MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) là bước phát triển tất yếu của một nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường cũng đòi hỏi phải có TTCK để làm cầu nối giữa một bên là các nhà đầu tư (bao gồm các tổ chức kinh tế – xã hội và dân chúng) với bên kia là các doanh nghiệp cần vốn kinh doanh và Nhà Nước cần tiền để thỏa mãn các nhu cầu chung của đất nước. Đến nay, TTCK Việt Nam đã trải qua 5 năm đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình. Năm năm qua là năm năm làm quen với hoạt động của TTCK, vượt qua bao khó khăn thử thách để vững bước phát triển thị trường. Bước đầu công chúng đầu tư đã làm quen với phương thức huy động vốn thông qua TTCK và các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu), được mua, bán trên TTCK. Tuy nhiên, hoạt động của TTCK của các nhà đầu tư Việt Nam thời gian qua không thu được kết quả khả quan như mong muốn. Nhìn tổng thể, công sức chuẩn bị mấy năm qua cũng chỉ mới làm cho xã hội Việt Nam có đôi chút hiểu biết về TTCK. Con đường đi đến chỗ thực sự xây dựng được TTCK ở Việt Nam quả còn xa, chướng ngại còn không ít. Học tập kinh nghiệm trên thế giới để đổi mới được quan niệm nhận thức và cách làm để năng động hơn và để cho phù hợp hơn với đặc điểm lịch sử truyền thống dân tộc, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí. Với mong muốn như vậy, nhóm 11 chúng em thống nhất chọn đề tài “Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam” để tìm hiểu, 2.Mục đích nghiên cứu Mục đích của bài viết là tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, thông qua bài viết này nhóm chúng em muốn được hiểu sâu hơn về TTCK và những điều kiện, khả năng thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam thông qua thị trường chứng khoán. 3.Phương pháp nghiên cứu Quy nạp – Diễn dịch Logis – Lịch sử Phương pháp tìm hiểu, thu thập tài liệu Phương pháp so sánh thống kê 4.Nội dung bài viết gồm 3 chương Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán (TTCK) Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 3: Kết quả đạt được trong những năm qua, chiến lược phát triển và tầm nhìn những năm tiếp theo (2012 – 2020) của TTCK Việt Nam
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Yến đã trực tiếp
hướng dẫn, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng em hoànthành tiểu luận
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô giáo Trường Đạihọc Công nghiệp TP Hồ Chí Minh thời gian qua đã truyền đạt và trang bị cho emđầy đủ kiến thức chuẩn bị tốt cho bài tập này
Tuy đã cố gắng nhiều nhưng do thời gian có hạn, bài tiểu chắc chắn sẽ khôngtránh khỏi sai sót Vì vậy, chúng em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp,
bổ sung của quý thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa nhóm chúng em xin chân thành cám ơn và chúc thầy cô và cácbạn nhiều sức khỏe
Nhóm 11 - Xin chân thành cảm ơn
MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài
Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) là bướcphát triển tất yếu của một nền kinh tế thị trường Việt Nam với nền kinh tế vận
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: vtvu2015@gmail.com ; Fabook: vttuan85
Trang 2hành theo cơ chế thị trường cũng đòi hỏi phải có TTCK để làm cầu nối giữa mộtbên là các nhà đầu tư (bao gồm các tổ chức kinh tế – xã hội và dân chúng) vớibên kia là các doanh nghiệp cần vốn kinh doanh và Nhà Nước cần tiền để thỏamãn các nhu cầu chung của đất nước.
Đến nay, TTCK Việt Nam đã trải qua 5 năm đầu tiên trong lịch sử pháttriển của mình Năm năm qua là năm năm làm quen với hoạt động của TTCK,vượt qua bao khó khăn thử thách để vững bước phát triển thị trường Bước đầucông chúng đầu tư đã làm quen với phương thức huy động vốn thông qua TTCK
và các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu), được mua, bán trên TTCK Tuynhiên, hoạt động của TTCK của các nhà đầu tư Việt Nam thời gian qua khôngthu được kết quả khả quan như mong muốn
Nhìn tổng thể, công sức chuẩn bị mấy năm qua cũng chỉ mới làm cho xãhội Việt Nam có đôi chút hiểu biết về TTCK Con đường đi đến chỗ thực sự xâydựng được TTCK ở Việt Nam quả còn xa, chướng ngại còn không ít Học tậpkinh nghiệm trên thế giới để đổi mới được quan niệm nhận thức và cách làm đểnăng động hơn và để cho phù hợp hơn với đặc điểm lịch sử truyền thống dân
tộc, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí Với mong muốn như vậy, nhóm 11
chúng em thống nhất chọn đề tài “Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
của thị trường chứng khoán Việt Nam” để tìm hiểu,
2.Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài viết là tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triểncủa thị trường chứng khoán Việt Nam, thông qua bài viết này nhóm chúng emmuốn được hiểu sâu hơn về TTCK và những điều kiện, khả năng thu hút vốnđầu tư của doanh nghiệp Việt Nam thông qua thị trường chứng khoán
3.Phương pháp nghiên cứu
- Quy nạp – Diễn dịch
- Logis – Lịch sử
- Phương pháp tìm hiểu, thu thập tài liệu
Trang 3- Phương pháp so sánh thống kê
4.Nội dung bài viết gồm 3 chương
- Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán (TTCK)
- Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứngkhoán Việt Nam
- Chương 3: Kết quả đạt được trong những năm qua, chiến lược phát triển vàtầm nhìn những năm tiếp theo (2012 – 2020) của TTCK Việt Nam
Trang 4NỘI DUNG Chương 1:Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1 Khái niệm:
Thị trường chứng khoán (TTCK) trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại,được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoántrung và dài hạn Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi ngườimua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thịtrường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thịtrường sơ cấp
Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động traođổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắmgiữ chứng khoán
1.2 Chức năng cơ bản của TTCK:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
1.3 Các chủ thể tham gia TTCK
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành các nhóm sau:
tổ chức phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán
1.3.1.Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK
Tổ chức phát hành là tổ chức cung cấp các chứng khoán - hàng hoá củaTTCK
Trang 5- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chínhphủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các tráiphiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
1.3.2.Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK
Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có
tổ chức
1.3.3.Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
1.3.4 Các tổ chức có liên quan đến TTCK
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
1.4 Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK
TTCK là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổphiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1 năm) Sau đây làmột số cách phân loại TTCK cơ bản:
1.4.1.Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Trang 6- Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang tổ chức phát hànhthông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
- Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trênthị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
1.4.2.Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
TTCK được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) vàphi tập trung (thị trường OTC)
1.4.3.Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
TTCK cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thịtrường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
- Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu,bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
- Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đãđược phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đôthị và trái phiếu chính phủ
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành vàmua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứngquyền, hợp đồng quyền chọn
1.5 Vài nét về một số thị trường chứng khoán trên thế giới:
Vào ngày 17/5/1792 tại Wall Street, 24 nhà môi giới (broker) và thương gia(merchant) đã chính thức ký thỏa thuận Buttonwood thành lập thị trường chứngkhoán New York (NYSE) Tại phiên họp các thương gia quyết định sẽ gặp nhauhàng ngày tại Wall Street để giao dịch cổ phiếu và trái phiếu Và cho đến bây giờ,chỉ số NYSE vẫn là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá ttck toàn cầu.Ngày nay, NYSE, AMEX, NASDAQ và hàng trăm các thị trường chứng khoánkhác đã góp phần quan trọng đáng kể vào nền kinh tế quốc gia và toàn cầu
Trang 7Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam.
2.1.Lịch sử hình thành Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghịđịnh số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thịtrường chứng khoán Việt Nam ra đời
Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịchChứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã
do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày
28-11-1996
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) đượcthành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đivào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000
Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đờivào ngày 8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giaodịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” chocác DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng)
Chỉ số VN – Index:
VN - Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam VN - Index xâydựng căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết Với hệthống chỉ số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cáchtổng quát
Chỉ số VN -Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ
sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạtđộng
Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong cáctrường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốnniêm yết
Trang 8Công thức tính chỉ số VN - Index:
Trong đó:
Pit: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i
Pi0: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i
Qi0: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i
2.2.Qúa trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưavào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thờiđiểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM)với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn sốt vàonăm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưngchỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết
đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001 Trong 4 tháng
“hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lờinguyền không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ,
âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận thì trong 5 năm chỉ số Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm Lý do
VN-Chỉ số VN -Index =
Giá trị thị trường hiện hành
Giá trị thị trường cơ sở
x 100
Trang 9chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng, khônghấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết.
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN)chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ
lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vựcngân hàng)
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sựquan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trườngchưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nềnkinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau:
2.2.2 Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “độtphá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới vớihoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trungtâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC
Trang 10Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứngkhoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉsau Dim-ba-buê Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "húthồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam nontrẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại đượcvới khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm
Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tạisàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch
Hà Nội (Hastc) tăng 152,4%
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần sođầu năm
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD,chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường
Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổphiếu được phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính Trên thị trường phi tậptrung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịchtrên Hastc
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần sovới 6 năm trước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từhơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ởnước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả nhữngngười mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiệntượng “bong bóng” là có thật
Trang 11Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tưmới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoảncủa nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm VớiHASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ sốVN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170% Đây
là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng.Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sựgóp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêmyết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 tráiphiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng Xétriêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức ViệtNam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tươngđương với 13,8 tỷ USD
2.2.3 Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ.
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thịtrường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc
tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường
VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm
HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm
Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiêngiao dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giaođộng mạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 1 năm hoạt động VNIndex đạt được
Trang 12mức tăng trưởng là 23,3%; Hastc-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vàocuối năm 2006
Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiêngiao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đươngvới tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khốilượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch
có 9,2 triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ đồng
TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khốilượng giao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương vớitổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khốilượng và 15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006 Quy mô giao dịch tăngtrưởng mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trongkhi năm 2006 chỉ đạt 19 tỷ đồng/phiên
Các giai đoạn phát triển của thị trường
Nhìn nhận khách quan từ góc độ thị trường, bên cạnh những thành công,TTCK qua một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạn thăngtrầm nhất định khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường: giaiđoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt vàđiều chỉnh mạnh vào 5 tháng giữa năm, tiếp đến là một đợt phục hồi trước khi đivào thoái trào trong 4 tháng cuối năm
• Giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007:
Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàngiao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7năm hoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạtđộng Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớnnhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thịtrường trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng So với tổng giá trị
Trang 13vốn hóa 492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm
tỷ trọng 4/5 Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thịtrường không phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá
cổ phiếu tăng mạnh
Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạtcác cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn… tất
cả đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầu năm, trong
đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100% như: STB (113,57%), REE(122,66%), ACB (197%),… Rất nhiều mã CP thiết lập mức giá đỉnh kể từ khi lênsàn trong giai đoạn này như: SJS (728.000 đ/CP), FPT (665.000 đ/CP), DHG(394.000đ/CP), REE (285.000đ/CP), SSI (255.000đ/CP), SAM (250.000đ/CP),KDC (246.000đ/CP), VNM (212.000đ/CP), ACB (292.000đ/CP)…
Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này phải
kể đến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị giao dịch trungbình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tại sàn HCM, bình quân mỗiphiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN cũng đạt con số 300 tỷđồng
• Giai đoạn thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007 Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nướccũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện phápkiểm soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăngtrưởng quá nóng của thị trường Phản ứng trước điều này, TTCK đã có những đợtđiều chỉnh rõ rệt Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra trong mộtkhoảng thời gian rất dài (từ cuối Tháng 3 đến đầu Tháng 9)
Giai đoạn điều chỉnh này ghi nhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE vàHASTC, tất cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng VNIndex chỉtrong vòng 1 tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007), giảmtới 22,6% so với mức đỉnh vào tháng 3 Hastc – Index trở về mốc 321,44 điểm
Trang 14(24/04/2007), giảm 30% so với mức đỉnh Thị trường đã mất điểm quá nhanhtrong 1 thời gian ngắn khiến giá giao dịch của các cổ phiếu đã trở về gần mức giáthiết lập vào đầu năm
Trong giai đoạn này, thị trường cũng có một đợt hồi phục vào giai đoạn cuốiTháng 5/2007 khi VNIndex quay trở về mốc 1.107,52 điểm (23/05/2007) Nhưng
do tác động tâm lý quá mạnh của các chính sách kiềm chế thị trường trước đó nhưChỉ thị 03, Luật thuế thu nhập cá nhân,…., thị trường nhanh chóng trở lại trạngthái mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnh khiến giai đoạn đầu Tháng 8, thịtrường xác lập mức đáy 883,9 điểm của VNIndex (6/8/2007) và 247,37 điểm củaHastc - Index (23/08/2007)
Vào giai đoạn thị trường xuống sâu nhất (khoảng đầu Tháng 8), sàn HCM cónhững phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu được khớp lệnh (ngày30/07/2007 chỉ có 3.296.340CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh 603.100CP)
Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch của khốinày trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh Giá trị giao dịch bình quân củakhối NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% sovới giai đoạn đầu năm
• Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm
Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầutháng 9 đến cuối Tháng 10/2007
Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các
mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sàn đều lấy lại được những gì đã mất trong 6tháng giữa năm, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổphiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3 Trong giai đoạn này, VNIndex đã
có những phiên giao dịch vượt lên trên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào
Trang 15ngày 3/10/2007), Hastc – Index cũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59điểm ngày 01/10/2007)
Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở nhómcác cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổ phiếuSông Đà: S99, SDA, S91… tại HASTC Lượng giao dịch bình quân phiên tạiHOSE luôn ở trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000 CP vàongày 01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE vớitrung bình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng
Tuy nhiên, Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh giảmvào 2 tháng cuối năm Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng có cácđợt phục hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố Tuy nhiên sựphục hồi này không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1phiên tăng điểm Chính điều này đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn,.Trong khi nguồn cầu có xu hướng cạn kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng.Tương quan cung cầu mất cân bằng khiến thị trường ngày càng tuột dốc cả về giálẫn khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch VNIndex giảm xuống dưỡi ngưỡngđiểm 1.000 và chỉ xoay quanh mốc 900 điểm, với lượng chứng khoán chuyểnnhượng rất hạn chế
2.2.4 Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Nhìn lại thị trường sau 01 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường:Index giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơi xuốngdưới mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sự can thiệpcủa các c ơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT.Tính từ đầu nămđến hết ngày 31/12/2008, TTCKVN trải qua 03 giai đoạn chính
Trong năm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việcChính phủ đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn, kinhdoanh hiệu quả và việc bán bớt CP Nhà nước trong các DN đã CPH, chưa kể
Trang 16hàng loạt ngân hàng, Công ty chứng khoán, doanh nghiệp phát hành trái phiếu,
cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, dẫn đến tình trạng thị trường CK có nguy cơ thừa
"hàng"
• Giai đoạn 1: Từ tháng 01 tới tháng 06 - Thị trường giảm mạnh do tác động
từ tác động của kinh tế vĩ mô
Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07, VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị và trởthành một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửađầu năm 2008
Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đ ầu tư trong giai đoạn này chủ yếuxuất phát từ nội tại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát, chínhsách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép giải chấp
từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK
Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hànhbắt đầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
(1) UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch;
(2) SCIC tham gia mua vào cổ phiếu;
(3) NHTM được vận động ngừng giải chấp;
(4) Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ
Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn,
và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác độngtới tâm lý các nhà đầu tư Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71phiên VNIndex giảm điểm Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểmliên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008 Sau 103 phiên giaodịch,VNIndex giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77% Bình quân trong mỗiphiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đươngkhoảng 482 tỷ đồng
Trang 17Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất lànhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là cácdoanh nghiệp BĐS).
Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải canthiệp vào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008 Tổngcộng trong năm 2008, UBCKNN đ ã có 04 lần thay đổi biên độ dao động giá trên
cả 2 sàn chứng khoán Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị tr ường, ngăn đàsuy giảm mạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa
ra nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trường: Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trênthị trường,kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết mua vào cổphiếu quỹ
Sự tăng trưởng nóng trong năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm đãđưa đến những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô Chỉ số tiêu dùng băt đầu gia tăngvới mức trung bình 2,07%/tháng trong 02 cuối năm 2007 Tiếp nối xu thế này,trong quý I/ 2008, chỉ số CPI tiếp tục gia tăng với tốc độ bình quân 3,06%/tháng
và đạt đỉnh vào tháng 05/200822 với mức tăng 3,91%
Trong chu kỳ tăng giá nửa đầu năm 2008, tại đa số thời điểm, lương thựcđược coi là yếu tố tác động chủ yếu đến chỉ số giá Tính đến tháng 06, giá lươngthực đã tăng 57,22% so v ới tháng 12/2007
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ lệ lạm phát tăng cao trong nước và sự biếnđộng mạnh của giá cả hàng hóa trên thế giới, thị tr ường hàng hóa và thị trườngtiền tệ Việt Nam tiếp tục có những biến động mạnh
Trên thị trường hàng hóa, xăng dầu - loại hàng hóa cơ bản thuộc sự kiểm soátcủa Chính phủ - đã được điều chỉnh mạnh Trên thị trường tiền tệ, lãi suất từNHNN và NHTM liên tiếp xác định các mặt bằng mới Chịu tác động sức ép từlạm phát, l ãi suất từ các NHTM tăng mạnh trong cuối quý II, dao động từ 16 -18% đối với huy động tiền gửi và 20-21% đối với các khoản vay Đặc biệt cácsản phẩm huy động vốn với kỳ hạn ngắn, lãi suất cao là tiêu điểm của hệ thống
Trang 18NH trong giai đoạn này Sự căng thẳng về thanh khoản và sự xáo trộnvề dòngchảy của tiền gửi huy động là nỗi lo của các NHTM trong giai đoạn này Thâmhụt thương mại cao nhất vào trong năm tháng đầu năm với mức trung bình làkhoảng 2,6 tỷ USD/tháng.
Trước thực trạng này chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp vào tháng 3/2008với mục tiêu kiềm chế lạm phát và thâm h ụt thương mại Các chính sách chủ yếuđược thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ điều hành lãi suất cơ bản và thắtchặt đầu tư công để hạn chế nguồn cung tiền trên thị trường
• Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue -chip như STB, FPT, DPM…vàđặc biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác n ước ngoài, cả hai sàn chứng khoán
đã có được những phi ên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này VNIndex và Index liên tiếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thường xuyên cóđược những chuỗi tăng điểm kéo dài Đây cũng là giai đoạn thị trư ờng hoạt độngsôi động nhất Sức cầu mạnh, kéo theo khối lượng giao dịch v à giá trị giao dịchthường xuyên ở mức cao VNIndex tăng được 168,55 điểm, tương đương45,52% Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tương đương599,18 tỷ đồng/phiên
Hastc-Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầukhí (tăng 80,33%), nguyên vật liệu v à công nghệ (tăng 89,78%) Các đại diệntiêu biểu cho nhóm cổ phiếu n ày bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…
• Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm dotác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáythiết lập được trong giai đoạn đầu của năm 2008 Tổng kết cả giai đoạn này,VNIndex m ất 223,48 điểm, tương đương 41,45% Khối lượng giao dịch trungbình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên
Trang 19Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự lantỏa mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới Hòa cùng xu thếgiảm điểm của TTCK các nước, 02 chỉ số chứng khoán tại sàn HoSE và HaSTCliên tiếp giảm điểm Trong 86 phiên giao dịch tại HoSE, 49 phiên VNIndex mấtđiểm Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là 286,85 điểm vào ngày 10/12/2008.Cùng với nỗ lực giải cứu nền kinh tế của Chính phủ và động thái từ NHNN,xen lẫn giữa những phiên giảm điểm , TTCK Việt Nam vẫn có những phiên phụchồi mạnh Tuy nhiên, các “con sóng” trên thị trường thường rất ngắn và không ổnđịnh Kết thúc giai đoạn này, VNIndex giảm mất 239,52 điểm, tương đương43,15%
Tốc độ giảm mạnh nhất trong giai đoạn này thuộc nhóm cổ phiếu các ngànhnguyên vật liệu, công nghiệp, tài chính và công nghệ Nguyên nhân của sự suygiảm trong giai đoạn này được nhận định một phần do sự tác động của xu thếchung thị trường, ngoài ra, cũng là hệ quả của việc tăng khá chóng mặt của cáccác cổ phiếu này trong giai đoạn trước đó Một trong những đề tài nóng hổi vàđược báo giới chú ý trong những tháng cuối năm là phong trào trả cổ tức bằngtiền mặt, với tỷ lệ khá cao của các công ty niêm yết
Nguồn vốn FII vào Việt Nam chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư Tuy nhiên,
kể từ cuối tháng 08/2008 cùng với sự sụt giảm của TTCK thế giới nói chung,TTCK Việt Nam cũng giảm mạnh Tính đến tháng 12/2008, những dấu hiệu vềkhả năng nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán cũng bắtđầu xuất hiện, thể hiện qua việc bán ròng của khối ngoại trong những tháng cuốinăm.Ngoài ra, mặc dù lạm phát được kiềm chế nhưng lại có sự lo ngại về giảmphát do chỉ số CPI tăng trưởng âm trong những thángcuốinăm
Trong quý cuối năm, CPI đã giảm 0,23% trong tháng 10 và tăng lên thành0,81% trong tháng 12 (so từng tháng) Tính cả năm 2008 , tỷ lệ lạm phát là19,89% (so với tháng 12/2007) v à xấp xỉ 23% (so với bình quân 2007)