nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài chính
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM 7
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới 7
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm 11
1.1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm 11
1.1.2.2 Sự cần thiết của đầu tư vốn tại các doanh nghiệp bảo hiểm 12
1.1.3 Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm 14
1.1.3.1 Quy luật số đông 14
1.1.3.2 Phương pháp thống kê 15
1.1.4 Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm 16
1.1.4.1 Bảo hiểm nhân thọ 16
1.1.4.2 Bảo hiểm phi nhân thọ 16
1.1.5 Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội 17
1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 18
1.2.1 Tổng quan về quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm 18
1.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam 19
1.2.1.2 Nguyên tắc đầu tư vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm 19
Trang 21.2.2 Danh mục đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm 20
1.2.3 Hoạt động đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở một số nước 24
1.2.3.1 Các quy định về pháp lý 24
1.2.3.2 Cơ cấu đầu tư và sự thay đổi cấu trúc đầu tư trên thị trường BHNT 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 32
2.1 THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 32
2.1.1 Khái quát sự ra đời vào phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam 32
2.1.2 Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay 33
2.2 THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 39
2.2.1 Vấn đề tạo lập vốn trong doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện nay 39
2.2.1.1 Nguồn gốc hình thành vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm39 2.2.1.2 Nội dung dự phòng nghiệp vụ đối với doanh nghiệp kinh doanh BHNT 41
2.2.1.3 Một số tồn tại trong quy định về trích lập dự phòng bảo hiểm nhân thọ……… 45
2.2.2 Thực trạng đầu tư vốn trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 46
2.2.2.1 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam 46
2.2.2.2 Thực trạng đầu tư trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua 48
Trang 32.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO LẬP VÀ ĐẦU TƯ VỐN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 62
2.3.1 Kết quả của hoạt động tạo lập vốn 62
2.3.1.1 Thực trạng tạo lập vốn từ người tham gia bảo hiểm 62
2.3.1.2 Thực trạng tạo lập vốn từ nội bộ doanh nghiệp bảo hiểm 63
2.3.2 Những đánh giá chung trong việc quản lý và sử dụng vốn 64
2.3.2.1 Những thành tích 64
2.3.2.2 Những tồn tại 64
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TẠO LẬP VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 71
3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 71
3.1.1 Theo xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế 71
3.1.2 Theo mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam 72
3.1.3 Những cơ hội và thách thức 73
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TẠO LẬP VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 76
3.2.1 Các giải pháp ở tầm vĩ mô 76
3.2.2 Các giải pháp về phía doanh nghiệp bảo hiểm 83
3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ khác 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU CHƯƠNG 1:
Bảng 1.1: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Trung Quốc 26
Bảng 1.2: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Indonesia 27
Bảng 1.3: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Hồng Kông 28
Bảng 1.4: Cơ cấu đầu tư tài chính của các công ty BHNT ở một số nước 30
CHƯƠNG 2: Bảng 2.1: Tổng hợp các doanh nghiệp hoạt động bảo hiểm trên thị trường VN đến 31/12/2005 34
Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên TTBH Việt Nam đến 31/12/2005 35
Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên TTBH Việt Nam đến 31/12/2005 (tiếp theo)36 Bảng 2.3: Dự phòng nghiệp vụ BHNT năm 2004-2005 43
Bảng 2.4: Dự phòng nghiệp vụ BHNT của một số công ty 44
Bảng 2.5: Dự phòng toán học BHNT của một số công ty 44
Bảng 2.6: Doanh thu phí bảo hiểm 1994-2005 toàn thị trường 50
Biểu 2.1: Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 51
Biểu 2.2: Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế 51
Bảng 2.7: Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế 52
Bảng 2.8a & 2.8b: Phân tích cơ cấu vốn đầu tư trở lại nền kinh tế DNBH nhân thọ và toàn ngành bảo hiểm 54
Bảng 2.9: Cơ cấu đầu tư vốn của Bảo Việt qua các năm 55
Bảng 2.10: Cơ cấu đầu tư vốn của Prudential Việt Nam năm 2004 & 2005 56
Bảng 2.11: Cơ cấu đầu tư vốn của Bảo Minh CMG năm 2004 & 2005 56
Bảng 2.12: Lợi suất đầu tư tài chính của công ty BHNT Bảo Việt, Công ty bảo hiểm nhân thọ AIA và Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG 58
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm, cùng với việc tăng
cường hoạt động khai thác bảo hiểm, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư
vốn mà các doanh nghiệp đang sở hữu là một trong những vấn đề có tầm quan trọng
đặc biệt, là chỗ dựa vững chắc cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhất là trong
điều kiện thị trường bảo hiểm (TTBH) Việt Nam ngày càng cạnh tranh gay gắt do
có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) dưới tác động của chính
sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, việc đầu tư như thế nào để vừa
đạt được hiệu quả về mặt kinh tế, vừa đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả các hợp
đồng bảo hiểm, lại vừa hạn chế ở mức tối đa các rủi ro lại là vấn đề không hề đơn
giản đối với các doanh nghiệp Xuất phát từ thực tế đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài
“Giải pháp nhằm nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác đầu tư tài
chính tại các Công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” làm luận văn bảo vệ học vị
thạc sĩ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần công sức để phân tích
thực trạng, xác định nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa
hiệu quả của hoạt động đầu tư tài của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (BHNT)
trên thị trường tài chính
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để phân tích, đánh giá đối tượng, kết hợp phân tích lý luận và phân tích
thực tiễn Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp cụ thể như phương
pháp so sánh, tổng hợp, phân tích để đánh giá đối tượng nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài giới thiệu và phân tích thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của các
DNBH nhân thọ ở Việt Nam nhằm chỉ ra những hạn chế và khó khăn mà các
DNBH đang gặp phải Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Trang 6đầu tư giúp các DNBH nhân thọ Việt Nam thể hiện tốt hơn vai trò của một tổ chức
trung gian tài chính
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các công ty BHNT đang hoạt
động trên TTBH Việt Nam Trong đó, đề tài đi sâu vào nghiên cứu khả năng tạo lập
vốn và công tác đầu tư tài chính
5 Những điểm mới của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về bảo hiểm, thực trạng tạo lập và đầu tư vốn
trong các DNBH trong và ngoài nước đồng thời thông qua kinh nghiệm thực tế
trong công tác tài chính tại công ty BHNT, luận văn đã đề xuất và giới thiệu những
giải pháp nhằm giúp những người làm công tác đầu tư tài chính trong các DNBH
nhân thọ giảm thiểu rủi ro khi đầu tư vốn, cụ thể:
Thành lập công ty đầu tư chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ đầu tư;
Xây dựng DMĐT tối ưu cho các DNBH;
Phối hợp hiệu quả hơn với hệ thống ngân hàng;
Nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý tiền mặt tối ưu;
Phát triển các loại hình sản phẩm mới của BHNT để thu hút đầu tư dài hạn
6 Kết cấu của luận văn
Không tính phần mục lục, danh mục bảng biểu, mở đầu, kết luận và tài liệu
tham khảo, luận văn dài 84 trang bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm và quản lý vốn trong các DNBH
Chương 2: Thực trạng việc tạo lập, quản lý và sử dụng vốn của các DNBH
nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công
tác đầu tư tài chính tại các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới
Con người cùng các thể chế chính trị từng tồn tại trong lịch sử luôn đặt
nhiệm vụ hạn chế rủi ro lên hàng đầu Dịch vụ bảo hiểm ra đời để làm nhiệm vụ hạn
chế rủi ro ấy
Ở Trung Hoa cách đây hơn 5.000 năm, lúc bấy giờ bọn cướp biển hoành
hành khắp nơi; do vậy để hạn chế rủi ro, khi ra khơi người ta thường bố trí cho
nhiều tàu chia nhau chở kèm một phần hàng hóa của một chiếc tàu khác, phòng khi
có một chiếc tàu bị bọn cướp biển tấn công thì phần hàng còn lại chở trên những
chiếc tàu kia không bị cướp
Cách nay gần 4.500 năm, ở một nơi khác là đế quốc Babylon cổ, các thương
nhân thường phải du thương khá nhiều, và họ đã đối phó với các rủi ro bằng cách
đem tiền cho người khác vay Khi việc vận chuyển hàng hóa đã hoàn tất một cách
an toàn, các thương nhân này sẽ bắt người vay tiền hoàn trả khoản vay, kèm theo đó
là tiền lời Vào năm 2100 trước Công Nguyên, đạo luật Hammurabi ra đời đã đặt
hoạt động cho vay của các doanh nhân vào khuôn khổ pháp luật Đạo luật này đã
chính thể hóa các khái niệm “bottomry” (chỉ việc mượn tiền trên cơ sở lấy tàu làm
bảo đảm) và “respondentia” (chỉ hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy) Các khái
niệm này đã đặt nền móng cho thực hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải Các hợp
đồng loại này gồm 3 yếu tố: khoản vay căn cứ vào giá trị tàu, hàng hóa hay cước
vận chuyển; lãi suất; khoản phụ thu cho các trường hợp mất mát có thể xảy ra Trên
thực tế, khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, chủ tàu là người được bảo hiểm còn chủ
cho vay là người đánh giá rủi ro
BHNT xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại không lâu sau đó Tại đây người ta
đã lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội
Trang 8cũng hỗ trợ tài chính cho thân nhân người chết Khoảng năm 450 sau Công Nguyên,
đế quốc La Mã sụp đổ dẫn đến việc hầu hết các khái niệm của BHNT bị lãng quên
Tuy nhiên các mặt, tính chất của nó thì vẫn không hề thay đổi trong suốt thời Trung
Cổ, nhất là đối với các phường hội thủ công và thương nghiệp Các phường hội này
đã lập nên nhiều hình thức bảo hiểm thành viên để bù đắp thiệt hại các vụ hỏa hoạn,
lũ lụt, trộm cướp; ngoài ra còn có bảo hiểm thương tật, tử vong và thậm chí là bảo
hiểm tù ngục (bảo hiểm cho trường hợp người mua bảo hiểm phải vào tù)
Trong suốt thời phong kiến, các ngành du lịch và mậu dịch ngày càng suy
yếu và không còn thịnh đạt như trước, do vậy các hình thức bảo hiểm sơ khai cũng
bị mai một Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 các ngành
giao thông, thương nghiệp và cả dịch vụ bảo hiểm đã phát triển trở lại
Dịch vụ bảo hiểm ở Ấn Độ bắt nguồn từ bộ kinh Veda của nước này Đơn cử
là trường hợp của tập đoàn BHNT Yogakshema, một Công ty trực thuộc tổng hội
liên hiệp bảo hiểm Ấn Độ Tên của Công ty này được lấy từ trong kinh Rig Veda
Cụm từ Yogakshema cho thấy ở Ấn Độ vào khoảng năm 1.000 trước Công Nguyên,
hình thức “bảo hiểm cộng đồng” đã phát triển rất thịnh hành và người Aryan khi đó
cũng đã tham gia rất nhiều vào hình thức bảo hiểm này
Tương tự với đế quốc La Mã cổ đại, trong giai đoạn truyền bá đạo Phật
người Ấn Độ đã lập nên nhiều hội mai táng để hỗ trợ cho các gia đình xây cất nhà
cửa đồng thời che chở, đùm bọc các góa phụ và trẻ nhỏ
Sau Cách Mạng ánh sáng (Glorious Revolution) năm 1688, ở Châu Âu chỉ có
Vương Quốc Anh công nhận tính pháp lý của BHNT Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập
kỷ sau Cách Mạng ánh sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ Hình
thức bảo hiểm mà chúng ta thấy ngày nay có nguồn gốc từ thế kỷ 17 Khi đó ở Anh
từng có một nơi gọi là Lloyd’s of London, nơi mà về sau người ta biết tới với cái
tên Nhà hàng Cà phê Lloyd’s (Lloyd’s Coffee House) Các thương nhân, chủ tàu và
Trang 9các nhà thầu bảo hiểm khi đó hay tụ tập ở nhà hàng này để bàn công chuyện làm ăn
và tiến hành các hợp đồng buôn bán
Mặc dù được sử dụng như một công cụ hạn chế rủi ro, dịch vụ BHNT vẫn bị
cuốn vào trò đỏ đen vốn được xem là bản năng của tầng lớp tiểu tư sản Anh đang
phát triển rất mạnh mẽ lúc bấy giờ Đến năm 1774, Quốc hội Anh ra sắc lệnh cấm tổ
chức, tham gia cá cược trên ngày chết của con người, từ đó vấn nạn này mới chấm
dứt
Ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ được xây dựng trên mô hình bảo
hiểm Anh Vào năm 1735, Công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở
Charleston, thủ phủ bang South Carolina Vào năm 1759, Hội nghị Giáo hội Trưởng
lão Philadelphia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn BHNT đầu tiên của Hoa Kỳ
Tập đoàn này hoạt động vì lợi ích của các mục sư và tín đồ Ngày 22/5/1761, tập
đoàn này đã ký kết được hợp đồng BHNT đầu tiên với công chúng Mỹ
Mặc dù vậy, mãi đến 80 năm sau (tức là sau năm 1840) dịch vụ BHNT Mỹ
mới thật sự cất cánh Chìa khóa dẫn đến thành công chính là nhờ các Công ty bảo
hiểm đã hạn chế được những sự chống đối từ các nhóm tôn giáo
Năm 1835, ở New York đã xảy ra một vụ hỏa hoạn đầy tai tiếng Vụ hỏa
hoạn này khiến người dân ở đây lưu tâm nhiều hơn đến nhu cầu phải có nguồn dự
trữ để bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng không thể lường trước Hai năm
sau, Massachusetts trở thành bang đầu tiên ở Mỹ sử dụng luật pháp buộc các Công
ty phải tự tích lũy nguồn dự trữ này Vụ cháy lớn ở Chicago vào năm 1871 càng
nhấn mạnh sâu sắc một thực tế: nếu hỏa hoạn bùng lên ở những thành phố đông
dân, mức độ thiệt hại sẽ vô cùng to lớn
Hình thức bảo hiểm trách nhiệm công cộng xuất hiện trong những năm 1880
và cùng với phát minh ra xe ô tô, hình thức bảo hiểm này đã được công chúng đón
nhận và ngày càng thể hiện được tầm quan trọng
Trang 10Trong suốt quá trình công nghiệp hóa, dịch vụ bảo hiểm đã có rất nhiều bước
phát triển Năm 1897, chính phủ Anh thông qua “Đạo luật bồi thường cho người lao
động” (Workmen’s Compensation Act) Đạo luật này buộc các Công ty phải đóng
bảo hiểm tai nạn lao động cho nhân viên
Trong thế kỷ 19, người ta đã lập ra rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm bảo
hiểm nhân mạng và sức khỏe cho hội viên Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ
cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của họ Ngày nay
các hội kín này vẫn cứ tiếp tục bảo hiểm cho hội viên; điều này diễn ra tương tự ở
hầu hết các tổ chức của người lao động Có nhiều chủ sử dụng lao động còn lo luôn
một lúc nhiều hợp đồng BHNT và sức khỏe cho nhân viên Các hợp đồng này
không chỉ đơn thuần BHNT mà còn đảm bảo quyền lợi cho nhân viên khi họ bị
bệnh, bị tai nạn hay về hưu Trong các hợp đồng này thường nhân viên chỉ phải trả
một phần phí bảo hiểm
Mặc dù ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng sâu sắc bởi
Vương Quốc Anh, TTBH của nước này lại phát triển theo chiều hướng có phần
khác với Anh Khi Mỹ chuyển mình từ một thuộc địa xa bờ của Anh trở thành một
thế lực độc lập và từ một nước nông nghiệp thành nước công nghiệp phát triển,
ngành kinh doanh bảo hiểm của nước này cũng phát triển mạnh theo hướng từ một
vài Công ty ban đầu trở thành một ngành công nghiệp quy mô lớn
Tóm lại có thể nói ngành bảo hiểm Mỹ đã phát triển rất tinh vi, sản sinh ra
nhiều loại mạng lưới phục vụ và đa dạng hóa dịch vụ để phát triển hài hòa với một
quốc gia đang ngày càng phức tạp
Ngày nay, bảo hiểm đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã
hội Dù có đề phòng tai nạn tốt đến mức nào, con người cũng không thể loại trừ hết
tất cả những rủi ro ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh và cuộc sống của nhân
loại Chỉ có bảo hiểm mới là phương tiện hữu hiệu giúp cho cuộc sống con người
được ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục
Trang 11khi chẳng may gặp những sự cố rủi ro, tai nạn bất ngờ,…Bảo hiểm ngày nay thực
sự trở thành một phạm trù kinh tế hiện đại và ngành kinh doanh bảo hiểm ngày càng
giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm
1.1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm
Theo các chuyên gia bảo hiểm, có rất nhiều định nghĩa bảo hiểm khác nhau
tuỳ theo giác độ phân tích và quan điểm của mỗi người, song “Một định nghĩa thích
hợp của bảo hiểm phải bao gồm sự xây dựng một quỹ, sự hoán chuyển rủi ro, và
thêm nữa là phải bao gồm sự kết hợp số nhiều các đối tượng để biến tổn thất cá thể
thành tổn thất cộng đồng, dự toán được Tổn thất dự toán này được phân bổ theo tỷ
lệ cho các đơn vị được kết hợp (cộng đồng) Định nghĩa này bao gồm cả hai yếu tố:
giảm thiểu rủi ro và phân tán tổn thất”
Về phương diện pháp lý, bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong đó
một bên (người bảo hiểm) đồng ý nhận một số tiền của bên kia (người được bảo
hiểm) đã được tính toán (gọi là phí bảo hiểm) về những tổn thất người ấy phải gánh
chịu do hậu quả của những sự cố đã xảy ra
Về phương diện nghiệp vụ, “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên
người được bảo hiểm đóng góp một số tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho mình hoặc
cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra sự cố sẽ được nhận một khoản tiền đền bù
từ phía nhà bảo hiểm Người này nhận toàn bộ trách nhiệm đối với các rủi ro và đền
bù thiệt hại theo quy luật thống kê ”
Về phía người kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm là một hệ thống trong một số
đông người đồng ý đóng góp một khoản tiền nhỏ (phí bảo hiểm) cho công ty bảo
hiểm hình thành một quỹ bảo hiểm, để đổi lấy sự an toàn và chia sẻ chi phí cho một
tổn thất mà có khả năng một cá nhân trong số họ phải gánh chịu đơn lẻ Nhiệm vụ
của nhà bảo hiểm là nhận diện rủi ro, phân tán tổn thất, giải quyết hậu quả, bù đắp
tổn thất và quản lý tốt quỹ bảo hiểm
Trang 12Đứng trên giác độ kinh tế, bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế để
huy động sự đóng góp của các tổ chức, các cá nhân một số tiền nhất định dưới dạng
phí bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm, nhằm chi trả hay bù đắp cho các đối tượng
của người đóng góp khi có sự cố xảy ra, đảm bảo ổn định đời sống được thường
xuyên và liên tục
Tóm lại, bản chất sâu xa của bảo hiểm là sự phục vụ tích cực cho mục tiêu an
toàn của nền kinh tế - xã hội, biểu hiện các mối quan hệ kinh tế và xã hội phát sinh
trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, thông qua
việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm
1.1.2.2 Sự cần thiết của đầu tư vốn tại các doanh nghiệp bảo hiểm
Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, các DNBH muốn đi vào hoạt
động phải đáp ứng một số vốn tối thiểu do pháp luật quy định Số vốn này có thể do
nhà nước cấp phát hoặc do các cổ đông đóng góp dưới hình thức góp vốn cổ phần
Trong quá trình hoạt động, phí bảo hiểm do những người được bảo hiểm trả cũng
được bổ sung vào nguồn này Chi phí quản lý doanh nghiệp, các khoản bồi thường
cho người được bảo hiểm và cổ tức chia cho các cổ đông cũng được trích ra từ quỹ
này Nhằm duy trì quỹ cho những năm tiếp theo, một điều vô cùng cần thiết là quỹ
này phải tích lũy được càng nhiều càng tốt Để thực hiện được điều này các DNBH
đã tiến hành đầu tư
Đầu tư là hành động sử dụng những nguồn lực tài chính hiện có để biến các
lợi ích thành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai Như vậy,
mục tiêu của công tác đầu tư nói chung là đạt được một mức sinh lời kỳ vọng trong
tương lai và chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định
Mục tiêu của đầu tư quỹ bảo hiểm là đảm bảo tốt nhất sự an toàn và cân bằng
tài chính; hiệu quả hoạt động đầu tư vốn có vai trò to lớn không những đối với bản
thân doanh nghiệp, đối với nền kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội
Trang 13Đối với các DNBH phi nhân thọ: Mục đích của thiết lập các quỹ dự phòng kỹ
thuật đối với DNBH không phải hoàn toàn nhằm vào việc kiếm lời, mà để đảm bảo
duy trì khả năng thanh toán thường xuyên Tuy nhiên, được xác định là một nguồn
vốn nhàn rỗi nên các quỹ dự phòng sẽ được DNBH thực hiện việc đầu tư vào các
lĩnh vực khác nhau để kiếm lời Thu nhập từ hoạt động đầu tư quỹ dự phòng sẽ giúp
DNBH tăng cường khả năng thanh toán, bảo vệ tốt nhất quyền lợi bảo hiểm Mặc
khác, cho phép DNBH bù đắp được các khoản chi phí bồi thường, chi phí quản lý,
bình ổn kết quả kinh doanh của mình Điều này tạo điều kiện cho các DNBH có cơ
hội để giảm phí bảo hiểm hoặc không tăng phí trong các chu kỳ sau Như vậy,
DNBH sẽ có điều kiện để tăng cường khả năng cạnh tranh của mình, tăng năng lực
ký kết hợp đồng bảo hiểm
Đối với các DNBH nhân thọ: Mục đích của thiết lập dự phòng kỹ thuật là
nhằm duy trì sự cân bằng nghiệp vụ dài hạn, tức là nhằm đảm bảo cho việc thanh
toán tiền bảo hiểm trong tương lai Do tính chất của hợp đồng BHNT hiện nay đa số
chỉ là một hợp đồng tiết kiệm, DNBH cam kết sẽ trả cho người được bảo hiểm các
khoản tiền với lãi suất đã dự kiến khi tính phí bảo hiểm (gọi là lãi suất kỹ thuật)
Nếu DNBH không đầu tư nguồn bảo hiểm thu được với kết quả bằng hoặc cao hơn
lãi suất kỹ thuật thì DNBH sẽ bị lỗ Điều này rất nguy hiểm cho DNBH, vì trên thực
tế sự phá sản DNBH ở nhiều nước cũng do nguyên nhân này Như vậy, DNBH theo
yêu cầu kỹ thuật, bắt buộc phải đầu tư các quỹ dự phòng kỹ thuật và hiệu quả đạt
được phải ít nhất ngang bằng với lãi suất mà DNBH đã cam kết thực hiện cho người
được bảo hiểm Nếu kết quả đầu tư tốt hơn sự mong đợi, DNBH sẽ có điều kiện để
đảm bảo thực hiện đầy đủ các cam kết, đồng thời có thể chia lại cho người được bảo
hiểm một phần kết quả phụ trội thông qua các khoản lãi chia trong hợp đồng bảo
hiểm Điều này sẽ làm tăng tính hấp dẫn cho các sản phẩm bảo hiểm của doanh
nghiệp
Trang 141.1.3 Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm
Bảo hiểm không chỉ được xem xét dưới góc độ của mối quan hệ kinh tế, xã
hội, pháp lý giữa những người được bảo hiểm và nhà bảo hiểm mà còn phải xem xét
dưới góc độ kỹ thuật Thật vậy, các sản phẩm bảo hiểm được xây dựng trên cơ sở
tính toán thực sự khoa học trong việc sử dụng các phương pháp của toán học Một
trong những cơ sở kỹ thuật quan trọng nhất của bảo hiểm là dựa vào quy luật số
đông và lý thuyết xác suất - thống kê
1.1.3.1 Quy luật số đông
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm và thống kê chính là cơ sở đảm
bảo nguyên tắc này
Vào thế kỷ 17, Pascal – nhà toán học người Pháp đã nghiên cứu các đại
lượng ngẫu nhiên và chứng minh rằng chúng bị chi phối bởi các định luật Ở thế kỷ
18, Bernouli – một nhà toán học khác tiếp tục nghiên cứu và phát biểu quy luật số
đông Quy luật này phát biểu như sau: “số lần thực hiện phép thử càng lớn, kết quả
thu được từ phép thử sẽ tiến dần về xác suất lý thuyết xảy ra biến cố đang xem xét”
Ví dụ minh họa bằng trò chơi con xúc sắc Người ta tung một con xúc xắc 20 lần,
100 lần, 1.000 lần và cuối cùng là 10.000 lần Mỗi lần tung ra, người ta chú ý đến
việc xuất hiện một mặt nhất định, chẳng hạn như mặt có 6 nút Kết quả được ghi
nhận như sau:
Số lần tung ra Số lần xuất hiện Tần số xuất hiện
100 12 0,120 1.000 175 0,175 10.000 1.653 0,165 Nếu không thực hiện thử nghiệm này, thoạt đầu chúng ta có thể nghĩ đơn
giản sự may rủi mà bề mặt có số 6 xuất hiện là 1/6 (tần suất xuất hiện là 0,167), đây
Trang 15là xác suất lý thuyết Qua nhiều lần thử nghiệm, tần suất xuất hiện của mặt 6 sẽ dần
về xác suất lý thuyết Nói một cách khác, nếu chúng ta nghiên cứu trên một lượng
đủ lớn các hiện tượng ngẫu nhiên, chúng ta có thể tính toán được tần suất xảy ra
hiện tượng một cách tương đối chính xác, có nghĩa là nó đã trở thành hiện tượng
“tất nhiên”, có thể dự đoán được Quy luật số đông trở thành cơ sở kỹ thuật quan
trọng của bảo hiểm bởi vì nó chỉ ra rằng, sự bất khả tiên liệu sự cố cho mỗi trường
hợp riêng lẻ nay trở thành khả năng tiên liệu khi kết hợp số đông các trường hợp
Người bảo hiểm như vậy có thể đảm bảo cho một rủi ro hoàn toàn bấp bênh, bất trắc
đối với người được bảo hiểm bởi vì công ty bảo hiểm không đảm bảo đơn lẻ một rủi
ro cá biệt và trên tổng thể nhiều rủi ro đảm nhận, công ty bảo hiểm có thể biết được
mức độ chính xác có thể chấp nhận được tần suất xảy ra rủi ro đó
1.1.3.2 Phương pháp thống kê
Để vận dụng cơ sở kỹ thuật là quy luật số lớn vào thực tế, nhà bảo hiểm phải
cố gắng tập hợp số đông đủ lớn, đồng nhất để xác định tần suất xảy ra tổn thất Từ
đó, xác định được mức giá trung bình của mỗi tổn thất và mức phí bảo hiểm phải
thu của mỗi đối tượng Muốn vậy, nhà bảo hiểm phải triển khai một cách tối đa các
nghiệp vụ của mình, đa dạng hoá sản phẩm bảo hiểm, phát triển theo chiều rộng lẫn
chiều sâu,… nhằm đạt được số lượng đối tượng tương đồng nhiều nhất Trên cơ sở
đó mới dễ dàng dự đoán xác suất xảy ra rủi ro, tổn thất, làm cơ sở cho việc xác định
được mức phí trung bình và mức phí bảo hiểm phải thu của mỗi đối tượng
Trong quá trình hoạt động lâu dài, tổ chức bảo hiểm phải theo dõi thường
xuyên sự biến động của các số liệu thống kê được, nhằm điều chỉnh khi cần thiết
phí bảo hiểm phải thu cho phù hợp với thực tế diễn biến rủi ro tổn thất Vì số liệu
thống kê được trong quá khứ và các sự cố xảy ra trong tương lai có thể có sự chênh
lệch
Trang 161.1.4 Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm
Trong hệ thống kinh tế – xã hội nói chung, hoạt động bảo hiểm tồn tại dưới
hai dạng là bảo hiểm mang tính kinh doanh và bảo hiểm không mang tính kinh
doanh Bảo hiểm không mang tính kinh doanh góp phần thực hiện chính sách phúc
lợi xã hội của Nhà nước, đó là các hình thức Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế
Hoạt động bảo hiểm mang tính kinh doanh còn gọi là Bảo hiểm thương mại, là dịch
vụ tài chính đặc biệt, do các doanh nghiệp tổ chức kinh doanh Bên cạnh mục đích
kinh doanh là đảm bảo có lãi, bảo hiểm thương mại còn đảm bảo sự ổn định tài
chính cho nền kinh tế chống lại các nguy cơ rủi ro, huy động thêm nguồn lực trong
nước đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế Ở phạm vi đề tài này,
chúng ta chỉ đề cập đến bảo hiểm thương mại Có thể nói, bảo hiểm thương mại chủ
yếu được phân thành hai loại như sau:
1.1.4.1 Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ (life insurance): là loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro
có tính thay đổi rõ rệt theo thời gian và đối tượng thường gắn liền với tuổi thọ con
người Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm) Kỹ
thuật hạch toán bảo hiểm của loại này dựa trên kỹ thuật dồn tích, bao gồm:
+ Bảo hiểm trọn đời;
+ Bảo hiểm sinh kỳ;
+ Bảo hiểm tử kỳ;
+ Bảo hiểm hỗn hợp;
+ Bảo hiểm trả tiền định kỳ; và
+ Các nghiệp vụ BHNT khác do Chính phủ quy định
1.1.4.2 Bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ (non-life insurance): là loại bảo hiểm đảm bảo cho
các rủi ro có tính ổn định (tương đối) theo thời gian và đối tượng thường độc lập với
Trang 17tuổi thọ con người Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm) Kỹ
thuật hạch toán bảo hiểm của loại này dựa trên kỹ thuật phân bổ, bao gồm:
+ Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;
+ Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
+ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường
sắt và đường hàng không;
+ Bảo hiểm hàng không;
+ Bảo hiểm xe cơ giới;
+ Bảo hiểm cháy, nổ;
+ Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;
+ Bảo hiểm trách nhiệm chung;
+ Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;
+ Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
+ Bảo hiểm nông nghiệp; và
+ Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do pháp luật quy định
1.1.5 Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội
Bảo hiểm có vai trò rất quan trọng có thể được xét ở hai khía cạnh: kinh tế -
xã hội và tài chính
Khía cạnh kinh tế - xã hội:
Rủi ro, tổn thất phát sinh làm thiệt hại các đối tượng: của cải vật chất do con
người tạo ra và chính cả bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của
dân cư, ngưng trệ hoạt động sản xuất của nền kinh tế Nói chung, tổn thất phát sinh
làm gián đoạn và giảm hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội Quỹ dự trữ bảo
hiểm được tạo lập trước một cách có ý thức, khắc phục hậu quả nói trên bằng cách
Trang 18bù đắp các tổn thất phát sinh nhằm tái lập đảm bảo tính thường xuyên, liên tục của
quá trình sản xuất Như vậy, trên phạm vi rộng toàn bộ nền kinh tế-xã hội, bảo hiểm
đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu
dài của mọi chủ thể dân cư và kinh tế
Với vai trò đó, bảo hiểm khi thâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời
sống đã phát huy tác dụng vốn có của mình: thúc đẩy ý thức đề phòng hạn chế tổn
thất cho mọi thành viên trong xã hội Thật vậy, trong trường hợp rủi ro, Công ty bảo
hiểm sẽ thay bạn gánh vác hậu quả khiến bạn yên tâm hơn Còn công ty bảo hiểm
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên họ rất quan tâm đến việc kiểm soát rủi ro,
nhằm làm chúng ít xảy ra hơn và mức độ thiệt hại cũng ít hơn
Khía cạnh tài chính:
Sản phẩm bảo hiểm là một loại hình dịch vụ đặt biệt: một lời cam kết đảm
bảo cho sự an toàn, mặt khác sự tồn tại và phát triển của các hoạt động bảo hiểm
còn đáp ứng nhu cầu vốn không ngừng tăng lên của quá trình tái sản xuất mở rộng,
đặt biệt trong nền kinh tế thị trường với việc thu phí theo nguyên tắc ứng trước, các
tổ chức hoạt động bảo hiểm chiếm giữ một quỹ tiền tệ rất lớn thể hiện cam kết của
họ đối với khách hàng nhưng tạm thời nhàn rỗi Do vậy, các tổ chức hoạt động bảo
hiểm đã trở thành những nhà đầu tư lớn, quan trọng cho các hoạt động khác nhau
của nền kinh tế quốc dân Thị trường dịch vụ bảo hiểm là một kênh huy động vốn
hết sức quan trọng trong nền kinh tế Nói chung, tại những nước có TTBH phát
triển, các công ty bảo hiểm là các chủ thể tích cực tham gia vào thị trường tài chính
Do đó, bảo hiểm còn có vai trò là một trung gian tài chính và phát huy được tác
dụng của mình là cung cấp vốn cho nền kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển, tạo
công ăn việc làm cho người dân
1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH
NGHIỆP BẢO HIỂM
1.2.1 Tổng quan về quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 191.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
Hoạt động đầu tư của các DNBH diễn ra khá phong phú Theo Luật kinh
doanh bảo hiểm Việt Nam, các DNBH có thể sử dụng các nguồn như: vốn điều lệ,
quỹ dự trữ bắt buộc; quỹ dự trữ tự nguyện; các khoản lãi của những năm trước chưa
sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại doanh
nghiệp và nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để đầu tư
Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: đó là tổng dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm trừ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm dùng để bồi
thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo
hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ Pháp luật hiện hành của
Việt Nam quy định như sau:
Khoản tiền dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với
doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ không thấp hơn 25% tổng dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt
Nam
Khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ
bảo hiểm và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam
1.2.1.2 Nguyên tắc đầu tư vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm
Các nguyên tắc cơ bản mà pháp luật ở nhiều nước đặt ra đối với hoạt động
đầu tư của các DNBH là an toàn, sinh lợi và đảm bảo tính thanh khoản
Nguyên tắc an toàn: nguyên tắc này yêu cầu DNBH phải đầu tư vốn nhàn rỗi
một cách chắc chắn để luôn thực hiện được cam kết với người được bảo hiểm khi
xảy ra các sự kiện bảo hiểm
Nguyên tắc sinh lợi: tức là hoạt động đầu tư của các DNBH phải mang lại lợi
nhuận Đây cũng là yêu cầu tất yếu của hoạt động đầu tư, bởi vì suy cho cùng mọi
Trang 20sự đầu tư vốn cũng nhằm tối đa hóa lợi nhuận Với mức phí thu được của người
tham gia bảo hiểm, DNBH đã nắm giữ được một nguồn tài chính dồi dào Do còn
phải thực hiện các cam kết chia lãi cho người tham gia bảo hiểm, DNBH phải thực
hiện các hoạt động đầu tư trên nhiều lĩnh vực nhằm tối đa hóa lợi nhuận để tăng khả
năng đền bù, giảm phí, làm cho dịch vụ bảo hiểm ngày càng hấp dẫn hơn Tuy
nhiên, theo lý thuyết đầu tư thì việc thực hiện nguyên tắc này lại mâu thuẫn với
nguyên tắc an toàn Vấn đề đặt ra cho DNBH là phải đáp ứng được hai nguyên tắc
mâu thuẫn với nhau này một cách hài hòa
Nguyên tắc thanh khoản: đầu tư trong bảo hiểm yêu cầu đáp ứng nhu cầu
thanh toán thường xuyên nên các loại hình đầu tư phải có tính thanh khoản cao
Do đó, nhiệm vụ của các nhà quản lý đầu tư là phải biết kết hợp hài hòa giữa
ba nguyên tắc cơ bản trên, lựa chọn đối tác đầu tư nào để phát huy hiệu quả cao
nhất mà vẫn đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản này
1.2.2 Danh mục đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm
Trong quá trình xây dựng danh mục đầu tư (DMĐT), bất kỳ DNBH nào cũng
phải quyết định xem cần đưa những loại tài sản nào vào DMĐT của doanh nghiệp
nhằm đạt được hai mục tiêu: (1) duy trì khả năng thanh toán; và (2) duy trì khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp Ở mức độ tối thiểu nhất, hai mục tiêu này bao gồm
việc đáp ứng trách nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm, duy trì khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp để tăng thị phần, và đóng góp vào sự tăng trưởng của thu
nhập và thặng dư doanh nghiệp Để đạt được các mục tiêu đó, DNBH phải tạo ra
được một DMĐT với các đặt tính của dòng tiền phù hợp với các trách nhiệm bảo
hiểm mà công ty phải chi trả trong tương lai và phù hợp với chiến lược quản lý rủi
ro, đặt biệt là rủi ro mất cân đối giữa tài sản và trách nhiệm của doanh nghiệp
Xét ở góc độ tổng quát nhất, có hai loại rủi ro gắn liền với các tài sản đầu tư
Thứ nhất là rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường Đây là loại rủi ro có ảnh hưởng tới
hầu hết các tài sản đầu tư, mặc dù mỗi loại tài sản chịu ảnh hưởng ở mức độ cao
Trang 21thấp khác nhau Ví dụ về loại rủi ro này là rủi ro về chính trị, lãi suất hay lạm phát
Thứ hai là rủi ro đặt thù riêng có của từng tài sản hay của một nhóm nhỏ các tài sản
đầu tư Thực tiễn cũng như lý thuyết đầu tư hiện đại đã chứng minh rằng, bằng cách
kết hợp nhiều loại tài sản trong một DMĐT, hay nói một cách khác, đa dạng hóa
DMĐT có thể loại trừ hoặc giảm thiểu các rủi ro đặt thù riêng có của từng loại tài
sản Vì lý do này mà các DNBH luôn luôn mong muốn và tìm cách đa dạng hóa
DMĐT của mình để đảm bảo an toàn trong hoạt động đầu tư
Để đảm bảo các DNBH thực hiện tốt nhất các nghĩa vụ với người được bảo
hiểm, pháp luật mỗi nước đều có quy định giới hạn DMĐT nhưng nhìn chung
DMĐT của một DNBH thường bao gồm các loại tài sản như sau:
Trái phiếu (bao gồm trái phiếu chính phủ và công ty):
Trái phiếu được coi là một công cụ đầu tư dài hạn tạo ra nguồn thu nhập ổn
định cho DNBH thông qua việc trả tiền lãi định kỳ (thường là 6 tháng hoặc hàng
năm) và trả số tiền gốc theo mệnh giá vào lúc đáo hạn Đầu tư vào trái phiếu, nhất là
trái phiếu chính phủ có mức độ rủi ro thấp và tạo ra độ chắc chắn cao hơn về tỷ suất
lợi nhuận Những công cụ đầu tư đầu tư tạo ra nguồn thu nhập ổn định giống như
trái phiếu với thời hạn và dòng tiền phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp BHNT
trong việc đạt được mức lợi nhuận giả định được xây dựng trong công thức tính phí
bảo hiểm và đáp ứng được mục tiêu quản lý rủi ro mất cân đối giữa tài sản và trách
nhiệm của doanh nghiệp Ở TTBH phát triển, thông thường trái phiếu công ty là
loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất trong DMĐT của một công ty BHNT
(khoảng trên 40%) Trái phiếu chính phủ được coi là không có rủi ro về tín dụng, vì
vậy mức lãi suất thấp hơn trái phiếu công ty và cũng ít hấp dẫn hơn so với trái phiếu
công ty Trái phiếu chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong DMĐT của
một DNBH
Cổ phiếu
Trang 22Cổ phiếu của các công ty là loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong
DMĐT của một công ty bảo hiểm ở các TTBH phát triển Những đặc tính của dòng
tiền tạo ra từ việc đầu tư vào cổ phiếu phổ thông có mức biến động cao hơn nhiều
và do vậy nhiều rủi ro hơn so với các đặt tính của dòng tiền tạo ra từ việc đầu tư vào
trái phiếu Đặt tính của dòng tiền tạo ra từ cổ phiếu phổ thông được quyết định bởi
việc chi trả cổ tức thường kỳ (không mang tính cam kết) và bởi giá trị thị trường
của cổ phiếu Khác với trái phiếu, cổ phiếu phổ thông không có thời gian đáo hạn
Do các đặt tính nêu trên, phần lớn nguồn vốn đầu tư vào cổ phiếu phổ thông của các
doanh nghiệp BHNT có nguồn gốc là số phí bảo hiểm thu được từ các hợp đồng
BHNT gắn với đầu tư (investment-linked products) Đây là loại sản phẩm thế hệ
mới, rất phổ biến và hấp dẫn người tham gia bảo hiểm ở các TTBH phát triển Đối
với loại sản phẩm này, rủi ro đầu tư được chuyển từ công ty BHNT sang người
tham gia bảo hiểm hay nói cách khác, người tham gia bảo hiểm có quyền quyết định
số phí bảo hiểm họ đóng sẽ được đầu tư vào lĩnh vực nào
Cổ phiếu ưu đãi mang tính chất của cả cổ phiếu phổ thông và trái phiếu, thể hiện
việc người đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi được chi trả cổ tức theo một mức ấn định
trước và cổ tức ưu đãi phải được chi trả trước khi cổ tức phổ thông chi trả Tuy
nhiên, cũng giống như cổ tức phổ thông, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không mang
tính cam kết và chỉ được chi trả khi công bố
Ngoài ra, đầu tư vào cổ phiếu còn gặp một số bất lợi khác của đầu tư chứng khoán
là lạm phát, lãi suất, rủi ro về kinh tế vĩ mô, rủi ro về xã hội, chính trị
Cho vay có thế chấp
Ngoài việc đầu tư vào các loại trái phiếu và cổ phiếu, một công cụ phổ biến
mà các DNBH thường sử dụng là cho vay có thế chấp mà tài sản thế chấp được hình
thành từ vốn vay Cũng giống như các công cụ khác (trái phiếu), cho vay có thế
chấp là công cụ đầu tư tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho DNBH thông qua việc
nguời vay thanh toán tiền lãi và một phần tiền gốc theo định kỳ cho doanh nghiệp,
Trang 23mặc dù cho vay có thế chấp có độ rủi ro cao hơn đầu tư vào trái phiếu Xét về mặt
lịch sử, các khoản cho vay thương mại dài hạn có thế chấp từng là phương thức lý
tưởng được sử dụng để cân đối các trách nhiệm dài hạn mà DNBH đã cam kết với
người tham gia bảo hiểm
Cho vay theo hợp đồng
Cho vay theo hợp đồng bảo hiểm là hình thức cho vay đặc thù của các
DNBH vì hai lý do Thứ nhất, các khoản vay theo hợp đồng bảo hiểm không phải là
kết quả của một quyết định về quản lý đầu tư mà đó là kết quả của việc thực hiện
các quyền lựa chọn của chủ hợp đồng được quy định trong hợp đồng bảo hiểm Thứ
hai, khoản tiền cho vay không bao giờ vượt quá giá trị giải ước của hợp đồng bảo
hiểm và DNBH luôn luôn có thể khấu trừ khoản tiền cho vay không được hoàn trả
từ giá trị giải ước hoặc số tiền bảo hiểm nên độ an toàn của hầu hết số tiền cho vay
theo hợp đồng bảo hiểm là tuyệt đối Các đặc tính của dòng tiền gắn liền với các
khoản cho vay theo hợp đồng bảo hiểm được quyết định bởi sở thích của chủ hợp
đồng, do vậy nhiều khi khó dự đoán trước Nhìn chung, để đảm bảo an toàn cho vay
theo hợp đồng chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong DMĐT của doanh nghiệp
BHNT (dưới 10% tổng giá trị tài sản đầu tư)
Đầu tư kinh doanh bất động sản
Đầu tư trực tiếp hoặc nắm quyền sở hữu bất động sản là hình thức đầu tư
tương tự như đầu tư vào cổ phiếu phổ thông Đầu tư vào bất động sản có thể rất hấp
dẫn đối với DNBH do tạo ra mức lợi nhuận cao hơn so với đầu tư vào cổ phiếu
trong khi vẫn tạo ra cơ hội để tăng giá trị vốn đầu tư thông qua việc tăng giá của bất
động sản trên thị trường Các đặc tính của dòng tiền tạo ra từ việc đầu tư vào bất
động sản được quyết định bởi công suất cho thuê, tiền cho thuê và chi phí hoạt động
cho thuê bất động sản Mặt khác, các đặc tính khó dự đoán trước của dòng tiền tạo
ra từ việc đầu tư và bất động sản làm cho công cụ đầu tư này không hoàn toàn phù
hợp với nhu cầu của các DNBH Thêm vào đó, đầu tư vào bất động sản thì tính
Trang 24thanh khoản không cao, do việc bán các bất động sản không thể diễn ra nhanh
chóng được, vì các thủ tục giao dịch và các nhu cầu của người mua khó phù hợp với
những đặc tính bất động sản hiện có của người bán.Tuy nhiên, các DNBH vẫn duy
trì một tỷ lệ bất động sản nhất định trong DMĐT của mình vì mục tiêu đa dạng hóa
DMĐT nhằm giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm một mức lợi nhuận cao hơn
Tiền gửi vào các tổ chức tín dụng
Hình thức đầu tư này được sử dụng do có nhiều ưu điểm Việc gửi tiền lấy
lãi được trải rộng trên nhiều ngân hàng, đúng nguyên tắc phân tán rủi ro và đáp ứng
được yêu cầu thanh khoản cao Ngân hàng được chọn để đầu tư là ngân hàng thỏa
mãn cùng lúc hai tiêu thức: sự hoạt động và lãi suất Trong đó, tiêu thức về tình
hình hoạt động của ngân hàng là tiêu thức được ưu tiên hơn cả, vì ngân hàng có
hoạt động tốt thì mới đảm bảo sự an toàn số tiền gửi của các doanh nghiệp bảo hiểm
và đảm bảo được tính thanh khoản khi cần, còn tiêu thức thứ hai chỉ là tiêu thức phụ
bổ sung cho sự lựa chọn khi các ngân hàng có sự hoạt động như nhau
Tuy nhiên, khi đầu tư tiền gửi vào các ngân hàng các doanh nghiệp bảo hiểm
phải có nhiều kênh thông tin chính thức để tìm hiểu và nắm được tình hình hoạt
động của ngân hàng Mặt khác các doanh nghiệp bảo hiểm rất mong có sự kiểm tra
kiểm soát thường xuyên của các cơ quan quản lý Nhà nước về tình hình hoạt động
của ngân hàng, để đảm bảo cho việc đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được an
toàn, nhất là kiểm soát tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần
1.2.3 Hoạt động đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở một số nước
1.2.3.1 Các quy định về pháp lý
Những quy định pháp lý về đầu tư tài chính ở các nước không hoàn toàn
giống nhau Nhưng xét về tổng thể, các quy định này có những đặc điểm chung như
sau:
Bắt buộc các công ty bảo hiểm phải thiết lập đầy đủ các quỹ dự phòng kỹ
thuật để đảm bảo tôn trọng cam kết của các công ty bảo hiểm đối với người được
Trang 25bảo hiểm Quy định này được coi như một chỉ tiêu để đánh giá khả năng thanh toán
của các công ty bảo hiểm
Bắt buộc các DNBH phải thể hiện rõ các quỹ dự phòng kỹ thuật trên báo cáo
tài chính là một khoản mục riêng bên Nguồn vốn của bảng Cân đối kế toán Nguồn
vốn này phải được tương thích bằng một danh mục tài sản đầu tư bên Tài sản có của
Bảng Cân đối kế toán
Thể chế hóa các nguyên tắc đầu tư tài chính các quỹ dự phòng kỹ thuật là: an
toàn, sinh lợi, tính thanh khoản và đa dạng hóa DMĐT
Quy định tỷ lệ tối đa và tối thiểu cho từng loại tài sản đầu tư đối với việc
phân bổ các quỹ dự phòng của các công ty bảo hiểm
Tùy vào đặc điểm kinh tế, tài chính và xã hội, mỗi nước có quy định về
nguyên tắc phân bổ tài sản đầu tư theo các tỉ lệ khác nhau Chúng ta có thể tham
khảo quy định đầu tư của một số nước trong khu vực Châu Á và Châu Âu như sau:
a) Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở một số nước Châu Á
Tình hình đầu tư của các DNBH nhân thọ khu vực Châu Á nhìn chung còn
cứng nhắc, thận trọng Hầu hết các khoản đầu tư của các công ty này là vào tiền gửi
và các loại chứng khoán với lãi suất cố định Tính trung bình tỷ lệ đầu tư vào cổ
phiếu chỉ chiếm khoảng 10 đến 15% tổng nguồn vốn đầu tư Chỉ trừ có thị trường
Nhật Bản với tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu ở mức khá cao, khoảng 30% tổng nguồn vốn
đầu tư Ở Trung Quốc, các công ty bảo hiểm buộc phải áp dụng cơ cấu đầu tư thận
trọng chủ yếu là do những quy định chặt chẽ của chính phủ hạn chế hoạt động đầu
tư chứ không phải xuất phát từ chiến lược thận trọng của các công ty này Tuy
nhiên, những hạn chế này cũng đang dần dần được gỡ bỏ Các công ty bảo hiểm
Trung Quốc nay đã có thể đầu tư trực tiếp vào các cổ phiếu hay đầu tư ra nước
ngoài Ở Đài Loan, các công ty bảo hiểm sẽ được phép đầu tư tới 50% tổng nguồn
vốn đầu tư của mình ra nước ngoài thay vì 35% như hiện nay
Trang 26Bảng 1.1: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Trung Quốc
Loại hình đầu tư Tỷ lệ quỹ
đầu tư Các giới hạn (nếu có)
- Trái phiếu và các công cụ nợ
- Trái phiếu chuyển đổi
- Cho vay có bảo lãnh ngân hàng
- Cho vay có bảo lãnh các Công ty
<4% giá trị công ty bảo lãnh
Cổ phiếu: - Đầu tư vào quỹ tương hỗ
- Cổ phiếu niêm yết
15%
5%
<10% tổng giá trị quỹ tương hỗ
<10% giá trị niêm yết 1 công ty
Cho vay chủ hợp đồng Theo giá trị giải ước
Đầu tư ra nước ngoài 80% của vốn ngoại tệ
Cho vay/mượn ngoại tệ trên thị
trường liên ngân hàng 50% trên vốn ngoại tệ
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà nội tháng 8 năm 2005
Trang 27Bảng 1.2: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Indonesia
Loại hình đầu tư Tỷ lệ quỹ
đầu tư Các giới hạn (nếu có)
Tiền gửi ngân hàng 100% 20% cho mỗi ngân hàng
Trái phiếu Chính phủ và các chứng
khoán được bảolãnh
100%
Cổ phiếu:
- Đầu tư vào quỹ tương hỗ
- Cổ phiếu niêm yết
20%
100% <20% giá trị niêm yết 1 công ty
Cho vay chủ hợp đồng 100% Tối đa 80% giá trị giải ước
Trái phiếu Công ty và các chứng
<20 % giá trị niêm yết của một
công ty Cho vay thế chấp 20% <75% tài sản thế chấp
Đầu tư trực tiếp 10%
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà nội tháng 8 năm 2005
Trang 28Bảng 1.3: Quy định đầu tư cho các công ty BHNT ở Hồng Kông
Loại hình đầu tư Tỷ lệ quỹ đầu
tư Các giới hạn (nếu có)
Các chứng khoán của Chính phủ 100% Không giới hạn
Trái phiếu Công ty và cho vay trực
Cho vay chủ hợp đồng Theo giá trị giải ước
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà nội tháng 8 năm 2005
Nhìn chung, các quy định pháp lý về đầu tư cho các công ty BHNT ở Châu
Á đã quy định rõ ràng và chi tiết các khoản mục đầu tư nhằm giảm thiểu sự quản lý
chồng chéo Việc mở rộng lĩnh vực đầu tư làm giảm thiểu các rủi ro trong đầu tư
nhằm tạo điều kiện sử dụng, thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước
b) Quy định đầu tư cho các công ty bảo hiểm ở một số nước Châu Âu
Quy định đầu tư cho các công ty bảo hiểm ở Pháp:
Quy định DMĐT gồm 5 loại: Trái phiếu, Cổ phiếu, Bất động sản, Cho vay và Tiền
gửi Trong đó, mỗi loại tài sản đầu tư được quy định như sau:
+ Không quá 65% quỹ dự phòng đối với cổ phiếu
+ Không quá 40% quỹ dự phòng đối với bất động sản
+ Không quá 10% quỹ dự phòng đối với cho vay
+ Đầu tư vào trái phiếu không hạn chế
+ Không quy định mức đầu tư vào tiền gửi ngân hàng
Trang 29Quy định về phân tán rủi ro trong đầu tư như sau:
+ Không được đầu tư quá 5% quỹ dự phòng vào cổ phiếu được niêm yết
hoặc trái phiếu của một công ty phát hành
+ Không được đầu tư quá 0,5% quỹ dự phòng vào cổ phiếu không được niêm
yết
+ Không được đầu tư quá 10% quỹ dự phòng vào một bất động sản
Quy định đầu tư cho các công ty bảo hiểm ở Cộng hòa Liên bang Đức:
DNBH được phép đầu tư vào các danh mục sau: chứng khoán, cho vay, tiền
gửi tại các tổ chức tín dụng, bất động sản, các khoản trả trước hoặc cho vay theo
đơn bảo hiểm của DNBH đối với chủ hợp đồng BHNT, đầu tư khác
Quy định về phân bổ vào các DMĐT như sau:
+ Đầu tư vào cổ phiếu và các quỹ chứng khoán đặc biệt không vượt quá 30%
quỹ dự phòng
+ Đầu tư vào bất động sản không vượt quá 25% quỹ dự phòng
+ Đầu tư vào trái phiếu vô danh, trái phiếu thế chấp, trái phiếu địa phương
không vượt quá 2.5% quỹ dự phòng Nếu đầu tư kết hợp trái phiếu và cổ phiếu, tỷ lệ
các khoản đầu tư không vượt quá 10% giá trị các quỹ dự phòng
1.2.3.2 Cơ cấu đầu tư và sự thay đổi cấu trúc đầu tư trên thị trường BHNT
Chúng ta có thể thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm ở một số nước
nước thể hiện qua bảng sau:
Trang 30Bảng 1.4: Cơ cấu đầu tư tài chính của các công ty BHNT ở một số nước
(Đơn vị: %)
Danh mục Năm Anh Pháp Nhật
2001 30,9 68,6 41,8
2002 38,2 64,7 38,1 Trái phiếu
2003 8,9 9,3 5,9
2001 3,2 1,4 9,1
2002 1,5 2,1 8,4 Tiền gửi ngân hàng
2003 2,7 1,7 7,7
2001 8 2,4 12,2
2002 6,5 2,7 16,7 Đầu tư khác
Nguồn: http://swissre.com/sigma6_2004
Như vậy, có thể thấy những lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các công ty bảo
hiểm ở các nước kể trên chủ yếu được đầu tư vào các tài sản chính là cổ phiếu và
trái phiếu
Trang 31Qua các năm quan sát đều cho thấy trong cấu trúc đầu tư của các công ty bảo
hiểm trên thì giá trị các khoản vốn đầu tư vào chứng khoán chiếm trên 80% Trong
lĩnh vực chứng khoán thì trái phiếu là loại tài sản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng số vốn đầu tư của hai nước Pháp và Nhật, còn các công ty bảo hiểm của
Anh thì ngược lại, đầu tư vào cổ phiếu nhiều hơn Lượng vốn đầu tư vào tiền gửi
tiết kiệm tại ngân hàng và các khoản đầu tư khác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, từ
khoảng 1,5%-3,6% giá trị vốn đầu tư của các công ty bảo hiểm ở các công ty bảo
hiểm Anh và Pháp Đối với Nhật, các công ty BHNT ở đây dành khoảng 30% trong
tỷ trọng đầu tư để đầu tư vào các lĩnh vực khác như bất động sản, tiền gửi ngân
hàng và các khoản đầu tư khác với cơ cấu mỗi loại chiếm từ 6,5% đến 15% Tỷ
trọng vốn đầu tư như vậy thể hiện sự phân bố khá đồng đều hơn ở các công ty
BHNT của Nhật
Quan sát tổng thể về cơ cấu đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở các nước
phát triển ta nhận thấy các xu hướng đầu tư chính là:
+ Thứ nhất, vốn đầu tư bất động sản và tiền gửi vào các tổ chức tín dụng có
xu hướng giảm mạnh, trong cấu trúc đầu tư của các công ty bảo hiểm có thể nhận
thấy danh mục này ngày càng chiếm một tỷ trọng nhỏ
+ Thứ hai, vốn đầu tư cổ phiếu và trái phiếu công ty đang có xu hướng tăng
lên ở tất cả các nước Trong mọi giai đoạn, vốn đầu tư vào trái phiếu chiếm tỷ trọng
cao nhất trong cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm ở đa số các nước
Kết luận chương 1:
Để có thể đáp ứng được nhu cầu đảm bảo an toàn về tài chính khi phát sinh
các biến cố trong sản xuất và đời sống, các chủ thể, cá nhân đã tìm đến nhà bảo
hiểm Vì thế các DNBH cần phải sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn vốn thu
được Chương 1 đã giới thiệu về nguyên tắc lý luận, các qui định pháp lý, kinh
nghiệm đầu tư ở một số nước nhằm làm cơ sở tham chiếu so sánh để xác định quan
điểm đầu tư cho các DNBH tại Việt Nam
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
VỐN CỦA CÁC DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát sự ra đời vào phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam
Lịch sự ra đời và phát triển bảo hiểm ở Việt Nam có thể khái quát qua 3 giai
đoạn chính:
Giai đoạn trước 30/04/1975
- Tình hình hoạt động bảo hiểm ở miền Nam: Ở miền Nam hoạt động kinh doanh
bảo hiểm khá phát triển với sự có mặt của trên 52 công ty bảo hiểm trong nước và
nước ngoài Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn, trung tâm kinh tế
của miền Nam lúc bấy giờ Các công ty bảo hiểm có Hiệp hội nghề nghiệp của mình
nhằm thực hiện các chức năng vốn có như thông tin tư vấn, đào tạo, môi trường hợp
tác Các công ty hoạt động theo Luật bảo hiểm năm 1965
- Tình hình hoạt động bảo hiểm ở miền Bắc: Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam
(Bảo Việt) ra đời theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/12/1964, chính
thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 Bảo Việt là công ty bảo hiểm nhà nước duy
nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam Do hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động
của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển Với 2 chi nhánh ở Hà Nội và Hải Phòng,
Bảo Việt thực hiện chủ yếu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nhưng thường
tái bảo hiểm với tỷ lệ cao cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan
Giai đoạn sau 30/04/1975 đến trước 18/12/1993
Các công ty bảo hiểm được quốc hữu hóa và sáp nhập chung vào Tổng Công
ty Bảo hiểm Việt Nam Các công ty bảo hiểm cũ ở miền Nam sát nhập thành lập
Công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam (BAVINA) Sau 1976, BAVINA
chuyển thành chi nhánh công ty bảo hiểm Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33Trong giai đoạn này chỉ có một công ty bảo hiểm duy nhất của Nhà nước là Bảo
Việt, trực thuộc Bộ Tài chính
Giai đoạn sau ngày 18/12/1993 đến nay
Nghị Định 100/CP của Chính phủ ra đời Bộ Tài chính thành lập thêm một số
công ty bảo hiểm thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau Tình trạng độc quyền
trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đã bị xoá bỏ Cũng từ thời gian này, hoạt động
kinh doanh bảo hiểm Việt Nam bắt đầu sôi động do có sự cạnh tranh lẫn nhau giữa
các công ty Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam thật sự hoạt động mang tính
chuyên nghiệp từ khi Quốc Hội thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm và có hiệu lực
thi hành từ 01/04/2001 TTBH Việt Nam đã có sự tham gia hoạt động của các công
ty bảo hiểm Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và đặc biệt có cả DNBH của ASEAN
Sự mở cửa này đã tạo nên sức ép, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải vươn lên,
nâng cao sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển
2.1.2 Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng ở tốc độ cao, mức tăng trưởng mà
trước đây người ta nghĩ rằng Trung Quốc và Ấn Ðộ mới có thể đạt được Năm
ngoái, GDP của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 8,4%, tăng gấp rưỡi so với năm
2001 Dân số của Việt Nam hiện là 82 triệu người, trong đó, số dân ở độ tuổi dưới
30 chiếm tới 60% Chính thói quen tiết kiệm của người dân đã góp phần tạo nên sức
hấp dẫn của TTBH Từ năm 1993 đến nay, sau gần 14 năm mở cửa, các doanh
nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã học tập được nhiều kinh nghiệm và tự nâng cao năng
lực để cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang họat
động tại Việt Nam Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang từng bước chuẩn bị
nâng cao năng lực của mình Lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam trong
thời gian qua được đánh giá là tương đối mạnh Số lượng doanh nghiệp chính thức
kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam hiện nay 32 DNBH và môi giới bảo hiểm tiến
hành hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho thị trường Đối với
Trang 34lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ có 16 doanh nghiệp, trong đó có 2 DNBH Nhà
nước, 8 doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm; 3 DNBH 100% vốn nước ngoài; 3 doanh
nghiệp liên doanh bảo hiểm BHNT có 8 doanh nghiệp, trong đó có 1 DNBH nhà
nước, 1 doanh nghiệp liên doanh và 6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Trong
lĩnh vực môi giới bảo hiểm có 7 doanh nghiệp, trong đó có 4 doanh nghiệp cổ phần
và 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Loại hình doanh nghiệp tái bảo hiểm có 1
doanh nghiệp, đó là Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) Ngoài ra còn
có 30 công ty nước ngoài khác đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam
Bảng 2.1: Tổng hợp các doanh nghiệp hoạt động bảo hiểm trên thị trường VN
đến 31/12/2005
Loại hình doanh
nghiệp
Nhà nước Cổ phần
Liên doanh
100% vốn nước ngoài
Tổng cộng
Tái bảo hiểm 1 1 Môi giới bảo hiểm 4 3 7
Nguồn: Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Trang 35Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005
Năm thành lập
Hình thức
sở hữu
Vốn điều lệ
Lĩnh vực hoạt động
1 Tổng công ty bảo hiểm VN
(Bảo Việt) 1964 Nhà nước
3.000 tỷ VND
Nhân thọ, phi nhân thọ
2 Công ty môi giới bảo hiểm Aon 1993 nước ngoài 100% vốn 300.000 USD bảo hiểm Môi giới
3 Công ty tái bảo hiểm quốc gia
VN (Vinare) 1994
Cổ phần/2004
343 tỷ VND
Tái bảo hiểm
4 Công ty bảo hiểm Thành phố
Hồ Chí Minh (Bảo Minh) 1995 Cổ phần
434 tỷ VND
Phi nhân thọ
5 Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) 1995 phần/2004 Cổ 140 tỷ VND Phi nhân thọ
6 Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) 1995 Cổ phần VND 70 tỷ Phi nhân thọ
7 Công ty bảo hiểm dầu khí (PV
Insurance) 1996 Nhà nước
20 tỷ VND
Phi nhân thọ
8 Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế - VN (VIA) 1996 Liên doanh 6 triệu USD Phi nhân thọ
9 Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC) 1997 Liên doanh 4 triệu USD Phi nhân thọ
10 Công ty cổ phần bảo hiểm bưu
điện (PTI) 1998 Cổ phần
70 triệu USD
Phi nhân thọ
11 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Manulife VN 1999 nước ngoài 100% vốn 10 triệu USD Nhân thọ
12 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh – CMG 1999 Liên doanh 25 triệu USD Nhân thọ
13 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential 1999 nước ngoài 100% vốn 61 triệu USD Nhân thọ
14 Công ty TNHH bảo hiểm quốc
tế Mỹ (AIA) VN 2000
100% vốn nước ngoài
25 triệu USD Nhân thọ
15 Công ty TNHH bảo hiểm tổng
hợp Groupama VN 2001
100% vốn nước ngoài
5 triệu USD
Phi nhân thọ
16 Công ty cổ phần môi giới bảo
hiểm Việt Quốc 2001 Cổ phần
6 tỷ VND
Môi giới bảo hiểm
Trang 36Bảng 2.2: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 31/12/2005
(tiếp theo)
17 Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Samsung-Vina 2002 Liên doanh 5 triệu USD Phi nhân thọ
18 Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Châu Á - NH Công
thương
2002 Cổ phần 6 triệu
USD
Phi nhân thọ
19 Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn
Đông (VASS) 2003 Cổ phần
200 tỷ VND
Phi nhân thọ
20 Công ty môi giới bảo hiểm Gras Savoye 2003 nước ngoài 100% vốn 300.000 USD bảo hiểm Môi giới
21 Công ty môi giới bảo hiểm Á
6 tỷ VND
Môi giới bảo hiểm
22 Công ty môi giới bảo hiểm Đại Việt 2003 Cổ phần VND 6 tỷ bảo hiểm Môi giới
23 Công ty môi giới bảo hiểm Marsh VN 2004 nước ngoài 100% vốn 300.000 USD bảo hiểm Môi giới
24 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân
thọ ACE Life VN (ACE Life) 2005
100% vốn nước ngoài
20 triệu USD Nhân thọ
25 Công ty Bảo hiểm AAA 2005 Cổ phần VND 80 tỷ Phi nhân thọ
26 Công ty TNHH bảo hiểm QBE VN (QBE Viet Nam) 2005 nước ngoài 100% vốn 7,5 triệu USD Phi nhân thọ
27 Công ty Bảo hiểm Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển (BIC) 2005 Cổ phần
4 triệu USD
Phi nhân thọ
28 Công ty Bảo hiểm Nhân thọ
100% vốn nước ngoài
10 triệu USD Nhân thọ
29 Công ty môi giới bảo hiểm Thái Bình Dương 2005 Cổ phần
không
có số liệu
Môi giới bảo hiểm
30 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ New York Life 2005 nước ngoài 100% vốn 10 triệu USD Nhân thọ
31 Công ty AIG Việt Nam (AIG
Viet Nam) 2005
100% vốn nước ngoài
không
có số liệu
Phi nhân thọ
Nguồn: Theo Hiệp hội Bảo hiểm VN
Trang 37Trong giai đoạn hiện nay, Bộ Tài chính đã thực hiện phát triển TTBH theo
hướng đa dạng hóa các loại hình sở hữu nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư vào
lĩnh vực bảo hiểm giúp TTBH hoạt động an toàn, hiệu quả và có đủ năng lực cung
cấp các dịch vụ có chất lượng, có tính cạnh tranh phù hợp với lộ trình hội nhập quốc
tế TTBH tiếp tục mở cửa với việc nhà nước cấp phép cho công ty AAA, AIG hoạt
động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ; Prevoir, ACE Life, New York Life hoạt
động kinh doanh BHNT; Công ty Thái Bình Dương hoạt động môi giới bảo hiểm và
một số Văn phòng đại diện Công ty bảo hiểm nước ngoài Việc cấp phép cho các
DNBH nước ngoài được thực hiện theo đúng quy định phát luật hiện hành, phù hợp
với tiến trình hội nhập kinh tế cũng như các cam kết song phương, đa phương của
Việt Nam với các nước Các DNBH nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt
Nam đều là các doanh nghiệp hàng đầu thế giới, có uy tín, năng lực tài chính và
kinh nghiệm hoạt động được các tổ chức xếp hạng quốc tế đánh giá có hệ số tín
nhiệm cao nhất Bên cạnh đó, tỷ lệ và cơ cấu các loại hình doanh nghiệp thuộc các
khu vực tương đối hài hòa, xử lý tốt mối quan hệ giữa Việt Nam và các khu vực
trên thế giới trong việc mở cửa TTBH Trong 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có 06 chủ đầu tư Mỹ, 03 chủ đầu tư là Pháp, 01 chủ đầu tư là Anh, 01 chủ đầu
tư là Canada, 02 chủ đầu tư Úc, 02 Nhật, 01 Hàn Quốc
Ngoài ra, TTBH cũng diễn ra sự cơ cấu lại các DNBH Bảo Minh và
VINARE năm đầu tiên cổ phần hóa hoạt động có nhiều khởi sắc Ngân hàng Đầu tư
phát triển Việt Nam mua lại cổ phần của QBE thành lập công ty BIC 100% vốn
Việt Nam; QBE mua lại công ty bảo hiểm Allianz; Bảo Việt trở thành tập đoàn tài
chính Bảo Việt theo quyết định số 310 của Thủ tướng Chính phủ với nhiều đơn vị
thành viên như Bảo Việt Nhân thọ, Bảo Việt Việt Nam, Bảo hiểm y tế cộng đồng,
Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ, Ngân hàng Cổ phần Bảo Việt, Công ty
cho thuê Tài chính Bảo Việt, Công ty kinh doanh bất động sản Bảo Việt Theo số
liệu của Hiệp hội bảo hiểm, tốc độ tăng trưởng của TTBH phi nhân thọ Việt Nam
thời gian qua đạt bình quân 34%/năm và trên 60%/năm với BHNT Dự báo của Bộ
Trang 38Tài chính cho rằng, đến năm 2010, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP có thể
đạt 4,2%
Sau gần 14 năm mở cửa TTBH, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt
Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị
trường tăng bình quân 30% trong giai đoạn 1993 - 2005 cơ cấu tỷ trọng doanh thu
dịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh từ 0,37% GDP năm 1993 lên
2,03%/GDP năm 2005
Số lượng sản phẩm bảo hiểm năm 1993 chỉ có 22, đến nay đã có gần 700 sản
phẩm bảo hiểm, do không còn tình trạng hoạt động độc quyền, các doanh nghiệp đã
chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung thêm quyền lợi cho các
khách hàng, giải quyết bồi thường nhanh chóng, đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp
đồng bảo hiểm Các đại lý bảo hiểm, hiện ở con số 92.000, đang là lực lượng phân
phối dịch vụ bảo hiểm chính ở Việt Nam Chỉ có 12% hợp đồng bảo hiểm được
thương lượng bởi các nhà môi giới bảo hiểm Tuy nhiên, con số các công ty môi
giới bảo hiểm sẽ còn gia tăng Công ty môi giới bảo hiểm Aon Việt Nam, hiện đang
chiếm thị phần lớn nhất, khoảng 46% doanh thu từ môi giới bảo hiểm tại thị trường
này Các công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động sớm tại Việt Nam đang thu được
nhiều lợi nhuận Năm 2002, Manulife Việt Nam, công ty BHNT 100% vốn nước
ngoài đầu tiên ở Việt Nam, cho biết sau 3 năm hoạt động đã trở thành công ty bảo
hiểm đầu tiên thu được lợi nhuận tại thị trường này Năm 2004, Prudential Việt
Nam cũng thông báo đã thu được lợi nhuận ở mức 3,8 triệu USD sau 5 năm hoạt
động Việt Nam đã trở thành địa điểm đầu tư phổ biến thứ 4 của các nhà đầu tư
Nhật Bản vào năm 2005, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Ðộ và Thái Lan sau khi đứng ở vị
trí thứ 8 vào năm 2000 Theo một báo cáo do công ty tư vấn của Mỹ Towers Perrin
về TTBH Việt Nam, với chưa đầy 10% dân số có sử dụng dịch vụ BHNT, đây là
một trong những TTBH có tiềm năng tăng trưởng hàng đầu ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương
Trang 39Rõ ràng, Việt Nam là một TTBH đầy tiềm năng nhưng cũng nhiều thách
thức
Có thể nói, luật pháp đối với lĩnh vực bảo hiểm của Việt Nam còn chưa hoàn
thiện và vẫn còn có những hạn chế pháp lý đối với việc đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư
của các công ty bảo hiểm
Đến giữa năm 2006, các công ty bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam vẫn chưa
được phép cung cấp một cách đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ Mặc dù
chiếm vị trí chủ đạo trên thị trường BHNT nhưng các công ty nước ngoài chỉ nắm
một thị phần khiêm tốn 7% trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ do thị trường này
thuộc về các công ty trong nước Các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại Việt Nam
cũng đang phải đối mặt với việc các ngân hàng tăng lãi suất để thu hút người dân
gửi tiết kiệm thay vì mua bảo hiểm Hiện nay, lãi suất tiền gửi tiết kiệm hàng năm
đã ở mức 10% trong khi mức lãi bảo hiểm chỉ là 2% Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
cho biết, số lượng hợp đồng bảo hiểm mới được ký trong quý đầu năm 2006 giảm
tới 27% so với cùng kỳ năm 2005 Số lượng hợp đồng mà Manulife ký được trong
thời kỳ này giảm tới 56%, Bảo hiểm Quốc tế Mỹ giảm 44%, Prudential giảm 30%
và Bảo Minh CMG giảm 31% Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, ở Việt Nam
hiện có 120.000 đại lý bảo hiểm và 10.000 nhân viên làm việc trong lĩnh vực này
2.2 THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1 Vấn đề tạo lập vốn trong doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
tại Việt Nam hiện nay
2.2.1.1 Nguồn gốc hình thành vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm
Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Việt Nam định nghĩa: “Hoạt động kinh doanh
bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó
doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên
mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho
Trang 40người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm”
Thông qua định nghĩa trên kết hợp với các nguyên tắc bảo hiểm, ta thấy
ngành kinh doanh bảo hiểm không giống như các ngành sản xuất kinh doanh khác
Khi một hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết, nhà kinh doanh bảo hiểm - bằng sự
cam kết của mình - sẽ phải tiến hành thu phí bảo hiểm trước của khách hàng Sau đó
sẽ thực hiện các trách nhiệm bảo hiểm đối với khách hàng, trong một phạm vi giới
hạn thời gian nhất định gọi là hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm Việc tiến hành các
dịch vụ này có thể xảy ra hoặc không xảy ra, có thể xảy ra ngay sau thời điểm thu
phí hoặc xảy ra cách thời gian thu phí một khoảng thời gian nào đó Nghĩa là thời
điểm công ty bảo hiểm nhận được tiền và thời điểm chi trả tiền cho khách hàng có
những khoảng cách và không thể xác định trước được Vì vậy, người ta còn gọi
kinh doanh bảo hiểm có “chu trình sản xuất ngược” Với các lý do đó, để đảm bảo
cho việc thực hiện các trách nhiệm của công ty với khách hàng tham gia bảo hiểm
và ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế - xã hội, các công ty bảo
hiểm hoạt động phải luôn ở trong tình trạng đảm bảo khả năng thanh toán các tổn
thất có thể xảy ra và phải có một tình hình tài chính mạnh Vì lẽ đó, Luật kinh
doanh bảo hiểm ở các nước đều bắt buộc các doanh nghiệp phải trích đầy đủ các
khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Các khoản dự phòng nghiệp vụ này thực chất
là khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm trích lập từ doanh thu phí bảo hiểm của từng
nghiệp vụ bảo hiểm, để đảm bảo các trách nhiệm đã nhận với khách hàng
Đó là nguồn gốc của sự hình thành nguồn vốn nhàn rỗi, hay còn gọi là các
quỹ dự phòng nghiệp vụ trong các công ty bảo hiểm Xét ở một khía cạnh khác có
thể nói, cùng với hoạt động kinh doanh của mình các công ty bảo hiểm luôn phải
quản lý một nguồn vốn nhàn rỗi lớn và ổn định Việc đầu tư có hiệu quả và an toàn
nguồn vốn nhàn rỗi này là một trách nhiệm quan trọng của quá trình kinh doanh bảo
hiểm Đồng thời, giúp doanh nghiệp có khả năng gia tăng các quỹ đảm bảo và là cơ