1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp của nghành nông nghiệp ở việt nam hiện nay

15 585 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 51,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu Trong những năm qua với sự nỗ lực cao của chính phủ và các bộ nghành kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta đã đạt được những thanh tựu nhất định, nhất là giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu tang trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên mặc dù đến nay đã là năm cuối thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giai đoạn 20012010 nhưng phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn còn chậm nhất là nông trưởng nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững, năng lực cạnh tranh yếu, chất lượng nông sản thấp, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn chậm phát triển, thể chế nông thôn chậm đổi mới… Thực tế đó đòi hỏi cần phải có các giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Nhằm hiểu rõ hơn về vấn đề kinh tế trên nhóm chúng tôi xin chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp của nghành nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay”. Đề tài này rất rộng mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm còn hạn chế nên chúng tôi chỉ xin đống góp một phần nhỏ hiểu biết của mình. Mong thầy cô và các nhóm góp ý thêm. NỘI DUNG Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới khu vực nông thôn Việt Nam đã có sự thay đổi rõ rệt cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịc vụ phát triển mạnh, hình thành và phát triên các mô hình kinh tế mới (Khu công nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả thu hút nhiều lao động nông thôn tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế. Kết cấu kinh tế – xã hội ở nông thôn có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường, trường, trạm, cơ sở y tế, nước sạch, môi trường được quan tâm và đẩy mạnh. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt thành tích đáng kể tỉ lệ hộ nghèo giảm. Măc dù việc xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển đối với một số nghành nông nghiệp mới được tiến hành trong thời gian chưa lâu nhưng kết quả đã cho thấy tốc độ phát triển nhanh, mang hiệu quả cao và càng lúc càng đạt được nhiều mục tiêu như cải thiện đời sống nông thôn tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần phủ xanh đát trống đồi trọc… Nghành nông nghiệp tiếp tục phát triển khá với nhiều điểm đáng chu ý như: Mức tăng trưởng sản xuất duy trì ở mức 4.8% liên tục trong 10 năm. Nhiều lĩnh vưc sản xuất được mở rộng về diện tích cũng như tăng trưởng về sản lượng như gạo, cà phê, chế biến thủy hải sản, tạo ra một số lượng hàng hóa lớn phục vụ cả tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ví dụ như nghành lúa gạo từ một nướ

Trang 1

Lời mở đầu

Trong những năm qua với sự nỗ lực cao của chính phủ và các bộ nghành kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta đã đạt được những thanh tựu nhất định, nhất là giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu tang trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Tuy nhiên mặc dù đến nay đã là năm cuối thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2001-2010 nhưng phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn còn chậm nhất là nông trưởng nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững, năng lực cạnh tranh yếu, chất lượng nông sản thấp, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn chậm phát triển, thể chế nông thôn chậm đổi mới… Thực tế đó đòi hỏi cần phải có các giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Nhằm hiểu rõ hơn về vấn đề kinh tế trên nhóm chúng tôi xin chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp của nghành nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay” Đề tài này rất rộng mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm còn hạn chế nên chúng tôi chỉ xin đống góp một phần nhỏ hiểu biết của mình Mong thầy cô và các nhóm góp ý thêm

Trang 2

NỘI DUNG

Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới khu vực nông thôn Việt Nam đã có sự thay đổi rõ rệt cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịc vụ phát triển mạnh, hình thành và phát triên các mô hình kinh tế mới (Khu công nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả thu hút nhiều lao động nông thôn tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế Kết cấu kinh tế – xã hội ở nông thôn có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường, trường, trạm,

cơ sở y tế, nước sạch, môi trường được quan tâm và đẩy mạnh Công tác xóa đói giảm nghèo đạt thành tích đáng kể tỉ lệ hộ nghèo giảm Măc dù việc xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển đối với một số nghành nông nghiệp mới được tiến hành trong thời gian chưa lâu nhưng kết quả đã cho thấy tốc độ phát triển nhanh, mang hiệu quả cao và càng lúc càng đạt được nhiều mục tiêu như cải thiện đời sống nông thôn tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần phủ xanh đát trống đồi trọc… Nghành nông nghiệp tiếp tục phát triển khá với nhiều điểm đáng chu ý như: Mức tăng trưởng sản xuất duy trì ở mức 4.8% liên tục trong 10 năm Nhiều lĩnh vưc sản xuất được mở rộng về diện tích cũng như tăng trưởng về sản lượng như gạo, cà phê, chế biến thủy hải sản, tạo ra một số lượng hàng hóa lớn phục vụ cả tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ví dụ như nghành lúa gạo từ một nước nhập khẩu gạo Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Sản lượng gạo tăng lien tục từ mức 16 triệu tấn/năm (1986) lên mức 19,2 triệu tấn/năm (2009) tăng gấp 2,4 lần sau 20năm đổi mới Tinh riêng trong các năm 2008 và

2009 sản lượng và giá trị các loại cây trồng, đặc biệt là những cây tạo nguồn nguy,ên liệu cho xuất khẩu: Cà phê tăng 40,4%, cao su tăng 37%, chè tăng 33.3%, điều tăng 28,3% so với năm 2005 Tỉ trọng của nghành nông, lâm và thủy sản

Trang 3

trong GDP luôn chiếm trên 30% trong giai đoạn 1986 – 1990 và giảm dần trong các giai đoạn tiếp sau theo xu hướng tích cực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp đã đóng góp phàn không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuất khẩu tăng bình quân trên 10% năm Nếu như năm 1995, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông lâm thủy sản của khu vực nông nghiệp chr đạt 2,5triệu USD thì đến cuối năm 2009, ước đạt 13,2 tỷ USD, cao gấp 5 lần so với năm 1995 trong 24 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước thì nông lâm thủy sản đã đóng góp tới 11 măt hàng , chiếm gần 1/2 số măt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó có những mặt hàng được xem là hàng chủ lực như gạo, cà phê, cao su, gỗ, với kim ngạch trên 1 tỷ USD Cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhiều mặt hàng nông sản ra tăng và chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới, như hạt điều ,hạt tiêu chiếm vị trí thứ nhất, lúa gạo, cà phê đứng ở vị trí thứ 2, cao su đứng thứ 4, chè đứng thứ 5 và thủy sản đứng thứ 7 trong nhóm các nước sản xuất mặt hàng này

Khu vực nông nghiệp đã góp phần giải quyết công ăn viêc làm cho hàng triệu lao động, tiếp tục là ngành chính tạo ra thu nhập chính cho người nghèo Tính đến cuối năm 2009, khu vực nông nghiệp nông thôn có 15,57 triệu hộ ra đình (chiếm 69.37% tổng số hộ gia đình của cả nước) và dân số là 60,41 triệu người (chiếm 70,37% tổng số dân cả nước) có trên 24 triệu lao động đang làm việc trên lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tỷ trọng gần 60% tổng số lao động đang làm việc trong các khu vực kinh tế của cả nước

Một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu hình thành Diện tích tích gieo trông các loại cây trông mà sản phẩm tạo ra dành nhiều cho xuất khẩu hoặc phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng trong nước đã tăng lên như diệ tích các loại cây rau quả, cây công nghiệp ngằn ngày có hướng tăng nhẹ

Trang 4

khoảng 2 - 4%/năm Diên tích các cây lâu năm tăng gần 80 nghìn ha, riêng trong năm 2009 do giá xuất khẩu một số nông sản này tăng Những dịch chuyển này đã tạo ra sự hình thành các vùng chuyên canh, đặc biệt là vùng sản xuất các loại cây rau quả, quả xuất khẩu như vải, bưởi, sầu riêng, na, xoài… cùng với sự hình thành các mô hình sản xuất hành hóa nông sản lớn Bên cạnh đó thì những cây trồng có địng hướng phục vụ cho các ngành nông nghiệp chế biến các sản phẩm chỉ tiêu dùng nội địa thể hiện sự khó khăn, không có năng lực phát triển như cây mía đường, bông, gia súc…

Một số nét mới trong phát triển nông nghiệp là đã xuất hiện một số mô hình tổ chức sản xuất kiểu mới như kinh tế trang trại, cao su tiêu điền, cà phê nhân dân, tổ hợp tác tự nguyện, hợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế hộ Tính đến năm

2009 cả nước đã có 135,437 trang trại, trong đó có 39,769 trang trại trồng cây hàng năm, 23,880 trang trại trồng cây lâu năm, 20,809 trang trại chăn nuôi và 35,489 trang trại nuôi trồng thủy sản, tập trung nhiều nhất ở khu vực đồng bào Sông Cửu Long Kinh tế hợp tác và hợp tác xã dịch vụ trong nông nghiệp cũng là một nét mới đáng ghi nhận trong tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay

Trong điều kiện toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu khủng hoảng lương thực và năng lượng dã trở thành các vấn đề nghiêm trọng như hiện nay, khu vực nông nghiệp, nông thôn nhất là tại các quốc gia có số dân sống dựa nhiều vào nông nghiệp như Việt Nam tiếp tục được xác định là có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Đảng ta vẫn xác định:” Hiện nay và trong nhiều năm tới , vấn đề nông nghiệp, nông đân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hướng tới xây dựng vững mạnh phát triển nhanh và bền vững có năng xuất, chất lượng và

Trang 5

khả năng cạnh tranh cao đảm bảo vững chắc an ninh…Gồm phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị và giữa các vùng miền trên cả nước góp phần giữ vững ổn định chính chị xã hội

Những hạn chế của nông nghiệp Việt Nam hiện nay: vì Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa đã tồn tại nhiều vấn đề bất cập như:

Cơ cấu nông nghiệp chậm chuyển dịch,còn tồn tại nhiều yếu tố mất cân đối Năm 1990 cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta (tính theo giá trị sản xuất theo giá thực tế) bao gồm trông trọt chiếm 79,3%, tiếp đó là chăn nuôi chiếm 17,9% và dịc vụ 2,8% thì đến năm 2009, ước tính sơ bộ giá trị sản xuất các ngành trồng trọt vẫn chiếm tới 71,4% chăn nuôi có tăng lên 2,8% nhưng dịc vụ giảm xuông còn 1,7% (theo số liệu từ tổng cục thống kê) Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành nông nghiệp thuần là các nông sản do phân ngành trồng trọt làm ra như gạo, cà phê, cao su Sản phẩm chăn nuôi hầu như chưa xuất khẩu hoặc rất ít Cơ cấu nông lâm nghiệp, thủy sản năm 2000 lần lượt là 79%, 16% và 5% thì đến năm 2009 nông nghiệp vẫn chiếm 74%, thủy sản tăng lên 23% và lâm nghiệp giảm xuống còn 3% Sự mất cân đối còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nguyên liệu sản xuất và nhà máy chế biến Như đối với ngành hạt điều , từ chỗ mới có vài chục ngàn ha với sản lượng đáp ứng tiêu dùng nội địa, đến nay nhà nước đã có trên 400.000 ha điều, tuy nhiên công suất của các nhà máy chế biến đã vươt quá khả năng cung ứng nguyên liệu điều thô trong nước Tình trạng tương tự cũng xảy ra trong lĩnh vực thủy sản Trong 3 năm trở lai đây, năng lực của các nhà máy chế biến thủy sản tăng tới 20% trong khi sản lượng khai thác và nuôi trông chỉ tăng 7,6%

Trang 6

Quy mô sản xuất nhỏ, hoạt động sản xuất còn manh mún.

Ví dụ như đối với ngành cà phê, cho tới nay, cà phê thuộc các gia đình nông dân quản lí đã chiếm trên 90% tong diện tích cà phê cả nước, trong đó có tới 53% chủ vườn có diện tích cà phê dưới 1 ha và 85% chủ vườn có diện tích cà phê dưới

2 ha Diện tích cà phê của các nông trường nhà nước đã ngày càng thu hẹp do chính sách khoán đến hộ công nhân và bán vườn cây của các nông trường Đối với cây cao su đến năm 2009 diện tích cao su tiểu điền chiếm khoảng 50,2% tổng diện tích cao su cả nước, tương đương với 338.480 ha Do quy mô sản xuất nhỏ vốn đầu

tư ít điều kiện kinh tế nhiều hộ nông dân còn nghèo nên công nghiệp sau thu hoạch như phơi sấy, chế biến và bao quản còn nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp

Cơ cấu giống cây trồng và con vật nuooin còn nhiều điểm chưa hợp lí dẫn tới

cơ cấu sản phẩm nông nghiệp chưa hợp lí theo cả cung và cầu

Ví dụ như diện tích cà phê như hiện nay chiếm tới 92,9% chủ yếu trồng bằng hạt, diện tích cà phê, chè chỉ đạt trên 31.000 ha, chiếm khoảng 7% trong khi nhu cầu tiêu dùng thì chủ yếu tập trung vào cà phê, chè Hiện tượng này diễn ra tương tự với nhiều loại cây trồng và vật nuôi khác Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi còn thiếu đa dạng, tồn tại nhiều giống cây cho hiệu quả và naeng xuất thấp, nhiều giống vật nuôi có chất lượng kém hơn so với sản phẩm cùng loại của cả nước Năng xuất lao động chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh yếu do đó chưa hình được các chuỗi giá trị nông sản mạnh và bền vững Mặc dù năng xuất lao động của ngành nông nghiệp có tang trong nhiều năm trở lại đây, tuy nhiên, theo báo cáo khoa học ngành nông nghiệp Việt Nam 2011 –

2015 (Bộ NN – PTNT) thì năng xuất lao động bình quân của ngành nông nghiệp ở

Trang 7

nước ta chỉ bằng 0,16% đến 0,22% so với ngành nông nghiệp từ năm 2006 đến nay Chất lượng sản phẩm thấp cũng là một trong những vấn đề đặc biệt nghiêm trọng Do chất lượng sản xuất thấp dẫn đến giá trị xuất khẩu không cao, làm giảm thu nhập cũng như hiệu quả lao động của người nông dân làm giảm hiệu quả khai thác đất đai và các tài nguyên khác Theo thong báo mới nhất của ICO ( Tổ chức cà phê thế giới) tỉ lệ cà phê dưới chuẩn CQP của Việt Nam lên đến 75% trong khi Indonesia chỉ ở mức 9% đây cũng là lí do khiến tỉ lệ cà phê của Việt Nam bị loại ở sàn giao dịch LIFFE năm 2008 lên tới 60% Người nông dân phần lớn vẫn chú trọng nâng cao năng xuất lớn hơn là chất lượng sản phẩm Khi giá lên cao, để đạt được năng xuất tối đa, người trông cà phê sản sàng dùng phân hóa học, nước tưới thuốc bảo vệ thực vật với mức cao hơn mức khuyến cáo, tiếp giảm các loại cây che bóng mát, hái vcaf phê quả xanh hoặc hái lẫn quả xanh và quả chín để nâng cao sản lượng Cà phê hái về ủ đống chờ đủ sản lượng mới để ra phơi trên sân đất gây nên tình trạng cà phê bị ủ, phơi lâu khô, nhiễm nấm mốc trong khi phơi… Tình trạng tương tự cũng sảy ra với các loại cây trông khác

Thị trường thiếu ổn định còn nhiều yếu tố bất ổn trong quá trình sản xuất, tiêu thụ đặc biệt là vấn đè giá cả

Bên cạnh những yếu tố rủi do về thời tiết, mùa vụ trong một nền nông nghiệp hàng hóa thì người nông dân lại phả đối mặt nhiều hơn với các rủi do về thị trường giá cả, cung cầu cả đầu vào và đầu ra Do các yếu tố về cung cầu không ổn định dẫn đến sự biến động về giá trở nên phức tạp và khó đoán trước, ảnh hưởng trực tiếp đén lợi ích của người nông dân Đặc biệt là đối với trường hợp của Việt Nam, khi các mặt hàng nông sản của chung ta chưa làm chủ được thị trường thì sự thụ động về mặt cung cầu càng tang lên đồng nghĩa với việc rủi do về giá cả càng trở nên nghiêm trọng đối với người nông dân Sự khó khan về vốn, sự yếu kém về kỹ

Trang 8

thuật trong các khâu phơi sấy, bảo quản dân đến người nông dân không làm chủ được thời điểm tiêu thụ, buộc phải bán ngay vào thời điểm giá thấp Sự bất ổn về giá còn có nguyên nhân xuất phát từ chính người nông dân Khi giá một loại nông sản tăng lên trong một năm thì ngay mùa vụ sau, người nông dân lại đổ xô đi trồng hoặc chăn nuôi loại nông sản đó, dẫn đến nguồn cung tăng đột biến, giá thành lập tức hạ xuống

Một số nguyên nhân dẫn đến những hạn chế còn tồn tại trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay

+ Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa được thực hiện tốt, thiếu những chiến lược và giải pháp nhằm qui hoạch ổn định, lâu dài đối với từng cây, con, sản xuất phần nào còn mang tính phong trào tự phát gây ảnh hưởng tiêu cực đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn nước

Ví dụ như đối với cây cà phê, mặc dù thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 150/QĐ-TT của việc phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản cả nước đến năm 2015 và tầm nhìn 2020, quy mô cả nước duy trì từ 450.000 đến 500.00 ha, nhưng thực tế hiện nay cả nước có khoảng trên 525.000 ha, nhiều diện tích trồng mới không nằm trong vùng quy hoạch, chủ yếu là trồng trên những nới không thích hợp với đặc điểm sinh lí, sinh thái của cây cà phê, do đó không những không đủ bù đắp sản lượng thiếu hụt của những diện tích cà phê già cỗi mà còn đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của những diện tích cà phê còn lại do môi trường bị hủy hoại Theo số liệu của ngành nông nghiệp tỉnh Đắc lắc, diện tích cà phê ở đây có lúc lên tới 270.000 ha, trong đó có đến hơn ½ phải tưới bằng ngồn nước ngầm Tình trạng khai thác nước ngầm quá mức để phục vụ tưới nước cho cây cà phê không tuân thủ theo đúng quy trình đã dẫn đến hiện

Trang 9

tượng chảy tầng, hụt mạch nước ngầm Theo điều tra khảo sát của đoàn qui hoạch và điều tra tài nguyên nước 704 thì lượng nước ngầm hiện đã sụt xuống từ 3 đến 5m những địa bàn có nguồn nước ngầm giảm mạnh đều rơi vào các địa phương đã

“ cơ bản phá xong rừng “ ngay cả đối với ngành chế biến nông sản, tuy phát triển nhanh nhưng chủ yếu là tự phát thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, phân tán, thiếu liên kết chưa tiếp cận đầy đủ nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất chế biến

Việc thiếu quy hoạch hợp lí trong sản xuất cũng dẫn đến hoạt động sản xuất mất cân đối, chạy theo thị trường nhiều hơn là đón trước thị trường, do đó, rủi do về giá cả, tiêu thụ đối với người nông dân lại càng tăng lên

Cũng do thiếu công tác quy hoạch nên quy mô sản xuất manh mún, khó hình thành các nền sản xuất tập trung, do đó việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại cũng trở nên khó khăn hơn

Điều kiện khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp vẫn ở mức thấp

Các biện pháp canh tác, thu hoạch còn nhiều bất cập Điều kiện phơi sấy, cơ chế, chế biến còn nhiều hạn chế Trong quá trình sản xuất vẫn còn nhiều khâu người nông dân thực hiện một cách thủ công dẫn đến năng suất lao động không cao Việc nghiên cứu đưa vào sản xuất các giống cây, con mới cho năng suất chất lượng cao vẫn còn hạn chế

Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển sản xuất nông sản quy mô lớn, nhất là ở các vùng miền núi, đặc biệt la gia thong, thủy lợi thong tin liên lạc…

Trang 10

Vẫn còn 5% số xã chưa có đường ô tô, 28% xã chưa có trạm bưu điện và 17% trụ sở xã chưa có điện thoại, 11% xã chưa có điện và 90% xã chư có đường phổ thong, 40% dân sống ở nông thôn chưa có nước sạch sinh hoạt Ngay cả đối với hệ thống thủy lợi việc đầu tư lớn, nhưng hiệu quả sử dụng thấp và quản lí yếu Cơ sở hạ tầng tại các vùng nông thôn chậm đươch xây dựng và nâng cấp gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nông thôn Có tới 21% doanh nghiệp nông thôn cho rằng chất lượng giao thong nông thôn còn rất kém và là vấn đề nghiêm trọng cản trở phát triển

Khó khăn về vốn cho sản xuất

Khi đa số hộ nghèo tập trung ở nông thôn và hầu hết người đan sống ở nông thôn có thu nhập thấp thì vốn cho phát triển sản xuất là một vấn đề dặc biệt quan trọng Do không có vốn người nông dân không thể mở rộng sản xuất cũng như không thể đẩu tư áp dingj các phương thức sản xuất tiên tiến, từ đó dẫn tới không thể nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất Việc thiếu vốn cũng dẫn đến người nông dân bị thụ động trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bị thương lái ép giá Tính tới cuối năm 2008, tổng dư nợ tín dụng nông nghiệp nông thôn đạt

248 nghìn tỉ dồng tăng, 15,1% so với năm 2007 nhưng chỉ chiếm 20% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế Người nông dân không tiếp cận được với nguồn vốn từ khu vực tài chính Chính thức do thủ tục vay ngân hàng còn dườm dà trong khi giá trị khoản vay thấp, dẫn tới chi phí vay cao Hơn nữa, các yêu cầu cho vay từ phía các ngân hàng là khá chặt chẽ, hông thường đòi hỏi có tài sản thế chấp( mà chủ yếu là bất động sản) nên người nông đân không thể vay đươc do không có tài sản thế chấp Do đó người nông đân thường phải chấp nhân vay từ khu vực phi chính thức với lãi suất cao hơn so với lãi xuất của ngân hàng Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng với của thống ngân hàng cũng chưa có một hệ thống đánh giá rủi do hợp lí đẻ có thể

Ngày đăng: 13/09/2014, 00:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w