1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính

93 347 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Khả Năng Tạo Lập Vốn Và Hiệu Quả Công Tác Đầu Tư Tài Chính
Tác giả Phạm Thị Như Yến
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Tấn Hoàng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 783,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 7

1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM 7

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới 7

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm 11

1.1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm 11

1.1.2.2 Sự cần thiết của đầu tư vốn tại các doanh nghiệp bảo hiểm 12

1.1.3 Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm 14

1.1.3.1 Quy luật số đông 14

1.1.3.2 Phương pháp thống kê 15

1.1.4 Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm 16

1.1.4.1 Bảo hiểm nhân thọ 16

1.1.4.2 Bảo hiểm phi nhân thọ 16

1.1.5 Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội 17

1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 18

1.2.1 Tổng quan về quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm 18

1.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam 19

1.2.1.2 Nguyên tắc đầu tư vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm 19

Trang 2

1.2.2 Danh mục đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm 20

1.2.3 Hoạt động đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở một số nước 24

1.2.3.1 Các quy định về pháp lý 24

1.2.3.2 Cơ cấu đầu tư và sự thay đổi cấu trúc đầu tư trên thị trường BHNT 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 32

2.1 THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 32

2.1.1 Khái quát sự ra đời vào phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam 32

2.1.2 Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay 33

2.2 THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 39

2.2.1 Vấn đề tạo lập vốn trong doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện nay 39

2.2.1.1 Nguồn gốc hình thành vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm39 2.2.1.2 Nội dung dự phòng nghiệp vụ đối với doanh nghiệp kinh doanh BHNT 41

2.2.1.3 Một số tồn tại trong quy định về trích lập dự phòng bảo hiểm nhân thọ……… 45

2.2.2 Thực trạng đầu tư vốn trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 46

2.2.2.1 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam 46

2.2.2.2 Thực trạng đầu tư trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua 48

Trang 3

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO LẬP VÀ ĐẦU TƯ VỐN CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 62

2.3.1 Kết quả của hoạt động tạo lập vốn 62

2.3.1.1 Thực trạng tạo lập vốn từ người tham gia bảo hiểm 62

2.3.1.2 Thực trạng tạo lập vốn từ nội bộ doanh nghiệp bảo hiểm 63

2.3.2 Những đánh giá chung trong việc quản lý và sử dụng vốn 64

2.3.2.1 Những thành tích 64

2.3.2.2 Những tồn tại 64

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TẠO LẬP VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 71

3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 71

3.1.1 Theo xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế 71

3.1.2 Theo mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam 72

3.1.3 Những cơ hội và thách thức 73

3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TẠO LẬP VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 76

3.2.1 Các giải pháp ở tầm vĩ mô 76

3.2.2 Các giải pháp về phía doanh nghiệp bảo hiểm 83

3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ khác 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU CHƯƠNG 1:

Bảng 1.1: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Trung Quốc 26

Bảng 1.2: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Indonesia 27

Bảng 1.3: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Hồng Kông 28

Bảng 1.4: Cơ cấu đầu tư tài chính của các công ty BHNT ở một số nước 30

CHƯƠNG 2: Bảng 2.1: Tổng hợp các doanh nghiệp hoạt động bảo hiểm trên thị trường VN đến 31/12/2005 34

Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên TTBH Việt Nam đến 31/12/2005 35

Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên TTBH Việt Nam đến 31/12/2005 (tiếp theo)36 Bảng 2.3: Dự phòng nghiệp vụ BHNT năm 2004-2005 43

Bảng 2.4: Dự phòng nghiệp vụ BHNT của một số công ty 44

Bảng 2.5: Dự phòng toán học BHNT của một số công ty 44

Bảng 2.6: Doanh thu phí bảo hiểm 1994-2005 toàn thị trường 50

Biểu 2.1: Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 51

Biểu 2.2: Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế 51

Bảng 2.7: Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế 52

Bảng 2.8a & 2.8b: Phân tích cơ cấu vốn đầu tư trở lại nền kinh tế DNBH nhân thọ và toàn ngành bảo hiểm 54

Bảng 2.9: Cơ cấu đầu tư vốn của Bảo Việt qua các năm 55

Bảng 2.10: Cơ cấu đầu tư vốn của Prudential Việt Nam năm 2004 & 2005 56

Bảng 2.11: Cơ cấu đầu tư vốn của Bảo Minh CMG năm 2004 & 2005 56

Bảng 2.12: Lợi suất đầu tư tài chính của công ty BHNT Bảo Việt, Công ty bảo hiểm nhân thọ AIA và Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG 58

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm, cùng với việc tăng

cường hoạt động khai thác bảo hiểm, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư

vốn mà các doanh nghiệp đang sở hữu là một trong những vấn đề có tầm quan trọng

đặc biệt, là chỗ dựa vững chắc cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhất là trong

điều kiện thị trường bảo hiểm (TTBH) Việt Nam ngày càng cạnh tranh gay gắt do

có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) dưới tác động của chính

sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, việc đầu tư như thế nào để vừa

đạt được hiệu quả về mặt kinh tế, vừa đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả các hợp

đồng bảo hiểm, lại vừa hạn chế ở mức tối đa các rủi ro lại là vấn đề không hề đơn

giản đối với các doanh nghiệp Xuất phát từ thực tế đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài

“Giải pháp nhằm nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài

chính tại các Công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” làm luận văn bảo vệ học vị

thạc sĩ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần công sức để phân tích

thực trạng, xác định nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa

hiệu quả của hoạt động đầu tư tài của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (BHNT)

trên thị trường tài chính

2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy

vật lịch sử để phân tích, đánh giá đối tượng, kết hợp phân tích lý luận và phân tích

thực tiễn Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp cụ thể như phương

pháp so sánh, tổng hợp, phân tích để đánh giá đối tượng nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài giới thiệu và phân tích thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của các

DNBH nhân thọ ở Việt Nam nhằm chỉ ra những hạn chế và khó khăn mà các

DNBH đang gặp phải Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả

Trang 6

đầu tư giúp các DNBH nhân thọ Việt Nam thể hiện tốt hơn vai trò của một tổ chức

trung gian tài chính

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các công ty BHNT đang hoạt

động trên TTBH Việt Nam Trong đó, đề tài đi sâu vào nghiên cứu khả năng tạo lập

vốn và công tác đầu tư tài chính

5 Những điểm mới của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về bảo hiểm, thực trạng tạo lập và đầu tư vốn

trong các DNBH trong và ngoài nước đồng thời thông qua kinh nghiệm thực tế

trong công tác tài chính tại công ty BHNT, luận văn đã đề xuất và giới thiệu những

giải pháp nhằm giúp những người làm công tác đầu tư tài chính trong các DNBH

nhân thọ giảm thiểu rủi ro khi đầu tư vốn, cụ thể:

ƒ Thành lập công ty đầu tư chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ đầu tư;

ƒ Xây dựng DMĐT tối ưu cho các DNBH;

ƒ Phối hợp hiệu quả hơn với hệ thống ngân hàng;

ƒ Nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý tiền mặt tối ưu;

ƒ Phát triển các loại hình sản phẩm mới của BHNT để thu hút đầu tư dài hạn

6 Kết cấu của luận văn

Không tính phần mục lục, danh mục bảng biểu, mở đầu, kết luận và tài liệu

tham khảo, luận văn dài 84 trang bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm và quản lý vốn trong các DNBH

Chương 2: Thực trạng việc tạo lập, quản lý và sử dụng vốn của các DNBH

nhân thọ ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công

tác đầu tư tài chính tại các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG

CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới

Con người cùng các thể chế chính trị từng tồn tại trong lịch sử luôn đặt

nhiệm vụ hạn chế rủi ro lên hàng đầu Dịch vụ bảo hiểm ra đời để làm nhiệm vụ hạn

chế rủi ro ấy

Ở Trung Hoa cách đây hơn 5.000 năm, lúc bấy giờ bọn cướp biển hoành

hành khắp nơi; do vậy để hạn chế rủi ro, khi ra khơi người ta thường bố trí cho

nhiều tàu chia nhau chở kèm một phần hàng hóa của một chiếc tàu khác, phòng khi

có một chiếc tàu bị bọn cướp biển tấn công thì phần hàng còn lại chở trên những

chiếc tàu kia không bị cướp

Cách nay gần 4.500 năm, ở một nơi khác là đế quốc Babylon cổ, các thương

nhân thường phải du thương khá nhiều, và họ đã đối phó với các rủi ro bằng cách

đem tiền cho người khác vay Khi việc vận chuyển hàng hóa đã hoàn tất một cách

an toàn, các thương nhân này sẽ bắt người vay tiền hoàn trả khoản vay, kèm theo đó

là tiền lời Vào năm 2100 trước Công Nguyên, đạo luật Hammurabi ra đời đã đặt

hoạt động cho vay của các doanh nhân vào khuôn khổ pháp luật Đạo luật này đã

chính thể hóa các khái niệm “bottomry” (chỉ việc mượn tiền trên cơ sở lấy tàu làm

bảo đảm) và “respondentia” (chỉ hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy) Các khái

niệm này đã đặt nền móng cho thực hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải Các hợp

đồng loại này gồm 3 yếu tố: khoản vay căn cứ vào giá trị tàu, hàng hóa hay cước

vận chuyển; lãi suất; khoản phụ thu cho các trường hợp mất mát có thể xảy ra Trên

thực tế, khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, chủ tàu là người được bảo hiểm còn chủ

cho vay là người đánh giá rủi ro

BHNT xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại không lâu sau đó Tại đây người ta

đã lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội

Trang 8

cũng hỗ trợ tài chính cho thân nhân người chết Khoảng năm 450 sau Công Nguyên,

đế quốc La Mã sụp đổ dẫn đến việc hầu hết các khái niệm của BHNT bị lãng quên

Tuy nhiên các mặt, tính chất của nó thì vẫn không hề thay đổi trong suốt thời Trung

Cổ, nhất là đối với các phường hội thủ công và thương nghiệp Các phường hội này

đã lập nên nhiều hình thức bảo hiểm thành viên để bù đắp thiệt hại các vụ hỏa hoạn,

lũ lụt, trộm cướp; ngoài ra còn có bảo hiểm thương tật, tử vong và thậm chí là bảo

hiểm tù ngục (bảo hiểm cho trường hợp người mua bảo hiểm phải vào tù)

Trong suốt thời phong kiến, các ngành du lịch và mậu dịch ngày càng suy

yếu và không còn thịnh đạt như trước, do vậy các hình thức bảo hiểm sơ khai cũng

bị mai một Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 các ngành

giao thông, thương nghiệp và cả dịch vụ bảo hiểm đã phát triển trở lại

Dịch vụ bảo hiểm ở Ấn Độ bắt nguồn từ bộ kinh Veda của nước này Đơn cử

là trường hợp của tập đoàn BHNT Yogakshema, một Công ty trực thuộc tổng hội

liên hiệp bảo hiểm Ấn Độ Tên của Công ty này được lấy từ trong kinh Rig Veda

Cụm từ Yogakshema cho thấy ở Ấn Độ vào khoảng năm 1.000 trước Công Nguyên,

hình thức “bảo hiểm cộng đồng” đã phát triển rất thịnh hành và người Aryan khi đó

cũng đã tham gia rất nhiều vào hình thức bảo hiểm này

Tương tự với đế quốc La Mã cổ đại, trong giai đoạn truyền bá đạo Phật

người Ấn Độ đã lập nên nhiều hội mai táng để hỗ trợ cho các gia đình xây cất nhà

cửa đồng thời che chở, đùm bọc các góa phụ và trẻ nhỏ

Sau Cách Mạng ánh sáng (Glorious Revolution) năm 1688, ở Châu Âu chỉ có

Vương Quốc Anh công nhận tính pháp lý của BHNT Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập

kỷ sau Cách Mạng ánh sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ Hình

thức bảo hiểm mà chúng ta thấy ngày nay có nguồn gốc từ thế kỷ 17 Khi đó ở Anh

từng có một nơi gọi là Lloyd’s of London, nơi mà về sau người ta biết tới với cái

tên Nhà hàng Cà phê Lloyd’s (Lloyd’s Coffee House) Các thương nhân, chủ tàu và

Trang 9

các nhà thầu bảo hiểm khi đó hay tụ tập ở nhà hàng này để bàn công chuyện làm ăn

và tiến hành các hợp đồng buôn bán

Mặc dù được sử dụng như một công cụ hạn chế rủi ro, dịch vụ BHNT vẫn bị

cuốn vào trò đỏ đen vốn được xem là bản năng của tầng lớp tiểu tư sản Anh đang

phát triển rất mạnh mẽ lúc bấy giờ Đến năm 1774, Quốc hội Anh ra sắc lệnh cấm tổ

chức, tham gia cá cược trên ngày chết của con người, từ đó vấn nạn này mới chấm

dứt

Ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ được xây dựng trên mô hình bảo

hiểm Anh Vào năm 1735, Công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở

Charleston, thủ phủ bang South Carolina Vào năm 1759, Hội nghị Giáo hội Trưởng

lão Philadelphia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn BHNT đầu tiên của Hoa Kỳ

Tập đoàn này hoạt động vì lợi ích của các mục sư và tín đồ Ngày 22/5/1761, tập

đoàn này đã ký kết được hợp đồng BHNT đầu tiên với công chúng Mỹ

Mặc dù vậy, mãi đến 80 năm sau (tức là sau năm 1840) dịch vụ BHNT Mỹ

mới thật sự cất cánh Chìa khóa dẫn đến thành công chính là nhờ các Công ty bảo

hiểm đã hạn chế được những sự chống đối từ các nhóm tôn giáo

Năm 1835, ở New York đã xảy ra một vụ hỏa hoạn đầy tai tiếng Vụ hỏa

hoạn này khiến người dân ở đây lưu tâm nhiều hơn đến nhu cầu phải có nguồn dự

trữ để bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng không thể lường trước Hai năm

sau, Massachusetts trở thành bang đầu tiên ở Mỹ sử dụng luật pháp buộc các Công

ty phải tự tích lũy nguồn dự trữ này Vụ cháy lớn ở Chicago vào năm 1871 càng

nhấn mạnh sâu sắc một thực tế: nếu hỏa hoạn bùng lên ở những thành phố đông

dân, mức độ thiệt hại sẽ vô cùng to lớn

Hình thức bảo hiểm trách nhiệm công cộng xuất hiện trong những năm 1880

và cùng với phát minh ra xe ô tô, hình thức bảo hiểm này đã được công chúng đón

nhận và ngày càng thể hiện được tầm quan trọng

Trang 10

Trong suốt quá trình công nghiệp hóa, dịch vụ bảo hiểm đã có rất nhiều bước

phát triển Năm 1897, chính phủ Anh thông qua “Đạo luật bồi thường cho người lao

động” (Workmen’s Compensation Act) Đạo luật này buộc các Công ty phải đóng

bảo hiểm tai nạn lao động cho nhân viên

Trong thế kỷ 19, người ta đã lập ra rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm bảo

hiểm nhân mạng và sức khỏe cho hội viên Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ

cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của họ Ngày nay

các hội kín này vẫn cứ tiếp tục bảo hiểm cho hội viên; điều này diễn ra tương tự ở

hầu hết các tổ chức của người lao động Có nhiều chủ sử dụng lao động còn lo luôn

một lúc nhiều hợp đồng BHNT và sức khỏe cho nhân viên Các hợp đồng này

không chỉ đơn thuần BHNT mà còn đảm bảo quyền lợi cho nhân viên khi họ bị

bệnh, bị tai nạn hay về hưu Trong các hợp đồng này thường nhân viên chỉ phải trả

một phần phí bảo hiểm

Mặc dù ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng sâu sắc bởi

Vương Quốc Anh, TTBH của nước này lại phát triển theo chiều hướng có phần

khác với Anh Khi Mỹ chuyển mình từ một thuộc địa xa bờ của Anh trở thành một

thế lực độc lập và từ một nước nông nghiệp thành nước công nghiệp phát triển,

ngành kinh doanh bảo hiểm của nước này cũng phát triển mạnh theo hướng từ một

vài Công ty ban đầu trở thành một ngành công nghiệp quy mô lớn

Tóm lại có thể nói ngành bảo hiểm Mỹ đã phát triển rất tinh vi, sản sinh ra

nhiều loại mạng lưới phục vụ và đa dạng hóa dịch vụ để phát triển hài hòa với một

quốc gia đang ngày càng phức tạp

Ngày nay, bảo hiểm đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã

hội Dù có đề phòng tai nạn tốt đến mức nào, con người cũng không thể loại trừ hết

tất cả những rủi ro ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh và cuộc sống của nhân

loại Chỉ có bảo hiểm mới là phương tiện hữu hiệu giúp cho cuộc sống con người

được ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục

Trang 11

khi chẳng may gặp những sự cố rủi ro, tai nạn bất ngờ,…Bảo hiểm ngày nay thực

sự trở thành một phạm trù kinh tế hiện đại và ngành kinh doanh bảo hiểm ngày càng

giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm

1.1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm

Theo các chuyên gia bảo hiểm, có rất nhiều định nghĩa bảo hiểm khác nhau

tuỳ theo giác độ phân tích và quan điểm của mỗi người, song “Một định nghĩa thích

hợp của bảo hiểm phải bao gồm sự xây dựng một quỹ, sự hoán chuyển rủi ro, và

thêm nữa là phải bao gồm sự kết hợp số nhiều các đối tượng để biến tổn thất cá thể

thành tổn thất cộng đồng, dự toán được Tổn thất dự toán này được phân bổ theo tỷ

lệ cho các đơn vị được kết hợp (cộng đồng) Định nghĩa này bao gồm cả hai yếu tố:

giảm thiểu rủi ro và phân tán tổn thất”

Về phương diện pháp lý, bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong đó

một bên (người bảo hiểm) đồng ý nhận một số tiền của bên kia (người được bảo

hiểm) đã được tính toán (gọi là phí bảo hiểm) về những tổn thất người ấy phải gánh

chịu do hậu quả của những sự cố đã xảy ra

Về phương diện nghiệp vụ, “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên

người được bảo hiểm đóng góp một số tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho mình hoặc

cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra sự cố sẽ được nhận một khoản tiền đền bù

từ phía nhà bảo hiểm Người này nhận toàn bộ trách nhiệm đối với các rủi ro và đền

bù thiệt hại theo quy luật thống kê ”

Về phía người kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm là một hệ thống trong một số

đông người đồng ý đóng góp một khoản tiền nhỏ (phí bảo hiểm) cho công ty bảo

hiểm hình thành một quỹ bảo hiểm, để đổi lấy sự an toàn và chia sẻ chi phí cho một

tổn thất mà có khả năng một cá nhân trong số họ phải gánh chịu đơn lẻ Nhiệm vụ

của nhà bảo hiểm là nhận diện rủi ro, phân tán tổn thất, giải quyết hậu quả, bù đắp

tổn thất và quản lý tốt quỹ bảo hiểm

Trang 12

Đứng trên giác độ kinh tế, bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế để

huy động sự đóng góp của các tổ chức, các cá nhân một số tiền nhất định dưới dạng

phí bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm, nhằm chi trả hay bù đắp cho các đối tượng

của người đóng góp khi có sự cố xảy ra, đảm bảo ổn định đời sống được thường

xuyên và liên tục

Tóm lại, bản chất sâu xa của bảo hiểm là sự phục vụ tích cực cho mục tiêu an

toàn của nền kinh tế - xã hội, biểu hiện các mối quan hệ kinh tế và xã hội phát sinh

trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, thông qua

việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm

1.1.2.2 Sự cần thiết của đầu tư vốn tại các doanh nghiệp bảo hiểm

Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, các DNBH muốn đi vào hoạt

động phải đáp ứng một số vốn tối thiểu do pháp luật quy định Số vốn này có thể do

nhà nước cấp phát hoặc do các cổ đông đóng góp dưới hình thức góp vốn cổ phần

Trong quá trình hoạt động, phí bảo hiểm do những người được bảo hiểm trả cũng

được bổ sung vào nguồn này Chi phí quản lý doanh nghiệp, các khoản bồi thường

cho người được bảo hiểm và cổ tức chia cho các cổ đông cũng được trích ra từ quỹ

này Nhằm duy trì quỹ cho những năm tiếp theo, một điều vô cùng cần thiết là quỹ

này phải tích lũy được càng nhiều càng tốt Để thực hiện được điều này các DNBH

đã tiến hành đầu tư

Đầu tư là hành động sử dụng những nguồn lực tài chính hiện có để biến các

lợi ích thành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai Như vậy,

mục tiêu của công tác đầu tư nói chung là đạt được một mức sinh lời kỳ vọng trong

tương lai và chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định

Mục tiêu của đầu tư quỹ bảo hiểm là đảm bảo tốt nhất sự an toàn và cân bằng

tài chính; hiệu quả hoạt động đầu tư vốn có vai trò to lớn không những đối với bản

thân doanh nghiệp, đối với nền kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội

Trang 13

Đối với các DNBH phi nhân thọ: Mục đích của thiết lập các quỹ dự phòng kỹ

thuật đối với DNBH không phải hoàn toàn nhằm vào việc kiếm lời, mà để đảm bảo

duy trì khả năng thanh toán thường xuyên Tuy nhiên, được xác định là một nguồn

vốn nhàn rỗi nên các quỹ dự phòng sẽ được DNBH thực hiện việc đầu tư vào các

lĩnh vực khác nhau để kiếm lời Thu nhập từ hoạt động đầu tư quỹ dự phòng sẽ giúp

DNBH tăng cường khả năng thanh toán, bảo vệ tốt nhất quyền lợi bảo hiểm Mặc

khác, cho phép DNBH bù đắp được các khoản chi phí bồi thường, chi phí quản lý,

bình ổn kết quả kinh doanh của mình Điều này tạo điều kiện cho các DNBH có cơ

hội để giảm phí bảo hiểm hoặc không tăng phí trong các chu kỳ sau Như vậy,

DNBH sẽ có điều kiện để tăng cường khả năng cạnh tranh của mình, tăng năng lực

ký kết hợp đồng bảo hiểm

Đối với các DNBH nhân thọ: Mục đích của thiết lập dự phòng kỹ thuật là

nhằm duy trì sự cân bằng nghiệp vụ dài hạn, tức là nhằm đảm bảo cho việc thanh

toán tiền bảo hiểm trong tương lai Do tính chất của hợp đồng BHNT hiện nay đa số

chỉ là một hợp đồng tiết kiệm, DNBH cam kết sẽ trả cho người được bảo hiểm các

khoản tiền với lãi suất đã dự kiến khi tính phí bảo hiểm (gọi là lãi suất kỹ thuật)

Nếu DNBH không đầu tư nguồn bảo hiểm thu được với kết quả bằng hoặc cao hơn

lãi suất kỹ thuật thì DNBH sẽ bị lỗ Điều này rất nguy hiểm cho DNBH, vì trên thực

tế sự phá sản DNBH ở nhiều nước cũng do nguyên nhân này Như vậy, DNBH theo

yêu cầu kỹ thuật, bắt buộc phải đầu tư các quỹ dự phòng kỹ thuật và hiệu quả đạt

được phải ít nhất ngang bằng với lãi suất mà DNBH đã cam kết thực hiện cho người

được bảo hiểm Nếu kết quả đầu tư tốt hơn sự mong đợi, DNBH sẽ có điều kiện để

đảm bảo thực hiện đầy đủ các cam kết, đồng thời có thể chia lại cho người được bảo

hiểm một phần kết quả phụ trội thông qua các khoản lãi chia trong hợp đồng bảo

hiểm Điều này sẽ làm tăng tính hấp dẫn cho các sản phẩm bảo hiểm của doanh

nghiệp

Trang 14

1.1.3 Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm

Bảo hiểm không chỉ được xem xét dưới góc độ của mối quan hệ kinh tế, xã

hội, pháp lý giữa những người được bảo hiểm và nhà bảo hiểm mà còn phải xem xét

dưới góc độ kỹ thuật Thật vậy, các sản phẩm bảo hiểm được xây dựng trên cơ sở

tính toán thực sự khoa học trong việc sử dụng các phương pháp của toán học Một

trong những cơ sở kỹ thuật quan trọng nhất của bảo hiểm là dựa vào quy luật số

đông và lý thuyết xác suất - thống kê

1.1.3.1 Quy luật số đông

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm và thống kê chính là cơ sở đảm

bảo nguyên tắc này

Vào thế kỷ 17, Pascal – nhà toán học người Pháp đã nghiên cứu các đại

lượng ngẫu nhiên và chứng minh rằng chúng bị chi phối bởi các định luật Ở thế kỷ

18, Bernouli – một nhà toán học khác tiếp tục nghiên cứu và phát biểu quy luật số

đông Quy luật này phát biểu như sau: “số lần thực hiện phép thử càng lớn, kết quả

thu được từ phép thử sẽ tiến dần về xác suất lý thuyết xảy ra biến cố đang xem xét”

Ví dụ minh họa bằng trò chơi con xúc sắc Người ta tung một con xúc xắc 20 lần,

100 lần, 1.000 lần và cuối cùng là 10.000 lần Mỗi lần tung ra, người ta chú ý đến

việc xuất hiện một mặt nhất định, chẳng hạn như mặt có 6 nút Kết quả được ghi

nhận như sau:

Số lần tung ra Số lần xuất hiện Tần số xuất hiện

100 12 0,120 1.000 175 0,175 10.000 1.653 0,165 Nếu không thực hiện thử nghiệm này, thoạt đầu chúng ta có thể nghĩ đơn

giản sự may rủi mà bề mặt có số 6 xuất hiện là 1/6 (tần suất xuất hiện là 0,167), đây

Trang 15

là xác suất lý thuyết Qua nhiều lần thử nghiệm, tần suất xuất hiện của mặt 6 sẽ dần

về xác suất lý thuyết Nói một cách khác, nếu chúng ta nghiên cứu trên một lượng

đủ lớn các hiện tượng ngẫu nhiên, chúng ta có thể tính toán được tần suất xảy ra

hiện tượng một cách tương đối chính xác, có nghĩa là nó đã trở thành hiện tượng

“tất nhiên”, có thể dự đoán được Quy luật số đông trở thành cơ sở kỹ thuật quan

trọng của bảo hiểm bởi vì nó chỉ ra rằng, sự bất khả tiên liệu sự cố cho mỗi trường

hợp riêng lẻ nay trở thành khả năng tiên liệu khi kết hợp số đông các trường hợp

Người bảo hiểm như vậy có thể đảm bảo cho một rủi ro hoàn toàn bấp bênh, bất trắc

đối với người được bảo hiểm bởi vì công ty bảo hiểm không đảm bảo đơn lẻ một rủi

ro cá biệt và trên tổng thể nhiều rủi ro đảm nhận, công ty bảo hiểm có thể biết được

mức độ chính xác có thể chấp nhận được tần suất xảy ra rủi ro đó

1.1.3.2 Phương pháp thống kê

Để vận dụng cơ sở kỹ thuật là quy luật số lớn vào thực tế, nhà bảo hiểm phải

cố gắng tập hợp số đông đủ lớn, đồng nhất để xác định tần suất xảy ra tổn thất Từ

đó, xác định được mức giá trung bình của mỗi tổn thất và mức phí bảo hiểm phải

thu của mỗi đối tượng Muốn vậy, nhà bảo hiểm phải triển khai một cách tối đa các

nghiệp vụ của mình, đa dạng hoá sản phẩm bảo hiểm, phát triển theo chiều rộng lẫn

chiều sâu,… nhằm đạt được số lượng đối tượng tương đồng nhiều nhất Trên cơ sở

đó mới dễ dàng dự đoán xác suất xảy ra rủi ro, tổn thất, làm cơ sở cho việc xác định

được mức phí trung bình và mức phí bảo hiểm phải thu của mỗi đối tượng

Trong quá trình hoạt động lâu dài, tổ chức bảo hiểm phải theo dõi thường

xuyên sự biến động của các số liệu thống kê được, nhằm điều chỉnh khi cần thiết

phí bảo hiểm phải thu cho phù hợp với thực tế diễn biến rủi ro tổn thất Vì số liệu

thống kê được trong quá khứ và các sự cố xảy ra trong tương lai có thể có sự chênh

lệch

Trang 16

1.1.4 Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm

Trong hệ thống kinh tế – xã hội nói chung, hoạt động bảo hiểm tồn tại dưới

hai dạng là bảo hiểm mang tính kinh doanh và bảo hiểm không mang tính kinh

doanh Bảo hiểm không mang tính kinh doanh góp phần thực hiện chính sách phúc

lợi xã hội của Nhà nước, đó là các hình thức Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế

Hoạt động bảo hiểm mang tính kinh doanh còn gọi là Bảo hiểm thương mại, là dịch

vụ tài chính đặc biệt, do các doanh nghiệp tổ chức kinh doanh Bên cạnh mục đích

kinh doanh là đảm bảo có lãi, bảo hiểm thương mại còn đảm bảo sự ổn định tài

chính cho nền kinh tế chống lại các nguy cơ rủi ro, huy động thêm nguồn lực trong

nước đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế Ở phạm vi đề tài này,

chúng ta chỉ đề cập đến bảo hiểm thương mại Có thể nói, bảo hiểm thương mại chủ

yếu được phân thành hai loại như sau:

1.1.4.1 Bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ (life insurance): là loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro

có tính thay đổi rõ rệt theo thời gian và đối tượng thường gắn liền với tuổi thọ con

người Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm) Kỹ

thuật hạch toán bảo hiểm của loại này dựa trên kỹ thuật dồn tích, bao gồm:

+ Bảo hiểm trọn đời;

+ Bảo hiểm sinh kỳ;

+ Bảo hiểm tử kỳ;

+ Bảo hiểm hỗn hợp;

+ Bảo hiểm trả tiền định kỳ; và

+ Các nghiệp vụ BHNT khác do Chính phủ quy định

1.1.4.2 Bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ (non-life insurance): là loại bảo hiểm đảm bảo cho

các rủi ro có tính ổn định (tương đối) theo thời gian và đối tượng thường độc lập với

Trang 17

tuổi thọ con người Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm) Kỹ

thuật hạch toán bảo hiểm của loại này dựa trên kỹ thuật phân bổ, bao gồm:

+ Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;

+ Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

+ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường

sắt và đường hàng không;

+ Bảo hiểm hàng không;

+ Bảo hiểm xe cơ giới;

+ Bảo hiểm cháy, nổ;

+ Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;

+ Bảo hiểm trách nhiệm chung;

+ Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;

+ Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;

+ Bảo hiểm nông nghiệp; và

+ Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do pháp luật quy định

1.1.5 Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội

Bảo hiểm có vai trò rất quan trọng có thể được xét ở hai khía cạnh: kinh tế -

xã hội và tài chính

ƒ Khía cạnh kinh tế - xã hội:

Rủi ro, tổn thất phát sinh làm thiệt hại các đối tượng: của cải vật chất do con

người tạo ra và chính cả bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của

dân cư, ngưng trệ hoạt động sản xuất của nền kinh tế Nói chung, tổn thất phát sinh

làm gián đoạn và giảm hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội Quỹ dự trữ bảo

hiểm được tạo lập trước một cách có ý thức, khắc phục hậu quả nói trên bằng cách

Trang 18

bù đắp các tổn thất phát sinh nhằm tái lập đảm bảo tính thường xuyên, liên tục của

quá trình sản xuất Như vậy, trên phạm vi rộng toàn bộ nền kinh tế-xã hội, bảo hiểm

đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu

dài của mọi chủ thể dân cư và kinh tế

Với vai trò đó, bảo hiểm khi thâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời

sống đã phát huy tác dụng vốn có của mình: thúc đẩy ý thức đề phòng hạn chế tổn

thất cho mọi thành viên trong xã hội Thật vậy, trong trường hợp rủi ro, Công ty bảo

hiểm sẽ thay bạn gánh vác hậu quả khiến bạn yên tâm hơn Còn công ty bảo hiểm

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên họ rất quan tâm đến việc kiểm soát rủi ro,

nhằm làm chúng ít xảy ra hơn và mức độ thiệt hại cũng ít hơn

ƒ Khía cạnh tài chính:

Sản phẩm bảo hiểm là một loại hình dịch vụ đặt biệt: một lời cam kết đảm

bảo cho sự an toàn, mặt khác sự tồn tại và phát triển của các hoạt động bảo hiểm

còn đáp ứng nhu cầu vốn không ngừng tăng lên của quá trình tái sản xuất mở rộng,

đặt biệt trong nền kinh tế thị trường với việc thu phí theo nguyên tắc ứng trước, các

tổ chức hoạt động bảo hiểm chiếm giữ một quỹ tiền tệ rất lớn thể hiện cam kết của

họ đối với khách hàng nhưng tạm thời nhàn rỗi Do vậy, các tổ chức hoạt động bảo

hiểm đã trở thành những nhà đầu tư lớn, quan trọng cho các hoạt động khác nhau

của nền kinh tế quốc dân Thị trường dịch vụ bảo hiểm là một kênh huy động vốn

hết sức quan trọng trong nền kinh tế Nói chung, tại những nước có TTBH phát

triển, các công ty bảo hiểm là các chủ thể tích cực tham gia vào thị trường tài chính

Do đó, bảo hiểm còn có vai trò là một trung gian tài chính và phát huy được tác

dụng của mình là cung cấp vốn cho nền kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển, tạo

công ăn việc làm cho người dân

1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH

NGHIỆP BẢO HIỂM

1.2.1 Tổng quan về quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 19

1.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

Hoạt động đầu tư của các DNBH diễn ra khá phong phú Theo Luật kinh

doanh bảo hiểm Việt Nam, các DNBH có thể sử dụng các nguồn như: vốn điều lệ,

quỹ dự trữ bắt buộc; quỹ dự trữ tự nguyện; các khoản lãi của những năm trước chưa

sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại doanh

nghiệp và nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để đầu tư

Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: đó là tổng dự phòng

nghiệp vụ bảo hiểm trừ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm dùng để bồi

thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo

hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ Pháp luật hiện hành của

Việt Nam quy định như sau:

ƒ Khoản tiền dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với

doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ không thấp hơn 25% tổng dự

phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt

Nam

ƒ Khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với doanh

nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ

bảo hiểm và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam

1.2.1.2 Nguyên tắc đầu tư vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm

Các nguyên tắc cơ bản mà pháp luật ở nhiều nước đặt ra đối với hoạt động

đầu tư của các DNBH là an toàn, sinh lợi và đảm bảo tính thanh khoản

ƒ Nguyên tắc an toàn: nguyên tắc này yêu cầu DNBH phải đầu tư vốn nhàn rỗi

một cách chắc chắn để luôn thực hiện được cam kết với người được bảo hiểm khi

xảy ra các sự kiện bảo hiểm

ƒ Nguyên tắc sinh lợi: tức là hoạt động đầu tư của các DNBH phải mang lại lợi

nhuận Đây cũng là yêu cầu tất yếu của hoạt động đầu tư, bởi vì suy cho cùng mọi

Trang 20

sự đầu tư vốn cũng nhằm tối đa hóa lợi nhuận Với mức phí thu được của người

tham gia bảo hiểm, DNBH đã nắm giữ được một nguồn tài chính dồi dào Do còn

phải thực hiện các cam kết chia lãi cho người tham gia bảo hiểm, DNBH phải thực

hiện các hoạt động đầu tư trên nhiều lĩnh vực nhằm tối đa hóa lợi nhuận để tăng khả

năng đền bù, giảm phí, làm cho dịch vụ bảo hiểm ngày càng hấp dẫn hơn Tuy

nhiên, theo lý thuyết đầu tư thì việc thực hiện nguyên tắc này lại mâu thuẫn với

nguyên tắc an toàn Vấn đề đặt ra cho DNBH là phải đáp ứng được hai nguyên tắc

mâu thuẫn với nhau này một cách hài hòa

ƒ Nguyên tắc thanh khoản: đầu tư trong bảo hiểm yêu cầu đáp ứng nhu cầu

thanh toán thường xuyên nên các loại hình đầu tư phải có tính thanh khoản cao

Do đó, nhiệm vụ của các nhà quản lý đầu tư là phải biết kết hợp hài hòa giữa

ba nguyên tắc cơ bản trên, lựa chọn đối tác đầu tư nào để phát huy hiệu quả cao

nhất mà vẫn đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản này

1.2.2 Danh mục đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm

Trong quá trình xây dựng danh mục đầu tư (DMĐT), bất kỳ DNBH nào cũng

phải quyết định xem cần đưa những loại tài sản nào vào DMĐT của doanh nghiệp

nhằm đạt được hai mục tiêu: (1) duy trì khả năng thanh toán; và (2) duy trì khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp Ở mức độ tối thiểu nhất, hai mục tiêu này bao gồm

việc đáp ứng trách nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm, duy trì khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp để tăng thị phần, và đóng góp vào sự tăng trưởng của thu

nhập và thặng dư doanh nghiệp Để đạt được các mục tiêu đó, DNBH phải tạo ra

được một DMĐT với các đặt tính của dòng tiền phù hợp với các trách nhiệm bảo

hiểm mà công ty phải chi trả trong tương lai và phù hợp với chiến lược quản lý rủi

ro, đặt biệt là rủi ro mất cân đối giữa tài sản và trách nhiệm của doanh nghiệp

Xét ở góc độ tổng quát nhất, có hai loại rủi ro gắn liền với các tài sản đầu tư

Thứ nhất là rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường Đây là loại rủi ro có ảnh hưởng tới

hầu hết các tài sản đầu tư, mặc dù mỗi loại tài sản chịu ảnh hưởng ở mức độ cao

Trang 21

thấp khác nhau Ví dụ về loại rủi ro này là rủi ro về chính trị, lãi suất hay lạm phát

Thứ hai là rủi ro đặt thù riêng có của từng tài sản hay của một nhóm nhỏ các tài sản

đầu tư Thực tiễn cũng như lý thuyết đầu tư hiện đại đã chứng minh rằng, bằng cách

kết hợp nhiều loại tài sản trong một DMĐT, hay nói một cách khác, đa dạng hóa

DMĐT có thể loại trừ hoặc giảm thiểu các rủi ro đặt thù riêng có của từng loại tài

sản Vì lý do này mà các DNBH luôn luôn mong muốn và tìm cách đa dạng hóa

DMĐT của mình để đảm bảo an toàn trong hoạt động đầu tư

Để đảm bảo các DNBH thực hiện tốt nhất các nghĩa vụ với người được bảo

hiểm, pháp luật mỗi nước đều có quy định giới hạn DMĐT nhưng nhìn chung

DMĐT của một DNBH thường bao gồm các loại tài sản như sau:

ƒ Trái phiếu (bao gồm trái phiếu chính phủ và công ty):

Trái phiếu được coi là một công cụ đầu tư dài hạn tạo ra nguồn thu nhập ổn

định cho DNBH thông qua việc trả tiền lãi định kỳ (thường là 6 tháng hoặc hàng

năm) và trả số tiền gốc theo mệnh giá vào lúc đáo hạn Đầu tư vào trái phiếu, nhất là

trái phiếu chính phủ có mức độ rủi ro thấp và tạo ra độ chắc chắn cao hơn về tỷ suất

lợi nhuận Những công cụ đầu tư đầu tư tạo ra nguồn thu nhập ổn định giống như

trái phiếu với thời hạn và dòng tiền phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp BHNT

trong việc đạt được mức lợi nhuận giả định được xây dựng trong công thức tính phí

bảo hiểm và đáp ứng được mục tiêu quản lý rủi ro mất cân đối giữa tài sản và trách

nhiệm của doanh nghiệp Ở TTBH phát triển, thông thường trái phiếu công ty là

loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất trong DMĐT của một công ty BHNT

(khoảng trên 40%) Trái phiếu chính phủ được coi là không có rủi ro về tín dụng, vì

vậy mức lãi suất thấp hơn trái phiếu công ty và cũng ít hấp dẫn hơn so với trái phiếu

công ty Trái phiếu chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong DMĐT của

một DNBH

ƒ Cổ phiếu

Trang 22

Cổ phiếu của các công ty là loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong

DMĐT của một công ty bảo hiểm ở các TTBH phát triển Những đặc tính của dòng

tiền tạo ra từ việc đầu tư vào cổ phiếu phổ thông có mức biến động cao hơn nhiều

và do vậy nhiều rủi ro hơn so với các đặt tính của dòng tiền tạo ra từ việc đầu tư vào

trái phiếu Đặt tính của dòng tiền tạo ra từ cổ phiếu phổ thông được quyết định bởi

việc chi trả cổ tức thường kỳ (không mang tính cam kết) và bởi giá trị thị trường

của cổ phiếu Khác với trái phiếu, cổ phiếu phổ thông không có thời gian đáo hạn

Do các đặt tính nêu trên, phần lớn nguồn vốn đầu tư vào cổ phiếu phổ thông của các

doanh nghiệp BHNT có nguồn gốc là số phí bảo hiểm thu được từ các hợp đồng

BHNT gắn với đầu tư (investment-linked products) Đây là loại sản phẩm thế hệ

mới, rất phổ biến và hấp dẫn người tham gia bảo hiểm ở các TTBH phát triển Đối

với loại sản phẩm này, rủi ro đầu tư được chuyển từ công ty BHNT sang người

tham gia bảo hiểm hay nói cách khác, người tham gia bảo hiểm có quyền quyết định

số phí bảo hiểm họ đóng sẽ được đầu tư vào lĩnh vực nào

Cổ phiếu ưu đãi mang tính chất của cả cổ phiếu phổ thông và trái phiếu, thể hiện

việc người đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi được chi trả cổ tức theo một mức ấn định

trước và cổ tức ưu đãi phải được chi trả trước khi cổ tức phổ thông chi trả Tuy

nhiên, cũng giống như cổ tức phổ thông, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không mang

tính cam kết và chỉ được chi trả khi công bố

Ngoài ra, đầu tư vào cổ phiếu còn gặp một số bất lợi khác của đầu tư chứng khoán

là lạm phát, lãi suất, rủi ro về kinh tế vĩ mô, rủi ro về xã hội, chính trị

ƒ Cho vay có thế chấp

Ngoài việc đầu tư vào các loại trái phiếu và cổ phiếu, một công cụ phổ biến

mà các DNBH thường sử dụng là cho vay có thế chấp mà tài sản thế chấp được hình

thành từ vốn vay Cũng giống như các công cụ khác (trái phiếu), cho vay có thế

chấp là công cụ đầu tư tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho DNBH thông qua việc

nguời vay thanh toán tiền lãi và một phần tiền gốc theo định kỳ cho doanh nghiệp,

Trang 23

mặc dù cho vay có thế chấp có độ rủi ro cao hơn đầu tư vào trái phiếu Xét về mặt

lịch sử, các khoản cho vay thương mại dài hạn có thế chấp từng là phương thức lý

tưởng được sử dụng để cân đối các trách nhiệm dài hạn mà DNBH đã cam kết với

người tham gia bảo hiểm

ƒ Cho vay theo hợp đồng

Cho vay theo hợp đồng bảo hiểm là hình thức cho vay đặc thù của các

DNBH vì hai lý do Thứ nhất, các khoản vay theo hợp đồng bảo hiểm không phải là

kết quả của một quyết định về quản lý đầu tư mà đó là kết quả của việc thực hiện

các quyền lựa chọn của chủ hợp đồng được quy định trong hợp đồng bảo hiểm Thứ

hai, khoản tiền cho vay không bao giờ vượt quá giá trị giải ước của hợp đồng bảo

hiểm và DNBH luôn luôn có thể khấu trừ khoản tiền cho vay không được hoàn trả

từ giá trị giải ước hoặc số tiền bảo hiểm nên độ an toàn của hầu hết số tiền cho vay

theo hợp đồng bảo hiểm là tuyệt đối Các đặc tính của dòng tiền gắn liền với các

khoản cho vay theo hợp đồng bảo hiểm được quyết định bởi sở thích của chủ hợp

đồng, do vậy nhiều khi khó dự đoán trước Nhìn chung, để đảm bảo an toàn cho vay

theo hợp đồng chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong DMĐT của doanh nghiệp

BHNT (dưới 10% tổng giá trị tài sản đầu tư)

ƒ Đầu tư kinh doanh bất động sản

Đầu tư trực tiếp hoặc nắm quyền sở hữu bất động sản là hình thức đầu tư

tương tự như đầu tư vào cổ phiếu phổ thông Đầu tư vào bất động sản có thể rất hấp

dẫn đối với DNBH do tạo ra mức lợi nhuận cao hơn so với đầu tư vào cổ phiếu

trong khi vẫn tạo ra cơ hội để tăng giá trị vốn đầu tư thông qua việc tăng giá của bất

động sản trên thị trường Các đặc tính của dòng tiền tạo ra từ việc đầu tư vào bất

động sản được quyết định bởi công suất cho thuê, tiền cho thuê và chi phí hoạt động

cho thuê bất động sản Mặt khác, các đặc tính khó dự đoán trước của dòng tiền tạo

ra từ việc đầu tư và bất động sản làm cho công cụ đầu tư này không hoàn toàn phù

hợp với nhu cầu của các DNBH Thêm vào đó, đầu tư vào bất động sản thì tính

Trang 24

thanh khoản không cao, do việc bán các bất động sản không thể diễn ra nhanh

chóng được, vì các thủ tục giao dịch và các nhu cầu của người mua khó phù hợp với

những đặc tính bất động sản hiện có của người bán.Tuy nhiên, các DNBH vẫn duy

trì một tỷ lệ bất động sản nhất định trong DMĐT của mình vì mục tiêu đa dạng hóa

DMĐT nhằm giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm một mức lợi nhuận cao hơn

ƒ Tiền gửi vào các tổ chức tín dụng

Hình thức đầu tư này được sử dụng do có nhiều ưu điểm Việc gửi tiền lấy

lãi được trải rộng trên nhiều ngân hàng, đúng nguyên tắc phân tán rủi ro và đáp ứng

được yêu cầu thanh khoản cao Ngân hàng được chọn để đầu tư là ngân hàng thỏa

mãn cùng lúc hai tiêu thức: sự hoạt động và lãi suất Trong đó, tiêu thức về tình

hình hoạt động của ngân hàng là tiêu thức được ưu tiên hơn cả, vì ngân hàng có

hoạt động tốt thì mới đảm bảo sự an toàn số tiền gửi của các doanh nghiệp bảo hiểm

và đảm bảo được tính thanh khoản khi cần, còn tiêu thức thứ hai chỉ là tiêu thức phụ

bổ sung cho sự lựa chọn khi các ngân hàng có sự hoạt động như nhau

Tuy nhiên, khi đầu tư tiền gửi vào các ngân hàng các doanh nghiệp bảo hiểm

phải có nhiều kênh thông tin chính thức để tìm hiểu và nắm được tình hình hoạt

động của ngân hàng Mặt khác các doanh nghiệp bảo hiểm rất mong có sự kiểm tra

kiểm soát thường xuyên của các cơ quan quản lý Nhà nước về tình hình hoạt động

của ngân hàng, để đảm bảo cho việc đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được an

toàn, nhất là kiểm soát tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần

1.2.3 Hoạt động đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở một số nước

1.2.3.1 Các quy định về pháp lý

Những quy định pháp lý về đầu tư tài chính ở các nước không hoàn toàn

giống nhau Nhưng xét về tổng thể, các quy định này có những đặc điểm chung như

sau:

ƒ Bắt buộc các công ty bảo hiểm phải thiết lập đầy đủ các quỹ dự phòng kỹ

thuật để đảm bảo tôn trọng cam kết của các công ty bảo hiểm đối với người được

Trang 25

bảo hiểm Quy định này được coi như một chỉ tiêu để đánh giá khả năng thanh toán

của các công ty bảo hiểm

ƒ Bắt buộc các DNBH phải thể hiện rõ các quỹ dự phòng kỹ thuật trên báo cáo

tài chính là một khoản mục riêng bên Nguồn vốn của bảng Cân đối kế toán Nguồn

vốn này phải được tương thích bằng một danh mục tài sản đầu tư bên Tài sản có của

Bảng Cân đối kế toán

ƒ Thể chế hóa các nguyên tắc đầu tư tài chính các quỹ dự phòng kỹ thuật là: an

toàn, sinh lợi, tính thanh khoản và đa dạng hóa DMĐT

ƒ Quy định tỷ lệ tối đa và tối thiểu cho từng loại tài sản đầu tư đối với việc

phân bổ các quỹ dự phòng của các công ty bảo hiểm

Tùy vào đặc điểm kinh tế, tài chính và xã hội, mỗi nước có quy định về

nguyên tắc phân bổ tài sản đầu tư theo các tỉ lệ khác nhau Chúng ta có thể tham

khảo quy định đầu tư của một số nước trong khu vực Châu Á và Châu Âu như sau:

a) Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở một số nước Châu Á

Tình hình đầu tư của các DNBH nhân thọ khu vực Châu Á nhìn chung còn

cứng nhắc, thận trọng Hầu hết các khoản đầu tư của các công ty này là vào tiền gửi

và các loại chứng khoán với lãi suất cố định Tính trung bình tỷ lệ đầu tư vào cổ

phiếu chỉ chiếm khoảng 10 đến 15% tổng nguồn vốn đầu tư Chỉ trừ có thị trường

Nhật Bản với tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu ở mức khá cao, khoảng 30% tổng nguồn vốn

đầu tư Ở Trung Quốc, các công ty bảo hiểm buộc phải áp dụng cơ cấu đầu tư thận

trọng chủ yếu là do những quy định chặt chẽ của chính phủ hạn chế hoạt động đầu

tư chứ không phải xuất phát từ chiến lược thận trọng của các công ty này Tuy

nhiên, những hạn chế này cũng đang dần dần được gỡ bỏ Các công ty bảo hiểm

Trung Quốc nay đã có thể đầu tư trực tiếp vào các cổ phiếu hay đầu tư ra nước

ngoài Ở Đài Loan, các công ty bảo hiểm sẽ được phép đầu tư tới 50% tổng nguồn

vốn đầu tư của mình ra nước ngoài thay vì 35% như hiện nay

Trang 26

Bảng 1.1: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Trung Quốc

Loại hình đầu tư Tỷ lệ quỹ

đầu tư Các giới hạn (nếu có)

- Trái phiếu và các công cụ nợ

- Trái phiếu chuyển đổi

- Cho vay có bảo lãnh ngân hàng

- Cho vay có bảo lãnh các Công ty

<4% giá trị công ty bảo lãnh

Cổ phiếu: - Đầu tư vào quỹ tương hỗ

- Cổ phiếu niêm yết

15%

5%

<10% tổng giá trị quỹ tương hỗ

<10% giá trị niêm yết 1 công ty

Cho vay chủ hợp đồng Theo giá trị giải ước

Đầu tư ra nước ngoài 80% của vốn ngoại tệ

Cho vay/mượn ngoại tệ trên thị

trường liên ngân hàng 50% trên vốn ngoại tệ

Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà nội tháng 8 năm 2005

Trang 27

Bảng 1.2: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Indonesia

Loại hình đầu tư Tỷ lệ quỹ

đầu tư Các giới hạn (nếu có)

Tiền gửi ngân hàng 100% 20% cho mỗi ngân hàng

Trái phiếu Chính phủ và các chứng

khoán được bảolãnh

100%

Cổ phiếu:

- Đầu tư vào quỹ tương hỗ

- Cổ phiếu niêm yết

20%

100% <20% giá trị niêm yết 1 công ty

Cho vay chủ hợp đồng 100% Tối đa 80% giá trị giải ước

Trái phiếu Công ty và các chứng

<20 % giá trị niêm yết của một

công ty Cho vay thế chấp 20% <75% tài sản thế chấp

Đầu tư trực tiếp 10%

Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà nội tháng 8 năm 2005

Trang 28

Bảng 1.3: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Hồng Kông

Loại hình đầu tư Tỷ lệ quỹ đầu

tư Các giới hạn (nếu có)

Các chứng khoán của Chính phủ 100% Không giới hạn

Trái phiếu Công ty và cho vay trực

Cho vay chủ hợp đồng Theo giá trị giải ước

Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà nội tháng 8 năm 2005

Nhìn chung, các quy định pháp lý về đầu tư cho các công ty BHNT ở Châu

Á đã quy định rõ ràng và chi tiết các khoản mục đầu tư nhằm giảm thiểu sự quản lý

chồng chéo Việc mở rộng lĩnh vực đầu tư làm giảm thiểu các rủi ro trong đầu tư

nhằm tạo điều kiện sử dụng, thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước

b) Quy định đầu tư cho các công ty bảo hiểm ở một số nước Châu Âu

ƒ Quy định đầu tư cho các công ty bảo hiểm ở Pháp:

Quy định DMĐT gồm 5 loại: Trái phiếu, Cổ phiếu, Bất động sản, Cho vay và Tiền

gửi Trong đó, mỗi loại tài sản đầu tư được quy định như sau:

+ Không quá 65% quỹ dự phòng đối với cổ phiếu

+ Không quá 40% quỹ dự phòng đối với bất động sản

+ Không quá 10% quỹ dự phòng đối với cho vay

+ Đầu tư vào trái phiếu không hạn chế

+ Không quy định mức đầu tư vào tiền gửi ngân hàng

Trang 29

Quy định về phân tán rủi ro trong đầu tư như sau:

+ Không được đầu tư quá 5% quỹ dự phòng vào cổ phiếu được niêm yết

hoặc trái phiếu của một công ty phát hành

+ Không được đầu tư quá 0,5% quỹ dự phòng vào cổ phiếu không được niêm

yết

+ Không được đầu tư quá 10% quỹ dự phòng vào một bất động sản

ƒ Quy định đầu tư cho các công ty bảo hiểm ở Cộng hòa Liên bang Đức:

DNBH được phép đầu tư vào các danh mục sau: chứng khoán, cho vay, tiền

gửi tại các tổ chức tín dụng, bất động sản, các khoản trả trước hoặc cho vay theo

đơn bảo hiểm của DNBH đối với chủ hợp đồng BHNT, đầu tư khác

Quy định về phân bổ vào các DMĐT như sau:

+ Đầu tư vào cổ phiếu và các quỹ chứng khoán đặc biệt không vượt quá 30%

quỹ dự phòng

+ Đầu tư vào bất động sản không vượt quá 25% quỹ dự phòng

+ Đầu tư vào trái phiếu vô danh, trái phiếu thế chấp, trái phiếu địa phương

không vượt quá 2.5% quỹ dự phòng Nếu đầu tư kết hợp trái phiếu và cổ phiếu, tỷ lệ

các khoản đầu tư không vượt quá 10% giá trị các quỹ dự phòng

1.2.3.2 Cơ cấu đầu tư và sự thay đổi cấu trúc đầu tư trên thị trường BHNT

Chúng ta có thể thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm ở một số nước

nước thể hiện qua bảng sau:

Trang 30

Bảng 1.4: Cơ cấu đầu tư tài chính của các công ty BHNT ở một số nước

(Đơn vị: %)

Danh mục Năm Anh Pháp Nhật

2001 30,9 68,6 41,8

2002 38,2 64,7 38,1 Trái phiếu

2003 8,9 9,3 5,9

2001 3,2 1,4 9,1

2002 1,5 2,1 8,4 Tiền gửi ngân hàng

2003 2,7 1,7 7,7

2001 8 2,4 12,2

2002 6,5 2,7 16,7 Đầu tư khác

Nguồn: http://swissre.com/sigma6_2004

Như vậy, có thể thấy những lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các công ty bảo

hiểm ở các nước kể trên chủ yếu được đầu tư vào các tài sản chính là cổ phiếu và

trái phiếu

Trang 31

Qua các năm quan sát đều cho thấy trong cấu trúc đầu tư của các công ty bảo

hiểm trên thì giá trị các khoản vốn đầu tư vào chứng khoán chiếm trên 80% Trong

lĩnh vực chứng khoán thì trái phiếu là loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tổng số vốn đầu tư của hai nước Pháp và Nhật, còn các công ty bảo hiểm của

Anh thì ngược lại, đầu tư vào cổ phiếu nhiều hơn Lượng vốn đầu tư vào tiền gửi

tiết kiệm tại ngân hàng và các khoản đầu tư khác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, từ

khoảng 1,5%-3,6% giá trị vốn đầu tư của các công ty bảo hiểm ở các công ty bảo

hiểm Anh và Pháp Đối với Nhật, các công ty BHNT ở đây dành khoảng 30% trong

tỷ trọng đầu tư để đầu tư vào các lĩnh vực khác như bất động sản, tiền gửi ngân

hàng và các khoản đầu tư khác với cơ cấu mỗi loại chiếm từ 6,5% đến 15% Tỷ

trọng vốn đầu tư như vậy thể hiện sự phân bố khá đồng đều hơn ở các công ty

BHNT của Nhật

Quan sát tổng thể về cơ cấu đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở các nước

phát triển ta nhận thấy các xu hướng đầu tư chính là:

+ Thứ nhất, vốn đầu tư bất động sản và tiền gửi vào các tổ chức tín dụng có

xu hướng giảm mạnh, trong cấu trúc đầu tư của các công ty bảo hiểm có thể nhận

thấy danh mục này ngày càng chiếm một tỷ trọng nhỏ

+ Thứ hai, vốn đầu tư cổ phiếu và trái phiếu công ty đang có xu hướng tăng

lên ở tất cả các nước Trong mọi giai đoạn, vốn đầu tư vào trái phiếu chiếm tỷ trọng

cao nhất trong cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm ở đa số các nước

Kết luận chương 1:

Để có thể đáp ứng được nhu cầu đảm bảo an toàn về tài chính khi phát sinh

các biến cố trong sản xuất và đời sống, các chủ thể, cá nhân đã tìm đến nhà bảo

hiểm Vì thế các DNBH cần phải sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn vốn thu

được Chương 1 đã giới thiệu về nguyên tắc lý luận, các qui định pháp lý, kinh

nghiệm đầu tư ở một số nước nhằm làm cơ sở tham chiếu so sánh để xác định quan

điểm đầu tư cho các DNBH tại Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG

VỐN CỦA CÁC DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

2.1.1 Khái quát sự ra đời vào phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

Lịch sự ra đời và phát triển bảo hiểm ở Việt Nam có thể khái quát qua 3 giai

đoạn chính:

ƒ Giai đoạn trước 30/04/1975

- Tình hình hoạt động bảo hiểm ở miền Nam: Ở miền Nam hoạt động kinh doanh

bảo hiểm khá phát triển với sự có mặt của trên 52 công ty bảo hiểm trong nước và

nước ngoài Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn, trung tâm kinh tế

của miền Nam lúc bấy giờ Các công ty bảo hiểm có Hiệp hội nghề nghiệp của mình

nhằm thực hiện các chức năng vốn có như thông tin tư vấn, đào tạo, môi trường hợp

tác Các công ty hoạt động theo Luật bảo hiểm năm 1965

- Tình hình hoạt động bảo hiểm ở miền Bắc: Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam

(Bảo Việt) ra đời theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/12/1964, chính

thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 Bảo Việt là công ty bảo hiểm nhà nước duy

nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam Do hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động

của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển Với 2 chi nhánh ở Hà Nội và Hải Phòng,

Bảo Việt thực hiện chủ yếu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nhưng thường

tái bảo hiểm với tỷ lệ cao cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan

ƒ Giai đoạn sau 30/04/1975 đến trước 18/12/1993

Các công ty bảo hiểm được quốc hữu hóa và sáp nhập chung vào Tổng Công

ty Bảo hiểm Việt Nam Các công ty bảo hiểm cũ ở miền Nam sát nhập thành lập

Công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam (BAVINA) Sau 1976, BAVINA

chuyển thành chi nhánh công ty bảo hiểm Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

Trong giai đoạn này chỉ có một công ty bảo hiểm duy nhất của Nhà nước là Bảo

Việt, trực thuộc Bộ Tài chính

ƒ Giai đoạn sau ngày 18/12/1993 đến nay

Nghị Định 100/CP của Chính phủ ra đời Bộ Tài chính thành lập thêm một số

công ty bảo hiểm thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau Tình trạng độc quyền

trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đã bị xoá bỏ Cũng từ thời gian này, hoạt động

kinh doanh bảo hiểm Việt Nam bắt đầu sôi động do có sự cạnh tranh lẫn nhau giữa

các công ty Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam thật sự hoạt động mang tính

chuyên nghiệp từ khi Quốc Hội thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm và có hiệu lực

thi hành từ 01/04/2001 TTBH Việt Nam đã có sự tham gia hoạt động của các công

ty bảo hiểm Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và đặc biệt có cả DNBH của ASEAN

Sự mở cửa này đã tạo nên sức ép, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải vươn lên,

nâng cao sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển

2.1.2 Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay

Nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng ở tốc độ cao, mức tăng trưởng mà

trước đây người ta nghĩ rằng Trung Quốc và Ấn Ðộ mới có thể đạt được Năm

ngoái, GDP của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 8,4%, tăng gấp rưỡi so với năm

2001 Dân số của Việt Nam hiện là 82 triệu người, trong đó, số dân ở độ tuổi dưới

30 chiếm tới 60% Chính thói quen tiết kiệm của người dân đã góp phần tạo nên sức

hấp dẫn của TTBH Từ năm 1993 đến nay, sau gần 14 năm mở cửa, các doanh

nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã học tập được nhiều kinh nghiệm và tự nâng cao năng

lực để cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang họat

động tại Việt Nam Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang từng bước chuẩn bị

nâng cao năng lực của mình Lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam trong

thời gian qua được đánh giá là tương đối mạnh Số lượng doanh nghiệp chính thức

kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam hiện nay 32 DNBH và môi giới bảo hiểm tiến

hành hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho thị trường Đối với

Trang 34

lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ có 16 doanh nghiệp, trong đó có 2 DNBH Nhà

nước, 8 doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm; 3 DNBH 100% vốn nước ngoài; 3 doanh

nghiệp liên doanh bảo hiểm BHNT có 8 doanh nghiệp, trong đó có 1 DNBH nhà

nước, 1 doanh nghiệp liên doanh và 6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Trong

lĩnh vực môi giới bảo hiểm có 7 doanh nghiệp, trong đó có 4 doanh nghiệp cổ phần

và 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Loại hình doanh nghiệp tái bảo hiểm có 1

doanh nghiệp, đó là Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) Ngoài ra còn

có 30 công ty nước ngoài khác đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam

Bảng 2.1: Tổng hợp các doanh nghiệp hoạt động bảo hiểm trên thị trường VN

đến 31/12/2005

Loại hình doanh

nghiệp

Nhà nước Cổ phần

Liên doanh

100% vốn nước ngoài

Tổng cộng

Tái bảo hiểm 1 1 Môi giới bảo hiểm 4 3 7

Nguồn: Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Trang 35

Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005

Năm thành lập

Hình thức

sở hữu

Vốn điều lệ

Lĩnh vực hoạt động

1 Tổng công ty bảo hiểm VN

(Bảo Việt) 1964 Nhà nước

3.000 tỷ VND

Nhân thọ, phi nhân thọ

2 Công ty môi giới bảo hiểm Aon 1993 nước ngoài 100% vốn 300.000 USD bảo hiểm Môi giới

3 Công ty tái bảo hiểm quốc gia

VN (Vinare) 1994

Cổ phần/2004

343 tỷ VND

Tái bảo hiểm

4 Công ty bảo hiểm Thành phố

Hồ Chí Minh (Bảo Minh) 1995 Cổ phần

434 tỷ VND

Phi nhân thọ

5 Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) 1995 phần/2004 Cổ 140 tỷ VND Phi nhân thọ

6 Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) 1995 Cổ phần VND 70 tỷ Phi nhân thọ

7 Công ty bảo hiểm dầu khí (PV

Insurance) 1996 Nhà nước

20 tỷ VND

Phi nhân thọ

8 Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế - VN (VIA) 1996 Liên doanh 6 triệu USD Phi nhân thọ

9 Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC) 1997 Liên doanh 4 triệu USD Phi nhân thọ

10 Công ty cổ phần bảo hiểm bưu

điện (PTI) 1998 Cổ phần

70 triệu USD

Phi nhân thọ

11 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Manulife VN 1999 nước ngoài 100% vốn 10 triệu USD Nhân thọ

12 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh – CMG 1999 Liên doanh 25 triệu USD Nhân thọ

13 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential 1999 nước ngoài 100% vốn 61 triệu USD Nhân thọ

14 Công ty TNHH bảo hiểm quốc

tế Mỹ (AIA) VN 2000

100% vốn nước ngoài

25 triệu USD Nhân thọ

15 Công ty TNHH bảo hiểm tổng

hợp Groupama VN 2001

100% vốn nước ngoài

5 triệu USD

Phi nhân thọ

16 Công ty cổ phần môi giới bảo

hiểm Việt Quốc 2001 Cổ phần

6 tỷ VND

Môi giới bảo hiểm

Trang 36

Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005

(tiếp theo)

17 Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Samsung-Vina 2002 Liên doanh 5 triệu USD Phi nhân thọ

18 Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Châu Á - NH Công

thương

2002 Cổ phần 6 triệu

USD

Phi nhân thọ

19 Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn

Đông (VASS) 2003 Cổ phần

200 tỷ VND

Phi nhân thọ

20 Công ty môi giới bảo hiểm Gras Savoye 2003 nước ngoài 100% vốn 300.000 USD bảo hiểm Môi giới

21 Công ty môi giới bảo hiểm Á

6 tỷ VND

Môi giới bảo hiểm

22 Công ty môi giới bảo hiểm Đại Việt 2003 Cổ phần VND 6 tỷ bảo hiểm Môi giới

23 Công ty môi giới bảo hiểm Marsh VN 2004 nước ngoài 100% vốn 300.000 USD bảo hiểm Môi giới

24 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân

thọ ACE Life VN (ACE Life) 2005

100% vốn nước ngoài

20 triệu USD Nhân thọ

25 Công ty Bảo hiểm AAA 2005 Cổ phần VND 80 tỷ Phi nhân thọ

26 Công ty TNHH bảo hiểm QBE VN (QBE Viet Nam) 2005 nước ngoài 100% vốn 7,5 triệu USD Phi nhân thọ

27 Công ty Bảo hiểm Ngân hàng

Đầu tư và Phát triển (BIC) 2005 Cổ phần

4 triệu USD

Phi nhân thọ

28 Công ty Bảo hiểm Nhân thọ

100% vốn nước ngoài

10 triệu USD Nhân thọ

29 Công ty môi giới bảo hiểm Thái Bình Dương 2005 Cổ phần

không

có số liệu

Môi giới bảo hiểm

30 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ New York Life 2005 nước ngoài 100% vốn 10 triệu USD Nhân thọ

31 Công ty AIG Việt Nam (AIG

Viet Nam) 2005

100% vốn nước ngoài

không

có số liệu

Phi nhân thọ

Nguồn: Theo Hiệp hội Bảo hiểm VN

Trang 37

Trong giai đoạn hiện nay, Bộ Tài chính đã thực hiện phát triển TTBH theo

hướng đa dạng hóa các loại hình sở hữu nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư vào

lĩnh vực bảo hiểm giúp TTBH hoạt động an toàn, hiệu quả và có đủ năng lực cung

cấp các dịch vụ có chất lượng, có tính cạnh tranh phù hợp với lộ trình hội nhập quốc

tế TTBH tiếp tục mở cửa với việc nhà nước cấp phép cho công ty AAA, AIG hoạt

động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ; Prevoir, ACE Life, New York Life hoạt

động kinh doanh BHNT; Công ty Thái Bình Dương hoạt động môi giới bảo hiểm và

một số Văn phòng đại diện Công ty bảo hiểm nước ngoài Việc cấp phép cho các

DNBH nước ngoài được thực hiện theo đúng quy định phát luật hiện hành, phù hợp

với tiến trình hội nhập kinh tế cũng như các cam kết song phương, đa phương của

Việt Nam với các nước Các DNBH nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt

Nam đều là các doanh nghiệp hàng đầu thế giới, có uy tín, năng lực tài chính và

kinh nghiệm hoạt động được các tổ chức xếp hạng quốc tế đánh giá có hệ số tín

nhiệm cao nhất Bên cạnh đó, tỷ lệ và cơ cấu các loại hình doanh nghiệp thuộc các

khu vực tương đối hài hòa, xử lý tốt mối quan hệ giữa Việt Nam và các khu vực

trên thế giới trong việc mở cửa TTBH Trong 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài có 06 chủ đầu tư Mỹ, 03 chủ đầu tư là Pháp, 01 chủ đầu tư là Anh, 01 chủ đầu

tư là Canada, 02 chủ đầu tư Úc, 02 Nhật, 01 Hàn Quốc

Ngoài ra, TTBH cũng diễn ra sự cơ cấu lại các DNBH Bảo Minh và

VINARE năm đầu tiên cổ phần hóa hoạt động có nhiều khởi sắc Ngân hàng Đầu tư

phát triển Việt Nam mua lại cổ phần của QBE thành lập công ty BIC 100% vốn

Việt Nam; QBE mua lại công ty bảo hiểm Allianz; Bảo Việt trở thành tập đoàn tài

chính Bảo Việt theo quyết định số 310 của Thủ tướng Chính phủ với nhiều đơn vị

thành viên như Bảo Việt Nhân thọ, Bảo Việt Việt Nam, Bảo hiểm y tế cộng đồng,

Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ, Ngân hàng Cổ phần Bảo Việt, Công ty

cho thuê Tài chính Bảo Việt, Công ty kinh doanh bất động sản Bảo Việt Theo số

liệu của Hiệp hội bảo hiểm, tốc độ tăng trưởng của TTBH phi nhân thọ Việt Nam

thời gian qua đạt bình quân 34%/năm và trên 60%/năm với BHNT Dự báo của Bộ

Trang 38

Tài chính cho rằng, đến năm 2010, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP có thể

đạt 4,2%

Sau gần 14 năm mở cửa TTBH, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt

Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị

trường tăng bình quân 30% trong giai đoạn 1993 - 2005 cơ cấu tỷ trọng doanh thu

dịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh từ 0,37% GDP năm 1993 lên

2,03%/GDP năm 2005

Số lượng sản phẩm bảo hiểm năm 1993 chỉ có 22, đến nay đã có gần 700 sản

phẩm bảo hiểm, do không còn tình trạng hoạt động độc quyền, các doanh nghiệp đã

chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung thêm quyền lợi cho các

khách hàng, giải quyết bồi thường nhanh chóng, đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp

đồng bảo hiểm Các đại lý bảo hiểm, hiện ở con số 92.000, đang là lực lượng phân

phối dịch vụ bảo hiểm chính ở Việt Nam Chỉ có 12% hợp đồng bảo hiểm được

thương lượng bởi các nhà môi giới bảo hiểm Tuy nhiên, con số các công ty môi

giới bảo hiểm sẽ còn gia tăng Công ty môi giới bảo hiểm Aon Việt Nam, hiện đang

chiếm thị phần lớn nhất, khoảng 46% doanh thu từ môi giới bảo hiểm tại thị trường

này Các công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động sớm tại Việt Nam đang thu được

nhiều lợi nhuận Năm 2002, Manulife Việt Nam, công ty BHNT 100% vốn nước

ngoài đầu tiên ở Việt Nam, cho biết sau 3 năm hoạt động đã trở thành công ty bảo

hiểm đầu tiên thu được lợi nhuận tại thị trường này Năm 2004, Prudential Việt

Nam cũng thông báo đã thu được lợi nhuận ở mức 3,8 triệu USD sau 5 năm hoạt

động Việt Nam đã trở thành địa điểm đầu tư phổ biến thứ 4 của các nhà đầu tư

Nhật Bản vào năm 2005, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Ðộ và Thái Lan sau khi đứng ở vị

trí thứ 8 vào năm 2000 Theo một báo cáo do công ty tư vấn của Mỹ Towers Perrin

về TTBH Việt Nam, với chưa đầy 10% dân số có sử dụng dịch vụ BHNT, đây là

một trong những TTBH có tiềm năng tăng trưởng hàng đầu ở khu vực châu Á –

Thái Bình Dương

Trang 39

Rõ ràng, Việt Nam là một TTBH đầy tiềm năng nhưng cũng nhiều thách

thức

Có thể nói, luật pháp đối với lĩnh vực bảo hiểm của Việt Nam còn chưa hoàn

thiện và vẫn còn có những hạn chế pháp lý đối với việc đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư

của các công ty bảo hiểm

Đến giữa năm 2006, các công ty bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam vẫn chưa

được phép cung cấp một cách đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ Mặc dù

chiếm vị trí chủ đạo trên thị trường BHNT nhưng các công ty nước ngoài chỉ nắm

một thị phần khiêm tốn 7% trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ do thị trường này

thuộc về các công ty trong nước Các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại Việt Nam

cũng đang phải đối mặt với việc các ngân hàng tăng lãi suất để thu hút người dân

gửi tiết kiệm thay vì mua bảo hiểm Hiện nay, lãi suất tiền gửi tiết kiệm hàng năm

đã ở mức 10% trong khi mức lãi bảo hiểm chỉ là 2% Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

cho biết, số lượng hợp đồng bảo hiểm mới được ký trong quý đầu năm 2006 giảm

tới 27% so với cùng kỳ năm 2005 Số lượng hợp đồng mà Manulife ký được trong

thời kỳ này giảm tới 56%, Bảo hiểm Quốc tế Mỹ giảm 44%, Prudential giảm 30%

và Bảo Minh CMG giảm 31% Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, ở Việt Nam

hiện có 120.000 đại lý bảo hiểm và 10.000 nhân viên làm việc trong lĩnh vực này

2.2 THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.1 Vấn đề tạo lập vốn trong doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

tại Việt Nam hiện nay

2.2.1.1 Nguồn gốc hình thành vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Việt Nam định nghĩa: “Hoạt động kinh doanh

bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó

doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên

mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho

Trang 40

người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo

hiểm”

Thông qua định nghĩa trên kết hợp với các nguyên tắc bảo hiểm, ta thấy

ngành kinh doanh bảo hiểm không giống như các ngành sản xuất kinh doanh khác

Khi một hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết, nhà kinh doanh bảo hiểm - bằng sự

cam kết của mình - sẽ phải tiến hành thu phí bảo hiểm trước của khách hàng Sau đó

sẽ thực hiện các trách nhiệm bảo hiểm đối với khách hàng, trong một phạm vi giới

hạn thời gian nhất định gọi là hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm Việc tiến hành các

dịch vụ này có thể xảy ra hoặc không xảy ra, có thể xảy ra ngay sau thời điểm thu

phí hoặc xảy ra cách thời gian thu phí một khoảng thời gian nào đó Nghĩa là thời

điểm công ty bảo hiểm nhận được tiền và thời điểm chi trả tiền cho khách hàng có

những khoảng cách và không thể xác định trước được Vì vậy, người ta còn gọi

kinh doanh bảo hiểm có “chu trình sản xuất ngược” Với các lý do đó, để đảm bảo

cho việc thực hiện các trách nhiệm của công ty với khách hàng tham gia bảo hiểm

và ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế - xã hội, các công ty bảo

hiểm hoạt động phải luôn ở trong tình trạng đảm bảo khả năng thanh toán các tổn

thất có thể xảy ra và phải có một tình hình tài chính mạnh Vì lẽ đó, Luật kinh

doanh bảo hiểm ở các nước đều bắt buộc các doanh nghiệp phải trích đầy đủ các

khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Các khoản dự phòng nghiệp vụ này thực chất

là khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm trích lập từ doanh thu phí bảo hiểm của từng

nghiệp vụ bảo hiểm, để đảm bảo các trách nhiệm đã nhận với khách hàng

Đó là nguồn gốc của sự hình thành nguồn vốn nhàn rỗi, hay còn gọi là các

quỹ dự phòng nghiệp vụ trong các công ty bảo hiểm Xét ở một khía cạnh khác có

thể nói, cùng với hoạt động kinh doanh của mình các công ty bảo hiểm luôn phải

quản lý một nguồn vốn nhàn rỗi lớn và ổn định Việc đầu tư có hiệu quả và an toàn

nguồn vốn nhàn rỗi này là một trách nhiệm quan trọng của quá trình kinh doanh bảo

hiểm Đồng thời, giúp doanh nghiệp có khả năng gia tăng các quỹ đảm bảo và là cơ

Ngày đăng: 25/03/2013, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dr. David Bland, Học Viện Bảo hiểm Hoàng Gia Anh (1998), Bảo Hiểm Nguyên tắc và Thực hành, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Hiểm Nguyên tắc và Thực hành
Tác giả: Dr. David Bland, Học Viện Bảo hiểm Hoàng Gia Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 1998
2. TS. Nguyễn Ngọc Định, (1999), Lý thuyết bảo hiểm, Nhà xuất bản tài chính, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết bảo hiểm
Tác giả: TS. Nguyễn Ngọc Định
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 1999
3. TS. Nguyễn Văn Định, (2004), Giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
4. Th.S. Nguyễn Tiến Hùng, (2005), Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Khác
5. TS. Phan Thị Bích Nguyệt, (2006), Đầu tư tài chính, Nhà xuất bản Thống kê Khác
6. PGS-TS. Trần Ngọc Thơ, (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê Khác
7. Bản tin theo quý của Hiệp hội Bảo Hiểm Việt Nam, Hà Nội Khác
8. Báo cáo tài chính của các công ty bảo hiểm nhân thọ qua các năm Khác
9. Bộ Tài Chính, (2006), TTBH Việt Nam, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Khác
10. Bộ Tài Chính (1999), Luật bảo hiểm ở một số nước, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Khác
11. Bộ Tài Chính, Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/08/2001, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm Khác
12. Bộ Tài Chính, Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01/08/2001, quy định chế độ tài chính đối vói các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm Khác
13. Bộ Tài Chính, Thông tư số 71/2001/TT-BTC ngày 28/08/2001 hướng dẫn thi hành Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/08/2001 Khác
14. Bộ Tài Chính, Thông tư số 72/2001/TT-BTC ngày 28/08/2001 hướng dẫn thi hành Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01/08/2001 Khác
15. Bộ Tài Chính, Thông tư số 98/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004 thay thế thông tư số 71/2001/TT-BTC ngày 28/08/2001 Khác
16. Bộ Tài Chính, Thông tư số 99/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004 thay thế thông tư số 72/2001/TT-BTC ngày 28/08/2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Trung Quốc - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 1.1 Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Trung Quốc (Trang 26)
Bảng 1.2: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Indonesia - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 1.2 Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Indonesia (Trang 27)
Bảng 1.3: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Hồng Kông - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 1.3 Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Hồng Kông (Trang 28)
Bảng 1.4: Cơ cấu đầu tư tài chính của các công ty BHNT ở một số nước  (Đơn vị: %) - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 1.4 Cơ cấu đầu tư tài chính của các công ty BHNT ở một số nước (Đơn vị: %) (Trang 30)
Bảng 2.1: Tổng hợp các doanh nghiệp hoạt động bảo hiểm trên thị trường VN  đến 31/12/2005 - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.1 Tổng hợp các doanh nghiệp hoạt động bảo hiểm trên thị trường VN đến 31/12/2005 (Trang 34)
Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005 - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.2 Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005 (Trang 35)
Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005  (tiếp theo) - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.2 Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005 (tiếp theo) (Trang 36)
Bảng 2.3: Dự phòng nghiệp vụ BHNT năm 2004-2005 - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.3 Dự phòng nghiệp vụ BHNT năm 2004-2005 (Trang 43)
Bảng 2.5: Dự phòng toán học BHNT của một số công ty - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.5 Dự phòng toán học BHNT của một số công ty (Trang 44)
Bảng 2.6: Doanh thu phí bảo hiểm 1994-2005 toàn thị trường - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.6 Doanh thu phí bảo hiểm 1994-2005 toàn thị trường (Trang 50)
Bảng 2.7:    Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.7 Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế (Trang 52)
Bảng 2.8b: Phân tích cơ cấu vốn đầu tư trở lại nền kinh tế doanh nghiệp bảo hiểm - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.8b Phân tích cơ cấu vốn đầu tư trở lại nền kinh tế doanh nghiệp bảo hiểm (Trang 54)
Bảng 2.9: Cơ cấu đầu tư vốn của Bảo Việt qua các năm - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.9 Cơ cấu đầu tư vốn của Bảo Việt qua các năm (Trang 55)
Bảng 2.12: Lợi suất đầu tư tài chính của công ty BHNT Bảo Việt, Công ty bảo  hiểm nhân thọ AIA và Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG - nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Bảng 2.12 Lợi suất đầu tư tài chính của công ty BHNT Bảo Việt, Công ty bảo hiểm nhân thọ AIA và Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w