Trải qua nhiều thế hệ, con người mới biết tổng hợp, đúc kết ra những phươngpháp khai thác, chế biến, bảo quản và sử dụng các loại cây làm thuốc sao cho hợp lý.Tuy nhiên, các hiểu biết nà
Trang 1MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng các loài thực vật cho nhiều mục đích khácnhau như làm nhà, lương thực, thực phẩm và tất nhiên cũng không thể không kể đếngiá trị làm thuốc chữa bệnh của chúng - một nhu cầu cần thiết mà bất kì một dân tộc,một cộng đồng sống gần rừng rất quan tâm Đặc biệt, trong nhiều năm về trước, khi nềnkhoa học chưa phát triển thì con người phải dựa hoàn toàn vào các vị thuốc lấy từ thiênnhiên Trải qua nhiều thế hệ, con người mới biết tổng hợp, đúc kết ra những phươngpháp khai thác, chế biến, bảo quản và sử dụng các loại cây làm thuốc sao cho hợp lý.Tuy nhiên, các hiểu biết này chỉ tồn tại trong một vài cá nhân hay nhóm nhỏ các cộngđồng địa phương mà không được công bố rộng rãi nên dễ bị thất truyền kiến thức vôcùng quý giá đó
Khu vực vùng Tây Nguyên được đánh giá là nơi có nhiều điều kiện thuận lợicho các loài thực vật sinh trưởng và phát triển tốt Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đâykhá phong phú và đa dạng, người dân địa phương sử dụng cây thuốc vào việc chữabệnh còn khá nhiều Song trong những năm gần đây diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp
do các hoạt động phát triển kinh tế của con người nên số lượng loài đang bị suy giảmđáng kể, mặt khác việc khai thác buôn bán trái phép nguồn tài nguyên cây thuốc cũngđang làm cho nhiều loài cây thuốc quý đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng
Nhận thấy việc điều tra, nghiên cứu về tình hình sử dụng và buôn bán cây thuốc
ở đây là việc làm cần thiết, ngoài việc góp phần đánh giá rõ hiện trạng, tiềm năng củađịa phương nhằm nâng cao công tác bảo tồn phát triển cây thuốc, cung cấp kịp thờinhững số liệu thông tin về cây thuốc để phục vụ cho đời sống người dân mà còn gópphần gìn giữ những kinh nghiệm sử dụng thuốc quý báu của người dân bản địa
Do vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu: "Đánh giá khả năng thương mại hóa các sản phẩm về cây thuốc và bài thuốc dân tộc tại khu vực nghiên cứu" Để
thực hiện nghiên cứu này chúng tôi xin cảm ơn Chương trình Tây Nguyên III, đề tàiTN3/T10 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi có thể điều tra nghiên cứu một cáchtốt nhất
Trang 2Chương I ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Tài nguyên cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộcthiểu số (Ba Na, Grai, Lào, M'Nông, ) tại khu vực Tây Nguyên
2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về tri thức sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc thiểu sốtại Tây Nguyên
- Nghiên cứu hiện trạng khai thác, buôn bán cây thuốc tại khu vực TâyNguyên
3 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các báo cáo, tài liệu có liên quan
3.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Trong suốt quá trình điều tra chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra dân
tộc học như PRA (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân) và RRA (Đánh giá nhanh nông thôn) để thu thập các thông tin và số liệu hiện
trường Cụ thể như: Phỏng vấn các hộ gia đình, đặc biệt là những người am hiểu
về thuốc như các ông lang, bà mế; Phỏng vấn cán bộ trạm y tế; Thảo luậnnhóm
Trang 3Tuy nhiên với mỗi nội dung nghiên cứu riêng chúng tôi sử dụng cácphương pháp điều tra khác nhau.
Ngoài ra, chúng tôi tiến hành chụp ảnh cây thuốc trong vườn cây thuốc, ởnơi bán thuốc, nơi sinh sống tự nhiên và chụp ảnh một số hoạt động sản xuấtcủa cộng đồng địa phương gắn với cây thuốc
Khi tiến hành thảo luận với người dân chúng tôi sử dụng công cụ PRA đểtìm ra được những yếu tố ảnh hưởng tới tài nguyên cây thuốc tại địa phương.Sau đó phân tích sơ đồ SWOT để đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội,thách thức đối với vấn đề phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc tại địaphương
Cuối cùng dựa vào các kết quả nghiên cứu của đề tài, kết hợp với thamkhảo ý kiến trung gian đề xuất giải pháp phát triển bền vững tài nguyên câythuốc Các giải pháp này được thống nhất với người dân địa phương thông quathảo luận nhóm và trao đổi, đúc kết kinh nghiệm của cộng đồng
3.3 Phương pháp xử lý chuyên gia
3.3.1 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu vật
Sau khi thu mẫu ở thực địa về mẫu vật sẽ được xử lý và làm thành tiêubản theo phương pháp phổ biến hiện nay tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinhvật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3.3.2 Phương pháp giám định mẫu tiêu bản
Trên cơ sở mẫu tiêu bản thu được và phần hình ảnh, ghi chép ngoài thựcđịa, các loài chưa biết tên được xác định bởi các chuyên gia thực vật có kinhnghiệm tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thông qua so sánh với mẫutiêu bản có sẵn để sơ bộ xác định tên loài Sau đó chúng tôi tiến hành tra cứu,đối chứng với phần mô tả trong các tài liệu chuyên khảo về thực vật để định têncho loài
Trang 4Chương II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.1 Vị trí địa lý
Khu vực Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắcxuống Nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với diệntích tự nhiên là 54.474 km2 chiếm 16,8% diện tích của cả nước
Bản đồ hành chính vùng Tây Nguyên
Trang 5Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phíaĐông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh thuận,Bình Thuận, phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía Tây giáp vớicác tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulki (Campuchia) Trong khi KonTum có biên giới phía Tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk,
và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia Còn Lâm Đồngkhông có đường biên giới Quốc tế
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là mộtloạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, caonguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, caonguyên M'Drăk cao khoảng 500m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng500m, Mơ Nông cao khoảng 800 - 1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng1500m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900 - 1000m Tất cả các cao nguyênnày đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính làTrường Sơn Nam)
Trang 6Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là batiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum vàGia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk,
và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng) Trung TâyNguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc vàphía Nam
1.2 Địa hình
Đặc điểm quan trọng nhất về địa hình vùng Tây Nguyên là một sơnnguyên, bao gồm các dãy núi cao trên 2.000m, tiếp đến là các dãy núi cao dưới2.000m và các cao nguyên với độ cao từ 300 - 800m thoải dần về phía Tây, TâyNam và Nam Vùng cao nguyên khoảng 2.637,7 nghìn ha (chiếm 47%); vùngnúi có độ cao từ 800 - 2.598m có diện tích khoảng 1.536,14 nghìn ha (chiếm34,5%); thung lũng giữa núi khoảng 1.037,8 nghìn ha (chiếm 17,5%) Địa hìnhTây Nguyên bị chia cắt phức tạp, nhưng có thể chia thành 3 dạng chính như sau:
- Địa hình vùng núi cao: Bao gồm các dãy núi Ngọc Linh, An Khê, ChưDju, Vọng Phu, dãy Tây Khánh Hòa, dãy Chư Yang Sin (có đỉnh cao nhất NamTrường Sơn), dãy Núi Bà (Lang Biang) Địa hình vùng núi cao bị chia cắt phứctạp, diện tích rừng của Vùng Tây Nguyên tập trung chủ yếu ở đây, phần lớn làrừng nguyên sinh và rừng đầu nguồn, trong vùng còn tồn tại nhiều hệ động vật,thực vật quý hiếm, các loại khoáng sản quý như: đá quý, vàng, kim loại , phân
bố tập trung ở vùng núi Dân số ở địa hình vùng núi còn rất thưa, chủ yếu là cácdân tộc ít người
- Địa hình cao nguyên: gồm cao nguyên Kon Tum, M’Drăk, Buôn MaThuột cao khoảng 500m; cao nguyên Kon Plông, Kon Hà Nừng, Pleiku caokhoảng 800m; cao nguyên Mơ Nông cao khoảng 800 - 1.000m; cao nguyên DiLinh cao khoảng 900 - 1.000m; cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1.500m Tất
cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi các dãy núi cao
Trang 7- Địa hình thung lũng: Gồm cánh đồng An Khê rộng 15 km, dài 45 km;miền trũng giữa núi Kon Tum chạy dọc sông Pôkô; Bình nguyên Easup nằm ởphía Bắc Buôn Ma Thuột; Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm theo đứt gãyTây Bắc - Đông Nam kéo dài từ Kon Tum xuống; Vùng trũng Krông Pắk - Lắk
ở phía Nam cao nguyên Buôn Ma Thuột Vùng có địa hình thung lũng là vùngphát triển cây lương thực, thực phẩm chủ yếu của Tây Nguyên, vùng này làvùng có tiềm năng phát triển thủy sản nuôi cá nước ngọt
1.3 Khí hậu
Nằm giữa 110 - 150 vĩ độ Bắc, Vùng Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới giómùa, với 2 mùa mưa và khô rõ rệt Tuy nhiên, do vị trí và hướng núi, do ảnhhưởng của đai cao nên khí hậu Vùng Tây Nguyên bị phân dị khá nhiều tùy theotừng khu vực Toàn vùng có thể chia thành 3 tiểu vùng khí hậu tương ứng với 3tiểu vùng địa hình, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum vàGia Lai), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông),Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên có độ caothấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và phía Nam
Do ảnh hưởng của đai cao, nên cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm đi0,60C, do đó ở xấp xỉ trên cùng vĩ tuyến, nhiệt độ trung bình ở Pleiku (800m)thấp hơn ở Quy Nhơn 50C; ở Buôn Ma Thuột thấp hơn Nha Trang 30C; ở Đà Lạt(1.500m) thấp hơn Phan Rang (500m) 90C
Trừ các vùng giữa núi, các bình nguyên (Cheo Reo - Phú Túc, Kon Tum)
có nhiệt độ cao, nói chung càng lên cao các cao nguyên đều mát hơn Nhiệt độtrung bình hàng năm ở các khu vực có độ cao 500 - 800m là 21 - 230C; các khuvực có độ cao 800 - l.100m, nhiệt độ không khí trung bình năm là 19 - 210C; cáckhu vực có độ cao trên 1.500m nhiệt độ không khí trung bình của năm ổn địnhtrong khoảng 180C Chênh lệch giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất từ 30C - 60C.Nhiệt độ trung bình hàng năm của toàn vùng là 240C; lượng ánh sáng dồi dào,cường độ ổn định Tổng lượng bức xạ mặt trời trung bình hàng năm 240 - 250
Trang 8kcal/cm2 Số giờ nắng trung bình 2.200 - 2.700 giờ/năm Biên độ dao động nhiệtgiữa ngày và đêm khá lớn (mùa khô từ 15 - 200C, mùa mưa từ 10 - 150C).
Lượng mưa ở Tây Nguyên phân bố không đều do ảnh hưởng của địa hình.Lượng mưa trung bình hàng năm của toàn vùng khoảng 1.900 - 2.000mm, tậptrung chủ yếu trong mùa mưa Những sườn cao đón gió mùa Tây Nam nhưPleiku, Bảo Lộc có lượng mưa (2.200mm - 2.500mm) lớn hơn lượng mưa cácvùng thấp như Buôn Ma Thuột (1.700mm) Những nơi bị khuất đối với cả giómùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc như trũng Cheo Reo có lượng mưa thấpnhất (l.200mm)
Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Tây Nguyên là sự phân chia thành 2mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, khí hậu mát mẻ, ổn định, nhiệt độtrung bình hàng tháng khoảng 21 - 250C, hầu hết lượng mưa trong năm tập trungtrong mùa này, đỉnh mưa thường xuất hiện vào tháng 8 - 9 Mùa khô từ tháng 11đến tháng 4 năm sau, khí hậu khắc nghiệt, khoảng đầu mùa nhiệt độ thấp (tháng
1 nhiệt độ trung bình 16 - 180C), nhưng cuối mùa nhiệt độ lên cao (tháng 4 nhiệt
độ trung bình 24 - 280C), lượng mưa trong các tháng mùa khô rất thấp và tháng
3 lượng mưa thấp nhất
Như vậy kết hợp với các yếu tố địa hình, đất đai đã phân chia lãnh thổTây Nguyên thành những vùng, tiểu vùng có điều kiện sinh thái rất khác nhau,thích hợp cho nhiều loại động, thực vật sinh trưởng và phát triển
1.4 Thổ nhưỡng
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m
so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như càphê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triểntại đây Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên TâyNguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ Và đang tiếnhành khai thác Bô xít Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện
Trang 9tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu nhưchưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà củamiền trung, có chức năng phòng hộ rất lớn Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tàinguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chận được tại đây cóthể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường sinh thái.
Đất đai được coi là tài nguyên cơ bản của vùng, thuận lợi cho phát triểnnông lâm nghiệp Diện tích đất chủ yếu là đất đỏ bazan, tầng phong hoá dày, địahình lượn sóng nhẹ tạo thành các cao nguyên đất đỏ như cao nguyên Buôn MaThuột, Plâycu, Đăk Nông, Kon Tum chiếm diện tích khoảng 1 triệu ha, thíchhợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây cao su, cà phê, chè, hồ tiêu, điều
và rừng; Đất đỏ vàng diện tích khoảng 1,8 triệu ha, kém màu mỡ hơn đất đỏbazan nhưng giữ ẩm tốt và tơi xốp nên thích hợp với nhiều loại cây trồng Ngoài
ra còn có đất xám phân bố trên các sườn đồi thoải phía Tây Nam và trong cácthung lũng, đất phù sa ven sông, thích hợp cho trồng cây lương thực
Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm tới 1,4 triệu ha và đang bịthoái hoá nghiêm trọng (đất bazan thoái hoá tới 71,7%; diện tích đất bị thoái hoánặng chiếm tới 20%)
1.5 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Tây Nguyên có 4 hệ thống sông lớn là Sesan, Serepok
(đổ về sông Mê Kông), sông Ba (đổ về Tuy Hòa - Phú Yên) và sông Đồng Nai(đổ về Đồng Nai) Ngoài ra còn có một hệ thống sông suối nhỏ đổ xuống vùngDuyên hải Nam Trung Bộ Các hệ thống sông này đã cung cấp cho Tây Nguyênmột lượng nước là 53,7 km3/năm; bình quân 972.000 m3/km2
+ Sông Sesan và Serepok: Tổng lượng nước hàng năm của 2 sông Sesan
và Serepok là 30,3km3, trong đó sông Sesan chiếm 1/3 Độ sâu dòng chảy bìnhquân toàn lưu vực là 987mm ứng với mô dun dòng chảy là 31,3 lít/s/km2 Sự
Trang 10phân bố dòng chảy trên lưu vực không đều Thượng nguồn sông Sesan có môdun dòng chảy đạt 35 - 40 lít/s/km2, thượng nguồn Serepok nhỏ hơn 20 lít/s/km2.
+ Hệ thống sông Ba: Có diện tích lưu vực 11.410km2, nhánh chính vàdòng chính từ nguồn đến giáp giới tỉnh Phú Yên dài 304 km, có 3 nhánh chính:
• Nhánh Ya Yun dài 177 km, có diện tích lưu vực 2.847 km2
• Nhánh Krông H’măng dài 100 km, có diện tích lưu vực 1.975 km2
• Nhánh sông Hinh dài 74 km, có diện tích lưu vực 439 km2
+ Hệ thống thượng nguồn sông Đồng Na chiếm gần hết diện tích phần
Nam Tây Nguyên Dòng chính thượng Đồng Nai nằm trong lãnh thổ tỉnh LâmĐồng có nhánh Đa Nhim dài 130km với diện tích lưu vực là 2.010km2 và nhánhlớn đáng kể là Đa Đơn dài 90km với diện tích lưu vực là 1.225km2 Các nhánhlớn khác là của hệ thống thượng nguồn sông Đồng Nai, gồm:
• Nhánh Đa Tẻ có diện tích lưu vực 470 km2 ở Tây Nam Lâm Đồng
• Nhánh Đa Hoàn có diện tích lưu vực 965km2 nằm giữa Đa Tẻ và ĐaNgà
• Nhánh Đa Ngà có diện tích lưu vực 968 km2 nằm ở phía nam LâmĐồng
Trung bình hàng năm các lưu vực sông ở Tây Nguyên tiếp nhận mộtlượng mưa khá lớn, gần 2.000mm Khả năng bốc hơi của các lưu vực ở TâyNguyên rất lớn: lượng bốc hơi từ các lưu vực còn kém nhiều so với khả năngbốc hơi thực tế vì trong thời gian khô hạn kéo dài lượng nước trong đất không
đủ cung cấp cho bốc hơi
Trang 11Bảng 1 Tiềm năng nước mặt vùng Tây Nguyên tính trung bình
theo lưu vực sông
Lưu vực
(diện tích lưu vực, km2)
Tổng lượng mưatrung bình(106m3/năm)
Tổng lượng dòngmặt trung bình(106m3/năm)
Tổng lượng dòng ngầm(106m3/năm)
Tổng tiềm năng toàn lưu
vực sông ở Tây Nguyên 93.292,41 46.209,00 6.748,45
Nguồn: QH phát triển kinh tế - xã hội Vùng Tây Nguyên đến năm 2020.
Tây Nguyên có rất nhiều hồ lớn có khả năng cung cấp nguồn nước như:
- Hồ Xuân Hương (Đà Lạt): là một hồ đẹp nằm giữa trung tâm thành phố
Đà Lạt Xung quanh hồ có rừng thông và các bãi cỏ, vườn hoa Đây là địa điểm
du khách ưa thích đi dạo bộ hoặc xe ngựa khi đến tham quan thành phố Đà Lạt
- Hồ Than Thở: là một hồ nước tự nhiên thuộc thành phố Đà Lạt và cũng
là một địa điểm du lịch hấp dẫn Trước đây vùng hồ Than Thở có một cái ao gọi
là Tơnô Pang Đòng Vào năm 1917, người Pháp đắp đập xây dựng hồ chứa nướccung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Lạt Người Pháp đặt tên hồ là LacdesSoupirs với nghĩa thứ hai (tiếng rì rào), nhưng khi dịch sang tiếng Việt lại dịchtheo nghĩa thứ nhất: hồ Than Thở Vào lúc bình minh, sương mù bao phủ mặt
hồ, tạo nên một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp, nên sau năm 1975 hồ Than Thởcòn mang tên hồ Sương Mai
- Hồ Lắk: là hồ nước tự nhiên lớn nhất tỉnh Đắk Lắk, nằm trên tuyến giaothông giữa Buôn Ma Thuột và Đà Lạt, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng56km về phía nam theo quốc lộ 27 Trên sườn đồi cạnh Hồ Lắk có ngôi biệt thựnghỉ mát của cựu hoàng đế Bảo Đại Đây là nơi ông thường đến ngắm cảnh, sănbắn, nghỉ ngơi mỗi khi có dịp lên thành phố Buôn Ma Thuột Ngôi nhà nằm trên
Trang 12đỉnh đồi cao nhìn ra mặt nước của Hồ Lắk Hồ Lắk dài uốn bao quanh thị trấnLạc Thiện Hồ rộng trên 5 km2, được thông với sông Krông Ana Mặt hồ luônxanh thắm in bóng rừng thông trên các ngọn đồi ven hồ Xung quanh hồ là cáccánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.
- Hồ Ayun Hạ: là hồ nước nhân tạo thuộc tỉnh Gia Lai Hồ hình thành khidòng sông Ayun được chặn lại vào đầu năm 1994, để khởi công xây dựng côngtrình thủy lợi Ayun Hạ, đập chính và cửa cấp nước của hồ nằm trên địa bàn xãChư A Thai - huyện Phú Thiện, cách thành phố Pleiku 70km về phía Tây Vùngngập chính của hồ thuộc địa phận xã H’Bông huyện Chư Sê Mặt nước hồ códiện tích 37 km2, chiều dài 25 km, nơi rộng nhất 5 km
Bảng 2 Tiềm năng nước mặt vùng Tây Nguyên tính theo tỉnh
Tên tỉnh
Tổng lượng mưa trung bình (10 6 m 3 /năm)
Tổng lượng dòng mặt trung bình (10 6 m 3 /năm)
Tổng lượng dòng ngầm (10 6 m 3 /năm)
Nguồn: QH phát triển kinh tế - xã hội Vùng Tây Nguyên đến năm 2020.
- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm được phân bố ở độ sâu 50 - 150m, vì
vậy nếu khai thác cần đầu tư lớn Hiện nay, tình trạng thảm rừng đang bị xâmhại, là nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy giảm nguồn nước ngầm.Tàinguyên nước ngầm của vùng mất cân đối nghiêm trọng về mùa khô Các hồ tựnhiên, nhân tạo, các kho nước rộng lớn tạo ra sự bốc hơi mặt nước, lượng nước
sử dụng không được hoàn lại và bị mất một khối lượng lớn, ước tính trên 20%lượng nước dùng , do đó ảnh hưởng đến sự suy giảm của nguồn nước ngầm.Đặc biệt trong mùa khô, ở những nơi mất rừng, các con suối khô cạn, mực nướcngầm tụt sâu, thiếu nước trở nên nghiêm trọng Vì vậy việc bảo vệ và tái tạo
Trang 13thảm thực vật rừng là hết sức cần thiết để bảo vệ và bổ sung nguồn nước ngầmlâu dài cho sản xuất và đời sống người dân Vùng Tây Nguyên.
1.6 Tài nguyên rừng
Về hệ thực vật có trên 3.000 loài bậc cao, trong đó có hơn 1.000 loài câycảnh, gần 1.000 loài dược liệu, 600 loài cây gỗ lớn Một số nơi địa hình cao từ1.000 - 2.000m nằm giữa hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng, khu hệ thực vật càngđặc sắc hơn, có nhiều loài cây lớn như thông ba lá, thông nàng, vù hương Những nơi rừng chưa bị xâm hại, còn nhiều cây gỗ lớn và quý, cao hàng chụcmét, đường kính lên đến trên 1m Trên địa bàn một số huyện ở Đắk Lắk hiệncòn loài thủy tùng cực kỳ quý hiếm, được xem là “hóa thạch sống” cần được bảo
vệ nghiêm ngặt
Rừng là một tài nguyên lớn có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triểnbền vững của Vùng Tây Nguyên Với diện tích lớn (độ che phủ 54,6%), hệ độngthực vật đa dạng, Tây Nguyên có điều kiện rất tốt để phát triển nghề rừng vàcông nghiệp rừng; đồng thời cũng là nơi giữ vai trò cân bằng sinh thái, là nguồnsinh thủy của hệ thống sông suối khu vực Miền Trung và Đông Nam Bộ Nhữngnăm gần đây, để bảo tồn tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, ở TâyNguyên đã quy hoạch 14 khu bảo tồn và vườn quốc gia cùng với hàng chục khubảo tồn nhỏ và rừng đặc dụng khác, với tổng diện tích khoảng 460.000 ha(chiếm 8,3% diện tích tự nhiên toàn vùng)
Tây Nguyên nằm trong vùng nhiệt đới ẩm nên hệ thực vật rất phong phúbao gồm thực vật tự nhiên với đặc trưng của rừng nhiệt đới ẩm và cây trồng đadạng Các loại thảm thực vật tự nhiên chủ yếu là:
- Rừng rậm nhiệt đới thường xanh ở địa hình thấp, phân bố chủ yếu ở đaicao từ 600m trở xuống Rừng có 5 tầng, trong đó 3 tầng gỗ cao 35 - 40m
- Rừng nhiệt đới thường xanh vùng núi thấp: phân bố chủ yếu ở độ cao
600 - l.600m Rừng có 5 tầng, trong đó 3 tầng gỗ cao 25 - 30m
Trang 14- Rừng rậm nhiệt đới thường xanh vùng núi cao trung bình: Phân bố ở độcao trên l.600m Đây là loại rừng thấp, gồm những cây gỗ thuộc ngành thôngnhư: pơmu, giẻ, đỗ quyên…
- Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá: rừng có 3 tầng, trong đó có 2 tầng cây
gỗ Tầng trên rụng lá trong mùa khô, tầng dưới là cây gỗ thường xanh
- Rừng tre tập trung ở khu vực đèo Bảo Lộc (Lâm Đồng) và vùng ngã 3biên giới (Gia Lai, Kon Tum) Loại rừng này chủ yếu phát triển ở địa hình thấp
và dưới chân đồi núi thấp
- Trảng le: Phân bố ở độ cao 700 - 800m trở xuống, có chiều cao 3 - 5m
- Rừng thông 3 lá và 2 lá: Thường gặp ở Đắk Giây, Măng Đen, Sa Thầy,Đắk Đoa, Ea - H'Leo Phân bố ở độ cao dưới l.000m là loài thông 2 lá và ở độcao từ 1.000 - l.800m là loài thông 3 lá
- Rừng đầm lầy: thường gặp ở phía Nam tỉnh Đắk Lắk ở độ cao 800-900m, tầng cao nhất đến 20m
Rừng trồng, rừng tái sinh cũng chiếm một số diện tích đáng kể Hoạt độngcủa con người như đốt nương làm rẫy, chiến tranh tàn phá đã xuất hiện thảmrừng thứ sinh, trảng cỏ, trảng cây bụi Sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp trênđịa bàn Tây Nguyên làm cho thảm thực vật của vùng có biến đổi sâu sắc Từnăm 1992 - 1995 diện tích đất nông nghiệp tăng 50.357 ha Giai đoạn 1995 -
2000 diện tích đất nông nghiệp tăng rất mạnh 678.321 ha do làn sóng nhập cưlớn vào vùng Bình quân hàng năm giai đoạn nàydiện tích đất nông nghiệp tăngthêm 135.662 ha Đến giai đoạn 2000 - 2008 tốc độ tăng diện tích đất nôngnghiệp của toàn vùng Tây Nguyên giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao (bình quântrên 50.000 ha/năm)
Về hệ động vật, địa hình và thảm thực vật nằm trong một dải liên hoànvới Đông Bắc Campuchia và Nam Lào đã tạo nên một khu hệ động vật giàu vềthành phần loài với số lượng lớn, được coi là khu vực phong phú bậc nhất về
Trang 15động vật hoang dã ở Đông Nam Á, là một trung tâm rất đáng chú ý về số loàiđặc hữu, với 93 loài thú thuộc 26 họ và 16 bộ, 197 loài chim thuộc 46 họ và 18
bộ, gần 50 loài bò sát, 25 loài lưỡng cư, trên 50 loài cá nước ngọt và hàng nghìnloài côn trùng Trong số 56 loài động vật có xương sống ở cạn được coi là hiếm
ở Đông Dương, có tới 17 loài được Hiệp hội Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên xếpvào danh sách các loài quý hiếm cần được bảo vệ như tê giác, voi, gấu, bò rừng,
bò xám, bò tót, hổ, báo, hươu vàng, nai cà toong, vượn đen, gà lôi, công, trĩ…
2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc
Tây Nguyên là vùng có dân số tăng nhanh nhất ở nước ta, từ 1 triệu ngườinăm 1975 lên trên 5,2 triệu người năm 2010
Theo kết quả tổng điều tra dân số cả nước năm 2009, dân số Tây Nguyên
là 5.107.437 người; chiếm 5,8% dân số của cả nước; mật độ dân số trung bình là
92 người/km2 (mật độ trung bình của cả nước là 260 người/km2) Đến năm 2010,dân số toàn vùng tăng lên 5.214.2000 người, tăng 2,1% so với năm 2009, mật độdân số trung bình là 95 người/km2 (bảng 3)
Trang 16Bảng 3: Sự phân bố dân cư Vùng Tây Nguyên theo tỉnh (năm 2010)
(km 2 )
Dân số (nghìn người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
Nguồn: Niên giám Thống kê 2010
Tây Nguyên là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, với rất nhiều đặc trưng,sắc thái của nhiều tộc người, nhiều địa phương trong cả nước hội tụ; đồng thờicũng là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động về cơ cấu dân cư nhanh nhất cảnước Một trong những nguyên nhân chính là do tình trạng di cư tự do kéo dàinhiều năm, đến nay vẫn còn diễn ra phức tạp
Tây Nguyên là nơi có cơ cấu dân tộc biến động rất nhanh Toàn vùng hiệnnay có 47 dân tộc(so với năm 1975 tăng thêm 33 dân tộc) Riêng 12 dân tộcthiểu số bản địa chiếm 25,8% dân số toàn vùng và có số dân không đồng đều.Đồng bào dân tộc thiểu số ở Kon Tum chiếm 53,1% dân số toàn tỉnh; Gia Laikhoảng 44%; Đắk Lắk khoảng 29,5% Từ sau ngày giải phóng đến nay, một sốdân tộc thiểu số (Tày, Nùng ) ở các tỉnh phía Bắc đã đến vùng Tây Nguyên làm
ăn sinh sống làm cho thành phần dân tộc của vùng ngày càng đa dạng Các dântộc này sinh sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, trong các buôn, làng NgườiKinh sinh sống chủ yếu ở thành phố, thị trấn, ven đường quốc lộ, tỉnh lộ, vùngkinh tế mới và khu vực các nông lâm trường quốc doanh Đồng bào các dân tộcthiểu số bản địa của vùng Tây Nguyên có kết cấu tương đối phức tạp, cư trú theotừng lãnh thổ, có quá trình phát triển không đồng nhất, đa dạng về ngôn ngữ,tâm lý, phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật
Mỗi dân ở tộc Tây Nguyên có những nét đẹp văn hóa riêng Các lễ hộitruyền thống (Cồng Chiêng, Đua Voi, Bỏ Mả, Cơm Mới ); các kiểu kiến trúc
Trang 17dân tộc (nhà rông, nhà sàn, nhà dài và nhà mồ); các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng(các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng ); các bản trường ca Tây Nguyên lànhững giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó Không gian Vănhóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóaphi vật thể của nhân loại Tất cả các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của cácdân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Tây Nguyên.
Tây Nguyên là một vùng đa tín ngưỡng với 4 tôn giáo chính là CôngGiáo; Phật Giáo; Tin Lành và Cao Đài Tỷ lệ dân số theo các tín ngưỡng so vớitổng dân số là 31,8%, trong đó cao nhất là Công Giáo 15,7%, Phật Giáo 9,6%,Tin Lành 6%, Cao Đài 0,5%
Các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên thuộc hai nhóm ngôn ngữ chính
là Nam Đảo (Malayô - Pôlinêdiêng) và Nam Á (Môn - Khơ me) Trong đó, đôngnhất là dân tộc Giarai (379.589 người), tiếp theo là Êđê (305.045 người), Bana(185.657 người), Cơho (129.759 người), Xơđăng (103.251 người), Mnông(89.980 người), Giẻ Triêng (32.024 người), Mạ (36.119 người), Churu(16.863 người), Raglai (1.210 người), Rơmâm (357 người) và Brâu (347 người)
2.2 Đặc điểm chung về kinh tế
- Về tăng trưởng kinh tế: Trong giai đoạn vừa qua, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Tây Nguyên khá cao, đặc biệt trong giai đoạn 2006 - 2010 Tốc độtăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn mức bình quân chung của cả nước
Khu vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp phát triển khá ổn định và toàn diện Sảnlượng lúa vượt mức chỉ tiêu đề ra trong quy hoạch Đến nay Tây Nguyên đã trởthành vùng sản xuất ngô hàng hóa lớn của cả nước Cây công nghiệp phát triểnnhanh, phát huy được lợi thế đất đai, bảo đảm quy hoạch và tăng hiệu quả kinh
tế Diện tích gieo trồng cây cà phê, cao su, điều, hạt tiêu, bông có tỷ trọng lớn
so với cả nước và có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông nghiệp toàn quốc Chănnuôi tiếp tục phát triển, giống vật nuôi đã được cải tạo một bước