1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009

73 960 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Triển Khai Chế Độ Trợ Cấp Ốm Đau Tại BHXH Giai Đoạn 2005-2009
Tác giả Trần Thanh Nam
Người hướng dẫn T.S Nguyễn Hải Đường
Trường học Bảo hiểm xã hội
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 503 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội ở nước ta là một trong những chính sách quan trọng hàngđầu của Đảng và Nhà nước Bản chất của BHXH chính là sự tương trợ cộng đồng,đoàn kết đùm bọc chia sẻ rủi ro cho nhau, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc.Trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách về BHXH không ngừng được bổsung, sửa đổi để phù hợp với từng thời kỳ và từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể củađất nước nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH

Chi trả các chế độ bảo hiểm là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàngđầu của BHXH Việt Nam, làm tốt công tác chi trả sẽ giúp ổn định thu nhập chongười lao động, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội Trong thời gian qua, côngtác chi trả các chế độ BHXH đang không ngừng được hoàn thiện, tuy nhiên, vấn đềchi đúng, chi đủ, chi kịp thời và cải tiến, hoàn thiện công tác chi vẫn còn gặp một sốvướng mắc Nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện naykhiến đời sống người lao động càng gặp nhiều khó khăn nên cần phải chăm lo đờisống cho người lao động, giúp họ ổn định thu nhập, đảm bảo cuộc sống Do vậy,yêu cầu đặt ra là hoạt động quản lý chi cần được hoàn thiện hơn, khắc phục nhữnghạn chế nhằm đả bảo công tác chi trả, thực hiện tốt các chế độ BHXH cho người laođộng và người thụ hưởng

Xuất phát từ nhận thức trên, trong quá trình thực tập tại Vụ Bảo hiểm xã

hội-Bộ Lao động -Thương binh & Xã hội Việt Nam đã tạo cơ hội cho em chọ đề tài :

“Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 2

- Các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn tác động đến công tác quản lýchi trả chế độ trợ cấp ốm đau, từ đó đưa ra giải pháp và một số kiến nghị nhằm hoànthiện công tác quản lý chi.

3 Phạm vi nghiên cứu

Xét dưới góc độ thời gian hưởng chế độ BHXH thì phân ra thành chế độBHXH ngắn hạn và dài hạn Song đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vào công tác tổchức và quản lý chi trả các chế độ trợ cấp ốm đau, trong giai đoạn từ năm 2005 đến2009

4 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài được chia thành 3 phần chính, cụ thể:

Chương I: Lý luận chung về BHXH và chế độ trợ cấp ốm đau.

Chương II: Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH Việt Nam

Chương III: Giải pháp hoàn thiện chế độ ốm trợ cấp ốm đau trong các chế độ của BHXH Việt Nam

Trong quá trình viết đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ các thầy

cô trong khoa và đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn T.SNguyễn Hải Đường và các anh chị, các cô chú và các bác tại Vụ Bảo hiểm xã hộiViệt Nam Do còn nhiều hạn chề về kiến thức cũng như trình độ nhận thức nên bàiviết vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô vàcác bạn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 3

có khái niệm chuẩn về BHXH, phần lớn là những khái quát, cách nhìn nhận củanhiều nhà khoa học khác nhau Bởi vì, hiện nay giữa các nhà khoa học và các nhàquản lý vẫn còn nhiều quan điểm, cách nhìn khác nhau khi nghiên cứu về vấn đềnày Chính vì vậy, người ta bắt đầu nghiên cứu lại và liên hệ với thực tế thế giới tưbản thời đó để từ đó có thể đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về BHXH, người tanghiên cứu luận điểm của C.Mác:

Từ bảo hiểm xã hội được ghép lại từ hai từ bảo hiểm và xã hội Theo C.Mácthì quá trình tái sản xuất xã hội là quá trình sản xuất ra của cải vật chất để thỏa mãnnhu cầu con người, quá trình này diễn ra trong khuôn khổ của quan hệ sản xuất nhấtđịnh (quan hệ giữa người với người, quan hệ giữa con người với tự nhiên) toàn bộmối quan hệ đó hợp thành xã hội bởi vậy phạm trù xã hội nhìn nhận từ góc độ kinh

tế là rất rộng, rất cơ bản Từ bảo hiểm cũng xuất phát từ mối quan hệ sản xuất màra: cụ thể với tư cách là thu nhập, tư cách là thành phần giá trị rơi vào tư bản, côngnhân nhưng không được dùng hết mà tích lũy lại để lấy lỗ hổng trong quá trình táisản xuất do các yếu tố ngẫu nhiên chi phối

Theo C.Mác thì: “Vấn đề này ngay cả Chủ nghĩa tư bản không tồn tại thì loàingười vẫn phải làm” Hiện tượng này C.Mác gọi là bảo hiểm cho loài người trướcnhững biến động dữ dội của tự nhiên tác động đến mối quan hệ giữa người vớingười Với ý nghĩa đó, bảo hiểm được chia thành hai phần: Bảo hiểm cho những lỗhổng trong quá trình tái sản xuất và bảo hiểm cho lỗ hổng trong đời sống xã hội loài

Trang 4

người Dựa vào các luận điểm của C.Mác mà các nhà khoa học, các nhà quản lý đưa

ra một số khái niệm như sau:

Nếu trên góc độ tài chính (Tài chính công): “BHXH là quá trình san sẻ rủi ro,san sẻ tài chính giữa các bên tham gia theo quy định thống nhất pháp luật của nhànước”

Nếu đứng trên góc độ pháp lý: “BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ chongười lao động và gia đình họ thông qua việc sử dụng tiền đóng góp của người laođộng và gia đình họ thông qua việc sử dụng tiền đóng góp của người lao động vàngười sử dụng lao động được nhà nước bảo trợ để trợ cấp vật chất cho người laođộng tham gia bảo hiểm và gia đình họ khi người lao động gặp rủi ro.”

Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đốivới tất cả các thành viên của mình với những khó khăn về kinh tế xã hội do bịngừng hoặc giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổigià và chết, việc cung cấp y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”

Ngày nay còn có khái niệm về BHXH: “BHXH là tổng thể các mối quan hệkinh tế xã hội giữa nhà nước với người lao động và chủ sử dụng lao động trên cơ sởhình thành quỹ tiền tệ tập trung để trợ cấp cho người lao động và gia đình họ khingười lao động tham gia BHXH gặp phải rủi ro và sự kiện bảo hiểm dẫn tới việcgiảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho ngườilao động và gia đình họ từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội”

Theo luật BHXH Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006: “Bảohiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người laođộng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, thấtnghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”

Ở Việt Nam, BHXH là một trong những nội dung lớn nằm trong chính sáchđảm bảo an sinh xã hội của mỗi nước Thực hiện tốt chính sách này không nhữnggóp phần bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự

an toàn xã hội, thúc đẩy công cuộc đổi mới, mà còn thể hiện tính nhân đạo, nhânvăn sâu sắc vốn là một trong những điểm ưu việt của Đảng và Nhà nước ta

Trang 5

phát triển, mối quan hệ thuê mướn lao động đã đạt đến một mức độ nào đó Khi nềnsản xuất hàng hóa ngày càng phát triển thì mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ trởlên căng thẳng, làm cho sản xuất bị đình đốn gây thiệt hại cho cả hai giới Vì vậy,BHXH ra đời và phát triển là tất yếu khách quan của xã hội.

Mối quan hệ giữa các bên tham gia bảo hiểm là mối quan hệ kinh tế xã hộiphát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ trong quản lí xã hội Mối quan hệdựa trên cơ sở lao động chính là người lao động với người chủ sử dụng lao động,người lao động với Nhà nước Còn mối quan hệ quản lý là quan hệ giữa Nhà nướcvới cơ quan BHXH, Nhà nước với chủ sử dụng lao động Cụ thể các mối quan hệdiễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH

Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động và Nhà nước hoặc cảngười lao động, người chủ sử dụng lao động và Nhà nước Trong đó, người laođộng và người sử dụng lao động là chủ yếu, bởi vì họ là những chủ thể quản lýtrong cả quan hệ lao động và quan hệ xã hội

Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách doNhà nước lập ra và bảo trợ Cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo khuôn khổpháp luật của từng nước

Bên được BHXH chính là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điềukiện ràng buộc cần thiết để hưởng các chế độ BHXH

Cơ sở chủ yếu của các mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH là quỹ tàichính BHXH, vì nguồn quỹ này do cả ba bên đóng góp Mức đóng góp của mỗi bên

để hình thành quỹ và sử dụng quỹ đều được ba bên quyết định trước khi được luậthóa, mức đóng này phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước

Nếu đứng trên quan điểm xã hội, BHXH là quá trình sử dụng một phần tổngsản phẩm quốc nội (GDP) để đảm bảo an toàn về mặt kinh tế cho người lao động vàcho xã hội Quỹ tài chính BHXH là điều kiện tiên quyết để san sẻ rủi ro, san sẻ tàichính giữa các bên tham gia Trong BHXH thì cụm từ “san sẻ” ở đây được hiểu là: “San sẻ” giữa người lao động, người sử dụng lao động với Nhà nước Mọi ngườilao động và người chủ sử dụng lao động phải đóng phí BHXH để thành lập lên quỹBHXH Quỹ này chủ yếu để chi trả các chế độ cho người lao động khi họ khôngmay gặp rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm, số người lao động được nhận trợ cấpthấp hơn số người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH Ngày nay, hệ thống BHXHthực hiện dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia đã góp phần làm giảm gánh

Trang 6

với nhau, giữa người chủ sử dụng với nhau hay giữa người lao động và người chủ

sử dụng lao động Vì BHXH thực hiện san sẻ cả về mặt không gian và thời gian

“San sẻ” cả về mặt không gian và thời gian Điều này được thể hiện ở nhữngdoanh nghiệp, những vùng, những ngành kinh tế trong một thời kỳ có mức rủi rothấp, kinh tế phát triển nhưng vẫn đóng góp BHXH cao Tuy nhiên, ở những nơi, cónhững vùng, có những thời kỳ kinh tế kém phát triển, tỷ lệ lao động bị thất nghiệpcao nên cần có sự san sẻ rủi ro của các doanh nghiệp với nhau, san sẻ rủi ro giữa cácthời kỳ, các ngành kinh tế khác nhau

“San sẻ tài chính” và “San sẻ rủi ro” thể hiện ngay trong nội bộ người laođộng và người sử dụng lao động San sẻ này còn thể hiện khi tất cả người lao độngđóng góp vào quỹ BHXH nhưng chỉ có một số người không may gặp rủi ro mớiđược nhận trợ cấp từ quỹ BHXH Ví dụ, san sẻ giữa lao động nam với lao động nữ:chỉ có lao động nữ sinh con, lao động nữ hay bị ốm đau, tai nạn lao động Giữanhững người lao động trẻ khỏe với những người lao động hay bị ốm đau, hay ngườiđang trong độ tuổi lao động với những người già yếu đã nghỉ hưu

Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc bị mất đi khi gặp phải các rủi

ro hoặc sự kiện BHXH sẽ được quỹ tài chính bù đắp, thay thế Song mức độ bù đắp,thay thế thường thấp hơn mức thu nhập trước đó của họ nhưng vẫn phải đảm bảocuộc sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ Có như vậy, mới kích thíchngười lao động mới hăng hái tham gia lao động sản xuất và hạn chế tối đa nhữnghiện tượng lợi dụng chính sách BHXH Khi thực hiện chi trả trợ cấp bằng với mứcthu nhập họ đi làm điều đó dẫn tới sự ỷ lại vào quỹ BHXH, ví dụ như người laođộng bị mất việc làm nếu được nhận trợ cấp bằng thu nhập trước kia của họ sẽkhông muốn tìm việc mới vì họ vẫn nhận được số thu nhập mà không phải đi làm

Những rủi ro hoặc sự kiện BHXH làm giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm trong BHXH có thể là ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của conngười, như là: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc cũng có thể lànhững trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: lao động nữ sinh đẻ, đếntuổi về hưu… Đồng thời chúng có thể diễn ra trong quá trình lao động hoặc ngoàiquá trình lao động Ví dụ như chế độ tử tuất người lao động chết khi không làm việchoặc chết vì bệnh tật thì vẫn được hưởng trợ cấp tử tuất

Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những yêu cầu cần thiết của ngườilao động và gia đình họ trong trường hợp người lao động tham gia BHXH bị giảm

Trang 7

hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục đích này được Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) cụ thể như sau (trong công ước 102):

- Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhucầu sinh sống thiết yếu của họ và gia đình họ;

- Chăm sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật;

- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặcbiệt của người già, người tàn tật và trẻ em

Những mục tiêu BHXH nói trên đều nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hộicho mỗi nước Vì vậy, chính sách BHXH luôn được coi là chính sách chủ yếu

“nòng cốt” của chính sách an sinh xã hội

1.1.2 Vai trò của BHXH

BHXH ra đời và phát triển đã ngày càng khẳng định được vai trò của mìnhtrên nhiều phương diện khác nhau trong cuộc sống cũng như trong phát triển kinh tế

- xã hội Vai trò của BHXH được thể hiện ở các phương diện sau:

1.1.2.1 Đối với người lao động

BHXH trực tiếp góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình

họ khi người lao động gặp phải rủi ro và các sự kiện bảo hiểm như: ốm đau, thaisản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm hoặc về già,… Vì BHXHthay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi người lao độngkhông may gặp rủi ro

BHXH còn là chỗ dựa về mặt tâm lý để người lao động yên tâm làm việc,gắn bó với đơn vị công tác, tạo niềm tin cho họ vào cuộc sống Vì khi xảy ra nhữngrủi ro xảy ra thì đã có quỹ BHXH trợ cấp cho phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm đó

Từ đó giúp người lao động nâng cao được năng suất lao động cá nhân của mình vàgóp phần tăng thu nhập trong tương lai

Thông qua BHXH còn góp phần đoàn kết giữa những người lao động trongnội bộ cơ quan doanh nghiệp và kích thích những người lao động chưa tham giaBHXH hăng hái tham gia BHXH

1.1.2.2 Đối với người sử dụng lao động

Mặc dù phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định để đóngBHXH cho người lao động mà mình sử dụng, điều đó làm cho người sử dụng laođộng bị mất một khoản thu nhập nhưng song về lâu dài lợi ích từ BHXH mà ngườingười sử dụng lao động nhận được sẽ là:

Trang 8

Khi thực hiện tốt chính sách BHXH cho người lao động sẽ giúp họ yên tâm,phát huy hết khả năng của mình từ đó tăng năng suất lao động cá nhân đồng thờigiúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn Ngoài ra, còn giúp cho người laođộng gắn bó với cơ quan, doanh nghiệp hơn

Nếu chính sách BHXH được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế các hiệntượng đình công, bãi công, biểu tình và từ đó góp phần làm cho hoạt động sản xuấtkinh doanh diễn ra liên tuc và ổn định

Ngoài ra, khi rủi ro xảy ra đối với nhiều người lao động cùng một lúc, ởphạm vi rộng thì người lao động sẽ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để chi trảcho người lao động mà lúc này hậu quả của những rủi ro sẽ do quỹ BHXH gánhvác Mặt khác, khi những rủi ro xảy ra thì chủ sử dụng lao động không phải gánhchịu toàn bộ mà rủi ro được phân tán cả theo không gian và thời gian cho tất cả cácbên tham gia

Thông qua chính sách BHXH, người sử dụng lao động thể hiện được nghĩa

vụ và trách nhiệm của mình đối với người lao động và đối với xã hội Khi tham giaBHXH chủ sử dụng lao động còn thể hiện sự quan tâm của mình đối với người laođộng không chỉ lúc họ khỏe mạnh mà cả khi họ già yếu

1.1.2.3 Đối với nền kinh tế

Chính sách BHXH góp phần tạo lập mối quan hệ gắn bó chủ - thợ, từ đó làmcho các mối quan hệ trên thị trường lao động trở lên lành mạnh hơn, những mâuthuẫn vốn có trong quan hệ lao động về cơ bản được giải tỏa Đây là tiền đề về mặttâm lý, để kích thích tính tự giác, sáng tạo của người lao động, từ đó góp phần nângcao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội

Nhờ có chính sách BHXH mà quỹ BHXH đã được hình thành Nguồn quỹnày ngày càng được tồn tích lại theo thời gian và thực sự trở thành một khâu tàichính trung gian rất quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia Phần quỹ nhàn rỗi

sẽ được đem đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm chongười lao động

1.1.2.4 Đối với xã hội

Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH thể hiện tính xã hội hóa, tính nhânđạo và nhân văn cao cả của chính sách BHXH Mặc dù động lực và mục đích thamgia của mỗi bên tham gia là khác nhau nhưng BHXH ra đời có ý nghĩa rất lớn vềmặt xã hội, cụ thể:

Trang 9

Người lao động tham gia BHXH là nhằm bảo vệ quyền lợi trực tiếp chochính mình, đồng thời còn góp phần thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộngđồng xã hội.

Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để quan tâm, chia sẻ rủi ro vớingười lao động nhưng cũng gián tiếp bảo vệ lợi ích cho chính cơ quan, doanhnghiệp của mình phát triển ổn định bền vững

Nhà nước tham gia BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho các thànhviên trong xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, nhưng cũng là trách nhiệm trong quản

lý xã hội của Nhà nước

Nhờ có quỹ tài chính BHXH mà những khó khăn do giảm hoặc mất thu nhậpcủa người lao động được trang trải một phần chính từ sự đóng góp của họ Từ đólàm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện để Nhà nước tập trungvào những mục đích khác nhằm đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người dân trong

Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giaBHXH Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn cả người sử dụng laođộng và có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để hình thành lên quỹ BHXH hoạt động theonguyên tắc dân chủ, công khai, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và đượcNhà nước bảo trợ Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi

họ bị giảm hoặc mất thu nhập Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọngnhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp Như vậy, thực hiện được nguyêntắc “số đông bù số ít” và BHXH còn thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiềudọc và chiều ngang Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và

Trang 10

người ốm yếu phải nghỉ việc Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phầnthực hiện công bằng xã hội.

Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng caonăng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội Đều này thể hiệnkhi người lao động khỏe mạnh tham gia hoạt động sản xuất thì người chủ sử dụnglao động phải trả tiền công, tiền lương cho người lao động Khi bị ốm đau, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp bị giảm hoặc mất thu nhập thì có quỹ BHXH trợ cấp

Vì thế cuộc sống của họ và người thân luôn được đảm bảo ổn định BHXH là chỗdựa vững chắc giúp người lao động yên tâm sản xuất, gắn bó tận tình với công việc,nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng này thể hiện như đònbẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất cá nhân từ đó góp phầnnâng cao năng suất xã hội và tạo ra sự phát triển kinh tế - xã hội

Gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa ngườilao động và xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người chủ

sử dụng lao động luôn có những mâu thuẫn về tiền lương, tiền công, thời gian laođộng,… Thông qua BHXH sẽ giúp cho mâu thuẫn này được điều hòa và giải quyết.Đặc biệt, cả hai bên thấy được lợi ích của mình khi tham gia BHXH Ngoài ra, khithực hiện tốt chính sách BHXH còn thể hiện sự quan tâm của người sử dụng laođộng tới người lao động không chỉ khi họ khỏe mạnh mà ngay cả khi họ già yếukhông làm việc được Đối với Nhà nước và xã hội, chi phí cho BHXH là cách thứctiết kiệm và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống chongười lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định kinh tế, chính trị

và xã hội được phát triển và an toàn

Trang 11

giữa giới chủ và giới thợ càng trở lên sâu sắc hơn Vì vậy để giải quyết các mâuthuẫn đó, Nhà nước đứng ra can thiệp thông qua BHXH

BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và khônggian Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia

để hình thành quỹ BHXH Những rủi ro xảy đến với người lao động là hoàn toànngẫu nhiên và trong điều kiện được bảo hiểm thì người lao động mới được hưởngcác chế độ của BHXH nhưng có những trường hợp không phải là hoàn toàn ngẫunhiên như chế độ hưu trí hay chế độ thai sản BHXH phát sinh không đồng đều theothời gian và không gian như có những vùng, địa phương, ngành nghề có số ngườilao động bị biến cố nhiều và hưởng nhiều chế độ BHXH trong cùng một thời gian,

…Hay mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao động

BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời có tính dịch vụ:

- Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ: quỹ BHXH muốn hình thành, bảo toàn

và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải phải được quản lýchặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Người lao động có tham gia đóng góp mới đượchưởng, đồng thời về cơ bản đóng góp nhiều thì được hưởng nhiều Đồng thời tínhkinh tế còn được thể hiện: Người lao động có mức đóng thấp hơn nhiều so vớiquyền lợi mà họ nhận được khi gặp rủi ro; chủ sử dụng lao động thì yên tâm khinhững rủi ro xảy ra thì đã có BHXH chịu trách nhiệm Mặt khác, khi tham giaBHXH thì chủ sử dụng còn thể trách nhiệm và sự quan tâm của mình đối với ngườilao động mà họ sử dụng; Đối với Nhà nước, còn góp phần giảm gánh nặng choNgân sách Nhà nước và còn có nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội

- Tính xã hội: BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội Vì vậy,mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH và BHXH phải cótrách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đangtrong độ tuổi lao động hay khi họ đã hết tuổi lao động

- Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh

tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũngngày càng cao khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì người chủ sử dụng sẽtham gia BHXH ngày càng đầy đủ hơn cho người lao động, mức đóng và mứchưởng BHXH tăng theo sự phát triển kinh tế - xã hội

1.1.4 Đặc trưng của BHXH

Mỗi loại hình Bảo hiểm điều có những đăc trưng khác nhau, BHXH có

Trang 12

Thời hạn bảo hiểm rất dài, là một quá trình diễn ra liên tục từ khi người laođộng tham gia BHXH đến khi chết, bảo hiểm cho người lao động cả trong quá trìnhlao động và ngoài quá trình lao động Điều này được thể hiện, khi người lao độngtham gia vào quỹ BHXH thì quỹ này có nhiệm vụ là bù đắp hoặc thay thế một phầnthu nhập cho người lao động và khi họ thực hiện hết nhiệm vụ của mình với xã hộithì quỹ BHXH làm nhiệm vụ chi trả lương hưu cho họ tới khi họ chết Khi tham giaBHXH còn có nghĩa là người lao động tự tiết kiệm cho mình khi về già Còn đối vớichủ sử dụng lao động, thời hạn bắt đầu tham gia bảo hiểm từ khi họ thuê mướn một

số lượng lao động nhất định cho đến khi doanh nghiệp hay tổ chức của họ khôngcòn tồn tại như: phá sản, giải thể, …

BHXH chủ yếu được thực hiện dưới hình thức bắt buộc, cho nên đối tượngtham gia và đối tượng thụ hưởng trợ cấp BHXH ngày càng lớn Khi số lượng thamgia tăng thì nguyên tắc “số đông bù số ít” trong hoạt động bảo hiểm phát huy tối đatác dụng Người lao động và chủ sử dụng lao động đóng góp để hình thành lên quỹBHXH nhung quỹ này chỉ dùng để trợ cấp cho những trường hợp gặp rủi ro hoặc sựkiện bảo hiểm xảy ra Bên cạnh đó thì việc tổ chức quản lý, điều hành bộ máy đòihỏi chặt chẽ hơn, tổ chức có khoa học hơn để đảm bảo công bằng cho người laođộng, người chủ sử dụng tham gia

Những rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm trong BHXH thể hiện phạm vi củaBHXH Vì thế, nó được pháp luật khống chế và thể hiện ở hệ thống các chế độBHXH Những rủi ro sự kiện bảo hiểm có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập củangười lao động làm giảm hoặc mất thu nhập làm ảnh hưởng tới đời sống của ngườilao động và gia đình họ Vì vậy, BHXH còn thể hiện tính chất tiết kiệm trong khikhắc phục hậu quả của rủi ro mà còn thể hiện khi người lao động già yếu Khi ngườilao động trẻ khỏe người lao động đóng BHXH để khi về già có thu nhập để trangtrải chi phí sinh hoạt

Phí BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động tham gia phảiđóng góp thường được nộp định kỳ hàng tháng (nếu tham gia BHXH tự nguyện thìmức phí này có thể nộp theo quý, tháng hay sáu tháng một lần) Mức phí này chịu

sự tác động tổng hợp của rất nhiều các yếu tố như:

- Số lượng đối tượng tham gia BHXH;

- Tuổi thọ bình quân của người lao động;

- Mức độ rủi ro;

Trang 13

- Khả năng bảo trợ của Nhà nước;

- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Phí BHXH được pháp luật quy định cụ thể và thay đổi theo từng thời kỳ chophù hợp với hoạt động thực tế của hệ thống BHXH và tình hình phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước Ngoài ra, phí BHXH còn chịu sự tác động của chính sách laođộng và chính sách tiền lương tối thiểu, các chính sách khác của mỗi nước

BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và Nhà nước là ngườiđứng ra bảo hộ cho các hoạt động BHXH Đặc biệt mỗi lần bổ sung và hoàn thiệnmảng chính sách này đều có sự đồng ý của các bên tham gia trên cơ sở pháp luật.Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng laođộng vì vậy để đảm bảo sự công bằng cho người lao động Mặt khác, quỹ BHXHđược tồn tích theo thời gian, từ thế hệ này đến thế hệ khác, cho nên chịu sự tác độngrất lớn của các yếu chính trị, kinh tế và xã hội Nếu không có sự bảo hộ của Nhànước, hoạt động BHXH sẽ không thể bền vững và mục tiêu của BHXH sẽ khó thựchiện được

1.1.5 Các quan điểm cơ bản về BHXH

BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của một quốc gia

Nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức quản

lý của đất nước Khi thực hiện BHXH, các nước đều phải lựa chọn hình thức tổchức, cơ chế quản lý và mức độ thỏa mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán,khả năng trang trải và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước mình, đồngthời phải nhận thức thống nhất các quan điểm về BHXH sau đây:

Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là một bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã hội.

Hệ thống chính sách BHXH ra đời và phát triển luôn nhằm mục đích đảmbảo đời sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ, khi người lao động bịgiảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm Thực chất đây là một trong nhữngloại chính sách đối với con người nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầuhiển nhiên của con người, an toàn xã hội… Chính sách BHXH còn thể hiện trình độvăn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốcgia, nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội trong một chuẩn mực nhấtđịnh Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ là động lực to lớn phát huytiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của

Trang 14

sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện cho mọi người lao động,mọi tầng lớp nhân dân.

Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho người lao động

Người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp hoặc các

cá nhân có thuê mướn lao động Họ phải có nghĩa vụ phải đóng góp vào quỹ BHXH

và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với người lao động mà họ

sử dụng theo đúng luật pháp quy định Người sử dụng lao động muốn ổn định vàphát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu tư máy móc, công nghệtiên tiến còn phải chăm lo tay nghề, đời sống cho người lao động mà mình sử dụng.Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương thỏa đáng cho họ Khi

họ gặp phải các rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm như: bị tai nạn lao động, bị ốm đau, bịbệnh nghề nghiệp, già yếu, thai sản, … trong đó có rất nhiều trường hợp gắn vớiquá trình lao động, với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì người

sử dụng lao động phải có trách nhiệm bảo hiểm cho họ Có như vậy người lao độngmới yên tâm, tích cực lao động sản xuất phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật gópphần tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp Đồng thời, khitham gia BHXH thì chủ sử dụng cũng yên tâm hơn khi những rủi ro lớn xảy ra vớidoanh nghiệp mình thì họ không phải bỏ một số tiền lớn để chi trả cho người laođộng mà đã có sự đảm bảo của quỹ BHXH

Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi với BHXH

Mọi người lao động đều được hưởng BHXH như tuyên ngôn nhân quyền đãnêu, đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi được trợ cấp BHXH.Khi những rủi ro không mong muốn xảy ra với người lao động thì họ là người trựctiếp chịu tác động của rủi ro đó Vì thế, nếu muốn được hưởng BHXH tức là muốnnhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khácthì trước hết tự mình phải gánh chịu một phần rủi ro Điều đó có nghĩa là bản thânngười lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình

Tuy nhiên, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động về BHXH còn tùythuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội vàlịch sử của mỗi đất nước Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp tới mứcđóng và mức hưởng của người lao động, khi nền kinh tế phát triển thu nhập củangười lao động tăng, mức đóng BHXH tăng dẫn tới mức hưởng sẽ tăng

Trang 15

- Tính trạng mất đi khả năng lao động

- Tiền lương lúc đang đi làm

- Ngành công tác và thời gian công tác

- Tuổi thọ bình quân của người lao động

- Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương đang

đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu Để khuyến khíchngười lao động đi làm việc trở lại tránh sự ỷ lại và trục lợi BHXH

Quan điểm này phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh nguyên tắcphân phối lại quỹ BHXH cho những người lao động tham gia BHXH Trợ cấpBHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương, thu nhập của người lao động nhưng chỉthay thế một phần tiền lương khi người lao động lúc đang đi làm khi đó kích thíchngười lao động tích cực đi làm để có thu nhập cao hơn mức trợ cấp nhận được Hơnnữa, cách lập quỹ BHXH theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả

nợ cấp BHXH bằng tiền lương lúc đang đi làm và nếu vậy thì chẳng khác gì ngườilao động gặp rủi ro nhưng rủi ro của mình được dàn trải hết cho những người khác

Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH

BHXH là bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, nó vừa là nhân tố ổnđịnh, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế - xã hội nên vai trò của nhà nước làrất quan trọng Thực tế đã cho thấy, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, nếukhông có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì mối quan hệ giữa người lao động vàngười sử dụng lao động không được duy trì bền vững, mối quan hệ ba bên trongBHXH sẽ bị phá vỡ Khi Nhà nước không quản lý tài chính BHXH sẽ không đảmbảo việc thực hiện chính sách BHXH đúng với pháp luật quy định và không thựchiện được mục đích của BHXH đề ra: đó là đảm bảo công bằng cho mọi người laođộng và chủ sử dụng lao động

1.1.6 Nguyên tắc hoạt động của BHXH

Mọi người lao động trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được hưởng BHXH.

Quyền được BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thểcủa quyền con người Khi xây dựng hệ thống BHXH thì Nhà nước phải tạo điềukiện và môi trường kinh tế - xã hội, về chính sách và Luật pháp, về tổ chức và cơ

Trang 16

phải thực hiện đóng góp tài chính của mình Thực hiện trách nhiệm đóng góp tàichính BHXH là điều kiện cơ bản nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH.

Quyền hưởng BHXH của người lao động là việc họ được hưởng trợ cấpBHXH theo các chế độ xác định Các chế độ này gắn với các trường hợp người laođộng bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặcmất nguồn sinh sống Mức hưởng còn căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thểcủa đất nước trong từng giai đoạn phát triển của BHXH

Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình.

Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nướcđóng vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước.Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời có mọicông cụ thiết yếu để thực hiện vai trò của mình

Đối với người sử dụng lao động: Người chủ sử dụng lao động muốn ổn định

và phát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu tư máy móc, thiết bịhiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống người lao động

mà mình sử dụng

Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương, trả công thỏađáng cho người lao động Khi họ gặp phải rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp, bị chết, trong đó nhiều trường hợp gắn với quá trình lao động vớinhững điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXHcho họ Có như vậy, người lao động mới yên tâm, tích cực lao động sản xuất, gópphần tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

Đối với người lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn vàkhông phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết là rủi ro củabản thân Vì thế, nếu muốn BHXH chi trả tức là muốn người khác hỗ trợ cho mình,

là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp

và trước hết Điều đó có nghĩa là bản thân người lao động phải có trách nhiệm thamgia BHXH để tự bảo hiểm cho mình

Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham để hình thành nên quỹ BHXH độc lập và tập trung.

Nhờ sự đóng góp của các bên tham gia mà phương thức riêng co của BHXH

là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu nhập theo cả

Trang 17

ràng buộc chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham gia, góp phầntránh những hiện tượng tiêu cực như lợi dụng chế độ BHXH

BHXH hoạt động trên cơ sở số đông bù số ít

Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số lớn,tức là lấy sự đóng góp cảu số đông người tham gia san sẻ cho số ít người khôngmay gặp rủi ro

Trong số đông người tham gia đóng góp BHXH, chỉ những người lao độngmới là đối tượng hưởng trợ cấp và trong số những người lao động lại chỉ nhữngngười ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản hay tuổi già có đủ điềukiện cần thiết mới thực sự được hưởng trợ cấp Trong số đó có những người thamgia đóng góp từ lâu, nhưng có nhiều người vừa mới tham gia đóng góp Vì thế, sốtrợ cấp mà họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ Muốnlàm như vậy không có cách nào khác là phải lấy kết quả đóng góp của số đôngngười tham gia để bù cho số ít người được hưởng trợ cấp Những người lao độngchưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp lúc này thì phần đóng góp của họ để người kháchưởng, nhưng cuộc đời làm việc, chắc chắn họ cũng cần được hưởng trợ cấpBHXH Khi đó, trợ cấp mà họ được hưởng cũng do nhiều người khác đóng góp

Phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH

Việc xác định lợi ích của các bên tham gia BHXH thì đã được làm rõ vàquyền lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đối giữatrách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên tham gia, nghĩa là xác định mức đóng gópcủa mỗi bên tham gia phù hợp với lợi ích mà họ nhận được từ việc họ tham gia đó.Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ không được thực hiện nếunhư gánh năng thuộc về bất cứ bên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ đáng đượchưởng

Đồng thời phải kết hợp giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện để đáp

ứng yêu cầu của toàn xã hội Ở nước ta do BHXH bắt buộc chỉ được áp dụng với

người làm công ăn lương còn đối với những người lao động làm trong khu vực kinh

tế phi chính thức thì không được tham gia BHXH bắt buộc Chính vì vậy bắt đầu từnăm 2008 trở đi, nước ta thực hiện triển khi BHXH tự nguyện cho tất cả mọi ngườilao động trong nước để đảm bảo lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của người laođộng Vì vậy, cần có sự kết hợp giữa tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

Trang 18

Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế tiền lương như trợ cấp ốmđau, thai sản, hưu trí, chứ không phải loại trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp BHXH khác.Như đã biết tiền lương là khoản tiền người chủ sử dụng lao động trả cho người laođộng khi họ thực hiện công việc nhất định, người lao động có sức khỏe bìnhthường, có việc làm bình thường Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thựchiện công việc nhất định hoặc không việc làm mà trước đó đã tham gia BHXH thìchỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền luong do người lao độnglàm ra được Nếu trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một ngườilao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngượclại họ sẽ tìm mọi cách để được hưởng trợ cấp BHXH

Hơn nưa cách lập quỹ phương thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng khôngcho phép trả trợ cấp BHXH bằng tiền lương lúc đang đi làm Vì trả trợ cấp bằngtiền lương thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro đem rủi to của mình dàn trảicho những người khác

Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương tiền công lúcđang đi làm, tuy nhiên, do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợcấp BHXH thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày Chỉkhi đó trợ cấp BHXH mới đảm bảo là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội

Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nước, đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của bộ phận cấu thành.

Hệ thống BHXH của một nước thường nhiều bộ phận cấu thành Trong đó,

bộ phận lớn nhất do nhà nước tổ chức và bảo hộ dặc biệt bao trùm toàn bộ nhữngngười hưởng lương từ NSNN và những người lao động thuộc khu vực kinh tế quantrọng của đất nước Các bộ phận nhỏ hơn do các đơn vị kinh tế và tư nhân tổ chức

ra để bảo hiểm cho một số đối tượng hạn chế do luật pháp quy định

Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống nhấttrên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tùy tiện, tính cục bộ hoặc nhữngmâu thuẫn nảy sinh Đồng thời, cũng phải có cơ chế để mỗi bộ phận cấu thành cóthể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm lẫnnhau

Trang 19

BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế

- xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.

BHXH của một nước gắn chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh

tế - xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý, đặc biệt là với sự đồng bộ, sự hoàn chỉnh,của nền pháp chế của nước đó Trong tình trạng nước ta, kinh tế thị trường theođịnh hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế - xã hội đang chuyển độngmạnh Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải đảm bảo chắc chắn, tính toánthận trọng và phải có bước đi phù hợp

họ khi gặp phải những sự cố về ốm đau, bệnh tật nhưng không phải do tính chất củacông việc gây ra, làm mất khả năng làm việc dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập mộtkhoảng thời gian theo quy định của luật pháp quốc gia

Mục đích của chế độ này là bảo vệ sự mất khả năng lao động do ốm đau gây

ra dẫn đến thu nhập bị gián đoạn Chế độ này giúp người tham gia BHXH nhanhchóng ổn định cuộc sống, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội Để được hưởngtrợ cấp ốm đau, người được hưởng phải có xác nhận của cơ sở y tế Đồng thời,người lao động phải thỏa mãn thời gian đóng BHXH tối thiểu nào đó, thời gian nàyđược quy định khác nhau tại mỗi quốc gia

1.2.2 Nội dung của chế độ trợ cấp ốm đau

1.2.2.1 Vị trí vai trò của chế độ ốm đau trong BHXH

Trợ cấp ốm đau có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong các chế độ củaBHXH:

- Đặc trưng chế độ trợ cấp ốm đau là chế độ trợ cấp BHXH ngắn hạn tức làchi cho người lao động còn trong quá trình làm việc, họ chỉ hưởng trợ cấp tạm thờitrong thời gian họ nghỉ và sẽ tiếp tục trở lại làm việc Do vậy, việc chi trợ cấp này

Trang 20

có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động, có vai trò trong việc thay thế một phầnthu nhập trong thời gian nhất định khi họ nghỉ việc khi bị ốm đau …giúp người laođộng được hưởng trợ cấp sẽ có được cuộc sống ổn định, càng gắn bó, tin tưởng vàochính sách BHXH của Nhà nước.

- Việc chi trả chế ốm đau còn có ý nghĩa rất lớn về mặt tinh thần Việc chi trảtrợ cấp cũng như việc quan tâm đến người lao động có tác động rất lớn nhằm mụcđích giảm dần tỷ lệ ngày công ốm đau…; tăng dần tỷ lệ ngày công lao động có ích,góp phần tăng năng suất lao động, từ đó tác động trở lại đối với chế độ BHXH làmgiảm chi, nâng cao hiệu quả quản lý quỹ BHXH

Với vai trò,vị trí của trợ cấp ốm đau trong các chế độ của BHXH ta thấyđược việc quản lý chi trả chế độ này rất quan trọng Việc quản lý chi trả giúp chocông tác chi trả được thực hiện tốt, từ đó đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng thamgia BHXH Đồng thời công tác quản lý chi trả còn giúp quỹ BHXH thực hiện đúngmục đích, đảm bảo chi đúng, chi đủ và kịp thời cho đối tượng hưởng, góp phần đảmbảo cân đối quỹ BHXH

1.2.2.2 Đối tượng hưởng của chế độ trợ cấp ốm đau

Đối tượng hưởng của chế độ này là những người lao động tham gia đóngBHXH trong một thời gian nhất định( thường là từ 4 đến 6 tháng), trong thời gianlàm việc bị ốm đau, bệnh tật dẫn đến phải nghỉ việc trong một khoảng thời gianngắn Hoặc có con nhỏ trong độ tuổi quy định bị đau ốm bệnh tật thì cũng đượchưởng chế độ này

1.2.2.3 Quản lý đối tượng hưởng trợ cấp ốm đau

Quản lý đối tượng hưởng có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý cácchế độ trợ cấp BHXH Nếu việc tiến hành quản lý tôt có thể sẽ giúp đảm bảo sựbình đẳng trong công tác chi trả, phòng ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm phápluật về BHXH, tạo dựng được lòng tin của NLĐ và NSDLĐ Quá trình quản lý đốitượng của chế độ ốm đau cũng được thực hiện theo các nội dung của quán lý đốitượng BHXH nói chung Bao gồm :

Quản lý trước khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Trang 21

Tức là quản lý đối tượng hưởng đang ở dạng tiềm năng: NLĐ đang tham giaBHXH, thân nhân phụ thuộc của NLĐ: quá trình quản lý bắt đầu ngay từ khi NLĐđăng ký tham gia Các thông tin về NLĐ và than nhân của họ phải được cập nhậttrong suốt quá trình NLĐ tham gia BHXH Cơ quan BHXH có thể xây dựng hồ sơriêng về thân nhân và quản lý kèm với hồ sơ BHXH và sổ BHXH.

Quản lý quá trình xét hưởng và hưởng trợ cấp

Xét hưởng: Công tác xét hưởng phải đảm bảo những yêu cầu sau: phải đảmviệc xét hưởng nhanh chóng và chính xác và hạn chế đến mức thấp nhất các hành vitrục lợi nhằm đảm bảo tính chuyên môn hóa cao trong thẩm định xét duyệt hồ sơ.Xây dựng một đội ngũ nhân viên có chuyên môn sâu, có hiểu biết và tư cách đạođức tốt để chịu trách nhiệm giải quyết các yêu cầu xét hưởng.Cuối cùng, công tácxét duyệt phải đảm bảo khoa học, phù hợp

Quy trình xét hưởng:

Lập hồ sơ hưởng: Cán bộ quản lý tập hợp các bằng chứng xác nhận quyền hườngchế độ trợ cấp ốm đau của đối tượng hưởng và quyết định mức hưởng theo hồ sơhưởng

Tiếp nhận và thẩm định xét duyệt hồ sơ hưởng: cán bộ trực tiếp thẩm định thựchiện, việc thẩm định này được thực hiện trên cơ sở đánh giá các điều kiện hưởngcủa đối tượng hưởng.Sau đó là xây dựng mức hưởng và ra quyết định hưởng

Giải quyết tranh chấp kiếu nại

Sau khi được giải quyết chế độ trợ cấp ốm đau nếu thấy không thỏa đáng NLĐ cóquyền kiếu nại về: quyền được hưởng trợ cấp; mức hưởng; thời gian hưởng…Trướctiên, NLĐ phải kiếu nại lên cơ quan trực tiếp xét hưởng, sau đó mới kiếu nại lên tòanếu như kiếu nại chưa được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng

1.2.2.4 Quản lý chi trả chế độ ốm đau

Nguyên tắc chi trả các chế độ trợ cấp

Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi tham gia BHXH và để đạthiệu quả cao, công tác chi trả chế độ trợ cấp ốm đau phải tuân theo một số nguyêntắc cơ bản sau:

Thứ nhất: đảm bảo chi đúng đối tượng

Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên và cũng là quan trọng nhất trong công tácchi trả các chế độ Bởi vì chi đúng đối tượng không những đảm bảo quyền lợi chongười được hưởng mà còn giúp nguồn quỹ BHXH được đảm bảo, hệ thống BHXH

Trang 22

được củng cố Không những vậy còn tạo sự công bằng, niềm tin của người dânnước vào chính sách BHXH, vào chính sách của Đảng và Nhà nước Vì vậy, để đảmbảo tốt nguyên tắc này cần làm tốt công tác xét duyệt hồ sơ các chế độ, phải có đủ

hồ sơ theo quy định và có xác nhận đóng đủ BHXH mới được thanh toán hưởng trợcấp BHXH

Thứ hai: đảm bảo chi đầy đủ, kịp thời

Nguyên tắc này đảm bảo cho khoản tiền trợ cấp đến tay đối tượng đượchưởng kịp thời và đầy đủ Để làm tốt điều đó cần quản lý và sử dụng nguồn kinhphí chi trả đúng mục đích, đồng thời cải tiến phương thức quản lý, tạo điều kiệnthuận lợi để chi trả các chế độ được thuận lợi và nhanh chóng

Thứ ba: đảm bảo an toàn tiền mặt

Công tác chi trả trợ cấp ốm đau cũng có liên quan tới tiền mặt nên cần tránhcác hiện tượng mất mát, thất thoát… Vì vậy, để đảm bảo an toàn về tiền mặt là mộtnguyên tắc quan trọng khi tiến hành chi trả các chế độ

Thứ tư: Phải tuân thủ các chế độ kế toán và nguyên tắc thống kê theo quy

định của Nhà nước nói chung và theo quy định của ngành BHXH nói riêng

Thứ năm: Thực hiện quản lý chi trợ cấp theo phân cấp, theo đó cơ quan

BHXH cấp trên sẽ có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiệnchi trả BHXH của cơ quan BHXH cấp dưới và người sử dụng lao động Ngược lại,

cơ quan BHXH cấp dưới có trách nhiệm tổ chức chi trả trợ cấp và báo cáo lên cơquan BHXH cấp trên theo quy định

Tổ chức chi trả

Thông thường, BHXH được tổ chức thành 3 cấp: BHXH cấp trung ương, cấpkhu vực và cấp địa phương, cụ thể:

Cấp trung ương: Đây là cấp cao nhất có nhiệm vụ phải bao quát và quản lý

toàn bộ hoạt động chi trả trong hệ thống, đồng thời giải quyết các tranh chấp và phiphạm lớn xảy ra trong công tác chi trả BHXH cấp Trung ương thường thành lập raban quản lý chi trả để quản lý hoạt các hoạt động chi trả

Trang 23

Cấp khu vực (bao gồm có BHXH tỉnh, thành phố): Có trách nhiệm toàn diện

về tổ thức thực hiện chi trả trên địa bàn quản lý Tại BHXH cấp khu vực thường cócác phòng quản lý chi trả để quản lý chi trả trong toàn khu vực Cấp khu vực cónhiệm vụ phải quản lý, điều hành, kiểm tra, kiểm soát việc chi trả tại các cơ quanBHXH ở cấp địa phương; ngoài ra còn trực tiếp tổ chức chi trả trợ cấp cho đốitượng hưởng theo quy định

Cấp địa phương (gồm BHXH các quận, huyện, thị xã…): Tổ chức chi trả và

quyết toán các chế độ cho các đối tượng được hưởng; có trách nhiệm thống kê, báocáo và quản lý chặt chẽ tình hình biến động tăng giảm của đối tượng hưởng và sốtiền chi trả theo đúng quy định của Nhà nước và hệ thống BHXH

Việc tổ chức chi trả các chế độ BHXH do BHXH cấp khu vực và cấp địaphương trực tiếp đảm nhận BHXH cấp Trung ương có trách nhiệm quản lý chặt chẽtình hình biến động số đối tượng được hưởng, số tiền chỉ trả và đảm bảo quản lýnguồn tiền mặt trong quá trình chi trả Đối với các chế độ BHXH ngắn hạn, thôngthường cơ quan BHXH ủy quyền cho đơn vị sử dụng lao động chi trả cho người laođộng, do vậy cần đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhấtcho người lao động Thực hiện thanh toán với cơ quan BHXH, quản lý lưu trữchứng từ kế toán theo quy định; có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ khi

có yêu cầu kiểm tra, thanh tra của cơ quan BHXH các cấp

Phương thức chi trả

Tùy thuộc vào mô hình hệ thống BHXH, cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính –ngân hàng hay bưu chính của mỗi quốc gia, mỗi địa phương mà áp dụng cácphương thức chi trả sao cho phù hợp, đảm bảo chính xác, nhanh chóng và thuận tiệncho cả cơ quan BHXH và đối tượng hưởng Thông thường việc tổ chức chi trả chế

độ trợ cấp ốm đau có các phương thức chi trả chủ yếu sau:

- Chi trả trực tiếp đến tay đối tượng hưởng: phương thức này có ưu điểm là

cơ quan BHXH có thể nắm bắt nhanh các thông tin về đối tượng hưởng, về nhữngyêu cầu và mong muốn của đối tượng hưởng để kịp thời giải quyết Nhưng nhượcđiểm của phương pháp này là mức độ an toàn tiền mặt không cao; với phương thức

Trang 24

chi trả trực tiếp đòi hỏi đội ngũ cán bộ BHXH lớn, có phẩm chất đạo đức và tinhthông nghề nghiệp.

- Chi trả gián tiếp qua đơn vị sử dụng lao động: phương thức này giúp tiến độchi trả nhanh hơn do đơn vị sử dụng lao động chủ động thanh toán cho đối tượng,đồng thời giảm nhẹ tăng biên chế ngành BHXH

- Chi qua tài khoản tại Ngân hàng: với điều kiện kinh tế - xã hội ngày càngphát triển, cơ sở hạ tầng ngày được nâng cao, nhất là đối với các tỉnh, thành phố có

hệ thống Ngân hàng tốt có thể áp dụng phương thức này Việc chi trả trực tiếp quatài khoản cá nhân mở tại tại ngân hàng hay chi gián tiếp qua tài khoản của chủ sửdụng lao động tại Ngân hàng cho người lao động đều có ưu điểm là nhanh, tiết kiệmchi phí và đảm bảo an toàn tiền mặt trong quá trình chi trả Tuy nhiên phương thứcnày đòi hỏi một hệ thống tài chính phát triển và khả năng quản lý theo mô hình hiệnđại của cơ quan BHXH

Nhìn chung khi lựa chọn phương thức thanh toán phải dựa vào các điều kiệnthuận lợi khi áp dụng các phương thức đó nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, do vậycần cân nhắc một số nhân tố sau:

+ Sự thuận tiện đối với cơ quan BHXH và đối tượng hưởng trợ cấp

+ Chi phí khi áp dụng phương thức đó

+ Độ an toàn khi sử dụng phương thức đó

1.2.3 Một số công ước quốc tế về trợ cấp ốm đau

_ Công ước 102 về an sinh xã hội (tiêu chuẩn tối thiểu) năm 1952 của ILO

_ Công ước 130 về chăm sóc y tế và trợ cấp ốm đau ( năm 1969) của ILO : trongcông ước này có quy định đối tượng hưởng, thời gian hưởng, mức hưởng chế độ từđiều 18 đến điều 26 của công ước

_ Công ước 14.330 của Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Na Uy và Thụy Điển về Hiệpđịnh liên quan đến trợ cấp ốm đau, trợ cấp tử tuất và trợ cấp thai sản tạiCopenhagen vào 06/02/1975 trong đó các quy định về ốm đau được quy định từđiều 08 đến điều 12 theo đó một cư dân ở nước này có thế hườn trợ cấp ốm đau theo

Trang 25

_ Một cư dân của một quốc gia kí kết được hưởng bệnh tật lợi ích bằng tiền mặt ởnước này trong cùng một điều kiện và theo cũng một quy định như công dân ở nước

đó Tuy nhiên, một cư dân của một trong những quốc gia tham gia kí kết đang làmviệc trong một quốc gia kí kết nếu các khoản tiết kiệm không được cung cấp bởimột bên thứ ba thì được hưởng trợ cấp bằng tiền mặt ở những nước đang làm việctại đó trên cơ sở các khoản thu nhập của mình tại đó

_ Một người làm việc trên một chiếc thuyền treo lá cờ của một quốc gia tham gia kíkết được hưởng các quyền lợi trợ cấp ốm đau bằng tiền mặt ở trong nước mà contàu treo lá cờ bay

_ Một nhân viên tạm trú tại một trong những quốc gia tham gia kí kết khác vớinước mình cư trú với mục đích làm việc không quá 12 tháng đối với doanh nghiệp

có trụ sở chính tại nước mình cư trú thì được trả trợ cấp bằng tiền mặt tại nước mình

cư trú cho khoảng thời gian đó Nếu do bất khả kháng, trường hợp, việc làm, ở nướckhác kéo dài lâu hơn ban đầu dự định và mở rộng quá 12 tháng, các nhân viên sẽ đctiếp tục hưởng lợi ích tại nước mình cư trú bằng tiền mặt với điều kiện cơ quan cóthấm quyền của quốc gia mình cư trú tạm thời cho phép

Trang 26

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP ỐM ĐAU

TẠI BHXH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2009

2.1 Khái quát về BHXH Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam

Thời kỳ trước năm 1945, khi nước ta còn là nước phong kiến số quan lạitrong triều đình khi về già chỉ được hưởng bổng lộc Vua ban Một số quan chức làmviệc cho chính quyền thực dân được hưởng một số chế độ như: hưu trí, tử tuất

Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xãhội Nên ngay từ sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, mặc dù gặp muôn vànkhó khăn nhưng Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành và sủa đổi bổ sungchính sách BHXH và trợ cấp xã hội để áp dụng cho người lao độngphù hợp với điềukiện kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ Riêng đối với công nhân viên chức Nhà nước

và quân nhân, Chính phủ đã nhiều lần ban hành chính sách bảo hiểm xã hội gồmcác chế độ trợ cấp khi ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, già yếu và chế độ trợ cấpgia đình khi công nhân viên chức từ trần để đảm bảo đời sống cho họ và gia đình,góp phần ổn định xã hội

Ngay sau khi giành chính quyền năm 1945, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số7NV/CC ngày 17/12/1945, trưng dụng toàn bộ đội ngũ công chức để làm việc chochính quyền mới, đồng thời những người đủ điều kiện thì cho nghỉ hưu Trong sắclệnh số 54 ngày 3/11/1945 do Hồ Chủ tịch ký, đã giải quyết cho tất cả công chứclàm việc đủ 30 năm hoặc đã đến 55 tuổi được nghỉ hưu Tiếp đó là sắc lệnh số 105ngày 14/06/1946, quy định chi tiết hơn chế độ và điều kiện nghỉ hưu

Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ký Sắc lệnh 20/SL, trong đó quyđịnh “Quỹ hưu bổng thương tật ”và “tiền tuất cho thân nhân tử sỹ” cấp cho thânnhân thương tật và thân nhân tử sỹ Đây là văn bản quan trọng đầu tiên của nướcViệt Nam Dân chủ cộng hòa về BHXH, vì Sắc lệnh gồm 3 chương, 16 điều rất chitiết và có tính hệ thống của một văn bản pháp quy Vì thế, ngày 16 thang 02 đượclấy là ngày truyền thống của ngành BHXH nước ta Đến năm 1950, trong khángchiến chống Pháp Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 76/SL ngày 20/051950 ban hànhquy chế công chức và Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/05/1950 ban hành quy chế công

Trang 27

nhân Trong đó lần đầu tiên quy định ngạch bậc, lương bổng và phụ cấp của cáchạng công nhân khi về hưu, hưởng chế độ nghỉ dưỡng và chế độ thai sản.

Các văn bản này đã quy định những nội dung có tính nguyên tắc về bảo hiểm

xã hội, song do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, trong kháng chiến và do kinh tếkhó khăn nên Nhà nước chưa nghiên cứu chi tiết và thực hiện đầy đủ các quyền lợi

về bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức, mà các chế độ chủ yếu mang tínhcung cấp, bình quân với tinh thần “đồng cam cộng khổ” Về nội dung chưa thốngnhất giữa khu vực hành chính và sản xuất, giữa công nhân kháng chiến và côngnhân sản xuất dân dụng, các khoản chi về Bảo hiểm xã hội lẫn với tiền lương, chínhsách đãi ngộ mà chưa xây dựng theo nguyên tắc hưởng theo lao động là nguyên tắc

cơ bản về phân phối XHCN, ngoài ra các văn bản còn chưa hoàn thiện và chưađồng bộ, ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện Một số vấn đề quan trọng, cấp thiếtđến đời sống của đông đảo công nhân viên chức như chế độ trợ cấp bệnh nghềnghiệp, thôi việc, trợ cấp mất sức lao động chưa được quy định Nhìn chung giaiđoạn này các chế độ bảo hiểm xã hội chưa quy định một cách toàn diện, quỹ bảohiểm xã hội chưa được hình thành Tuy nhiên, chính sách bảo hiểm xã hội ở giaiđoạn này có ý nghĩa giải quyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc

bị ốm đau, tai nạn lao động và sinh đẻ từ đó củng cố thêm lòng tin của nhân dân vàoĐảng, Chính phủ làm cho mọi người an tâm, phấn khởi đẩy mạnh công tác sản xuất,thu hút lực lượng lao động vào khu vực kinh tế Nhà nước

Sau khi hòa bình lập lại, vì khi hoàn thành kế hoạch 3 năm cải tạo và pháttriển kinh tế, văn hóa xã hộ ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, lựclượng công nhân viên chức lúc này càng ngày tuyển dụng càng đông hơn để phục

vụ cho yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Trước tình hình này, Nhànước thấy cần thiết phải bổ sung chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với tìnhhình và đáp ứng được mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống cho công nhân viênchức Vì vậy, Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961, ban hành kèm theo Điều lệtạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước, thì BHXH ViệtNam mới thực sự được hình thành một cách có hệ thống và tương đối toàn diện.Nghị định này quy định cụ thể về các chế độ BHXH phải thực hiện, mức đóng gópcủa các bên tham gia và mức hưởng từng chế độ như sau:

- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là công nhân viên chức, lực lượng vũtrang

Trang 28

- Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong Ngân sách Nhànước Nguồn hình thành trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp, còn lại do Ngân sáchNhà nước cấp Mức đóng của các xí nghiệp là 4,7% so với tổng quỹ lương Trong

đó, 1% để chi cho ba chế độ dài hạn và 3,7% chi ba chế độ ngắn hạn Đối với phần

từ NSNN, hàng năm Quốc hội thông qua Ngân sách cấp cho việc thực hiện chínhsách bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức làm trong khu vực Nhà nước

Áp dụng sáu chế độ BHXH: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức

Đây là Điều lệ tạm thời nhưng đã quy định đầy đủ 6 chế độ bảo hiểm xã hội,các chế độ này chủ yếu dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm khuyếnkhích mọi người tăng cường kỷ luật lao động, đẩy mạnh sản xuất và góp phần ổnđịnh lực lượng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân Nghị định 218/CP đượccoi là văn bản gốc của chính sách BHXH và nó được thực hiện trong hơn 30 năm.Tuy nhiên để phù hợp và đáp ứng với tình hình của đất nước trong từng giai đoạn,nội dung của các quy định trong Điều lệ tạm thời đã qua 8 lần sửa đổi bổ sung với

233 văn bản hướng dẫn thực hiện

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và những năm sau giải phóng miềnNam, cũng có một số văn bản liên quan đến việc điều chỉnh, bổ sung một số nộidung của BHXH Đặc biệt là tại Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/09/1985 của Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc bổ sung, sửa đổi chế độ bảo hiểm xã hộicho công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang trong giai đoạn này

Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều vấn đề liênquan đến BHXH cần phải đổi mới, cho nên ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hànhNghị định số 43/CP Trong Nghị định này, Chính phủ đã quy định 5 chế độ BHXH(các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tửtuất Chế độ mất sức lao động trước đây đã được bãi bỏ) và bước đầu đề cập đếnvấn đề thành lập hệ thống BHXH Việt Nam mà Hội đồng quản lí BHXH

Tuy nhiên, qua nhiều năm các văn bản pháp quy và văn bản hướng dẫn quánhiều nên không tránh khỏi hiện tượng chồng chéo, trùng lặp; có những vấn đềkhông được quy định, khó khăn cho việc thực hiện chế độ; có nhiều cơ sở cho việcvận dụng gây nên mất công bằng xã hội Các văn bản tính pháp lý chưa thật cao,chủ yếu mới ở dạng Nghị định, Điều lệ tạm thời, Quyết định, Thông tư Về tổ chức

bộ máy thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội chưa tách chức năng quản lý Nhà nước ra

Trang 29

tán, hoạt động kém hiệu quả, sự phối hợp để giải quyết các vướng mắc cho đốitượng gặp nhiều khó khăn, mỗi cơ quan, đơn vị, ngành chỉ giải quyết một vài côngviệc hoặc khâu công việc Quỹ bảo hiểm xã hội thu không đảm bảo đủ chi, việc chitrả lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội thường xuyên bị chậm, ảnhhưởng lớn đến đời sống của người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

Để khắc phục những hạn chế và bất cập của chính sách BHXH trước đây,xây dựng một chính sách BHXH phù hợp với quá trình đổi mới của nền kinh tếnhiều thành phần, đáp ứng được nguyện vọng của người lao động, trên cơ sở chế độBHXH của Hiến pháp năm 1992 và của Bộ luật lao động, Chính phủ đã ban hànhNghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 và Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 vềBHXH và thành lập hệ thống BHXH Có thể nói đây là hai văn bản quan trọng và

có tính đột phá giúp cho ngành BHXH Việt Nam dần đi vào quỹ đạo chung củaBHXH Thế giới Ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 20/2002

QĐ – TTg sát nhập BHYT vào BHXH Việt Nam Đây là bước tiến mới nhằm làmcho hệ thống BHXH nước ta được hoàn chỉnh hơn và tránh được những hiện tượngcồng kềnh, chồng chéo trong quản lý

Ngày 29/06/2006, Quốc hội nước ta chính thức thông qua Luật BHXH Bộluật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 Để cụ thể hóa Luật BHXH, Chính phủ banhành Nghị định số 152/2006/NĐ – CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều củaLuật về BHXH bắt buộc Quyết định số 41/2007/QĐ – TTg của Thủ tướng Chínhphủ ngày 26/03/2007về quản lý tổ chức đối với BHXH Việt Nam Ngày 28/08/2008Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2008/NĐ – CP quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Theo Luật BHXH hiện hành,nước ta thực hiện cả loại hình BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BH thấtnghiệp Nhưng BHXH tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2008 với hai chế độ hưutrí và tử tuất, còn Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện từ ngày 01/01/2009 Nhưvậy, BHXH Việt Nam đã có hành lang pháp lý vững chắc để tổ chức triển khai mọihoạt động của mình.Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với BHXH Việt Nam làkhuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH ngày càngđông đảo

Với những kết quả đạt được trong hơn 10 năm qua, BHXH Việt Nam đã gópphần quan trọng trong việc ổn định và đảm bảo đời sống cho lao động, từ đó gópphần đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị và xã hội

Trang 30

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam:

TỔNG GIÁM ĐỐC

Phó Tổng giám đốc

Ban kiểm tra Văn phòng Ban hợp tác quốc tế Ban tổ chức

Ban cấp sổ, thẻ

Ban thực hiện chính sách BHXH

Tạp chí BHXH

Trường đào tạo nghiệp vụ BHXH

Viện khoa hoc BHXH

Ban thực hiện chính sách BHYT

Ban tuyên truyền

Trang 31

2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH Việt Nam

Theo Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2008 của Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH ViệtNam thì nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của BHXH Việt Nam là:

 Trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược phát triển ngành Bảo hiểm Xã hội ViệtNam; kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về hoạt động của Bảo hiểm Xã hộiViệt Nam…

 Đề xuất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng, sửa đổi, bổ sungchế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội; kiến nghị thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cánhân trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật…

 Đề xuất với Bộ Y tế xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách về bảohiểm y tế; kiến nghị thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiệnbảo hiểm y tế; cùng tham gia xác định mức đóng, phạm vi quyền lợi của ngườikhám, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế và cơ chế chi trả chi phí khám, chữabệnh…

 Ban hành văn bản hướng dẫn về thủ tục, chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện việcgiải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thu, chi bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

 Giải quyết các chế độ ốm đau, thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;hưu trí; tử tuất; dưỡng sức phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản và sau khi điềutrị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

 Tổ chức thu BHXH, bảo hiểm thất nghiệp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức,người sử dụng lao động và người lao động; tổ chức chi trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợhọc nghề, hỗ trợ tìm việc làm, đóng bảo hiểm y tế cho người được hưởng trợ cấpthất nghiệp theo quy định của pháp luật

 Quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo nguyên tắctập trung thống nhất, công khai, minh bạch, đúng mục đích theo quy định của phápluật

Trang 32

 Giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện các chế độ bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệcông tác của các đơn vị trực thuộc

 Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế

 Định kỳ 6 tháng, báo cáo Hội đồng quản lý Bảo hiểm Xã hội Việt Nam về tìnhhình thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Hàng năm, báo cáo Chính phủ vềtình hình quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

2.2.Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau ở BHXH Việt Nam giai đoạn 2005-2009

2.2.1 Quy định pháp lý liên quan đến chế độ trợ cấp ốm đau tại Việt Nam

Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2006 về chế độ trợ cấp ốm đau

 Đối tượng hưởng

1.Người lao động được hưởng chế độ này khi bị ốm đau, tai nạn rủi ro phảinghỉ việc (có xác nhận của cơ sở y tế)

Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do sayrượu hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác khì không được hưởng chế độ ốmđau

2.Có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con (có xác nhậncủa cơ sở y tế)

Thời gian hưởng

1 Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người laođộng quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH tính theo ngàylàm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy địnhnhư sau:

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu

đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ

Trang 33

mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươinăm trở lên;

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục

do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việcthường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốnmươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu

đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ

đủ ba mươi năm trở lên

2 Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do

Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngàynghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì đượchưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn

3 Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm

d khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH còn tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tếthuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân

4.Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau

a) Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo sốngày chăm sóc con tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa làmười lăm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi

b) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người

đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ

Mức hưởng

Mức hưởng chế độ ốm đau được quy định tại Thông tư số 03 BLĐTBXH ngày 30/01/2007 và Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày23/9/2008 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Trong đó qui định có 2trường hợp, như sau:

Trang 34

/2007/TT-Mức hưởng chế độ ốm đau theo thời gian quy định tại khoản 1 Điều 23Luật BHXH, Điều 9 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP được tính như sau:

Mức hưởng chế

độ ốm đau =

Tiền lương, tiền công đóngBHXH của tháng liền kềtrước khi nghỉ việc

x

Tỷ lệhưởngchế độ

ốm đau(%)

x

Số tháng nghỉviệc được hưởngchế độ ốm đau Trong đó:

- Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau:

+ Bằng 75% với thời gian tối đa là 180 ngày trong một năm;

+ Bằng 65% đối với trường hợp hết thời hạn 180 ngày trong một năm màngười lao động vẫn tiếp tục điều trị, nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trởlên

+ Bằng 55% đối với trường hợp hết thời hạn 180 ngày trong một năm màngười lao động vẫn tiếp tục điều trị, nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đếndưới 30 năm

+ Bằng 45% đối với trường hợp hết thời hạn 180 ngày trong một năm màngười lao động vẫn tiếp tục điều trị, nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm

Số tháng nghỉ việc được tính theo tháng dương lịch, trường hợp có ngày lẻ

Trang 35

26 ngày

x

Tỷ lệhưởng chế

độ ốm đau(%)

x

Số ngày nghỉviệc được hưởngchế độ ốm đauTrong đó:

- Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau theo quy định tương tự như trên

xã hội bắt buộc có hiệu lực thi hành từ năm 2007 đến nay

Về nguồn chi trả từ năm 2004 đến 2008 đã có sự thay đổi, cụ thể :

 Từ năm 2004 đến 2006 áp dụng theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau :

- Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương củanhững người tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% để chi trả chế độ hưu trí,

tử tuất và 5% chi chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN

- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng để chi chế độ hưu trí

Trang 36

- Người sử dụng lao động đóng 15% trên tổng quỹ tiền lương, tiền công đóngbảo hiểm xã hội của người lao động Trong đó: 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1%vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất.

- Nhà nước tham gia hỗ trợ nguồn lực tài chính để đảm bảo cân đối quỹBHXH

- Nguồn lãi từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ và các nguồn tài chính khácnhư viện trợ, tài trợ, hay phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế viphạm luật lệ về BHXH…

Theo đó, quỹ BHXH được chia thành ba quỹ thành phần : quỹ ốm đau, thaisản ; quỹ TNLĐ-BNN ; quỹ hưu trí và tử tuất Nguồn kinh phí sử dụng để chi trảcác chế độ BHXH ngắn hạn được lấy từ 2 quỹ là : quỹ ốm đau, thai sản và quỹTNLĐ-BNN Luật BHXH có quy định nguời sử dụng lao động đóng 3% tổng quỹtiền lương, tiền công vào quỹ ốm đau, thai sản trong đó người sử dụng lao động giữlại 2% để trả cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản vàthực hiện quyết toán hàng quý với tổ chức BHXH Đối với thực hiện chi trả chế độTNLĐ-BNN được lấy từ 1% tổng quỹ tiền lương tiền công do chủ sử dụng lao độngđóng và nguồn NSNN Trong đó, chi trả trợ cấp TNLĐ-BNN một lần và dưỡng sứcPHSK sau TNLĐ do nguồn quỹ đảm bảo

Là một cơ quan BHXH cấp Trung ương, BHXH Việt Nam có nhiệm vụhướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện chi các khoản trợ cấp ngắn hạn về BHXH chocác đối tượng tham gia một cách đầy đủ, nhanh chóng, theo đúng quy định của Phápluật Nội dung chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn bao gồm :

- Chi từ nguồn quỹ ốm đau và thai sản:

+ Chế độ ốm đau;

+ Chế độ thai sản;

+ Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản ;

+ Lệ phí chi trả

Ngày đăng: 25/03/2013, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường đại học Kinh tế quốc dân (2005), “Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm”, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm
Tác giả: Trường đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
2. Trường đại học Kinh tế quốc dân (2008), “Giáo trình an sinh xã hội”, Nxb đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình an sinh xã hội
Tác giả: Trường đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
5. Cuốn sách: “Phát triển hệ thống An sinh xã hội phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa” năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống An sinh xã hội phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa
3. BHXH – Những điều cần biết 2003 4. Luật BHXH Khác
6. Tạp chí Bảo hiểm xã hội các năm 2006, 2007, 2008, 2009 Khác
10. Một số luận văn và chuyên đề thực tập của các năm trước Khác
11. Báo cáo tổng kết hàng năm của BHXH Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2 : Quy trình chi trả chế độ ốm đau - Thực trạng triển khai  chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009
Sơ đồ 2.2 Quy trình chi trả chế độ ốm đau (Trang 38)
Bảng 2.2: Tổng hợp chi chế độ ốm đau  (2005-2009) - Thực trạng triển khai  chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009
Bảng 2.2 Tổng hợp chi chế độ ốm đau (2005-2009) (Trang 45)
Bảng 2.5: Tình hình chi trả trợ cấp ốm đau từ 2007 đến 2009 - Thực trạng triển khai  chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009
Bảng 2.5 Tình hình chi trả trợ cấp ốm đau từ 2007 đến 2009 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w