industrial Metals,

Trang 13

Việt Nam có quy định rõ một trong những chức năng của cơ quan này là quản

lý và giám sát thị trường vàng

Tuy nhiên, cùng với xu thế tự do hóa thị trường tài chính của các nướcđang phát triển, chính sách quản lý hoạt động kinh doanh vàng của các nướccũng ngày càng được nới lỏng Thông thường quá trình tự do hoá thị trườngvàng trải qua ba giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Nền kinh tế đóng cửa, các hoạt động về vàng bị cấmhoàn toàn

+ Giai đoạn 2 : Các quy định về hạn chế hoạt động kinh doanh vàngđược nới lỏng dần trong một môi trường có sự quản lý của Nhà nước

+ Giai đoạn 3: Không có cản trở gì trong hoạt động kinh doanh vàng(hoàn toàn tự do), kể cả trong quan hệ xuất nhập khẩu

1.2 Các hình thức đầu tư, kinh doanh vàng thuộc dự trữ ngoại hối

và trên tài khoản

1.2.1 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới giá vàng

Cũng giống như các loại hàng hoá khác, giá vàng cũng được hình thành

từ quan hệ cung cầu về vàng Nguồn cung vàng bao gồm: lượng vàng đã khaithác đang được các nhà đầu tư nắm giữ và sản lượng vàng khai thác mới hàngnăm Theo số liệu của Hiệp hội vàng quốc tế, sản lượng vàng khai thác hàngnăm tương đối ổn định, vào khoảng 2.500 tấn/năm trong vòng 10 năm gầnđây Trong đó, khoảng 2.000 tấn được sử dụng làm đồ trang sức, sử dụngtrong các ngành công nghiệp, còn lại 500 tấn được đưa vào thị trường để muabán Như vậy, mặc dù lượng vàng bổ sung vào thị trường mỗi năm không lớnnhưng trải qua một thời gian dài, lượng vàng đã từng khai thác hiện nay đangđược nắm giữ bởi các nhà đầu tư ước tính vào khoảng 158.000 tấn (số liệucuối năm 2006) Điểm khác biệt về cung vàng so với cung các loại hàng hoákhác chính là ở chỗ lượng vàng đã khai thác vẫn luôn tồn tại và chiếm tỷ lệlớn so với sản lượng khai thác hàng năm Lượng vàng này có thể quay lạitham gia mua bán trên thị trường bất kể lúc nào nhà đầu tư có nhu cầu

Trang 14

Xét về nhu cầu vàng, nhu cầu vàng vật chất để sử dụng chế tác đồ trangsức và phục vụ trong các ngành công nghiệp hàng năm vào khoảng 2.000 tấn.Tuy nhiên, tổng khối lượng vàng được mua bán trên các sàn vàng trên thếgiới ước tính vào khoảng 3.500 tấn/ năm Như vậy, có một lượng vàng lớnkhoảng 1.500 tấn vàng được mua bán trên thị trường với mục đích đầu cơ vàtích trữ.

Từ phân tích những đặc điểm riêng khác như trên cho thấy cung cầuđối với vàng phụ thuộc không lớn vào sản lượng khai thác hàng năm cũngnhư cầu đối với vàng vật chất mà thực tế yếu tố đầu cơ, tích trữ hay kỳ vọngmới là nguyên nhân cơ bản tác động tới cung cầu và từ đó ảnh hưởng tới giávàng Ngoài ra, do giá vàng thường được quy đổi ra đô la Mỹ nên giá vàngcũng phụ thuộc vào giá đô la Mỹ

Không tính những biến động về sản lượng khai thác tại một thời điểmnào đó hoặc nhu cầu vàng trang sức tăng theo mùa như lễ hội, cưới hỏi vàocuối năm có thể tác động nhất định tới giá vàng, những yếu tố cơ bản ảnhhưởng tới tâm lý tích trữ hoặc bán ra vàng của nhà đầu tư gồm:

- Biến động của đồng đô la Mỹ:

Đồng đô la Mỹ mất giá sẽ khiến giá vàng quy đổi ra USD tăng lên vàngược lại Do vậy, giá vàng sẽ có xu hướng tăng khi nhà đầu tư kỳ vọng vào

sự giảm giá của đồng bạc xanh khi nhìn vào các chỉ số kinh tế như lạm phát,lãi suất tiền gửi của Mỹ… Kỳ vọng lạm phát tăng trong tương lai dẫn tới longại về sự mất giá của USD sẽ khiến nhà đầu tư từ bỏ đầu tư vào đồng tiềnnày Tương tự như vậy, khi lãi suất USD thấp sẽ khiến đồng tiền này trởthành kênh đầu tư kém hấp dẫn hơn so với các đồng tiền khác, từ đó có thểdẫn tới sự giảm giá của đồng USD Tóm lại, bất kể yếu tố nào có thể ảnhhưởng tới sự lên giá hay mất giá của đồng USD đều là yếu tố ảnh hưởng tớigiá vàng

- Biến động của các thị trường hàng hoá:

Trang 15

Do vàng vừa có vai trò là hàng hoá vừa có vai trò tiền tệ nên sự biếnđộng giá cả trên thị trường hàng hoá ảnh hưởng rất lớn tới giá vàng Khi giácác hàng hoá chủ chốt như dầu thô sụt giảm thì nhà đầu tư sẽ tìm đến hànghoá khác thay thế hoặc đầu tư vào thị trường tiền tệ Trong cả hai trường hợpnày thì vàng vẫn là một kênh đầu tư thay thế hấp dẫn.

- Biến động của thị trường chứng khoán (thị trường vốn):

Bên cạnh thị trường tiền tệ, thị trường hàng hoá, thị trường vốn cũng làmột kênh đầu tư thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhà đầu tư Do đó, sự biếnđộng của thị trường chứng khoán toàn cầu đặc biệt là thị trường chứng khoán

Mỹ là yếu tố quan trọng tới tâm lý của nhà đầu tư Sự sụt giảm của các chỉ sốchứng khoán do tín hiệu bi quan về triển vọng phát triển của các doanhnghiệp sẽ khiến nhà đầu tư tìm đến các kênh đầu tư thay thế khác trong đó cóvàng Đồng thời, thị trường chứng khoán với tư cách là hàn thử biểu của nềnkinh tế nếu liên tục đi xuống sẽ là dấu hiệu không khả quan cho sự phát triểncủa các nền kinh tế, từ đó gây cho nhà đầu tư tâm lý ngại đầu tư vào các tàisản rủi ro và tìm đến công cụ an toàn hơn là vàng

- Diễn biến bất thường của nền kinh tế:

Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng hoặc có xảy ra chiến tranh, thiêntai, hoả hoạn… thì vai trò của vàng với tư cách là phương tiện cất trữ giá trịđược đánh giá cao hơn bao giờ hết Kinh tế khủng hoảng khiến tiền giấy mấtgiá hoặc biến cố thay đổi về chính trị có thể gây nguy cơ biến đồng tiền củachế độ cũ trở thành vô giá trị thì tích trữ vàng rõ ràng là sự lựa chọn an toàn.Bên cạnh các trường hợp đó, khi xảy ra thiên tai, hoả hạn có thể gây hư hỏngtiền giấy nhưng vàng thì không

Do vậy, để đề phòng các trường hợp khẩn cấp, bất thường xảy ra đốivới nền kinh tế như các trường hợp kể trên, dân chúng đặc biệt là chính phủcác nước thường có tâm lý tích trữ vàng vì vàng luôn là vàng, luôn giữ đượcgiá trị trong mọi trường hợp và là tiền tệ quốc tế trong trao đổi hàng hoá giữacác quốc gia Điều này lý giải tại sao giá vàng thường lên cao kỷ lục trong

Trang 16

những thời kỳ khủng hoảng, chẳng hạn khủng hoảng tài chính thế giới bùng

nổ năm 2008 đã đẩy giá vàng vượt qua mốc 1.000USD/ounce

Như vậy, giá vàng thường xuyên biến động do phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố kinh tế, chính trị khác nhau Từ đó dẫn tới việc dự báo giá vàng thườngrất khó đạt kết quả chính xác

1.2.2 Lý do đầu tư vào vàng

Vàng đã hấp dẫn nhà đầu tư trong nhiều thế kỷ qua và vẫn là công cụđầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư hiện đại mặc dù vai trò tiền tệ của vàng đãgiảm bớt và nhu cầu về vàng vật chất đáp ứng nhu cầu sử dụng cũng khônglớn như các hàng hoá thông thường khác Chính tính chất đặc biệt của vàngvừa là tiền tệ vừa là hàng hoá là lý do hấp dẫn các nhà đầu tư khi muốn tìmkiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá vàng và phòng ngừa rủi ro cho danh mụcđầu tư

- Đầu tư vàng để hưởng chênh lệch giá:

Cũng giống như hoạt động đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay đầu tưvào thị trường hàng hoá, nhà đầu tư lựa chọn vàng với kỳ vọng vào sự tănggiá của loại tài sản này Mặc dù giá vàng thường xuyên biến động, khó dự báonhưng những nhà đầu tư có kinh nghiệm sẽ tận dụng chính đặc điểm thườngxuyên biến động này của giá vàng để tìm kiếm chênh lệch giá trong chiếnlược đầu tư ngắn hạn

Đồng thời, do sản lượng khai thác không phải là vô tận trong khi nhucầu về vàng vật chất phục vụ các ngành công nghiệp, dược phẩm vẫn tăng lênđều đặn thì xu hướng vàng tăng giá trong dài hạn là hiển nhiên

Do đó, cả nhà đầu tư ngắn và dài hạn đều có thể tìm đến vàng như làcông cụ đầu tư nhằm hưởng chênh lệch giá

- Đầu tư vào vàng như phương tiện phòng ngừa rủi ro:

Một danh mục đầu tư bao gồm vàng thường lành mạnh và ít biến độnghơn danh mục đầu tư không chứa vàng do đầu tư vào vàng sẽ hạn chế rủi rolạm phát khi tiền tệ mất giá và rủi ro giảm giá danh mục tài sản

Trang 17

Do vàng là một loại hàng hoá nên khi xảy ra lạm phát khiến đồng tiềnmất giá, giá cả hàng hoá tăng cao thì giá vàng cũng sẽ tăng Nhờ đó, danhmục đầu tư gồm tiền và vàng sẽ hạn chế được rủi ro lạm phát Đặc biệt, vàng

là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro mất giá của đồng đô la Mỹ hơn bất

kỳ tài sản nào khác do giá vàng phụ thuộc chặt chẽ và diễn biến theo chiềungược với giá USD

Đồng thời, với vai trò tiền tệ, vàng là công cụ phòng ngừa rủi ro giảmgiá của danh mục tài sản Giá vàng ít biến động hơn so với các chỉ số giá cảhàng hoá và chứng khoán Do vậy, trong trường hợp do diễn biến kém khảquan của tình hình kinh tế dẫn tới sự sụt giảm của các loại chứng khoán, dầu

mỏ hay các hàng hoá khác thì vàng sẽ đóng vai trò hạn chế sự sụt giảm giá trịcủa toàn bộ danh mục

Như vậy, nhờ tính chất vừa là hàng hoá vừa là tiền tệ nên khi có diễn biếnbất lợi đối với giá trị tiền tệ hay giá cả hàng hoá thì giá vàng vẫn được củng cố,nhờ đó sẽ hạn chế được rủi ro tổng thể đối với toàn bộ danh mục đầu tư

Trang 18

Ưu điểm của kinh doanh vàng vật chất là nhà đầu tư có thể bảo toànlượng vàng vật chất nắm giữ và hạn chế rủi ro khi có biến động lớn về giá donhà đầu tư sử dụng 100% vốn của mình để thực hiện hoạt động đầu tư màkhông sử dụng đòn bẩy tài chính do các tổ chức kinh doanh vàng cung cấp.Tuy nhiên, mua bán vàng vật chất phát sinh những chi phí đáng kể liên quantới giao nhận, bảo quản Đồng thời, việc không sử dụng đòn bẩy tài chínhcũng hạn chế quy mô giao dịch của các thành viên trên thị trường.

1.2.3.2 Gửi tiết kiệm vàng

Gửi tiết kiệm vàng là việc nhà đầu tư gửi tiết kiệm bằng vàng tại cácngân hàng có uy tín và được nhận lãi như các khoản tiền gửi thông thườngkhác Đến kỳ đáo hạn, nhà đầu tư có thể rút cả gốc lẫn lãi bằng vàng

Ưu điểm của hình thức gửi tiết kiệm vàng là nhà đầu tư vẫn có thể bảotoàn được trạng thái vàng vật chất mà họ muốn duy trì, vừa có thể hưởng lãi

từ tài khoản gửi tiết kiệm, đồng thời hạn chế được rủi ro và chi phí trong việc

tự cất trữ vàng Ngoài ra, mặc dù được đã gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại các ngân

hàng nhưng tính thanh khoản của vàng trên tài khoản tiết kiệm vẫn được đảmbảo thông qua việc mua bán, chuyển nhượng hay cầm cố các chứng chỉ tiềngửi do ngân hàng huy động phát hành

Tuy nhiên, do tính an toàn tương đối cao nên mức lợi nhuận thu được

từ việc gửi tiết kiệm vàng thường thấp hơn các hình thức kinh doanh khác

1.2.3.3 Cho vay vàng

Cho vay vàng là việc người nắm giữ vàng cho người có nhu cầu sửdụng hoặc đầu tư vay trong kỳ hạn và với mức lãi suất nhất định được quyđịnh tại hợp đồng vay Hợp đồng cho vay thường được ký kết giữa bên chovay là các NHTW và bên vay là các định chế tài chính trung gian (ngân hàng,công ty tài chính ) hoặc giữa bên cho vay là các định chế tài chính trung gian

và bên đi vay là các tổ chức kinh doanh vàng

Lợi ích của việc cho vay vàng cũng tương tự gửi tiết kiệm vàng Đó làkhả năng bảo toàn trạng thái vàng vật chất, thu lãi từ hợp đồng vay và hạn chế

Trang 19

rủi ro, chi phí bảo quản vàng vật chất Ngoài ra, cho vay vàng thường có mứclợi tức cao hơn so với gửi tiết kiệm vàng.

Tuy nhiên, tính thanh khoản của hợp đồng cho vay vàng thấp hơn sovới gửi tiết kiệm vàng do bên cho vay không thể lấy lại lượng vàng cho vaytrước khi hợp đồng vay đến hạn trong khi người gửi tiết kiệm có thể rút gốctrước kỳ đáo hạn Điều này ảnh hưởng tới quyết định cho vay vàng của cácnhà đầu tư khi cân nhắc tính thanh khoản của tài sản

1.2.3.4 Mua các chứng chỉ quỹ đầu tư vàng

Quỹ đầu tư vàng (Gold exchange-traded fund –GETF) là quỹ đầu tưhuy động vốn của nhà đầu tư để kinh doanh vàng vật chất Các quỹ đầu tưphát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn và niêm yết chứng chỉ quỹ trên cácsàn chứng khoán lớn trên thế giới như một loại chứng khoán Các nhà quản lýGETF là những chuyên gia kinh doanh vàng, họ theo dõi sát biến động giávàng và kiếm lời từ những biến động này Hiện nay, trên thế giới có cácchứng chỉ GETF nổi tiếng đang được giao dịch như Gold Bullion Securities,SPDR Gold Trust, Dubai Gold Securities, Gold Bullion Securities Australia,NewGold ,trong đó SPDR Gold Trust là quỹ đầu tư vàng vật chất lớn nhấtthế giới (theo số liệu trên website của Quỹ, tại thời điểm cuối tháng 7/2010,Quỹ đang nắm giữ khoảng 1.300 tấn vàng, trị giá tương đương trên 48 tỷUSD) Chứng chỉ Quỹ này hiện đang được niêm yết tại thị trường chứngkhoán New York, Singapore, Nhật Bản và Hồng Kông

Nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ đầu tư vàng sẽ thu được lợi nhuận từchênh lệch giá mua bán chứng chỉ quỹ và lãi đầu tư hàng năm theo quyết địnhcủa hội nghị nhà đầu tư Giá chứng chỉ quỹ biến động phụ thuộc vào kết quảkinh doanh của quỹ thể hiện qua sự biến động của tổng tài sản ròng Tài sảnròng của quỹ ngày càng tăng thì giá chứng chỉ quỹ đó sẽ có xu hướng tăng vàngược lại

Ưu điểm của hình thức kinh doanh này là nhà đầu tư có thể tham giavào thị trường vàng vật chất một cách gián tiếp, tận dụng được trình độ, kinhnghiệm của các nhà quản lý quỹ cũng như giảm thiểu chi phí trong giao nhận,

Trang 20

bảo quản vàng vật chất Do vậy, hiệu quả kinh doanh thường cao hơn so vớiviệc nhà đầu tư cá nhân trực tiếp tham gia kinh doanh vàng vật chất, đặc biệtvới những nhà đầu tư nhỏ lẻ, không có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanhvàng Đồng thời, tính thanh khoản của chứng chỉ đã được niêm yết trên các sởgiao dịch chứng khoán là cao.

Tuy nhiên, nhà đầu tư khi mua chứng chỉ quỹ sẽ không chắc chắn thuđược một tỷ lệ lợi nhuận nhất định như gửi tiết kiệm hoặc cho vay vàng Nhàđầu tư sẽ gặp rủi ro không bảo toàn được tài sản khi quỹ hoạt động khônghiệu quả, tài sản ròng ngày càng sụt giảm Do vậy, nhà đầu tư cần lựa chọnnhững quỹ có uy tín, kết quả hoạt động tốt, có chế độ công bố thông tin minhbạch, rõ ràng để uỷ thác đầu tư

1.2.3.5 Kinh doanh vàng trên tài khoản

Khác với kinh doanh vàng vật chất thông qua 4 hình thức như đã nêu(tự kinh doanh, gửi tiết kiệm, cho vay và uỷ thác cho quỹ đầu tư), kinh doanhvàng trên tài khoản là việc nhà đầu tư mở tài khoản (thông thường mở 01 tàikhoản vàng và 01 tài khoản tiền với số dư nhất định ban đầu để thực hiện đầutư) tại các ngân hàng hay tổ chức được phép kinh doanh vàng và tiến hành cácgiao dịch mua bán trên tài khoản để đầu cơ chênh lệch giá Kinh doanh vàngtài khoản không đi kèm với việc giao nhận vàng trên thực tế, tài khoản vàngchỉ sử dụng để ghi chép việc mua bán các giao dịch vàng mà không được rút,chuyển nhượng hay chuyển thành vàng vật chất Do đó, đây đơn thuần chỉ làhoạt động đầu cơ chênh lệch giá hay một công cụ đầu tư tài chính phái sinh từhoạt động kinh doanh vàng vật chất

Thông thường, các tổ chức cung cấp dịch vụ kinh doanh vàng tài khoản

sẽ cung cấp đòn bẩy tài chính cho các nhà đầu tư thông qua việc quy định tỷ

lệ ký quỹ Chẳng hạn, nếu tỷ lệ ký quỹ là 10% thì nhà đầu tư có số dư tươngđương 10 lượng vàng sẽ được phép vay 90 lượng để giao dịch với trị giálên tới 100 lượng Kinh doanh vàng tài khoản là kênh đầu tư tài chính hấp dẫngiúp nhà đầu tư có thể tối đa mức lợi nhuận thu được bằng việc sử dụng đòn

Trang 21

bẩy tài chính Đồng thời không phát sinh các chi phí vận chuyển, bảo quảnvàng vật chất.

Tuy nhiên, kinh doanh vàng tài khoản đi kèm với sử dụng đòn bẩy tàichính cao tiềm ẩn rủi ro thua lỗ lớn đối với nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tưthiếu kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng do giá vàng biếnđộng thường xuyên và rất khó dự báo

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối, quản lý thị trường vàng và bài học rút ra

Tiếp theo, đề tài sẽ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lývàng thuộc dự trữ quốc tế và quản lý thị trường vàng để có cơ sở đưa ra địnhhướng đối với chính sách quản lý vàng của Việt Nam Đối với kinh nghiệmquản lý thị trường vàng, đề tài tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quản lý giaodịch hàng hoá trên các thị trường được cấp phép (trong đó có Sở giao dịchvàng và hàng hoá Dubai) của Tiểu vương quốc Ả rập như một ví dụ cho hoạtđộng của thị trường vàng phát triển và kinh nghiệm quản lý thị trường vàngcủa Trung Quốc như một ví dụ cho hoạt động của thị trường vàng ở các nướcđang phát triển

1.3.1 Quản lý vàng thuộc Dự trữ quốc tế

- Quy mô vàng thuộc Dự trữ quốc tế:

Bảng 1.3: Quy mô vàng thuộc Dự trữ quốc tế của các nước từ 2000-2009

32.41

31.86

31.34

30.74

30.38 29.87 29.73 30.19

Tỷ USD

2 91.7

2 91.4

36 1.8

4 26.4

4 38.9

5 07.0

6 17.3

800.8

831 3

1,055.4

Trang 22

30 nghìn tấn Quy mô này không có sự thay đổi lớn so với quy mô vàng dựtrữ 60 năm trước mặc dù có những thời điểm NHTW các nước giảm mạnhlượng vàng nắm giữ để đảm bảo thanh khoản cho đồng tiền sắp ra đời nhưvào thời điểm ra đời đồng tiền chung Châu Âu năm 1999.

Nếu xét về con số tương đối khi so sánh với tổng dự trữ quốc tế thì tỷ lệvàng cũng giữ ở mức ổn định, khoảng trên dưới 10% Điều đó chứng tỏ vaitrò quan trọng của vàng trong dự trữ quốc tế của các quốc gia bên cạnh dự trữbằng ngoại tệ và các tài sản khác Điều này càng được khẳng định trong giaiđoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra từ cuối năm 2008 và năm 2009khi đồng đôla Mỹ mất giá đã đẩy giá vàng đạt mốc cao kỷ lục là

1.215USD/oz vào ngày 2/12/2009 Mặc dù giá vàng lên cao nhưng các

nước có dự trữ vàng lớn không có động thái bán vàng ra, đồng thời, một sốNHTW có động thái mua vàng vào (Ấn Độ, Nga và Srilance mua khoảng

400 tấn vàng của IMF) Do vậy, tổng lượng vàng nắm giữ chính thức củacác cơ quan tiền tệ vào cuối năm 2009 đã tăng 460 tấn so với năm 2008, lênmức 30.186 tấn

Lý do cơ quan tiền tệ các nước duy trì tỷ lệ vàng cao ổn định là do dựtrữ vàng bảo đảm những mục tiêu cơ bản của việc duy trì dự trữ quốc tế nhằmbảo đảm hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế và đối phó với khủng hoảng haycác sự cố đặc biệt như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh Với vai trò là tiền tệquốc tế, vàng được chấp nhận thanh toán trên mọi lãnh thổ và do đó NHTW

có thể sử dụng vàng để hỗ trợ cán cân thanh toán khi khủng hoảng cán cântạm thời xảy ra thông qua việc thực hiện thanh toán bằng vàng hoặc dùngvàng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay nước ngoài Đặc biệt, khi xảy racác sự cố đặc biệt như chiến tranh, hoả hoạn, thiên tai thì vai trò của vàngcàng trở lên quan trọng hơn tiền giấy hay các loại tài sản khác nhờ tính chấtvật lý bền vững của kim loại quý này

Tuy nhiên, lượng vàng được nắm giữ không đều giữa các quốc gia.Theo số liệu của WGC, tại thời điểm cuối năm 2009, 6 quốc gia có dự trữvàng trên 1.000 tấn là Mỹ (8.133,5 tấn), Đức (3.406,8 tấn), Ý (2.451,8 tấn),

Trang 23

Pháp (2.435,4 tấn), Trung Quốc (1.054,1 tấn), Switzerland (1.040,1 tấn) vàQuỹ tiền tệ quốc tế IMF (3.005,3 tấn) đã nắm giữ tới 21.527 tấn vàng, chiếmđến trên 71% tổng lượng vàng được nắm giữ bởi các cơ quan tiền tệ trênthế giới

Xét về con số tương đối so với quy mô dự trữ quốc tế, tỷ lệ này cũng có

sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Dưới đây là bảng số liệu minh hoạ lượngvàng nắm giữ và tỷ lệ so với tổng dự trữ của một số nước thuộc các khu vựckhác nhau tại thời điểm cuối năm 2009:

Bảng 1.4: Lượng vàng nắm giữ và tỷ lệ so với tổng dự trữ của một số nước

tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng đều duy trì tỷ lệ dự trữ

Trang 24

vàng thấp khoảng 2% Trung bình mức dự trữ vàng của các nước thuộc khuvực ASEAN cũng chỉ ở mức 2% so với dự trữ ngoại hối của các quốc gia này.

Có thể thấy những nước có tỷ lệ vàng so với tổng dự trữ ngoại hối cao

là những nước có đồng nội tệ được sử dụng chủ yếu trong dự trữ ngoại hốiquốc tế như USD, EUR Đồng bảng Anh GBP và Yên Nhật JPY cũng là đồngtiền mạnh nhưng tỷ lệ sử dụng trong dự trữ quốc tế còn thấp nên Anh và Nhậtvẫn duy trì dự trữ ngoại tệ lớn so với vàng Những nước không có đồng tiềnmạnh như Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á cũng duy trì tỷ

lệ vàng trong dự trữ thấp Lý do chủ yếu là vì những nước có đồng nội tệ yếuhơn có nhu cầu nắm giữ ngoại tệ mạnh để đảm bảo khả năng thanh khoản, hỗtrợ cán cân thanh toán cao hơn những nước có đồng nội tệ mạnh

Tỷ lệ dự trữ vàng của các nước trên trong khoảng 10 năm trở lại đây từ2000-2009 duy trì ở mức ổn định Một số nước như Trung Quốc, Thái lan cómức dự trữ quốc tế tăng mạnh qua các năm thì lượng vàng nắm giữ về con sốtuyệt đối cũng tăng theo nhưng tỷ lệ vàng trên tổng dự trữ quốc tế không có

sự thay đổi đáng kể Điều này có thể giải thích là do tính thanh khoản cũngnhư khả năng sinh lời của vàng thấp hơn so với các ngoại tệ mạnh như USD,EUR, JPY, GBP

Như vậy, mặc dù các nước có tỷ lệ dự trữ vàng khác nhau tuỳ theo sứcmạnh của đồng nội tệ và mục tiêu chính sách quản lý dự trữ của từng nướcnhưng vàng vẫn đóng vai trò quan trọng trong dự trữ ngoại hối quốc tế Tổnglượng vàng dự trữ trên toàn thế giới vẫn có xu hướng ổn định qua thời gian,đặc biệt những nước có quy mô dự trữ quốc tế tăng mạnh cũng tăng dầnlượng vàng nắm giữ trong cơ cấu dự trữ của họ

1.3.2 Quản lý giao dịch hàng hoá trên các thị trường được cấp phép của Tiểu vương quốc Ả rập

Tại Tiểu vương quốc Ả Rập, các thị trường được cấp phép trong đó có

Sở giao dịch vàng và hàng hoá Dubai chịu sự quản lý và giám sát của Uỷ banchứng khoán và hàng hoá (The Emirates Securities & Commodities Authority– ESCA, dưới đây gọi tắt là “Uỷ ban”) Uỷ ban là pháp nhân 100% vốn Nhà

Trang 25

nước thực hiện chức năng quản lý, giám sát hoạt động của các thị trườngđược cấp phép nhằm giúp thị trường hoạt động an toàn, hiệu quả, bảo đảm lợiích của các thành viên tham gia thị trường, hướng tới sự ổn định của thịtrường tài chính và nền kinh tế nói chung.

Uỷ ban thực hiện chức năng quản lý, giám sát hoạt động của các thịtrường được cấp phép thông qua các quy định cụ thể sau:

- Cấp phép thành lập thị trường: Việc thành lập Thị trường phải được

Uỷ ban cấp phép, không giao dịch nào được phép thực hiện trên một Thịtrường chưa được cấp phép Điều kiện cấp phép bao gồm: (i) thành lập dướihình thức 100% vốn Nhà nước hoặc vốn Nhà nước chiếm đa số hoặc hìnhthức khác do Uỷ ban chấp thuận; (ii) có địa điểm thích hợp với các trang thiết

bị kỹ thuật cần thiết

- Hoạt động thanh tra, giám sát: Thị trường phải hoạt động dưới sựgiám sát của Uỷ ban Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban có quyền tiến hànhđiều tra, thanh tra việc tuân thủ các Luật và các quy định có liên quan

- Giám sát các quy định của Thị trường: Thị trường được phép đưa racác quy định đối với hoạt động trên Thị trường nhưng các quy định này phảiđược sự xem xét chấp thuận của Uỷ ban

- Chế độ thông tin, báo cáo:

Thị trường phải cung cấp cho Uỷ ban bảng cân đối kế toán, báo cáo tàichính đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán quốc tế trong vòng 3 thángsau khi kết thúc năm tài chính Uỷ ban cũng có quyền yêu cầu Thị trườngcung cấp thông tin bổ sung bất kể lúc nào nếu cần thiết Đồng thời, khi có bất

kể sự thay đổi nào ảnh hưởng tới tình hình tài chính, Thị thường có nghĩa vụbáo cáo ngay lên Uỷ ban

Thị trường phải cung cấp cho Uỷ ban các báo cáo giao dịch định kỳnhư:

+) Báo cáo giao dịch hàng ngày gồm có báo cáo về loại hàng hoá hoặchợp đồng hàng hoá được giao dịch, giá cả, số lượng và tổng số giao dịchtrong ngày;

Trang 26

+) Báo cáo giao dịch hàng tháng bao gồm số lượng giao dịch, giá trịgiao dịch trong tháng và giá đóng cửa cuối cùng.

+) Báo cáo giao dịch hàng năm bao gồm số lượng giao dịch của cácloại hàng hoá, giá trị giao dịch và số lượng giao dịch của năm so với nămtrước đó, đồng thời, đưa ra những biến động nổi bật của Thị trường trongnăm, ảnh hưởng đối với Thị trường và đề xuất của Ban lãnh đạo nhằm hạnchế những ảnh hưởng tiêu cực của những biến động đó

- Phối hợp giữa các Thị trường: Theo sự chỉ đạo của Uỷ ban, Thịtrường phải phối hợp với các thị trường khác và các cơ quan quản lý nướcngoài khi cần thiết để điều tra hoặc tiến hành các vụ kiện liên quan đến nhiềuThị trường

- Đình chỉ giao dịch, Luật lệ và quy định liên quan đến Thị trường: Ban giám đốc Uỷ ban có quyền, với đa số phiếu đồng thuận, buộc Thịtrường tạm dừng toàn bộ giao dịch hoặc dừng giao dịch đối với một hàng hoáhoặc hợp đồng hàng hoá nào đó nếu xảy ra sự cố đe doạ tới hoạt động thôngthường của Thị trường

Đồng thời, Ban giám đốc Uỷ ban có quyền đình chỉ hoặc huỷ bỏ cácluật lệ và quy định liên quan tới Thị trường nếu thấy không phù hợp

- Áp dụng các hình thức phạt: Trong trường hợp Thị trường vi phạmviệc đóng tiền cho Uỷ ban, Ban giám đốc Uỷ ban có quyền áp một trong cáchình thức phạt sau:

 Gửi thông báo nhắc nhở;

 Gửi thông báo yêu cầu Thị trường đóng tiền trong vòng 30 ngày

kể từ ngày thông báo;

 Áp dụng các tỷ lệ phạt 1%, 2%, 5% số tiền phải đóng tương ứngvới thời gian chậm thanh toán là 1 tháng, 2 tháng và trên 2 tháng.Ngoài ra, Uỷ ban cũng có thể quyết định tạm đình chỉ giao dịch đối vớinhững vi phạm về tài chính này

Như vậy, hoạt động của Sở giao dịch vàng và hàng hoá Dubai là mộtthị trường được cấp phép sẽ chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan chuyên

Trang 27

trách là Uỷ ban chứng khoán và hàng hoá Tiểu vương quốc Ả rập Uỷ ban nàymặc dù không trực tiếp tham gia vào bộ máy quản lý của Thị trường nhưngthực hiện việc quản lý bằng cấp phép thành lập, giám sát từ xa qua cơ chếthông tin, báo cáo và thực hiện thanh tra, giám sát tại chỗ khi cần.

1.3.3 Quản lý thị trường vàng của Trung Quốc

Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam từ thể chế chính trịđến đặc điểm kinh tế-xã hội, mức độ hội nhập và mở cửa nền kinh tế, do vậy,việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thị trường vàng của Trung Quốc có ýnghĩa thực tiễn cao trong việc định hướng chính sách quản lý hoạt động kinhdoanh vàng của Việt Nam

Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh vàng được thống nhất quản lýbởi đầu mối duy nhất là NHTW Nhân dân Trung Hoa (People’s Bank ofChina-PBOC) Trong giai đoạn đầu từ năm 1949 đến 2001, Trung Quốc thựchiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, PBOC đóng vai trò độcquyền thị trường vàng trong nước Tuy nhiên, cùng với việc tự do thị trườngtài chính, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc tự do hoátừng bước thị trường vàng

1.3.3.1 Tóm tắt quá trình tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc

- Giai đoạn trước năm 2001:

Trong giai đoạn này, PBOC hoàn toàn độc quyền thị trường vàng trongnước từ khâu khai thác, tinh chế, gia công lẫn hoạt động mua bán, xuất nhậpkhẩu vàng Cụ thể, các công ty khai thác vàng sau khi tinh chế thành vàngmiếng phải bán lại cho các chi nhánh của PBOC, sau đó PBOC sẽ bán lại chocác công ty vàng bạc đá quý chuyên gia công vàng trang sức Các công ty nàysau đó được phép bán vàng trang sức cho dân chúng Các hãng kinh doanhvàng trang sức chỉ được phép mua vàng nguyên liệu từ PBOC và bán nhưngkhông được phép mua lại vàng trang sức từ dân chúng Người dân muốn bánvàng trang sức để lấy tiền mặt sẽ bán tại các chi nhánh của PBOC Ngoài ra,giá cả mua bán vàng đều phải áp dụng giá do PBOC quy định (giá vàng trangsức sẽ được xác định dựa trên hàm lượng vàng thực tế cộng với công chế tác)

Trang 28

PBOC quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vàng dưới dạng cấp phép xuấtnhập khẩu cho các công ty được phép với số lượng tuỳ vào từng thời điểm.

- Giai đoạn từ 2001-2006:

Năm 2001 là một năm được coi là mốc quan trọng trong việc tự do hoáthị trường vàng của Trung Quốc Tháng 4/2001, Ngân hàng Nhân dân TrungHoa lần đầu tiên chính thức công bố kế hoạch xoá bỏ cơ chế quản lý độcquyền trong mua và phân phối vàng, đồng thời công bố thành lập Sàn giaodịch vàng Thượng Hải (Shanghai Gold Exchange - SGE) Đây được coi làbước đột phá trong chính sách quản lý thị trường vàng của Trung Quốc sauhơn 50 năm thực hiện kiểm soát chặt chẽ Về cơ bản, kế hoạch tự do hoá thịtrường vàng của Trung Quốc cũng bao gồm 3 giai đoạn như đối với nhiềunước khác, đó là:

+) Giai đoạn 1: Xoá bỏ chế độ độc quyền kinh doanh vàng và cơ chếkiểm soát giá, đồng thời thành lập Sàn giao dịch vàng Thượng Hải

+) Giai đoạn 2: Từng bước xoá bỏ cơ chế cấp phép đối với hoạt độngsản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng, bước đầu là đối với hoạt động bán lẻ Sau

đó, cho phép cá nhân được tham gia giao dịch vàng miếng

+) Giai đoạn 3: Xoá bỏ từng bước chế độ quản lý xuất nhập khẩu vàng.Trên cơ sở các bước nêu trên, PBOC đã ban hành hàng loạt quy địnhtheo hướng nới lỏng quản lý hoạt động kinh doanh vàng như:

+) 6/2001: PBOC bắt đầu áp dụng chế độ niêm yết giá hàng tuần ápdụng cho các giao dịch mua và phân phối vàng trong nước thay cho việc yếtgiá hàng ngày hoặc đối với từng giao dịch cụ thể như trước đó

+) 8/2001: Xoá bỏ việc kiểm soát giá bán lẻ vàng trang sức Các công

ty vàng bạc, đá quý được phép tự quy định giá bán dựa trên tỷ giá, hàm lượngvàng, kiểu dáng, mẫu mã của sản phẩm Các công ty vàng bạc, đá quý cũngđược phép mua lại vàng trang sức từ dân chúng

Quy định này đã khuyến khích sự phát triển của ngành kim hoàn, cáccông ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất, đa dạng hoá mẫu mã, từ đó đã hìnhthành nhiều hãng sản xuất đồ trang sức lớn có tên tuổi

Trang 29

+) 11/2001: Xoá bỏ chế độ cấp phép đối với hoạt động sản xuất, bánbuôn và bán lẻ vàng trong nước Tuy nhiên, doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài vẫn chưa được phép tham gia vào lĩnh vực này Cũng trong tháng11/2001, SGE chính thức được cấp phép thành lập.

+) 10/2002: SGE chính thức đi vào hoạt động Đây là sàn vàng vật chấtgiao ngay Sản phẩm được phép giao dịch lúc đầu là vàng miếng đạt tiêuchuẩn quốc tế gồm Au 99.99, Au 99.95 và Au 100g, sau đó mở rộng sang cáckim loại quý khác như bạch kim (Pt 99.95) và bạc (Ag) Để thực hiện giaodịch vàng vật chất, SGE có hệ thống thành viên là các công ty cung cấp dịch

vụ lưu kho, bảo quản và giao nhận vàng

Ban đầu, chỉ nhà đầu tư là tổ chức mới được phép tham gia giao dịchtrên Sàn, nhà đầu tư cá nhân chưa được phép tham gia SGE có hệ thốngthành viên là các tổ chức kinh tế trong nước, gồm: các công ty kinh doanhvàng (công ty khai thác, chế tác, xuất nhập khẩu vàng); các định chế tài chính

và các thành viên chủ chốt Các thành viên này là các nhà tạo lập thị trường,tham gia giao dịch, làm đại lý nhận lệnh, thực hiện chức năng ngân hàngthanh toán hoặc cung cấp dịch vụ kho bãi, giao nhận Tại thời điểm đi vàohoạt động, SGE có 108 thành viên

Theo số liệu thống kê trên website của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải,giá vàng giao dịch trên Sàn (đơn vị CNY/g) tương đối sát với giá thế giới(đơn vị USD/ounce) nếu cộng cả thuế và các chi phí nhập khẩu Trong khihoạt động xuất nhập khẩu vàng đang bị quản lý dưới dạng cấp phép, giá vàngtrong nước có sự liên thông với giá vàng thế giới chứng tỏ PBOC có cơ chếquản lý linh hoạt trong việc cho phép các đơn vị xuất hoặc nhập khẩu vàngkhi có chênh lệch giá Ngoài ra, cũng có khả năng PBOC trực tiếp mua báncan thiệp thị trường nhằm bình ổn giá, hạn chế tình trạng buôn lậu vàng

Với sự ra đời của SGE, giao dịch vàng miếng đã được thực hiện tậptrung qua sàn bằng cơ chế khớp lệnh tập trung, giá cả do cung cầu thị trườngquyết định, PBOC không thực hiện quy định giá đối với giao dịch vàng

Trang 30

miếng Đây là sự kiện đánh dấu sự chấm dứt cơ chế độc quyền đối với thịtrường vàng của Trung Quốc.

+) 3/2003: Cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được phép đầu tưvào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vàng tại thị trường trong nước

Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu vàng vẫn chịu sự quản lý chặt chẽcủa PBOC thông qua hình thức cấp phép

+) Giai đoạn 2006- nay:

- Đối với giao dịch vàng vật chất trên SGE:

Tháng 12/2006, PBOC cho phép nhà đầu tư cá nhân được phép giaodịch vàng miếng trên sàn SGE Nhờ quy định này, vàng trở thành kênh đầu tưtài chính hấp dẫn cho các nhà đầu tư cá nhân cùng với kênh đầu tư khác nhưchứng khoán, tiền tệ, bất động sản Với sự tham gia của các nhà đầu tư cánhân, tính thanh khoản của vàng trên Sàn cũng được nâng lên đáng kể

Ngoài ra, giữa năm 2007, PBOC đã chấp thuận cho một số ngân hàngnước ngoài gồm HSBC, Standard Chartered, UBS AG và Bank of NovaScotia (BNS) trở thành thành viên của Sàn Thượng Hải

- Sự ra đời của loại hình kinh doanh vàng trên tài khoản:

Tháng 12/2006 cùng với việc cho phép nhà đầu tư cá nhân tham giagiao dịch vàng miếng, PBOC cũng chính thức cho phép các Ngân hàngthương mại được phép cung cấp dịch vụ kinh doanh vàng tài khoản cho kháchhàng cá nhân

Kinh doanh vàng qua tài khoản là việc nhà đầu tư có thể thực hiện giaodịch mua bán vàng trên tài khoản của mình nhưng trên thực tế không diễn raviệc giao nhận vàng vật chất cũng như không thể rút vàng vật chất từ tàikhoản của mình Về bản chất, đây chỉ là một loại hình đầu tư tài chính, tìmkiếm lợi nhuận nhờ chênh lệnh giá

Hiện nay, các nhà đầu tư cá nhân phải mở 2 tài khoản (1 tài khoản tiềnthanh toán và 1 tài khoản vàng) để thực hiện giao dịch tại các Ngân hàng làthành viên của SGE Ngân hàng cung cấp dịch vụ thực hiện chức năng trunggian, mở tài khoản cho nhà đầu tư, nhập lệnh, khớp lệnh và thu phí giao dịch

Trang 31

Theo quy định của PBOC, nhà đầu tư cá nhân chỉ được phép giao dịchtrong giới hạn số dư tài khoản tiền hoặc vàng của họ Tức là ngân hàng khôngđược phép cho nhà đầu tư vay để đầu tư vượt quá số tiền hoặc vàng họ đangnắm giữ hay không sử dụng đòn bẩy tài chính (tỷ lệ ký quỹ là 100%) Quyđịnh này sẽ hạn chế quy mô giao dịch vàng tài khoản nhưng sẽ giảm thiểu rủi

ro cho nhà đầu tư trong trường hợp đầu tư thua lỗ

1.3.3.2 Vai trò quản lý của PBOC đối với SGE

Sàn giao dịch vàng Thượng Hải là pháp nhân độc lập do Nhà nước đầu

tư vốn 100% (vốn điều lệ đăng ký là 30.000.000 RMB, tương đương khoảng4,2 triệu USD), thời gian hoạt động là 50 năm PBOC là cơ quan quản lý,giám sát toàn bộ hoạt động của SGE Trong quy chế hoạt động của SGE ghi

rõ “SGE chịu sự quản lý và giám sát của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa”(Điều 3) Vai trò quản lý của PBOC thể hiện rõ nhất đối với cơ cấu tổ chức,nhân sự của SGE, cụ thể như sau:

- Giám sát việc thành lập Hội đồng thành viên:

Cơ quan quyết định cao nhất đối với mọi hoạt động của Sàn là Hộiđồng thành viên (Member Assembly) gồm đại diện theo pháp luật của cácthành viên Theo quy định, trong vòng 10 ngày kể từ khi thành lập Hội đồngthành viên, SGE phải gửi tài liệu báo cáo cung cấp thông tin về Hội đồngthành viên tới PBOC

- Tham gia Hội đồng quản trị:

Hội đồng quản trị (Board of Directors) là cơ quan chịu trách nhiệmgiám sát việc thực thi các quyết định của Hội đồng thành viên Cơ cấu Hộiđồng quản trị gồm từ 9-15 thành viên, trong đó có thành viên Hội đồng quảntrị là thành viên Hội đồng thành viên (Member Director) và một số thành viênkhông thuộc Hội đồng thành viên (Non-member Director) Member Director

sẽ do Hội đồng quản trị hoặc trên 1/5 số thành viên Hội đồng thành viên tiến

cử và do Hội đồng thành viên lựa chọn Non-member Director do PBOC bổnhiệm Số lượng Non-member Director không được lớn hơn 1/3 tổng số thànhviên Hội đồng quản trị

Trang 32

Hội đồng quản trị có 1 Chủ tịch và 1-2 Phó chủ tịch Chủ tịch và cácPhó chủ tịch phải do PBOC tiến cử, sau đó Hội đồng quản trị lựa chọn

Ngoài ra, PBOC cũng có quyền triệu tập họp Hội đồng quản trị bấtthường khi cần Đồng thời, trong vòng 10 ngày sau khi họp Hội đồng quản trị,mọi quyết định và các tài liệu có liên quan đến cuộc họp phải được báo cáolên PBOC

- Bổ nhiệm Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc:

SGE có 1 Tổng giám đốc và 1-2 Phó Tổng giám đốc trực tiếp điều hànhhoạt động hàng ngày của Sàn Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc phải

do PBOC bổ nhiệm Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 2 năm và một Tổnggiám đốc không giữ chức quá 3 nhiệm kỳ liên tiếp

Sau khi Tổng giám đốc nghỉ việc, Hội đồng quản trị phải tiếp tục uỷquyền cho tổ chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn để tiến hành việc kiểm tra sau thôiviệc Thông tin về tổ chức thực hiện việc kiểm tra và báo cáo kết quả kiểm traphải được báo cáo lên PBOC

- Quản lý thành viên của SGE:

PBOC sẽ xem xét hồ sơ đăng ký và quyết định việc kết nạp thanh viêntham gia Sàn cũng như việc chấm dứt hoặc huỷ bỏ tư cách thành viên

- Quyết định ngừng hoạt động Sàn:

Trong trường hợp hết thời gian hoạt động đã được đăng ký (50 năm)

mà Hội đồng thành viên không quyết định tiếp tục hoạt động hoặc trường hợpsáp nhập, chia tách Sàn thì PBOC là cơ quan phê duyệt và chấp thuận phương

án đóng cửa SGE

Như vậy, PBOC đóng vai trò quản lý và chi phối mọi quyết định củaSGE thông qua việc quản lý việc tham gia của các thành viên và tham gia bộmáy nhân sự chủ chốt điều hành Sàn (cử người tham gia Hội đồng quản trị,tiến cử Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, bổ nhiệm Tổng giámđốc và các Phó Tổng giám đốc) Nhờ đó, mặc dù có sự tham gia của các thànhviên nhưng PBOC vẫn giữ được vai trò quản lý mọi quyết định của SGE

Trang 33

nhằm bảo đảm Sàn hoạt động minh bạch, hiệu quả dưới sự kiểm soát củaNHTW.

- Hoạt động của thị trường vàng ảnh hưởng tới hiệu quả thực thi chínhsách tiền tệ và ngoại hối của các quốc gia, do vậy, với những nước chưa hoàntoàn tự do hoá thị trường tài chính như Việt Nam hiện nay thì sự quản lý củaNHTW đối với thị trường vàng là cần thiết Về hình thức quản lý, NHTW cóthể quản lý bằng các biện pháp gián tiếp như cấp phép xuất nhập khẩu Bêncạnh đó, NHTW cũng cần có cơ chế chủ động can thiệp mua bán trực tiếptrên thị trường khi có chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thếgiới nhằm hạn chế tình trạng buôn lậu

- Cùng với quá trình tự do hoá thị trường tài chính, thị trường vàngcũng cần được tự do từng bước nhằm phù hợp với trình độ phát triển chungcủa thị trường tài chính Theo kinh nghiệm của nhiều nước trong đó có TrungQuốc, tiến trình tự do hoá thị trường vàng bắt đầu từ tự do hoá thị trườngvàng vật chất, sau đó đến kinh doanh vàng tài khoản và cuối cùng là xoá bỏkiểm soát đối với hoạt động xuất nhập khẩu vàng

Do Trung Quốc là nước sản xuất vàng nên việc tự do hoá thị trườngvàng vật chất, xoá bỏ kiểm soát giá cả, thành lập Sàn giao dịch vàng ThượngHải là cần thiết nhằm xây dựng một thị trường hoạt động tập trung, minh

Trang 34

bạch, vận động theo cung cầu Tuy nhiên, với những nước nguồn cung vàngdựa chủ yếu vào nhập khẩu như Việt Nam, chừng nào vẫn áp dụng cơ chếquản lý xuất nhập khẩu vàng thì việc thành lập Sàn giao dịch vàng tỏ ra chưathực sự cần thiết.

Đối với hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản, mặc dù là kênh đầu

tư hấp dẫn nhằm giúp nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đầu tư nhưng do mức

độ rủi ro cao nên cần được quản lý chặt chẽ Theo kinh nghiệm của TrungQuốc, trong giai đoạn đầu chỉ cho phép nhà đầu tư cá nhân tham gia với tỷ lệ

ký quỹ 100% nhằm hạn chế rủi ro, chủ yếu để tạo cho nhà đầu tư môi trườngtiếp cận, tích luỹ kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng tài khoản

Hoạt động xuất nhập khẩu vàng do liên quan đến cung cầu ngoại tệ nêntrong điều kiện còn các biện pháp kiểm soát ngoại hối, quản lý tỷ giá thì vẫncần thực hiện kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu vàng

- Khi thị trường vàng được hoàn toàn tự do hoá, mọi rào cản trong đó

có hoạt động xuất nhập khẩu được rỡ bỏ thì việc thành lập Sở giao dịch hànghoá trong đó có giao dịch vàng như mô hình của Sở giao dịch vàng và hànghoá Dubai hay Sàn giao dịch vàng chuyên biệt như Sàn giao dịch vàngThượng Hải là cần thiết để đưa thị trường vàng trong nước liên thông với thịtrường vàng quốc tế, xây dựng thị trường tài chính hoàn thiện, đồng bộ Tuynhiên, vẫn cần duy trì quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các Sở giaodịch này nhằm đảm bảo thị trường hoạt động minh bạch, hiệu quả, đảm bảotính ổn định của thị trường tài chính và nền kinh tế

Trang 35

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀNG THUỘC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

VÀNG TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng công tác quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước và hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam

2.1.1 Thực trạng công tác quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước

2.1.1.1 Thời kỳ trước 1991

Trước năm 1991, hệ thống ngân hàng là một cấp, chưa tách bạch hoạtđộng quản lý ngân hàng và kinh doanh ngân hàng, NHNN chưa ban hành cáccác quy định về quản lý DTNHNN và quản lý vàng thuộc DTNHNN nhằmbình ổn giá vàng và đa dạng hoá hình thức đầu tư DTNHNN

Tuy nhiên, với quan điểm coi vàng, kim khí quý, đá quý là ngoại hốiphục vụ mục tiêu thanh toán quốc tế, trong thời kỳ này, NHNN đã thực hiệnquản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng Toàn bộ các quy định đối vớihoạt động kinh doanh vàng thể hiện ở hai Quyết định số 38/CP và 39/CP ngày09/2/1979 Theo đó, các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước phải kê khai số lượngvàng, bạc, bạch kim, kim cương cho NHNN Cá nhân chỉ được đem một sốvàng cụ thể theo người, tư nhân không được mua, bán và tích trữ vàng Chỉcác xí nghiệp quốc doanh mới được mua, bán vàng với số lượng hạn chế Donhững quy định nghiêm ngặt, nên mặc dù trên văn bản cấm nhưng hoạt độngbuôn bán vàng bất hợp pháp khá phổ biến trên toàn quốc

Thực trạng quản lý kinh doanh vàng của NHNN trong thời kỳ này đượcthể hiện qua từng giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1954-1975

Việt Nam bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ quản lý khác nhau ỞMiền Bắc, Nhà nước thực hiện chính sách quản lý vàng hết sức chặt chẽ, chưahình thành thị trường vàng Những hoạt động liên quan đến vàng chỉ bao gồmmột vài cửa hàng mỹ nghệ của Nhà nước bày đồ mỹ ký và cho khách tham

Trang 36

quan là chính và một vài hiệu vàng tư nhân sửa chữa nhỏ Hoạt động buônbán vàng bất hợp pháp có diễn ra nhưng với khối lượng rất nhỏ, chỉ một số ítngười dân có vàng do còn giữ được từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ở Miền Nam, Chính quyền Sài Gòn áp dụng chế độ tự do kinh doanh vàng, tự

do xuất nhập khẩu vàng, nhưng chỉ những người có vốn lớn, có tay nghề mớiđược mở cửa hàng kim hoàn Các cửa hàng kim hoàn phải mua, bán vàngtheo giá ngân hàng công bố Thị trường vàng chưa lớn, ở Sài gòn chỉ cókhoảng 500-600 cửa hàng kim hoàn, vừa sản xuất vừa gia công Trong đó, cókhoảng 4-5 cửa hàng lớn, có uy tín, sản xuất ra vàng miếng được lưu thông tạikhắp các nước Đông Dương như vàng miếng nhãn hiệu Kim Thành

Giai đoạn 1975-1985

Sau khi Miền Nam giải phóng, đã nhiều người biết đến vàng hơn, đặcbiệt do ảnh hưởng của tập quán thanh toán, mua bán quy ra vàng của ngườiMiền Nam thời chính quyền Nguỵ đã lan truyền và trở thành thói quen đốivới người Miền Bắc Việc dùng vàng trong thanh toán phổ biến dần lên doviệc buôn bán những hàng hóa đắt tiền chủ yếu được đem từ Miền Nam ra,

mà những hàng hóa này được mua với giá gốc tính bằng vàng Vì vàng được

sử dụng nhiều, nên bắt đầu xuất hiện buôn bán vàng từ các cửa hàng vàngtrước đây

Tuy nhiên, giai đoạn này nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trungbao cấp, Nhà nước quyết định các chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô theo một

kế hoạch tập trung trên toàn quốc Nền kinh tế nước ta được điều hành theo

mô hình chung của khối các nước XHCN đó là kinh tế hướng nội, bế quan tỏacảng, các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền Nhànước về ngoại thương và ngoại hối, chưa tách bạch được chức năng quản lýngân hàng và kinh doanh ngân hàng

Với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp đã không tạo được động lựcphát triển kinh tế, làm cho khu vực kinh tế quốc doanh hoạt động yếu kém,kìm hãm sức sản xuất và năng lực sáng tạo của các thành phần kinh tế khác,mức độ gia tăng dân số nhanh, lạm phát ngày càng leo thang (nếu lấy giá cả

Trang 37

năm 1976 là 100, thì năm 1981:313,4; 1984:1.400; 1985:2.390), các quan hệkinh tế đối ngoại bó hép, đời sống nhân dân khó khăn

Giai đoạn 1985-1991

Trong điều kiện kinh tế xã hội khủng hoảng trầm trọng và lên đến đỉnhđiểm khi bùng nổ lạm phát năm 1985, để cải cách tiền tệ, chống lạm phát,Nhà nước đã thực hiện một số chính sách kinh tế mới như đổi tiền, điều chỉnhgiá-lương-tiền năm 1985

Năm 1987, Quốc hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Tiếp đến, Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng rađời Nước ta bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, xóa bỏ chế độquan liêu, bao cấp, bế quan tỏa cảng Luồng vốn đầu tư nước ngoài bằngngoại tệ bắt đầu đổ vào Việt nam Tuy nhiên, trong vài năm sau đó, các hoạtđộng xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài chưa thực sự phát triển mạnh mẽ,nguồn ngoại hối được huy động vào hệ thống ngân hàng chưa nhiều

Chủ trương mở cửa nền kinh tế và xóa bỏ cơ chế bao cấp là các hoạtđộng cải cách đúng đắn, song do các chính sách chưa đồng bộ cùng với việcđột ngột xóa bỏ giá bao cấp đã đẩy mặt bằng giá cả liên tiếp biến động từ đỉnhcao này đến đỉnh cao khác Việc sử dụng vàng trở nên phổ biến hơn trong giaiđoạn tiền đồng mất giá mạnh Thị trường vàng mất cân đối nghiêm trọng doNhà nước vẫn chưa có chủ trương nhập vàng và việc khai thác vàng chưađược tổ chức như hiện nay Nhu cầu mua, nắm giữ vàng của dân cư rất lớn,giới đầu cơ lũng đoạn thị trường đã khiến cho vàng nhiều lần sốt giá

Trước tình hình này, Nghị định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), về "Điều lệ quản lý ngoại hối" được banhành, thay thế Nghị định số 102/CP ngày 6/7/1963 của Hội đồng bộ trưởng(HĐBT), đã xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh ngoại hối HĐBT đã giao choNHNN nhiệm vụ quản lý hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc cấp giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vàng cho các doanh nghiệp Nhiệm vụchống lạm phát được đưa lên hàng đầu Đồng thời, để ổn định thị trườngvàng, ngày 25/5/1989, HĐBT đã ban hành Quyết định số 139/HĐBT cho

Trang 38

phép các đơn vị kinh tế quốc doanh có liên quan đến khai thác, tinh luyệnvàng và các hộ cá thể nếu có đủ điều kiện được kinh doanh vàng Tuy nhiênphạm vi kinh doanh còn hạn chế, chỉ được phép mua, bán vàng tư trang,không được mua bán vàng nguyên liệu, vàng miếng Đồng thời cho phépthành lập các công ty kinh doanh vàng bạc trực thuộc Ủy ban nhân dân một sốtỉnh, thành phố lớn NHNN bắt đầu cho phép một số đơn vị, địa phương đượcnhập khẩu vàng và cho phép thành lập Tổng Công ty vàng bạc đá quý ViệtNam năm 1989 với hệ thống rộng khắp trong cả nước để đáp ứng nhu cầu thịtrường vàng, ổn định giá cả và chống lạm phát.

Ngày 25/5/1990, Pháp lệnh NHNN VN và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợptác tín dụng và Công ty tài chính ra đời đã tách bạch chức năng quản lý ngânhàng và chức năng kinh doanh ngân hàng NHNN là NHTW thực hiệnchức năng quản lý vĩ mô, ban hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngânhàng, hệ thống ngân hàng chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanhtiền tệ tín dụng

2.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 1999

Mặc dù với hệ thống ngân hàng hai cấp đã tách bạch được chức năngquản lý ngân hàng và kinh doanh ngân hàng Song ở thời kỳ này, trong hệthống văn bản pháp quy chưa có khái niệm về DTNHNN, nên cũng chưa cókhái niệm quản lý vàng như là một thành phần thuộc DTNHNN Tuy nhiênThủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định thành lập Quỹ điều hoà ngoại

tệ và Quỹ can thiệp vàng, mà bản chất các quỹ này là các quỹ dự trữ ngoại hốicủa Nhà nước với mục đích chính là để can thiệp bình ổn tỷ giá và giá vàng.Các hoạt động can thiệp mua, bán ngoại tệ và vàng của NHNN để bình ổn

tỷ giá và giá vàng trong thời kỳ này diễn ra mạnh mẽ, đã góp phần tích cựcvào sự ổn định giá cả, kìm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế, nhất làtrong những năm đầu của thập kỷ 90 Điều này thể hiện rõ nét qua việcphân tích thực trạng quản lý và hoạt động của các Quỹ này trong từng giaiđoạn sau đây:

Trang 39

1991, giá vàng trong nước tăng cao hơn giá vàng quốc tế

Trong điều kiện đó, NHNN đã kiến nghị với Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) thành lập Quỹ dự trữ điều hòa ngoại tệ

và Quỹ can thiệp vàng Đồng thời, được sự chấp thuận của Chủ tịch Hội đồng

Bộ trưởng, Thống đốc NHNN đã cho thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại

tệ tại Thành phố Hồ Chí Minh (9/1991) và Hà Nội (11/1991) theo Quyết định

số 107/NHQĐ

Căn cứ Quyết định số 105/CT ngày 10/4/1991 về việc thành lập Quĩ dựtrữ điều hòa ngoại tệ và chỉ đạo tại Công văn số 2420/PPLT ngày 25/7/1991của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, “Quy chế tạm thời về việc sử dụng Quĩđiều hòa ngoại tệ tập trung của Nhà nước do NHNN quản lý” được ban hànhkèm theo Quyết định số 01/QĐ-NH7 ngày 03/01/1992 của Thống đốcNHNN Theo đó, NHNN đã sử dụng ngoại tệ thuộc Quỹ điều hòa ngoại tệ đểkịp thời can thiệp mua, bán ngoại tệ tại hai trung tâm giao dịch ngoại tệ và

để đáp ứng cho nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm can thiệp thị trường vàngtrong nước và một số nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu Bên cạnh

đó, NHNN thực thi một quyết sách quan trọng là thông báo bán vàng

không hạn chế trên thị trường

Hoạt động can thiệp thị trường vàng được thực hiện thông qua cácCông ty vàng bạc Nhà nước vào những thời điểm sốt giá vàng Giai đoạn đầuviệc can thiệp chỉ có tính chất cầm chừng vì thực tế nguồn ngoại tệ củaNHNN còn khó khăn, ngoài ra do vàng nhập khẩu có khối lượng từ 1 kg trở

Trang 40

lên trong khi người dân chỉ có nhu cầu mua với khối lượng nhỏ 1 chỉ, 5 chỉ,nên mất nhiều thời gian Sau đó, để chủ động trong việc can thiệp, NHNN đãđặt gia công vàng dự trữ thành vàng miếng của các Công ty Nhà nước cóthương hiệu trên thị trường như vàng miếng SJC của Công ty vàng bạc đá quýSài Gòn và vàng miếng VJC của Tổng Công ty vàng bạc đá quý Việt Nam.

Do chủ động được nguồn vàng can thiệp là vàng miếng đã được gia công, nênviệc can thiệp đạt hiệu quả cao hơn, Nhà nước đã làm chủ được thị trườngvàng, các cơn sốt vàng đã được giảm nhiệt kịp thời và giá vàng trong nước đãtiến gần tới giá quốc tế

Trong giai đoạn này, giá vàng có tác động trực tiếp đến biến động tỷgiá và giá cả trong nước, chỉ trong hai năm 1991-1992, NHNN đã bán ra gần

6 tấn vàng (trị giá khoảng 72 triệu USD) nhằm hạn chế tình trạng vơ vét ngoại

tệ trên thị trường tự do để nhập lậu vàng, dịu bớt căng thẳng trên thị trường

ngoại tệ Nhờ hoạt động can thiệp này, giá USD thị trường tự do đã giảm từmức cao điểm khoảng 14.000 đ/USD vào cuối năm 1991 xuống dưới mức11.000 VND/USD trong suốt thời gian từ tháng 7/1992 - hết năm 1993 và giávàng trong nước đã xấp xỉ giá vàng quốc tế ở mức 500.000 VND/chỉ vào cuốinăm 1992

Đồng thời, nhằm thu hút mọi nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng

để phục vụ phát triển kinh tế và có nguồn lực để bình ổn tỷ giá và giá vàngkhi cần thiết, NHNN đã đề xuất với Chính phủ ban hành ̣̣̣̣̣Quyết định 337/QĐ-HĐBT ngày 25/10/1991 về một số biện pháp quản lý ngoại tệ trong thời giantrước mắt, trên cơ sở đó NHNN ban hành các văn bản hướng dẫn và thể hiện

rõ quan điểm hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt nam, kiểm soát chặtchẽ luồng vốn ngoại tệ chuyển ra nước ngoài, mở rộng và khuyến khích luồng

ngoại tệ chuyển vào để cải thiện cung cầu ngoại tệ Bên cạnh đó, Quy định về

cho vay, thu hồi nợ bằng ngoại tệ của NHNN đối với các TCTD trong thờigian trước mắt được ban hành kèm theo Quyết định số 43/QĐ-NH14 ngày

05/3/1993 của Thống đốc NHNN Theo đó, các NHTM phải đáp ứng một số

điều kiện nhất định mới được vay ngoại tệ của NHNN, Tổng Công ty vàng

Ngày đăng: 13/09/2014, 05:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Những mốc quan trọng trong lịch sử tiền tệ của vàng - các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng của ngân hàng trung ương
Bảng 1.1 Những mốc quan trọng trong lịch sử tiền tệ của vàng (Trang 8)
Bảng 1.3: Quy mô vàng thuộc Dự trữ quốc tế của các nước từ 2000-2009 - các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng của ngân hàng trung ương
Bảng 1.3 Quy mô vàng thuộc Dự trữ quốc tế của các nước từ 2000-2009 (Trang 20)
Bảng 1.4: Lượng vàng nắm giữ và tỷ lệ so với tổng dự trữ của một số nước - các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng của ngân hàng trung ương
Bảng 1.4 Lượng vàng nắm giữ và tỷ lệ so với tổng dự trữ của một số nước (Trang 22)
Bảng 2.3: Số liệu hoạt động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong   lĩnh vực sản xuất, gia công vàng trang sức mỹ nghệ từ 2005-2010 - các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng của ngân hàng trung ương
Bảng 2.3 Số liệu hoạt động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất, gia công vàng trang sức mỹ nghệ từ 2005-2010 (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w