1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về cổ phần hóa tư nhân hóa trong các doanh nghiệp

28 660 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong công cuộc đổi mới ngày nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đa dạng hoá các hình thức sở hữu, phát huy mọi tiền lực của xã hội nhằm phát triển đất nước theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa: Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Trong trên trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường với nhà hình thức sở hữu, Nhà nước ta đã họp thu được kinh nhiệm của nhiều nước, trong đó có cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước. Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, cổ phần hoá một bộ phận trong doanh nghiệp Nhà nước nhằm làm tiền đề cho việc cổ phần hoá tràn trên doanh nghiệp. Giải pháp cổ phần hoá một bộ phận trong doanh nghiệp Nhà nước đã được đặt lên chương trình nghĩa vụ về cải cách kinh tế quốc doanh ở nước ta được vài năm nay. Nhưng việc thực hiện còn chậm, nguyên nhân chính do nhận thức, quan điểm lý luận và giải pháp trong quy trình xử lý các vấn đề kinh tế Kỹ thuật Nghiệp vụ liên quan đến tiến trình cổ phần hoá Từ thực tế trên, việc nghiên cứu cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước nhằm đưa ra một cái nhìn khai quát về cổ phần hoá, từ việc đùi rút kinh nghiệm cổ phần hoá Tư nhân hoá ở các nước trên thế giới đến việc phân tích thực trạng khu vực kinh tế quốc doanh cũng đánh giá quá trình thực hiện cổ phần hoá ở Việt Nam, tiếp đó nêu ra một số giải pháp và kiến nghị cơ bản để tháo gỡ những vướng mắc còn tồn tại gây chậm trễ cho tiến trình cổ phần hoá. Vì vậy em chon đề tài : “ Vấn đề cổ phần hóa, tư nhân hóa, công ty hóa doanh nghiệp nhà nước” làm bài tiểu luận của mình. Do còn những hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, về nguồn tài liệu, bài làm không tránh khỏi sai sót: rất mong được sự đóng góp ý kiến, phề bình của cô giáo hướng dẫn nhằm hoàn thiện hơn trong quá trình làm bài tiểu luận này.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong công cuộc đổi mới ngày nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựngnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đa dạng hoá các hình thức sở hữu, phát huymọi tiền lực của xã hội nhằm phát triển đất nước theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa:Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh

Trong trên trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường với nhà hình thức

sở hữu, Nhà nước ta đã họp thu được kinh nhiệm của nhiều nước, trong đó có cổphần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, cổphần hoá một bộ phận trong doanh nghiệp Nhà nước nhằm làm tiền đề cho việc cổphần hoá tràn trên doanh nghiệp

Giải pháp cổ phần hoá một bộ phận trong doanh nghiệp Nhà nước đã được đặtlên chương trình nghĩa vụ về "cải cách kinh tế quốc doanh" ở nước ta được vài nămnay Nhưng việc thực hiện còn chậm, nguyên nhân chính do nhận thức, quan điểm

lý luận và giải pháp trong quy trình xử lý các vấn đề kinh tế - Kỹ thuật - Nghiệp vụliên quan đến tiến trình cổ phần hoá

Từ thực tế trên, việc nghiên cứu cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhànước nhằm đưa ra một cái nhìn khai quát về cổ phần hoá, từ việc đùi rút kinhnghiệm cổ phần hoá - Tư nhân hoá ở các nước trên thế giới đến việc phân tích thựctrạng khu vực kinh tế quốc doanh cũng đánh giá quá trình thực hiện cổ phần hoá ởViệt Nam, tiếp đó nêu ra một số giải pháp và kiến nghị cơ bản để tháo gỡ nhữngvướng mắc còn tồn tại gây chậm trễ cho tiến trình cổ phần hoá Vì vậy em chon đề

tài : “ Vấn đề cổ phần hóa, tư nhân hóa, công ty hóa doanh nghiệp nhà nước”

làm bài tiểu luận của mình

Do còn những hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, về nguồn tài liệu, bài làm khôngtránh khỏi sai sót: rất mong được sự đóng góp ý kiến, phề bình của cô giáo hướngdẫn nhằm hoàn thiện hơn trong quá trình làm bài tiểu luận này

Trang 2

NỘI DUNGPhần I: VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

I – KHÁI QUÁT VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NPHIỆP NHÀ NƯỚC

1 Những nội dung cơ bản về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Trước khi đi vào phân tích nội dung quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhànước, ta cần phải hiểu thế nào là một công ty cổ phần

1.1 - Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần

Là loại hình doanh nghiệp được thành lập do nhiều người bỏ vốn ra Tiền vốnđược chia thành các cổ phần bằng nhau, người hùn vốn với tư cách là các cổ đông

sẽ mua một số cổ phần đó

Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số tiền cổ phần mình đã xuấtvốn và cổ đông được quyền tự do sang nhượng lại cổ phần thông qua việc mua báncác cổ phiếu

Theo luật công ty ở nước ta, công ty cổ phần là công ty trong đó :

-Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ítnhất là bảy

-Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể mua một hoặcnhiều cổ phiếu

-Cổ phiếu được phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của sánglập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên

-Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng Cổ phiếu có ghi tên chỉđược chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của hội đồng quản trị

Trang 3

-Công ty cổ phần được tự do đặt tên, trên bảng hiệu, hoá đơn, quảng cáo, báocáo, tài liệu giấy tờ giao dịch khác của công ty đều phải ghi tên công ty kèm theochữ “Công ty cổ phần” và vốn điều lệ.

1.2 - Thế nào là cổ phần hoá

Cổ phần hoá là chuyển thể một doanh nghiệp từ dạng chưa là công ty cổ phầnthành công ty cổ phần

Ví dụ:

Chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

Chuyển công ty TNHH thành công ty cổ phần

Chuyển công ty liên doanh thành công ty cổ phần

1.3 - Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp

-Huy động vốn của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp; cá nhân, các tổchức kinh tế trong nước và nước ngoài để đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triểndoanh nghiệp

-Tạo điều kiện để những người góp vốn và cán bộ công nhân viên trong doanhnghiệp cổ phần, nâng cao vai trò làm chủ thực sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanhnghiệp kinh doanh có hiệu quả

1.4 - Đối tượng doanh nghiệp được cổ phần hoá

Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ đã quy định tiêu chuẩn để chọnmột số doanh nghiệp Nhà nước để cổ phần hoá

-Các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ

-Những doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hoặc trước mắt tuy có gặp khó khănnhưng triển vọng sẽ hoạt động tốt

-Không thuộc diện các doanh nghiệp Nhà nước cần thiết phải giữ 100% vốn đầu

tư của Nhà nước

Trang 4

Căn cứ luật doanhnghiệp Nhà nước đã được quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ VIIthông qua ngày 20 tháng 04 năm 1995 để phân loại doanh nghiệp thì có thể phân ra:

Loại 1: Những doanh nghiệp Nhà nước trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng,

một số doanh nghiệp trong một số lĩnh vực độc quyền (điện, xăng dầu, viễn thông,đường sắt, bảo hiểm, ngân hàng) một số daonh nghiệp công ích phục vụ đời sốngsản xuất (nước máy phục vụ sinh hoạt, vệ sinh môi trường Những doanh nghiệpnày không cổ phần hoá

Loại 2: Những doanh nghiệp Nhà nước trong một số ngành then chốt có tác dụng

điều phối kinh tế hoặc chi phối thị trường (xi măng, phân bón), một số lĩnh vựcthương mại, xuất nhập khẩu dặc biệt… trước mắt chưa cổ phần hoá những doanhnghiệp này, hoặc nếu có thì chỉ cổ phần hoá một số bộ phận nhỏ (phân xưởng sảnxuất, một số công ty nhỏ mang tính hỗ trợ) Khi cổ phần hoá nhất thiết Nhà nướcphải nắm giữ trên 50% tổng số vốn

Loại 3: Một số doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực phục vụ công cộng, có

quy mô vừa hoặc nhỏ (sản xuất hàng tiêu dùng, khách sạn, du lịch, các xí nghiệpsản xuất rượu, bia, thuốc lá, vận tải đường bộ, đường sông…) Những doanh nghiệpnày có thể cổ phần hoá, nhưng nhà nước vẫn giữ tỷ lệ cổ phần chi phối (trên 30%)

Loại 4: Những doanh nghiệp khác, không có ý nghĩa quan trọng về quốc kế dân

sinh, không có vai trò chi phối thị trường (may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng, vậntải nhỏ, các cửa hàng thương nghiệp.v.v ) Cần tiến hành cổ phần hoá các doanhnghiệp này và Nhà nước có thể không hoặc giữ một tỷ lệ cổ phiếu nhỏ theo quyđịnh hiện nay dưới 10%

1.5 - Những hình thức cổ phần hoá, và cơ quan có thẩm quyền quyết định danh sách doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá thành công ty cổ phần.

a)Những hình thức cổ phần hoá

Có 3 hình thức cổ phần hoá đã quy định trong Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996của Chính phủ đó là

Trang 5

- Giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu theo quy địnhnhằm thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp

- Bán một phần giá trị hiện có của doanh nghiệp

- Tách một bộ phận DNNN (phân xướng, xí nghiệp, đội sản xuất, vận tải ) đủđiều kiện để cổ phần hoá

Việc xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc:

- Giá trị doanh nghiệp phải do một hội đồng thẩm định có quyền thông qua

- Giá trị của doanh nghiệp ở thời điểm đưa ra cổ phần hoá là giá trị thực củadoanh nghiệp mà ngươì bán (Nhà nước) và người mua cổ phần có thể chấp nhậnđược

- Căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp là bản kiểm kê tài sản, văn bản giao vốn

có tính các hệ số điều chỉnh tăng, giảm theo thời giá do Bộ tài chính hướng dẫn vàtheo kết quả phân tích, đánh giá thực trạng của doanh nghiệp nhà nước được cổphần hoá Thực trạng của doanh nghiệp gồm; Thực trạng về triển vọng tài chính,thực trạng về công nghệ của doanh nghiệp và những ưu thế về cạnh tranh của doanhnghiệp, các yếu tố thị trường khác như khả năng sinh lời, trong những năm sắp tớicủa ngành kinh doanh trên thị trường trong nước và quốc tế, uy tín, hiệu quả kinh tếthực tế hiện nay của doanh nghiệp., thực trạng về đất đai (hệ số lợi thế của doanhnghiệp) Hệ số lợi thế của doanh nghiệp là vị trí địa lý thuận tiện, nhãn mác có uytín, trình độ quản lý tốt, hiệu quả kinh doanh được tính vào giá trị doanh nghiệp khitiến hành cổ phần hoá

b) Cơ quan có thẩm quyền quyết định danh sách DNNN để cổ phần hoá thành công ty cổ phần.

Căn cứ vào điều kiện quy định tại Điều & Nghị định 28/CP ngày 7/5/96 các Bộtrưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thứ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch

uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi nhất trí với ban cán

Trang 6

sự Đảng hợac tỉnh uỷ (thành uỷ) quyết định danh sách một số doanh nghiệp Nhànước để cổ phần hoá

Thẩm quyền quyết định thực hiện cổ phần hoá DNNN được quy đinh nha sau:

- Đối với những doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên 10 tỷ đồng, Bộ trưởng các

bộ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp tỉnh xây dựng phương án cổ phần hoá gửi vềBan chỉ đạo Trung ưoưng để trình Thủ tướng Chính Phủ để phê duyệt cho phépthực hiện dưới sự tham gia chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ đạo trung ương coỏ phầnhoá

- Đối với những doanh nghiệp có vốn Nhà nước từ 10 tỷ đồng trở xuống, Bộtrưởng và Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, (thành phố) trực thuộc trung ương tổ chứcthực hiện cổ phần hoá trên cơ sở Nghị định 28/CP và hướng dẫn kiểm tra của các

Bộ có liên quan, dưới sự hướng dẫn, theo dõi, giám sát của ban chỉ đạo Trung ương

cổ phần hoá

- Đối với việc cổ phần hoá doanh nghiệp thành viên tổng công ty Nhà nước dothủ tướng chính phủ quyết định thành lập, Hội đồng quản trị xây dựng phương án cổphần hoá gửi về ban chỉ đạo Trung ương cổ phần hoá để thưcj hiện dưới sự tham giatrực tiếp của Ban chỉ đạo trung ương cổ phần hoá

1.6 - Những ưu đãi mà doanh nghiệp được hưởng sau khi cổ phần hoá.

Được giảm thuế lợi tức 50% trong 2 năm liên tiếp sau khi chuyển sang hoạt độngtheo luật công ty

Được sử dụng quỹ khen thưởng- phúc lợi chia cho cán bộ công nhân viên mua cổphiếu

Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản

lý và sử dụng của doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá thành sở hữu của công ty cổphần

Được tiếp tục vay vốn tại ngân hàng thương mại của Nhà nước theo cơ chế và lãisuất áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước

Trang 7

Được tiếp tục xuất nhập khẩu hàng hoá theo chế độ quy định của Nhà nước.Các khoản chi phí hợp lý và cần thiết cho quá trình cổ phần hoá được tính vàogiá trị doanh nghiệp do Bộ tài chính quy định.

1.7 - Đối tượng mua cổ phiếu và cơ quan quản lý việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá

Những người sau đây có quyền mua cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần hoá

- Các tổ chức kinh tế cs tư cách pháp nhân

- Các tổ chức xã hội được pháp luật công nhận

- Công dân Việt nam từ 18 tuổi trở lên

- Việc bán cổ phiếu cho các tổ chức cá nhân nước ngoài theo quy định riêng củachính phủ

Cổ phiếu được bán công khai tại doanh nghiệp cổ phần hoá hoặc bán thông quacác ngân hàng thương mại và các công ty tài chính được chỉ định Số tiền thu được

từ bán cổ phiếu chỉ được sử dụng để đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước.Quyền sở hữu và mọi quyền lợi hợp pháp của người mua cổ phiếu được Nhànước bảo vệ theo quy định tại điều 6 và điều 175 của Bộ luật dân sự và theo các quyđịnh khác của pháp luật hiện hành

Trật tự ưu tiên về bán cổ phiếu như sau:

- Thứ nhất là bán cho công nhân viên chức đang làm việc tại doanh nghiệp, một

số công nhân viên chức có hàon cảnh khó khăn được ưu tiên trả chậm tiền mua cổphiếu không quá 12 tháng Danh sách công nhân viên chức này do Công đoàn xétchọn và công bố công khai

- Thứ hai là các tổ chức kinh tế xã hội trong nước, đặc biệt là các đơn vị kinh tếnhư ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính

Thứ ba là các cá nhân trong nước

Trang 8

Cơ quan quản lý việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá: Bộtài chính thống nhất quản lý việc phát hành cổ phiếu ở các doanh nghiệp cổ phầnhoá Đình chỉ việc phát hành cổ phiếu khi công ty cổ phần vi phạm các quy địnhhiện hành.

Việc quản lý vốn Nhà nước tại công ty cổ phần được thực hiện như sau:

- Chuyển toàn bộ doanh nghiệp độc lập thành công ty cổ phần Tổng cục trưởngtổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp cử người trực tiếp quanr

lý vốn của Nhà nước tại công ty cổ phần, sau khi thoả thuận

- Chuyển một bộ phận của doanh nghiệp Nhà nước độc lập, tổng công ty Nhànước thành công ty cổ phần

Trên đây là một số nội dung cơ bản về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, tuynhiên do giới hạn của bài viết cho nên em chỉ nêu lên được những điếm chính trongnội dung coỏ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề khácliên quan đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước như; chế độ chính sáchđối với lao động trong doanh nghiếp trước khi tiến hành cổ phần hoá, những ưu đãi

mà người lao động được hưởng sau khi doanh nghiệp đã được cổ phần hoá., vai tròchức năng của Công Đoàn trong doanh nghiệp cổ phần hoá…v v hoặc những vấn

đề liên quan đến thị trường chứng khoán khi doanh nghiệp Nhà nước được phéptham gia dưới hình thức công ty cổ phần

2 – Tình hình chung cổ phần hoá doanh nhgiệp nhà nước ở nước ta.

Từ năm 1999, khi Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định143/HĐBT ngày 10/5/1990 cho phép thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhànước thành công ty cổ phần đến tháng 12/ 2000 mới có 636 DNNN và bộ phậnDNNN được thực hiện cổ phần hoá hoặc các hình thức chuyển đổi khác Cụ thể sốdoanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá những năm 1990- 1992 là 0, giai đoạn1992-1995 là 7, năm 1996 là 6, năm 1997 là 7, năm 1998 là 100, năm 1999 là 250,năm 200 là 212 và 5 tháng đầu năn 2001 là 54…

Trang 9

Trong số 636 DNNN được cổ phần hoá, chuyển sang hoạt động theo luật doanhnghiệp thì 45,5% thuộc lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, 37,7% thuộc dịch vụthương mại, 10,7% thuộc giao thông vận tải, hơn 5% thuộc các lĩnh vực còn lại.Như vậy hiẹn nay trên thực tế chúng ta mới chỉ cổ phần hoá được 11% trên tổng sốdoanh nghiệp Nhà nước.

Hoà chung vào xu thế chung của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, Liên hiệpvận tải Gemadept là một trong năm đơn vị của ngành vận tải đường biển của Việtnam được cổ phần hoá, nhưng tới nay kết quả vẫn chưa được là bao nhiêu Hiện nayngành vận tải đường biển Việt nam đang từng bước thúc đẩy quá trình cổ phần hoánhững doanh nghiệp thành viên thuộc tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt nam.Bên cạnh những nỗ lực mà liên hiệp Gemadept đã đạt được trong thời gian qua,Nhà nước cũng cần có những chủ trương chính sách để những doanh nghiệp đãđược cổ phần hoá hoạt động ngày một hiệu quả hơn, bên cạnh đó nhằm khuyếnkhích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp còn lại trong ngành vận tải ddườngbiển nói riêng và các doanh nghiệp nhà nước nói chung tiến hành cổ phần hoá.Như vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một chiến lược cải cách doanhnghiệp

Quy luật tất yếu sẽ dẫn đến phá sản hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếunhà nước không có moọt chiến lược hỗ trợ toàn diện, nếu chính bản thân các doanhnghiệp này không chủ động tìm kiếm những phương thức liên kết rộng lớn thaycho hình thức liên kết “tay đôi” phổ biến hiện nay

Một phương thức liên kết được đề xuất và hình thành những nhóm doanh nghiệp

có hạy nhân nòng cốt đó là là một doanh nghiệp lớn dưới dạng công ty cổ phần.Muốn doanh nghiệp nhà nước thực sự mạnh để cùng với các yếu tố khác cấuthành kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần thìkhông có cách nào khác là phải tiếp tục đẩy mạnh, sắp xếp, đổi mới và phát triểndoanh nghiệp Nhà nước, mà trong đó cổ phần hoá là một biện pháp rất quan trọng.Nghị quyết đại hội lần thứ IX của Đảng, phần nói về đường lối chiến lược phát triển

Trang 10

kinh tế- xã hội một lần nữa nhấn mạnh: “Trong 5 năm tới 2001-2005, cơ bản hoànthành việc củng cố, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp Nhànước hiện có”, “Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đốivới các doanh nghiệp Nhà nước không cần năm 100% vốn”.

II – TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CÁC NĂM QUA

1 - Qúa trình phát triển của các doanh nghiệp nhà nước.

1.1 - Trước đổi mới

Các doanh nghiệp Nhà nước của chúng ta đã hình thành và phát triển qua

nhiều thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý.Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp

đã kéo dài hơn 30 năm.Các xí nghiệp hoạt động trong cơ chế này chủ yếu là nhậnlệnh từ trên bằng nhiều chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước giao;hoạt động sản xuấtcủa các đơn vị cơ sở theo phương thức cung cấp và giao nộp,không phải sản xuất đểbán trao đổi.Chế độ hạch toán kinh tế không được thực hiện mà là “hết tiền xintrên , hết hàng xin cấp, tổn thất không hay, lỗ lãi không chịu”

Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã chiếm mất quyền chủ động sản xuất kinhdoanh của cơ sở, kìm hãm sản xuất phát triển , triệt tiêu động lực sản xuất, không đađược khoa học công nghệ vào sản xuất, máy móc thiết bị ngày càng già cỗi rệu rã,cán bộ quản lý thụ động xơ cứng v v

Mâu thuẫn gay gắt trong thời kỳ này một bên là sự can thiệp quá sâu của Nhànước vào công việc sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở trong điều kiệnnguồn lực Nhà nước có hạn; một bên là các cơ sở đòi quyền tự chủ sản xuất kinhdoanh, họ muốn “bung ra”,được “tháo gỡ” Trong điều kiện đó sản xuất sa sútnghiêm trọng, nhiều xí nghiệp có nguy cơ phá sản, nhất là với các xí nghiệp dùngnguyên liệu của nước ngoài

1.2 - Sau đổi mới

Trang 11

Trước tình hình đó, tháng 1/1981 Chính phủ đã ban hành quyết định 25-CP về

“một số chủ trương biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh

và quyền tự chủ về tài chính của xí nghiệp quốc doanh “.Quyết định 25- CP là một

sự mở đầu về đổi mới cơ chế quản lý ở nước ta Quyền chủ động của các xí nghiệpquốc doanh đã được nới dần Kế hoạch sản xuất ở cơ sở được chia làm 3 phần:phần do Nhà nước giao phần tự cân đối của xí nghiệp và phần sản xuất phụ

Mặc dầu còn nhiều hạn chế nhưng quyết định 25-CP đã phát huy quyền chủ độngsáng tạo trong sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Nhiều xí nghiệp từ chỗ sắp bịđóng cửa đã đứng dậy được và phát triển Trong quá trình thực hiện quyếtđịnh 25-CP tuy có nhiều mặt tích cực nhưng cũng bộc lộ nhiều hiệntợng tiêu cựcnhưviệc các xí nghiệp làm lẫn lộn giữa 3 phần kếhoạch theo hướng có lợi cho cá nhân và tập thể làm thiệt hại lợi íchNhà nước Các phạm trù “3 lợi ích”, ”liên doanh liên kết”đã bị lợidụng và xuyên tạc vv ,

Để vãn hồi trật tự kinh tế,tháng 8/1982 Chính phủ đã có nhữngchính sách biện pháp bổ sung bằng quyết định 146/HĐBT và đếntháng 11/1984 có nghị quyết 156/HĐBT về một số vấn đề cải tiếncông nghiệp quốc doanh

Nghị quyết 156/HĐBTvẫn chưa “gãi đúng chỗ ngứa” của cácdoanh nghiệp Nhà nước vì vẫn mang nặng tính chất tập trungquan liêu bao cấp.Các xí nghiệp vẫn trăn trở tìm lối ra và tiếp tụcđòi quyền tự chủ của mình.Do vậy tháng 4/1986 Bộ Chính trị đã có

dự thảo Nghị quyết 306 và sau đó quyết định tạm thời 76/HĐBT vềđổi mới cơ chế quản lý các xí nghiệp quốc doanh và đã được khẳngđịnh tại Nghi quyết 3 Ban chấp hành Trung ơng và thể chế hoá tạiquyết định 217/HĐBT,Nghị quyết 50/HĐBT và Nghị quyết 98/HĐBT

về đổi mới cơ chế quản lý với nội dung cốt lõi là :”chuyển các đơn

vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh XHCN,thực hiện chế độ tự

Trang 12

chủ sản xuất kinh doanh của đơn vị cơ sở,đổi mới cơ chế quản lýNhà nước về kinh tế”.

Thực hiện Quyết định 217/HĐBT,Nghị quyết 50/HĐBT và Nghịđịnh 98 đã thu được những thành công đáng kể Nhờ thực hiện chế

độ tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở mà giải phóng được nănglực sản xuất,phát triển kinh tế hàng hoá,bước đầu tạo động lực sảnxuất,đa được khoa học kỹ thuật vào sản xuất,bước đầu tập dợt độingũ đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý thích nghi với cơ chế thịtrường

Tuy nhiên bên cạnh những cái được nói trên,trong quá trình thựchiện cơ chế quản lý mới đã xuất hiện một số mâu thuẫn khá gaygắt trong xí nghiệp quốc doanh những mâu thuẫn đó là:

- Nhấn mạnh việc thực hiện quyền tự chủ sản xuất kinh doanhcủa các đơn vị cơ sở nhưng lại coi nhẹ hoặc buông nhẹ sự kiểmsoát của Nhà nước,do đó làm thất thoát tài sản của Nhà nước

- Lợi ích của người lao động kể cả lao động quản lý chưa gắnchặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Sự phát triển các doanh nghiệp Nhà nước quá phân tán,tràn lan,nhỏ bé đã làmphân tán nguồn lực của Nhà nước kể cả lực lượng vật chất và trí tuệ quản lý

2 Thực trang tình hình cổ phần háo các doanh nhà nước

2.1 Tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.

Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước lần đầu tiên được nêu tại Nghịquyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ơng khoá VII(tháng 11/1991) được

cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khoáVII(1/1994), Nghị quyết 10/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 17 tháng 3 năm 1995;Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị Đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Đại hội Đại

Trang 13

biểu toàn quốc lần thứ VIII và Nghị quyết Hội nghị lần 4 của Ban Chấp hành Trungơng khoá VIII thì chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước được khẳng định

rõ hơn Chính phủ đã triển khai thực hiện từng bước các Nghị quyết nói trên và chú

ý điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế

Quá trình thực hiện có thể chia làm 2 giai đoạn chính

2.2 Giai đoạn 1991_1996.

Trong giai đoạn này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tớng Chính phủ)

đã ban hành Quyết định số 202/CT ngày 8 tháng 6 năm 1992 về tiếp tục thí điểmchuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần và Chỉ thị 84/TTg vềviệc xúc tiến thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và các giải pháp đa dạnghoá hình thức sở hữu đối với các doanh nghiệp Nhà nước

Sau 4 năm triển khai Quyết định số 202/CT và Chỉ thị số 84/TTg của Thủ tướngChính phủ(1992-1996) đã chuyển được 5 doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổphần là:

- Công ty Đại lý liên hiệp vận chuyển thuộc Bộ Giao thông vận tải(năm

1993)

- Công ty Cơ đIện lạnh thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh(năm1993)

- Xí nghiệp Giấy Hiệp An thuộc Bộ công nghiệp (năm 1994)

- Xí nghiệp chế biến háng xuất khẩu thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An(1995)

- Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nôngthôn (năm 1995)

Trong doanh nghiệp nói trên thì có bốn doanh nghiệp thuộc địa bàn thành phố HồChí Minh 1 doanh nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Long An

2.1 Giai đoạn 1996 đến nay

Trang 14

Trên cơ sở đánh giá các u điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí điểm cổphần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước Chính phủ đã ban hành Nghị định số28/CP ngày 7 tháng 5 năm 1996 về chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thànhcông ty cổ phần Nghị định này đã xác định rõ giá trị doanh nghiệp:chế độ ưu đãicho người lao động trong doanh nghiệp và tổ chức bộ máy giúp Thủ tướng Chínhphủ chỉ đạo công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước,đồng thời giao nhiệm vụcho các bộ,các địa phương hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác này.

Kể từ khi Nghị định số 28/CPđược ban hành đến tháng 9 năm 1998 đã có 33doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành công ty cổ phần.Nh vậy từ năm 1992 đến nay

cả nước đã có 38 doanh nghiệp Nhà nước đã hoàn thành cổ phần hoá.Ngoài ra, hiệnnay còn hơn 178 doanh nghiệp đang triển khai ở các bước khác nhau

Như vậy việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước mới chỉ thực sự bắt đầu vàocuối năm 1992 sau khi có quyết 202/CT ngày 8/6/1992 của chủ tịch hội đồng bộtrưởng(nay là Thủ tớng Chính phủ):trong Quyết định đó có sự lựa chọn một sốdoanh nghiệp cụ thể.Tiếp theo là một số văn bản pháp quy khác tạo khung pháp lýcho việc tiến hành cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt là phải kểđến Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 về chuyển một số doanh nghiệp Nhà nướcthành công ty cổ phần và Nghị định 25/Cp ngày 26/3/1997 sửa đổi một số điều củaNghị định 28/CP kể trên.Nhờ việc thực hiện tốt những văn bản nêu trên,công tác cổphần hoá đạt được những kết quả khá cao trong 2 năm 1996-1997.Số doanh nghiệpNhà nước cổ phần hoá trong 2 năm đó tăng gấp nhiều lần 3năm trước, đa tổng sốdoanh nghiệp Nhà nước hoàn thành việc chuyển thành công ty cổ phần,hoạt độngtheo luật công ty lên 18 doanh nghiệp

Hầu hếy 18 doanh nghiệp này sau khi chuyển sang công ty cổ phần đều phát triểntốt với một số chỉ tiêu tăng trưởng hàng năm cao Đó thực sự là tín hiệu tốt, khích lệcán bộ công nhân viên trong các doanh nghiệp Nhà nước chuẩn bị chuyển sangcông ty cổ phần tiếp tục ủng hộ chủ trương cổ phần hoá củaĐảng và Nhà nước

Ngày đăng: 12/09/2014, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w