1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo dục toàn diện học sinh tiểu học

57 994 7
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 14,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy chỉ được lưu truyền qua các thế hệ bằng phương thức truyền miệng, nhưng đồng dao và trò chơi đồng dao đã mang lại cho trẻ em đời sống tinh thần phong phú qua những cảm xúc vui tươi,

Trang 1

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khoa Giáo dục Tiêu học

xo EI os

LE THI MINH LUONG

DONG DAO VA VAI TRO CUA

DONG DAO TRONG VIEC GOP

PHAN GIAO DUC TOAN DIEN

HOC SINH TIEU HOC

KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC

Chuyén nganh: Van hoc thiéu nhi

Người hướng dẫn khoa học

TS GVC NGUYEN VAN MY

Hà Nội, 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học ThS GVC:

Nguyễn Văn Mỳ

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô bộ môn khoa Giáo

dục Tiểu học, Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong

quá trình học tập cũng như hoàn thiện khóa luận

Cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2013

Người thực hiện

Lê Thị Minh Lương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo dục toàn diện học sinh Tiểu học” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo

- Th§ GVC: Nguyễn Văn Mỳ

Đề tài này chưa được công bồ trong bất kì công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2013

Người thực hiện

Lê Thị Minh Lương

Trang 4

MỤC LỤC

087 00001 1

1 Lí do chọn đề tải - cac SE S3 S3 31 5333 se reereereerers 1

2 Lịch sử nghiên cứu vẫn đề - 2s k+k+ssEEx xxx rerrea 2

3 Muc dich nghién ctu ae 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - - - s+s+s+s+£z£sE+Ez£eed 5

5 Nhiệm vụ nghiÊn CỨU 2222223331135 6

6 Phương pháp nghiên cỨu - - - - - 2222223333 322Exseeesesss 6

7 Cầu trúc khóa luận -+-©ct+cx+ktExttrerkerrkerkrrrrrkrrrkrrked 6

)Y) 8)100 1 6S +44 7

Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài - 2 + + SE xxx srerseeed 7

1.1 Một vài đặc điểm của học sinh Tiểu học - 2< +sx+s+ss+: 7

1.1.1 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống - - 7

1.1.2 Đặc điểm về thể chất -. -5c+cccrsrerrrksrrrerrrrrree 8

1.2.3 Đặc điểm về nhận thức (sự phát triển trí tuệ) 8 1.2.4 Đặc điểm về thẳm mi cccccccsccssesceceesesseseseeceeesseseeseeseess 9 1.2.5 Đặc điểm về nhén cach .ecccccccssscssesceccesssceseseecceesescseesceseess 10

1.2 Một vài nét khái quát về đồng dao 2-5-5 s+s£s£+£zezsd 11 1.2.1 Khái niệm đồng dao - - 5-2 << 4 +E+E SE Eererred 11

1.2.2 Phân loại đồng dao ¿- 5-2 + 2 4 E+E+E£kEEEkEkESx SE Ezrred 12 1.2.3 Tính chất, chức năng và tác dụng của đồng đao 13 1.2.4 Nội dung của đồng dao - << csskk kg ereeged 15 Chương 2 Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo dục toàn diện học sinh Tiểu học - 5+5 s+s+z+z£z£zEzreeeed 22 2.1 Đồng đao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo

dục thể chất cho học sinh Tiểu học 2+2 k+s++E+E+E+eE+EEsE+EEsExeEsezsese 22

Trang 5

2.2 Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo

dục nhận thức cho học sinh Tiểu học - +2 +s+s£+E+sE+E£EE+E£zE+z+ezsz+z 25 2.2.1 Nhận thức những kiến thức về tự nhiên se =s+s=+ 25

2.2.2 Nhận thức những kiến thức về xã hội - 52 2 2 s2 31

2.2.3 Nhận thức những kiến thức văn hóa trong nhà trường 35 2.3 Đồng đao và vai trò của đồng đao trong việc góp phần giáo

dục thâm mĩ cho học sinh Tiểu học + +5 se SE +2 E+eE+E£zEEzE+ezs£zszzsz 38

2.3.1 Học sinh biết yêu thiên nhiên, sống chan hòa với thiên nhiên 38 2.3.2 Học sinh biết yêu quý cái đẹp, tạo ra cái đẹp 41 2.4 Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo

dục nhân cách cho học sinh Tiểu học .- - 2 se ++E+sE+E£s£+EEeEzez+Ezszsz 42

KẾT LUẬN . - E51 HS E111 TT ng net 49 TÀI LIỆU THAM KHÁO 6+ SE +8 #E# xe vcvvx rvcecxe 51

PHỤ LỤC

Trang 6

MO DAU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Lí do khách quan

Đồng dao là một trong những di sản quý báu của dân tộc Việt Nam

Có thể nói, đồng dao đã ăn vào máu thịt, trở thành một phần trong hành trang cuộc sống của tuổi nhỏ Tuổi thơ ở các làng quê đều gắn bó mật thiết với

đồng dao Từ thuở lọt lòng, các em bé đã được bà và mẹ ru hời, cho tập đi

tập nói trong những khúc hát đồng dao, lớn lên cũng vui chơi nô đùa bằng lời hát đồng dao Dù nắng hay mưa, ở nhà hay ngoài trời, khi đi chăn trâu, cắt cỏ hay tham gia các trò chơi dân gian, mọi hoạt động của các em đều lóng lánh đồng dao Tuy chỉ được lưu truyền qua các thế hệ bằng phương thức truyền miệng, nhưng đồng dao và trò chơi đồng dao đã mang lại cho trẻ em đời sống tinh thần phong phú qua những cảm xúc vui tươi, hồn nhiên, trong sáng cũng như một môi trường giáo dục mang tính học tập cộng đồng

Mặt khác, trẻ em chính là những mầm non của đất nước, là tương lai

của dân tộc Mà đồng dao lại là một trong những nguồn ““sữa tinh thần” nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn các em Nó như một mạch nguôn trong vắt âm thầm chảy vào tâm hỗn trẻ thơ để góp phần bổ sung, làm giàu nguồn sức mạnh để làm nên nền tảng vững bền cho nhân cách của các em sau này Những khúc đồng dao chăng những cung cấp kiến thức tự nhiên, kiến thức

xã hội mà còn chứa đựng những bài học vô cùng quý báu rất phù hợp với đặc

điểm tâm lí của trẻ em đặc biệt là lứa tuổi Tiểu học Với những câu hát mộc mac, gian di, đồng dao đưa các em đến với những trò chơi day lí thú và bổ

ích, dẫn đắt các em vào một thế giới tự nhiên với bao điều thú vị, giới thiệu

với các em cả một bức tranh về đời sống xã hội của con người Việt Nam xưa

Đó chính là một cách làm giàu hành trang tri thức cho các em bước vào đời

Trang 7

1.2 Lí do sự phạm

Là một giáo viên Tiểu học trong tương lai, tôi đã được nghiên cứu tìm

hiểu về tâm sinh lí cũng như đặc điểm phát triển của học sinh Tiểu học Với

những trải nghiệm của tuôi thơ lớn lên từ nơi thôn dã, được đắm mình trong không gian của cỏ nội hương đồng cùng những khúc đồng đao thời thơ ấu, tôi có thê hiểu được ý nghĩa của những khúc đồng dao đối với đời sống tâm hồn của một con người

Những khúc đồng dao chứa đựng những bài học giáo dục quý báu và

hữu hiệu, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ em nhất là lứa tuổi Tiểu

học Khi được tiếp cận những khúc đồng dao các em không chỉ được đọc mà

còn được hát, được múa, được chơi, được cười và được thỏa mãn sự hiếu

động của tuôi thơ Hiểu được điều đó, tôi đã quyết định nghiên cứu tìm hiểu

về những khúc đồng dao để thêm một lần nữa khắng định lại giá trị quý báu của đồng dao và góp một tiếng nói bé nhỏ vào việc hoàn thành mục tiêu giáo

dục toàn diện cho học sinh Tiểu học Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn lựa chọn

đề tài: “Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phân giáo dục toàn diện học sinh Tiểu học” làm đối tương nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đồng dao có lịch sử lâu đời Nó được hình thành và phát triển cùng

với sự phát triển của xã hội Đã có không ít những nhà nghiên cứu văn hóa

và các nhà sư phạm đã bỏ công sức, thời gian để tìm hiểu giá trị của đồng dao nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nảo tìm hiểu đồng dao một cách chuyên sâu và hoàn chỉnh

Trước cách mạng tháng Tám (1945) Nguyễn Văn Vĩnh viết tập “Trẻ con hát trẻ con chơi” chủ yếu giới thiệu các trò chơi có kèm lời, nhưng tư liệu còn rât ít và người việt không có bình luận

Trang 8

Năm 1944, Ngô Qúy Sơn ghi chép được một tập trò chơi cho trẻ em

“Hoạt động vui chơi của xã hội nhi đồng” nhưng lại viết bằng tiếng Pháp Năm 1967, Võ Văn Trực viết cuốn “Gọi nghé” trong đó tác giả đã giới

thiệu một số bài đồng dao của trẻ chăn trâu

Năm 1971, trong cuốn “Thi ca bình đân Viét Nam” Nguyén Tan Long, Phan Canh đã phát biểu “Chứng ta đừng đòi hỏi ở những câu đông dao một

ý nghĩa nào cả Nếu phải có ý nghĩa thì không có tính chất động dao nữa” [S, 299] Rõ ràng đây là một ý kiến xác đáng, tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra vẫn đề mà chưa minh chứng, giải thích cặn kẽ vẫn đề

Năm 1977, Vũ Ngọc Khánh viết “Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt

Nam” (Tạp chí Văn học, số 4) chủ yếu tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của bài đồng dao “Chi chi chanh chanh”

Tác giả Nguyễn Thu Thủy trong cuốn “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua

truyện và thơ”, NXB Giáo dục, 1995 đã đưa ra một số ý kiến về đồng dao và

khẳng định đồng dao có tác dụng tốt trong việc giúp trẻ cảm nhận nhịp điệu,

gợi cảm xúc vui tươi, phù hợp với tâm hồn của trẻ thơ

Năm 1990, trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam”, tác giả Hoàng

Tiến Tựu đã chia hệ thống đồng dao thành 4 bộ phận gồm: bộ phận đồng dao găn với công việc mà trẻ em đảm nhận; bộ phận đồng đao gắn với trò chơi của trẻ em; bộ phận đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết, học hỏi, mở mang

trí tuệ của trẻ em; và những lời sắm truyền kí [14, 144] Cách chia dựa vào

chức năng của thê loại có thể dẫn đến một số bài đồng dao có thể nhiều hơn

Trang 9

cấp từ ngữ, giáo dục nhận thức, bôi dưỡng tình cảm, giữ nhịp cho thao tác

chơi, thay hiệu lệnh kết thúc và hiệu lệnh xuất phát, chọn người đóng vai chính ” [10, 15] Với bài viết này, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra lời

giới thiệu mang tính chất dẫn dắt, khơi gợi mà chưa đặt vấn đề nghiên cứu,

xem xét nội dung của các bài đồng dao một cách cụ thể, toàn diện và có hệ

thống

Năm 1997, Vũ Ngọc Khánh trong bài viết “Thi pháp đồng dao” đã có những phát hiện rất lí thú “Những bài đông dao thường bị xem là lung tung, tản mạn, giá trị tư tưởng nghệ thuật thường bị đánh giá thấp hoặc cho là không có gì, vốn có yêu cấu riêng, phong phú riêng nên mới có thể tôn tại

lâu dài” [6, 20] Đây chỉ là bài viết với quy mô nhỏ được tác giả nêu vấn đề

mà chưa đi vào minh chứng cụ thể

Năm 1997, các tác giả Đình Gia Khánh, Chu Xuân Diện, Võ Quang

Nhơn trong cuốn giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” khi nói về đồng dao đã nhận định “Những bải hát trò chơi hoặc những trò chơi có bài hải nh: Chỉ chỉ chành chành, Dung ding dung dẻ, Nu na nu nống, có thé do người lớn tạo ra, cũng có thể do trẻ em nghĩ ra Nhưng sinh hoạt hát vui

chơi, sinh hoạt vừa chơi vưa hát là một sinh hoạt của các em ” [4, 410] Các

tác giả chỉ đi vào việc khai thác nội dung của những bài hát đồng đao một

cách sơ lược, ngăn øọn

Năm 1997, NXB Giáo dục cho xuất bản cuốn “Đồng đao Việt Nam”

(dành cho học sinh Tiểu học) của Trần Gia Linh giới thiệu 176 bài đồng dao

và chia thành 5 chủ đề lớn gồm: đồng dao về thiên nhiên, đất nước; đồng dao gắn với trò chơi lứa tuổi nhỏ; đồng đao mô phỏng các hoạt động sản xuất tập cho trẻ thành người lao động; đồng dao chứa đựng những tư duy ngộ nghĩnh

và trí thông minh của trẻ em; những bài hát ru [7, 5]

Trang 10

Thang 8 nam 2005, NXB Văn hóa thông tin cho xuất bản quyển

“Đồng dao Việt Nam” do Nguyễn Nghĩa Dân biên soạn đã chia đồng dao

thành 5 bộ phận: đồng dao trẻ em hát; đồng dao trẻ em hát — trẻ em chơi; đồng dao hát ru; đồng dao trẻ em đồ vui; ca dao cho trẻ em [2, 13]

Năm 2008, tác giả Triều Nguyên viết cuốn “Tìm hiểu đồng dao người Việt” đã chỉ ra rất kĩ lưỡng về câu trúc những bài đồng dao

Năm 2009, NXB Văn học cho xuất bản cuốn “Đồng dao và trò chơi trẻ

em” của Trần Thị Ngân và Nguyễn Thị Thu, các tác giả đưa ra những bài đồng dao hết sức vui vẻ, dí dỏm với hai phần: đồng dao và trò chơi trẻ em; tuyên chọn những câu đồng dao cho trẻ em Các tác giả đã liệt kê cách chơi của một số trò chơi dân gian quen thuộc và những câu đồng dao ngắn gọn, phản ánh một cách sinh động về thiên nhiên và cuộc sống

Như vậy, đồng dao là một đề tài đã nhận được sự quan tâm của rất

nhiều nhà nghiên cứu Việc tìm hiểu nội dung, ý nghĩa, giá trị quý báu của

đồng dao đem lại cho lứa tuôi thiếu nhi cũng được đề cập đến, tuy nhiên việc

tìm hiểu về đồng đao và vai trò của đồng đao trong việc góp phần giáo dục

toàn diện học sinh Tiểu học chưa nhận được sự quan tâm thích đáng Đây là

cơ sở để chúng tôi đi sâu và phát triển

3 Mục đích nhiên cứu

- Nắm được một vài đặc điểm của học sinh Tiểu học và một vài nét

khái quát về đồng đao Việt Nam

- Khang dinh vai trò to lớn của đồng dao trong việc góp phần giáo dục toàn diện học sinh Tiểu học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo dục toàn

diện học sinh Tiêu học

Trang 11

4.2 Phạm vỉ nghiên cứu

Với đề tài “Đồng dao và vai trò của đông dao trong việc gúp phan giáo dục toàn diện học sinh Tiểu học”, chúng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu một vài nét khái quát về đồng dao và vai trò của đồng đao trong việc góp

phần giáo dục toàn diện học sinh Tiểu học trong một số bài đồng dao được

tuyên chọn từ cuốn “Đồng đao Việt Nam”, tác giả Nguyễn Nghĩa Dân — NXB Văn hóa thông tin

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài

- Đồng đao và vai trò của đồng đao trong việc góp phần giáo dục toàn

diện học sinh Tiểu học

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp đọc sách và tài liệu

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh — tổng hợp

- Phương pháp phân tích — bình giảng

7 Câu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Phụ lục, Nội dung của khóa

luận bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phần giáo

dục toàn diện học sinh Tiêu học

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI

1.1 Một vài đặc điểm của học sinh Tiểu học

Học sinh Tiểu học là lứa tuổi thiếu nhi (từ 6 đến 11 tuổi) Ở lứa tuổi

này, có thể nhận thấy các em có một số đặc điểm sau:

1.1.1 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

* Về hoạt động

Nếu như ở bậc học mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ chủ yếu là vui chơi thì đến bậc Tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vuI chơi sang hogí động học fáp Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Các em thay đôi đối tượng vui chơi từ chơi với

Khác với lứa tuôi mầm non, ở lứa tuổi Tiểu học các em có sự thay đôi

rõ rệt về môi trường sống: các em không còn nhút nhát, rụt rè nữa mà thích

tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh; các em bạo dạn hơn trong các hoạt

động ở gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ

Trang 13

phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 — 35 phút Chuyển từ hiếu kì, tò

mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dan tinh hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỉ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy va sức bền vững của các thao tác tinh khéo

của đôi bàn tay để học tập Tắt cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua

được những điều này thì cần phải có sự quan tâm, giúp đỡ của gia đình, nhà

trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

1.1.2 Đặc điểm về thể chất

Thể chất là chỉ lượng cơ thê con người, đó là những đặc trưng tương đối ôn định về hình thái, chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển

do bam sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)

Với học sinh Tiểu học các tố chất vận động đang dần hòan thiện và ôn định Do đó về mặt thể chất, các em có một số đặc điểm sau:

- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gay dap

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò

chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư

duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,

tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đồ

vul trí tuệ, các cuộc thi tri tué,

1.1.3 Đặc điễm về nhận thức (sự phát triển trí tuệ)

Học sinh Tiểu học nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính đang phát

triển Các cơ quan cảm giác cũng đang phát triển và dần hoàn thiện

Có thê thấy rằng nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đã phát

triển khá rõ nét: từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật hiện tượng riêng lẻ (lớp 1

Trang 14

và lớp 2) đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên

hệ, quan hệ (lớp 3, lớp 4 và lớp 5) Tuy nhiên mức độ nhận thức của học sinh

Tiểu học còn đơn giản, các em chủ yếu nhận thức cảm tính, có thể quan sát,

tiếp cận với môi trường sống xung quanh đề thấy được các sự vật, hiện tượng

cụ thể nhưng các em lại chưa thé phân tích, suy luận một cách logic Các em

luôn đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu thế giới xung quanh mình như: Cái đó

là cái gì? Nó được sinh ra từ đâu? Nó như thế nào? Tại sao lại như vậy?

đồng thời các em luôn luôn tìm mọi cách giải quyết những câu hỏi đó Và khi

trả lời được những thắc mắc mà bản thân đặt ra thì các em sẽ nhận thức, lĩnh hội được tri thức của những sự vật hiện tượng đó

Mặt khác, quá trình nhận thức không tách rời hoạt động thực tiễn của các em Vì thế nhu cầu nhận thức của học sinh được thỏa mãn tư duy trong hoạt động và tư duy bằng hành động Cho nên nhận thức của học sinh Tiểu học được hình thành và phát triển như các hoạt động muôn màu, muôn vẻ

trong gia đình, nhà trường, xã hội và trong chính cuộc sống của các em

1.1.4 Đặc điểm về thẩm mĩ

Cảm thụ thẩm mĩ là hoạt động đặc thù của con người, là quá trình

chuyển hóa những nội dung mang ý nghĩa xã hội từ đối tượng (khách thể) vào ý thức thắm mĩ của chủ thê nhằm mang lại khoái cảm thâm mĩ Giáo dục

thâm mĩ là một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện với thế hệ trẻ và cần được tiễn hành ngay ở bậc Tiểu học

Giáo dục thâm mĩ cho học sinh Tiểu học có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ và giáo dục lao động:

+ Với giáo dục đạo đức: Cảm xúc thâm mĩ không những xây dựng trên

cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở nắm chắc nội dung tư tư tưởng của

tác phẩm nghệ thuật Với học sinh Tiểu học, cảm xúc thâm mĩ giup cac em

có những rung động, có thái độ yêu mến, quý trọng và bảo vệ thiên nhiên

Trang 15

xung quanh mình để từ đó giáo dục hành vi đúng đắn và tính lạc quan, yêu

đời ở các em

+ Với giáo dục trí tuệ: Giáo dục thấm mĩ là cơ sở, tiền đề để phát triển trí tuệ cho học sinh Tiểu học Học sinh ở lứa tuổi này không thê tiếp nhận những lí sự khô khan về lẽ phải và cũng dễ khước từ sự buôn tẻ Trái lại học

sinh sẽ rất nhạy cảm với những điều đó nếu chúng biểu hiện dưới những hình tượng sinh động, giàu màu sắc xúc cảm Qua giáo dục thấm mĩ các em sẽ được tiếp xúc, tìm hiểu thế giới xung quanh làm trí tưởng tượng phong phú Học sinh sẽ chú ý, ghi nhớ, tư duy sâu sắc hơn để đưa ra những hình ảnh mà các em thấy được vào tác phẩm tạo hình của mình, góp phần phát triển năng

lực nhận thức

+ Với giáo dục lao động: Giáo dục thắm mĩ có liên hệ thực tế với giao dục lao động và thé duc Qua viéc tiép xúc, khám phá, tìm hiểu cái đẹp, học sinh có hứng thú và làm việc say mê hơn Sức khỏe phát triển, thể lực tốt có

tác dụng thâm mĩ đến sự phát triển chung về thê chất cũng như về tinh thần

của các em

1.4.5 Đặc điểm về nhân cách

Khi nói đến nhân cách người ta nhẫn mạnh vào cốt cách làm người và giá trị của mỗi cá nhân Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm lý, những thuộc tính tâm lý quy định con người như một thành viên của xã hội Hay nói

cách khác, nhân cách chính là tư cách và phẩm chất đạo đức của con người Với các em lứa tuổi Tiểu học có thể nhận thấy nét tính cách của các

em đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới

lạ, các em có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn, Sau 5

năm học, “?ính cách học đường” mới dần ôn định và bền vững ở các em Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh Tiểu học mang những

đặc điêm cơ bản sau:

Trang 16

+ Nhân cách của các em lúc này mang tinh chinh thé va hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng + Nhân cách của các em lúc này còn mang /ính fiểm ẩn, những năng

lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động

thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển

+ Nhân cach của các em con mang tinh đang hình thanh, việc hình

thành nhân cách không thê diễn ra một sớm một chiều, với học sinh Tiểu hoc

còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách

của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

1.2 Một vài nét khái quát về đồng dao

1.2.1 Khái niệm đồng dao

Đồng đao là một bộ phận của văn học dân gian xuất hiện rất sớm và

được lưu truyền rất rộng rãi Đó là những bài hát mà chúng ta quen hát nơi cửa miệng từ khi còn rất nhỏ, là những lời ru ngọt ngào dịu êm khi còn nằm trong nôi, là những câu đồ giản dị, lí thú, Không ai trong mỗi chúng ta thuở nhỏ lại không thuộc một vài bài đồng dao và không thông thạo một trò chơi dân gian gắn với những bài đồng dao Chính vì vậy mà đồng dao nhận được

sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu dưới nhiều hình thức và góc độ khác nhau

Theo từ điển Hán Việt có giải thích “đống” là trẻ em, “đao” là những

bài hát không có nhạc đệm Đồng dao là những câu hát truyền miệng của trẻ em

Có nhiều ý kiến xung quanh khái niệm đồng dao Tác giả Doãn Quốc

Sỹ gọi thể loại này là “cø đao nhỉ đông” [11, 5] Tác giả Vũ Ngọc Khánh

nhận định “đồng dao là nhừng lời ca dân gian trẻ em bao gom cả những lời trong các trò chơi” [5, 14] Hoàng Tiến Tựu thì quan niệm: “đồng đao là thơ

ca truyền miệng trẻ em” [13, 43] Nguyễn Nghĩa Dân cho rằng “đồng đao là

những lời mộc mạc hôn nhiên, có vấn, được trẻ em truyên miệng cho nhau

Trang 17

hoặc hát đồng thanh theo nhịp điệu don giản trong lúc vui chơi hoặc tiễn hành các trò chơi dân gian của lứa tuôi thiếu nhỉ ” [2, 12]

Nhìn chung, xung quanh nội dung khái niệm đồng dao có rất nhiều ý khiến khác nhau, các nhà nghiên cứu chưa thống nhất quan điểm Theo chúng tôi, ý kiến của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân đưa ra là đầy đủ và sâu sắc hơn cả Vì vậy chúng tôi đi theo quan điểm của tác giả này đưa ra khái niệm đồng dao “Đồng dao là những lời mộc mạc hôn nhiên, có vẫn, được trẻ em truyền miệng cho nhau hoặc hát đông thanh theo nhịp điệu đơn giản trong lúc vui chơi hoặc tiễn hành các trò chơi dân gian của lứa tuổi thiếu nhỉ” Do

đó, chúng tôi xin dựa vào khái niệm của tác giả này làm cơ sở đề thể hiện đề

tài của mình

1.2.2 Phân loại đồng dao

Pham vi cua đồng dao rất rộng, bao gồm nhiều hình thức cụ thể khác

nhau Có rất nhiều cách phân loại đồng dao Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu cách phân loại đồng dao của các tác giả Nguyễn Nghĩa Dân và Trân Gia Linh Theo tác giả Nguyễn Nghĩa Dân có thể chia hệ thống đồng dao Việt

Nam thành 5 bộ phận:

- Đông dao trẻ em hát

- Đông dao trẻ em hát — trẻ em chơi

- Dong dao hat ru

- Đồng đao trẻ em đồ vui

- Ca dao cho trẻ em

Các bộ phận nói trên của đồng dao có mỗi quan hệ mật thiết với nhau

về nội dung và thi pháp

Tác giả Trần Gia Linh cũng chia đồng đao thành 5 chủ đề lớn:

- Đông dao về thiên nhiên, đất nước (Ông răng xuống chơi, Gọi nắng,

Họ nhà cá, Họ nhà hoa, Họ nhà rau, ).

Trang 18

- Đồng dao gắn với trò chơi ở lứa tuổi nhỏ (Chuyển thẻ, Rông rắn, Dắt trẻ di chơi, Trông đậu trông cà, )

- Đồng dao mô phỏng hoạt động sản xuất tập cho trẻ em thành người lao động (7ø bảo trâu này, Dựng nhà dựng cửa, Lười năm nhịn đói, Tưới

rau, Cấu cá, )

- Đồng dao chứa đựng những tư duy ngộ nghĩnh và trí thông minh của trẻ

em (Chim ri, sao sau; Ki da, cốc ké; Cốc cốc keng keng; Ong tién, Ong tién; )

- Nhitng bai hat ru (Cdi bong la cai béng bang, Con co ma hay di choi, Cai ngu may ngu cho lau, )

1.2.3 Tính chất, chức năng và tác dụng của đông dao

1.2.3.1 Tính chất của đồng dao

Đồng dao là một bộ phận quan trọng của văn học dân gian, gần gũi với

ca dao nên có đây đủ tính chất truyền miệng, nhiều đị bản và tập thể Vì đồng dao là của trẻ em nên đồng dao còn có tính chất vui chơi phù hợp với tâm sinh lý trẻ em Phần lớn đồng dao do trẻ em sáng tạo trong lúc vui chơi, cùng hát đồng thanh, truyền miệng cho nhau từ xóm thôn này, vùng này qua xóm thôn khác, vùng khác Do truyền miệng nên đồng dao tất nhiên có nhiều dị

bản Ví như đồng dao về chim, cá, hoa, trái có tới 5 đến 7 dị bản khác nhau

Tính tập thể của đồng dao thể hiện ở quan hệ giữa trẻ em với trẻ em trong vui chơi, quan hệ giữa trẻ em và người lớn Ngoài ra, đồng dao còn có tình chất gan liền với trò chơi, tình chất này là đặc trưng của đồng dao trẻ em hát - trẻ

em chơi

1.2.3.2 Chức năng và tác dụng của đông dao

Đồng dao có 3 chức năng chính là nhận thức, thẳm mĩ và giáo dục ở

mức độ phù hợp với tâm sinh lí của trẻ em

Nhận thức của trẻ em qua đồng dao thường là nhận thức cảm tính,

quan sát tiép cận môi trường tự nhiên - xã hội gân mình, có thê thầy được,

Trang 19

nghe được nhưng chưa phân tích, chưa suy luận được Bằng phương thức

“Chơi mà học, học mà chơi” đồng dao có chức năng giáo dục trẻ em một cách nhẹ nhàng, sinh động qua hát vui, qua trò chơi kèm theo lời hát

Nói đến chức năng giáo dục của đồng dao tức là nói đền tác dụng chung của đồng đao trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Xét tác dụng cụ thể, những bài hát đồng dao giáo dục cảm xúc cho các em

trong quan hệ với thiên nhiên, xã hội, với sinh hoạt cộng đồng mà trước hết

là môi trường hoạt động vui chơi của trẻ, qua đó rèn luyện óc quan sát, rèn

Tùy theo lứa tuổi, theo phương châm “Cbơi mà học, học mà chơi”,

theo thang bậc từ thấp đền cao, từ gan đến xa, từ dễ đến khó, tác dụng giáo dục của hệ thống đồng dao đối với trẻ em có khác nhau Ở lứa tuổi tiền học

đường, tác dụng rõ rệt của đồng dao với các em là hát ru, những lời hát đồng dao mộc mạc, trong sáng Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn và Tiểu học, những đồng dao trẻ em hát — trẻ em chơi, những đồng dao đồ vui tác động mạnh mẽ tới nhân cách các em Sống trong nguồn nước trong lành của hát ru, của đồng

dao vừa hát vừa chơi, tình cảm và lí trí phát triển, các em có thể hiểu được y

nghĩa của đồng dao làm sống lại thời thơ ấu với bao kỉ niệm tốt đẹp Tuổi

thiếu niên rất cần tiếp xúc với văn học dân gian đặc biệt với ca dao trẻ em, đó

là một kênh thông tin không thể thiếu góp phần hình thành nhân cách chuẩn

bị cho các em bước vào tuôi cao hơn

Trang 20

1.2.4 Nội dung của đồng dao

Nhìn một cách tổng quát, hệ thống đồng dao Việt Nam dựng lên một

cuốn phim hiện thực của thiên nhiên và xã hội Việt Nam với nền kinh tế nông nghiệp lâu đời mà tác giả và đạo diễn, người ca hát và diễn xuất là tập

thể trẻ em với cảm nghĩ vô tư, hồn nhiên, tư duy ngộ nghĩnh nhưng giàu tưởng tượng, thông minh và sáng tạo Biết bao màu sắc tươi vui của đất trời,

cay co, hoa 1a, đồng ruộng, sông hồ, biết bao âm thanh vui tai của chim muông hòa lẫn với lời ru êm dịu của mẹ hiền, biết bao hoạt động sản xuất

nông nghiệp, những thuần phong mĩ tục, những lễ hội tưng bừng, qua cảm nhận ấu thơ đã đi vào lời hát, trò chơi của trẻ như những dòng suối trong lành bắt nguồn từ truyền thống lao động, truyền thống nhân đạo lâu đời của dân tộc góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam từ tam

bé Hệ thống đồng dao Việt Nam tuy có nhiều bộ phận cẫu thành nhưng

thống nhất về nội dung, biểu hiện ở một số chủ đề lớn

1.2.4.1 Một thiên nhiên tươi đẹp sinh động dưới đôi mắt trẻ thơ

Từ ngàn xưa và có lẽ đến hôm nay, trẻ em Việt Nam đặc biệt là trẻ

vùng nông thôn sống rất gắn bó, gần gũi với thiên nhiên Do đó trong những câu hát đồng đao thiên nhiên trở nên gắn bó với các em như những người bạn thân thiết, cùng hát, cùng vui chơi với các em giống như người chị, người

anh trong gia đình Chang han nhu “Zua ngo la cé dau nanh/ Dau nanh la

anh dua chuot/ ” Khong gian tinh mich cua thé gidi thực vật cũng trở nên

có hồn: hoa bông bụt có thể cạo đầu đi tu, hoa dâu tăm có thể đi đám cưới

“Cao dau di tu/ La hoa bông bụt/ Đi ăn đảm cưới Là các hoa đáu ” Qùa

khế, quả na cũng biết mở mắt lơ mơ như thiu thiu ngủ, Dường như dưới

đôi mắt của trẻ thơ tất cả các loài thực vật, hoa, trái, đều được khắc họa

một cách sinh động và đầy ngộ nghĩnh qua những câu hát đồng dao

Trang 21

Cùng với cây cỏ, hoa lá là sự phong phú và sinh động của chim chóc, muông thú, cũng được dẫn dắt vào đồng dao để cùng hát, cùng chơi với các

em Đồng dao hiện ra trước mắt với các em cả một thế giới động vật trên rừng dưới bể như voi, hỗ, cáo, chim, cá, tôm, cua, Ốc, Chang han như về

các loại tôm cá có “Có mè cá nuc cad hom/ Cá soạn cá chép ca cam ca nhông/ Cá tửu đỏ dạ cá hông/ Cá bồng cá bẹ lông rông cá heo/ ” hay về

các loại chim có “Ti iéng con chim ri/ Goi di goi cậu/ Tì iéng con sảo sậu/ Goi cậu gọi côi ”

Với các em, thiên nhiên còn có bầu trời và mặt đất Day la noi vui choi

đây hấp dẫn với các em Tâm hồn các em giao cảm đặc biệt với trời mây, cây

CỎ, non nước Nắng nhiều, hạn hán lắm, em cùng cha mẹ “Lay troi mua

xuống ” và khi mưa nhiều, trời đất âm u em lại gọi “Nắng lên đi hỡi nắng vàng ” Các em cũng có thể thuộc lòng các bài hát theo kinh nghiệm người lớn như “Chuốn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì năng, bay vừa thì râm” Và với các em đẹp nhất là ông trăng với cây đa, chú cuội quen biết

giống như các em có nhiều lần thả trâu ăn lúa bị la mắng thậm chí bị bắt vạ

và ngay ông trăng cũng vậy “Ông lười đi trâu/ Mẹ ông đánh dau/ Ong ngôi ông khóc” Bên cạnh đó, các em rất yêu quý ông trăng, có gì ngon các em cũng đều để dành phần ông “Biểu ông củ khoai/ Ông nhai tóp tép/ ” Có lẽ trẻ em yêu thiên nhiên, sống chan hòa tha thiết với trời đất trăng sao tha thiết

vô tư bằng cảm xúc thực của chính mình

1.2.4.2 Một xã hội nông nghiệp gắn gũi thân thương với trẻ em

Nước ta là một nước nông nghiệp, gieo trồng là phương thức canh tác chủ yếu Gắn liền với công việc gieo trồng ấy là những cây lúa, cây ngô, nguồn lương thực chủ yếu để đuy trì sự sống của con người Kê đến là những cây rau, cây đậu, nguồn thực phẩm để làm phong phú bữa ăn gia đình, cung cấp dinh dưỡng Trẻ em Việt Nam phần lớn trưởng thành từ nông thôn Vì

Trang 22

thế, có thể nói môi trường nông nghiệp, địa bàn nông thôn là nơi sản sinh, nơi ca hát vui chơi diễn xướng của đồng dao Trẻ em nông thôn từ miễn xuôi đến miền ngược cứ sáu bảy tuổi trở lên đã tham gia lao động với cha mẹ:

chăn trâu, cắt cỏ, mò cua, bắt cá, xay lúa, giã gạo, bế em, hái rau Chịu khó lao động nhưng khi được con tôm, con cá các em nghĩ đến cha mẹ, đến em út

“Được con cá nậy (lớn)/ Thì để phân cha/ Được con rô ba/ Thì đề phân mẹ/

Được con cá bẹ/ Thì để phần em” Vừa lao động trực tiếp, các em vừa vui

chơi, vừa quan sát “Chiêu mỉ em đi câu cả/ Về cho má nấu canh chua/ Ô kìa con cua/ Có hai cải càng/ Có tam cai ngoe/ No nang cai bung/ No di xang xé/ Em bat no vé/ ” Lam quen với nông nghiệp các em cùng hát ca đao với cha mẹ, đó là công việc nhà nông quanh năm cầu cho mưa thuận gió hòa, lúa tốt được mùa “Ơn trời mưa năng phải thi/ Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu/ Công lênh chẳng quản bao lâu/ Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng/ ” Nông, lâm, ngư nghiệp là ba hoạt động cơ bản của kinh tế nước ta, thông qua

đó các em được tiếp cận nhẹ nhàng nhưng sâu sắc qua đồng dao “Cbø chải,

mẹ lưới, con câu/ Thăng rể đi úp, con dấu đi mò” Bên cạnh đó, những bài đồng dao còn gắn liền với những trò chơi mô phỏng hoạt động sản xuất gián tiếp tập cho các em thành người lao động như chơi Trồng đậu, trồng cà; Câu

ếch; Kéo cưa lừa xẻ, Ví như lời đồng dao của trò chơi “Dệt vải” kế lại vừa nhịp nhàng, vui tai, vừa miêu tả đầy du dong tac dét vai, may 40 “Dich da

dich dac/ Khung cửi mắc vo/ Xâu go từng sợi/ Chân mẹ đạp vội ” hay trò choi “Xia ca me” tap duot mô phỏng đi bản rượu “Ai mua men/ Men gi?/ Men vang/ Ai mua men/ Men gì?/ Men bạc/ ” Cũng như các trò chơi khác, trò chơi đân gian vẫn có chức năng cơ bản là thỏa mãn, phát triển nhu cầu vui chơi và năng lực sáng tạo của trẻ em Tính chất trò chơi chỉ mang tính

mô phỏng tượng trưng, tuy nhiên nhờ đó mà trẻ tích lũy kinh nghiệm hoạt động trong tương lai

Trang 23

Nhu vay, co thé thay rằng đồng dao đã mở ra một bức tranh sinh động

về xã hội nông nghiệp Việt Nam cho lứa tuổi thiếu nhi

1.2.4.3 Đông dao — Môi trường văn hóa văn nghệ “Học mà chơi, chơi mà

học ” của trẻ em

Nói đến đồng dao thì không thể không nói đến trò chơi dân gian Việt Nam, vì khá nhiều các trò chơi dân gian gắn liên với những bải đồng dao Có thé thấy rằng đồng dao với trò chơi dân gian luôn gắn bó với nhau như tay với chân, như hình với bóng, thể hiện qua các trò chơi vận động (Dung dăng

dung đẻ, Giật Khăng, Đánh đáo), trò chơi học tập (Chuyên thẻ, Đánh ô), trò

chơi mô phỏng (Đi chợ, Làm nhà), trò chơi sáng tạo (Xếp thuyền, Đánh trận, Chơi diều) Đồng dao gắn với trò chơi thực chất là phương tiện giáo dục của nhân dân lao động xưa dùng để dạy dỗ con em mình Với phương châm “Học

mà chơi, chơi mà học” đồng dao mang đến cho các em một môi trường văn hóa giáo dục đầy bố ích Các nhà tâm lí cho rằng chơi là cuộc sống thực của trẻ Các em có thể tham gia nhiều trò chơi khác nhau phù hợp với từng độ tuổi của các em và khi chơi các em thường chơi hết mình và rất chủ động

Qua vui chơi, các em có thê học hỏi va phát hiện được nhiều điều mới lạ, đồng thời cũng rèn luyện cho các em có sức khỏe, sự nhanh nhẹn và khéo léo Trẻ không thuộc bài hát thụ động mà thuộc với tất cả sự hứng thú Trẻ

vui chơi một cách tự nguyện trong môi trường tập thể, tiếp xúc với các bạn cùng trang lứa Những trò chơi mà trẻ thường chơi lúc nhỏ nhu Chi chi chành chành, Kéo cưa lừa xẻ, Dung dăng dung dẻ, Lúc lớn hơn, ở lứa tuôi

nhi đồng, trẻ có thể chơi Thả đỉa ba ba, Bịt mắt bắt dê, Chuyền thẻ, Có thé

nói, đây không chỉ là những trò chơi thông thường mà nó có tác đụng rất lớn trong việc giáo dục trẻ em, Qua những câu hát trong trò chơi “Kéo cưa lừa

xẻ” trẻ được giáo dục về đạo đức “Kéo cưa lừa xé/ Ông thợ nào khỏe/ Về ăn

com vua/ Ông thợ nào thua/ Về bú tí mẹ/ ” Hòa theo tiếng trỗng tùng tùng,

Trang 24

cắc cắc trong bài đồng dao “Tùng tùng, cắc cắc” các em vừa vui chơi nhưng cũng được giáo dục về tính thật thà, chăm chỉ “Các cắc, từng từng/ Tùng tùng, các cắc/ Kẻ gian làng bắt Kẻ ngay làng tha/ Già trẻ đi xa/ Tùng tùng, cdc cac/ ” Hơn nữa, khi chơi các em vui đâu hát đó, nhớ đâu hát đó có thé

là cây có hoa lá, có thể là chim muông, là muôn thú, cũng có thể là chú cuội

ông trăng Trò chơi của trẻ cũng khá phong phú về hình thức có loại trò chơi không hát và có loại có kèm theo lời hát đồng dao Những trò chơi của trẻ

như Nhảy dây, Nhảy ra nhảy vào, Chim bay, Bịt mắt bắt dê, là những trò

chơi không có hát kèm theo Những trò chơi có hát hoặc không có hát kèm theo đại bộ phận đo trẻ em sáng tác, giao lưu lan truyền từ nơi này sang nơi khác Trong số các trò chơi dân gian thì số lượng trò chơi không kèm theo lời hát chiếm tỉ lệ nhỏ còn đại đa số các trò chơi đều có kèm theo lời đồng dao Sau khi nghiên cứu tính chất của lời đồng dao trong các trò chơi thì đó

là lời có vần, tính nhạc rất ít giúp trẻ rèn luyện bôi dưỡng tiếng nói, ngữ nghĩa không phải là yếu tổ được các em quan tâm duy nhất mà các em chú ý nhiều đến ngữ âm, nhịp và vần, thao tác trò chơi phải đêu đặn và đông loạt Người ta kết luận lời đồng dao có những đóng góp quan trọng để thực hiện

nội dung giáo dục và chức năng vui chơi với nhiệm vụ rất đa dạng: luyện

phát âm, cung cấp từ ngữ, giáo dục nhận thức, bồi đưỡng tình cảm, giữ nhịp

thao tác chơi, thay cho hiệu lệnh kết thúc và hiệu lệnh xuất phát, chọn người

đóng vai chính Vì vậy, có thể nhận thấy răng đồng dao không những giúp thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của trẻ mà còn giúp trẻ học hỏi, phát triển

các khả năng cơ thể, mở mang tri tué “Hat ma choi Hat ma hoc Hat choi

mà học thật” Ví như trong trò chơi “Chuyển thẻ”, khi tham gia trò chơi các

em không chỉ được học cách đếm từ một đến mười mà còn được mở rộng vốn từ vựng tong hop về môi trường, trời đất, vạn vật và được rèn luyện

ngôn ngữ, tinh than

Trang 25

Bên cạnh đó, trong hệ thống đồng dao còn có chơi đồ vui, câu đỗ có lời vần vè ám chỉ vật đố, người giải đỗ phải đoán để trả lời Câu đỗ cũng là một loại đồng dao “Chơi mà học, học mà chơi” mang tính rèn luyện suy nghĩ của trẻ em tuy nhiên câu đồ không truyền dạy tri thức trực tiếp mà chỉ

đem đến cho trẻ một cách nhìn mới lạ với những sự vật, hiện tượng quen thuộc Để giải một câu đồ các em phải vận dụng trí thông minh, óc liên

tưởng, suy đoán để giải đố Ví như đồ về cái bánh trưng “Một (hứa đất

vuông/ Bốn phía xây thành/ Xung quanh trông chuối/ Giữa tia déu xanh/ Ngoài thành trồng giang” Câu đỗ vui cho trẻ thường đơn giản gần gũi không chỉ đem đến cho trẻ một cái nhìn mới lạ về hiện tượng xung quanh mà còn là một phương tiện giáo dục đầy hiệu quả với các em

1.2.4.4 Nơi khởi nguôn của tình mẫu tử, lòng thương người, môi trường

hình thành, bôi dưỡng nhán cách đạo đức cho trẻ

Nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian cho rằng ranh giới giữa hát ru

và ca dao cho trẻ em về mặt nội dung thật khó phân biệt, do vậy người ta đã

xếp ca đao cho trẻ em vào hệ thống đồng đao Mặt khác, hát vui chơi của trẻ

em gần với hát ru, hát ru lại gần với ca dao cho trẻ em, có chăng khi hát ru ta thường thêm “4 ơi ru hỡi hời ru bông bông, bổng bổng” ở đẳng trước câu hát do đó chúng rất gần gũi với nhau Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khẳng định hát ru là văn hóa mẹ truyền tình mẫu tử cho trẻ em rồi bằng lời ca truyền vào tiêm thức của trẻ văn hóa truyền thống của dân tộc về tình thương, về lòng nhân ái, về đạo đức trong sáng Đó là chất thơ của thời bình minh của cuộc sống bắt gặp cái khởi nguồn của tình mẫu tử và tình

thương của nhân loại Tình cảm mẹ con, tình cảm bà cháu, tình cảm chị em,

tình cảm của người lớn thương trẻ nhỏ, tạo nên những liều thuốc bổ tỉnh thần vô cùng quý giá đối với các em Hát ru còn là hồi ức về thời thơ ấu, là

hôi âm, là khúc tâm tình của mẹ, của bà từ thuở nào, Nhân vật trữ tình

Trang 26

trong các khúc hát ru có thể là hình ảnh của người phụ nữ trong một xã hội thấp thoáng ấn hiện trong hình ảnh con cò, cái kiến, cái bồng Vì vậy mà có thé thay rang hat ru tham dan vào tâm hồn trẻ thơ mà thiếu nó tâm hồn trẻ phải chịu nhiều thiệt thòi không gì bù đắp được Vì vậy mà có câu “Mẹ z cải lẽ ở đời/ Sữa nuôi phân xác, hát nuôi phần hôn ”

Bên cạnh đó, hát ru và ca đao cho trẻ em thường thống nhất trên nhiều chủ đề Rất nhiều phong cảnh đất nước ân mình trong ca đao “Gió dua cành trúc la đà/ Tiếng chuông Chấn Vũ canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ” Va Lạng Sơn thì có “phố

Kì Lừa”, “động Tam Thanh”, Bắc Giang thì có “Sông Thương nước chảy đôi dòng ”, Quảng Nam có “Mây phú Sơn Chà”, “Sóng xô cửa Đợi”, rồi

Sài Gòn, Đồng Nai có “Nhà bè nước chảy phân hai”, Đồng Tháp có “Tháp Mười đẹp nhất bông sen ”, Trong kháng chiến cũng có thê đó là lời đặn dò

về truyền thống dân tộc qua lời ru mẹ muốn truyền lại cho con “Con ơi con ngủ cho say/ Me di phục kích canh hai mẹ vổ ” Và cũng có thể là tình thương yêu đồng bào, đồng chí, tinh thần đoàn kết dân tộc “N”iễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, cũng có thê

là truyền thống yêu quý lao động “Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mô hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đây/ Dẻo thơm một hạt dang cay muôn phẩn/ ” Còn bao lĩnh vực khác như hội hè, đình đám, thuần phong mĩ tục, quan hệ trong gia đình, làng xóm, thầy bạn, còn sống mãi trong ca dao mà khi cắp sách đến trường các em sẽ được tiếp nhận một cách đầy đủ và sâu sắc

Trên đây là nội dung của hệ thống đồng dao Việt Nam được nhìn nhận

và đánh giá không theo nội dung từng bộ phận cấu thành của hệ thống đồng dao mà nhìn tông hợp theo nội dung của bôn chủ đê nêu trên

Trang 27

Chương 2

ĐÔNG DAO VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÔNG DAO TRONG VIỆC GOP PHAN GIÁO DỤC TOÀN DIỆN HỌC SINH TIỂU HỌC

2.1 Đồng dao và vai trò của đồng dao trong việc góp phân giáo dục thể

chất cho học sinh Tiểu học

Học sinh Tiểu học rất hiễu động, luôn ở trạng thái hoạt động không

chịu ngồi yên một chỗ do vậy việc củng cố và tăng cường sức khỏe là hết sức quan trọng và cần thiết Khi các em tham gia các trò chơi như Rồng rắn lên mây, Thả đỉa ba ba, có tác dụng rèn luyện sức khỏe cho các em giúp các

em có một cơ thể cân đối và hài hòa Với khúc đồng dao “Nu na nu néng” khi tham gia trò chơi thì 2, 3 em ngồi xúm vào nhau, cùng duỗi chân ra Một

em đập nhẹ vào chân từng người, mỗi cái đập hát một câu:

các em hoàn thiện hệ vận động mà còn phát triển hệ thần kinh, các em phải

tập phản xạ nhanh tập trung chú ý để dụt chân kịp thời mà không bị đập vào chân Hay khi tham gia trò chơi “Văng cun cút” các em học sinh có điều kiện

phát triển thể lực toàn diện đặc biệt là hệ hô hấp và hệ cơ Mỗi em có một

que roi tre khoảng 3 — 4 gang tay đầu to, đầu nhỏ, dẻo, đàn hồi Mỗi em có một nắm đất sét dẻo vê thành viên to bằng quả ổi cắm vào đầu roi tre, đứng thăng giơ roi ra phía sau lưng rồi hát:

Trang 28

“Cun cut May vut cho xa Bao giờ giỗ cha giỗ mẹ Mày về ăn cơm với thịt với cá ”

Hết câu, ra sức vút mạnh roi về phía trước cho viên đất văng đi Em nào có viên đất văng xa hơn sẽ thắng Khi vừa hát vừa cho trẻ tập lấy hơi, tập hit thở sâu và trao đôi khí O› thải khí CO: ra ngoài, trong quá trình vận động

có tác dụng tốt với việc điều hòa cơ thể, giúp phát triển tốt hệ hô hấp Hơn nữa, khi tham gia trò chơi này trẻ phải dùng sức nén cũng như sức bật của chân để đưa viên đất bay thật xa Nó có ảnh hưởng tới tư thế đứng, tác động đến sự phát triển mềm đẻo của cột sống khi gập người ra sau rồi lại ngả về trước Còn với trò chơi “Cưỡi ngựa nhong nhong” khi tham gia chơi thì mỗi

em có một cây gậy hoặc một tàu chuối đã tuốt lá, buộc sợi dây vào đầu làm

cương ngựa, đứng xếp hàng ngang, một tay kẹp cây gậy vào giữa hai đùi tưởng tượng đó là một con tuần mã, một tay giữ dây cương Khi trưởng trò choi hé lénh: Hai ba thi tất cả cùng chạy về phía trước, vừa cưỡi ngựa vừa hát lời đồng dao Qua trò chơi này các em được địp rèn luyện thân thể, phát triển được cơ tay, cơ vai, cơ bụng cũng như tăng thêm sự sảng khoái , hưng phân về tinh thần, biết tập phản xạ nhanh tập trung chú ý nghe rõ hiệu lệnh của trưởng trò và xuất phát kịp thời để giành phần thưởng

Đối với học sinh Tiểu học, các em rất thích chơi chuyên “Chuyén thẻ”

với động tác “nâng lấy một, chộp lẫy đôi, sang tay qua, ra tay chống” không chỉ có tác dụng luyện gân các cơ ở cô tay, cánh tay, khuỷu tay mà còn rèn sự

khéo léo linh hoạt của các ngón tay, giúp trẻ vận động linh hoạt, mềm dẻo hơn Trò “Đánh khăng” ít nhiều là môn thể thao có sự vận động toàn diện kết thúc với chạy, nhảy, đuôi bắt, cống nhau Qua trò chơi, các em được địp rèn

luyện mắt, chân tay, luyện thính giác, khứu giác,

Ngày đăng: 11/09/2014, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w