Ngay từ thời cổ đại con người đã biết sử dụng các loại hình thù, ký hiệu riêng để thể hiện quyền làm chủ của mình đối với tài sản và những vật thuộc sở hữu của chính họ. Theo thời gian, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường hòa chung trong xu thế cạnh tranh,việc sử dụng những ký hiệu ngày càng trở nên phổ biến và rộng rãi hơn, gắn liền với tên gọi “nhãn hiệu”. Với vai trò vốn có, nhãn hiệu là một trong các thành tố góp phần vào sự phát triển và thành đạt của doanh nhiệp. Nó được xem là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường, quyết định bước ngoặt mới của doanh nghiệp ở một thị trường đầy tiềm năng. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ thì nguy cơ của nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là rất lớn, do đó vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cần được chú trọng quan tâm hàng đầu. Để làm rõ hơn về vấn đề này, sau đây xin mời thầy và các bạn đến với bài thuyết trình của nhóm chúng tôi về vấn đề “ Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam”.
Trang 1MỞ BÀI
Ngay từ thời cổ đại con người đã biết sử dụng các loại hình thù, ký hiệu riêng đểthể hiện quyền làm chủ của mình đối với tài sản và những vật thuộc sở hữu củachính họ Theo thời gian, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thịtrường hòa chung trong xu thế cạnh tranh,việc sử dụng những ký hiệu ngày càngtrở nên phổ biến và rộng rãi hơn, gắn liền với tên gọi “nhãn hiệu” Với vai tròvốn có, nhãn hiệu là một trong các thành tố góp phần vào sự phát triển và thànhđạt của doanh nhiệp Nó được xem là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trongchiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường, quyết định bước ngoặt mới củadoanh nghiệp ở một thị trường đầy tiềm năng Tuy nhiên, trong bối cảnh nềnkinh tế thị trường ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ thì nguy cơ của nạn xâmphạm quyền sở hữu trí tuệ là rất lớn, do đó vấn đề bảo hộ quyền sở hữu côngnghiệp đối với nhãn hiệu cần được chú trọng quan tâm hàng đầu Để làm rõ hơn
về vấn đề này, sau đây xin mời thầy và các bạn đến với bài thuyết trình củanhóm chúng tôi về vấn đề “ Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam”
1 Khái niệm
Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại.Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ(SHTT) Vì vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo
hộ nhãn hiệu Tuy nhiên, khái niệm nhãn hiệu vẫn chưa được hiểu thống nhất ởcác quốc gia
Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phươngđiều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu Trong số này, có thể kể một số
Trang 2thống Madrid, Hiệp định TRIPs Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa
ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo
hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thốngquốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid) Riêng TRIPs đã có quyđịnh về khái niệm nhãn hiệu
Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợpcác dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanhnghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làmnhãn hiệu Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ
số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của cácdấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.”
Có thể nói, đây là một khái niệm mang tính khái quát và mềm dẻo trong phápluật quốc tế Còn các quốc gia, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình
mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp
Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế về nhãn hiệu bao gồmCông ước Pari và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid vàNghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPs
Tại khoản 16 điều 4 Luật SHTT quy định “ Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phânbiệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”
Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trởthành nhãn hiệu vì điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy địnhtại Điều 72 Luật SHTT như sau:
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
Trang 31- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể
cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặcnhiều mầu sắc;
2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hànghoá, dịch vụ của chủ thể khác
Như vậy, một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điều kiện Thứnhất, dấu hiệu phải "nhìn thấy được" Quy định này hẹp hơn quy định của TRIPs
"bất kỳ dấu hiệu nào" Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âm thanh, mùivị không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật SHTTViệt Nam Thứ hai, "khả năng phân biệt" là điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu.Đây cũng là chức năng chính của nhãn hiệu Đặc điểm này là đặc điểm chungcủa nhãn hiệu và do đó, nó giống với các điều ước quốc tế cũng như luật về nhãnhiệu của các nước trên thế giới.Theo luật nhãn hiệu Hoa Kỳ được điều chỉnhbằng đạo luật Lanham Khác với Việt Nam và Châu Âu, Lanham Act định nghĩariêng biệt hai loại nhãn hiệu: nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ
Nói tóm lại, "khả năng phân biệt" luôn luôn là đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu.Bất kỳ dấu hiệu nào không thoả mãn điều kiện này đều không thể được đăng ký
là nhãn hiệu Cả luật Việt Nam, luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ đều không có điềukhoản định nghĩa nhãn hiệu Khái niệm nhãn hiệu được hiểu qua các điều khoảnkhác, chẳng hạn như quy định ở phần giải thích thuật ngữ (Việt Nam, Hoa Kỳ),hay trong điều khoản quy định về "Các dấu hiệu là nhãn hiệu" (Châu Âu) Cácđiều khoản này thường liệt kê các dấu hiệu thông thường có khả năng đăng kýnhãn hiệu Các dấu hiệu khác như mùi, âm thanh, không được liệt kê trong luậtnhãn hiệu Mặc dù các quy định còn có những điểm khác nhau, song chúng đều
Trang 4giống nhau ở cách tiếp cận khái niệm theo chức năng phân biệt Nó là điều kiện
cơ bản nhất để một nhãn hiệu được đăng ký
2 Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự :
Theo quy định tại điều 87 luật SHTT các chủ thể sau đây có quyền đăng ký nhãnhiệu:
Cá nhân tổ chức tiến hành sản xuất kinh doanh có quyền đăng ký nhãnhiệu đối với hàng hóa dịch vụ do mình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ
Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mìnhsản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp
Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng
ký nhãn hiệu cho sản phẩm, hàng hóa mà mình đưa ra thị trường nhưng domngười khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đócho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó
Tổ chức tập thể được thành lập hợ pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tậpthể để các thành viên của minh sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn tập thể Đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa,dịch vụ, tổ chức có quyềnđăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức , cá nhân tiến hành sản xuất, kinhdioanh tại địa phương đó , đối với địa danh , dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lýđặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép
Trang 6 Nếu căn cứ vào chức năng của nhãn hiệu ta có thể có thêm khái niệm nhãnhiệu tập thể, nhã hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhận
- Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của cácthành viên của tổ chức là chủ sỡ hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổchức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó
Trang 7
Căn cứ vào danh tiếng, uy tín nhãn hiệu ta có thêm khái niệm nhãn hiệunổi tiếng
- Nhã hiệu nổi tiếng là “ nhã hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãitrên toàn lãnh thổ Việt Nam”
II VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU
1 Điều kiện bảo hộ
Theo điều 72 luật shtt:
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,kể cảhình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiềumầu sắc;
Trang 8Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hànghoá, dịch vụ của chủ thể khác.
a Nhãn hiệu trước tiên phải là dấu hiệu
Các dấu hiệu dùng để làm nhãn hiệu là những dấu hiệu có thể thấy được, nhậnbiết được bằng thị giác
Từ ngữ bao gồm tên của công ty, doanh nghiệp, họ tên của cá nhân, tên địa lýhay một từ, một cụm từ bất kì nào
Chữ cái và chữ số: đó là sự sắp xếp một hoặc nhiều chữ cái và con số
Các hình họa có thể là hình tả thực, hình vẽ, biểu tượng và cả sự thể hiện khọnggian hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì
Dấu hiệu là sự phối kết hợp màu sắc hoặc chính bản than màu đó kết hợp với các
từ ngữ,hình ảnh
Dấu hiệu ba chiều: hình dạng của hang hóa hoặc bao bì của chúng
Việc xem xét một nhãn hiệu có độc đáo hay không phụ thuộc vào hiểu biết củangười tiêu dung đối với hàng hóa, dịch vụ đó hoặc ít nhất là vào những người
mà nhãn hiệu hướng tới Được coi là độc đáo nếu người tiêu dung nhìn thấy nhãnhiệu đó và nhận ra rằng sản phẩm, dịch vụ có nguồn gốc xuất phát từ một doanhnghiệp, một cơ sở sản xuất kinh doanh Tóm lại, nhãn hiệu đó phải đủ khả năngtác động vào nhận thức của người tiêu dùng, để người tiêu dùng nhận biết, ghinhớ và phân biệt được với hàng hóa dịch vụ cùng loại khác
b Các dấu hiệu phải có khả năng phân biệt
Các dấu hiệu không có khả năng phân biệt và không được bảo hộ:
Trang 9 Hình và hình học đơn giản, chữ số,chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ khôngthông dụng trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộngrãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu
Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ ( thí dụ hình con rắn nhả nọc độctrên đĩa đối với các sản phẩm dược, hay chữ R có hình tròn bao quanh bởi đó làdấu hiệu thể hiện đã được bảo hộ độc quyền)
Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, sốlượng, chất lượng, tính chất, thành phẩm, công dụng, giá trị hoặc các đặc tínhkhác mang tính chất mô tả hàng hóa, dịch vụ ( những yếu tố này thuộc đối tượngcủa nhãn hàng hóa nhằm thông tin về hàng hóa đó); thí dụ, bánh kẹo Hải Hàđược sản xuất tại Hà Nội, với thành phẩm gồm bột gạo, đường, sữa, bơ……
Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh
Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ thí dụ, nước mắmPhú Quốc, cà phê Buôn Mê Thuột
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn
Thí dụ, sử dụng nhãn hiệu COCACOLA cho sản phẩm may mặc tuy không trùngvới hàng hóa là nước giải khát nhưng không được bảo hộ hoặc sử dụng dấu hiệutương tự gây nhầm lẫn như COLACOTA, hoặc COKECO LA……
Dấu hiệu trùng tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của ngườikhác nếu việc sử dụng đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốchàng hóa, dịch vụ
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếuviệc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồngốc địa lý của hàng hóa
Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệpcủa người khác được bảo hộ trên cơ sở đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày
Trang 10nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãnhiệu.
c Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Theo Điều 73 luật shtt:
Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ,quốc huy của các nước;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ,huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan,
tổ chức đó cho phép;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệthiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam,của nước ngoài;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận,dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu khôngđược sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãnhiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối ngườitiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặccác đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ
2 Đăng kí bảo hộ
a Đăng kí xác lập quyền đối với nhãn hiệu:
Trang 11Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu góp phần hạn chế tình trạng sản xuất hàng giả, hàngnhái và tạo điều kiện cho các chủ thể yên tâm vào việc nâng cao chất lượng củahàng hóa dịch vụ việc đăng lý bảo vệ nhãn hiệu không những bảo vệ cho chủnhãn hiệu mà còn góp phần bảo vệ người tiêu dùng tránh được hàng giả, hàngnhái và có thêm nhiều sự lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ mình ưa thích Vàđây còn là cơ sở để giải quyết tranh chấp khi có sự tranh chấp xảy ra.
Cách thức nộp đơn và đơn đăng ký bảo hộ
Đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam, nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc cótrụ sở tại Việt Nam nộp đơn trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ hoặc thông qua đạidiện sở hữu công nghiệp
Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài không
có cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam thì nộp đơn thông qua đại diện sở hữucông nghiệp
Về nguyên tắc: Việt Nam áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Cụ thể trong
trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùnghoặc tương tự dến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng với các sản phẩm, dịch vụtrùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một ngườiđăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì vănbằng chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộpđơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để dược cấp văn bằngbảo hộ
Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký được nêu như ở trên cùng đáp ứng cácđiều kiện bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì vănbằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn
Trang 12đĩ theo thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn Nếu khơng thỏa thuận đượcthì các đối tượng tương ứng của các đơn đĩ bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
Chủ thể cĩ thể viện dẫn quyền ưu tiên theo Cơng ước quốc tế mà Việt Nam thamgia ( thí dụ theo Cơng ước Paris là 6 tháng đối với nhãn hiệu)
Đối với người nộp đơn muốn hưởng quyền ưu tiên theo Cơng ước Paris thìphải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Người nộp đơn là cơng dân Việt Nam, hoặc cơng dân nước thành viên,hoặc cư trú hoặc cĩ trụ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hoặc nước thànhviên của Cơng ước
- Đơn đầu tiên đã nộp tại Việt Nam hoặc tại nước của Cơng ước, đơn đĩ cĩchứa phần tương ứng với yêu cầu hưởng quyền ưu tiên
- Đơn đăng ký được nộp trong khoảng thời gian 6 tháng kể từ ngày ưu tiên
- Trong đơn cĩ nêu rõ hưởng quyền ưu tiên và cĩ nộp bản sao đơn đầu tiên
- Đơn đăng ký là tập hợp các tài liệu liên quan đến đối tượng bảo hộ baogồm:
- Tờ khai yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu: theo mẫu quyđịnh, trong đĩ cĩ mẫu nhãn hiệu, danh mục hàng hĩa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
số lượng ba bản
Mẫu nhãn hiệu: 9 mẫu, kích thước khơng lớn hơn 8cm.8cm, đúng má sắc yêucầu bảo hộ, cĩ ảnh chụp hoặc hình vẽ phối cảnh nếu nhãn hiệu là hình 3 chiều;nếu nhãn hiệu xin đăng ký ở dạng màu sắc thì phải them ba mẫu nhãn hiệu màuđen trắng
Nếu là nhãn hiệu tập thể thì phải cĩ quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể: quy chếphải cĩ đủ nội dung tối thiểu theo quy định tại điều 105 Luật SHTT và điểm 37.6Thơng tư 01)
Trang 13Tài liệu chứng minh quyền đăng ký nhãn hiệu thao quy định tại Điều 87 LuậtSHTT, quyền ưu tiên thao Điều 91 LSHTT Người nộp đơn phải nộp bản saođơn đầu tiên, hoặc giấy chứng nhận trưng bày triển lãm Theo Công ước Paisđơn phải nộp trong vòng 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên hoặc từ ngày triểnlãm.
Đơn đăng ký phải làm bằng tiếng Việt, nếu là tiếng nước ngoài thì phải dịch ratiếng Việt
Thẩm định hình thức của đơn
Thời gian thẩm của Cục sở hữu trí tuệ là một tháng kể từ ngày nộp đơn
Đơn đăng ký sẽ bị xem là không hợp lệ nếu rơi vào một trong các trường hợp sauđây:
- Đơn không đáp ứng về hình thức
- Đối tượng trong đơn không được bảo hộ theo quy định của pháp luật viphạm vào Điều 73 LSHTT
Trang 14- Người nộp đơn không có quyền đăng ký, kể các trường hợp quyền đăng
ký cùng thuộc nhiều tổ chức, cá nhân nhưng một hoặc một số người trong đókhông đồng ý thực hiện việc nộp đơn
- Đơn nộp không đúng quy định của pháp luật
- Người nộp đơn chưa nộp lê phí
Trong trường hợp có căn cứ cho rằng đơn đối với nhãn hiệu không hợp lệ thìCục sở hữu trí tuệ sẽ thông báo dự định từ chối chấp nhận đơn hợp lệ Trong đónêu rõ lý do và ấn định thời hạn để người nộp đơn sửa chữa hoặc có ý kiến phảnđối dự định từ chối Nếu hết thời hạn mà không sửa chữa hoặc sửa chữa khôngđạt yêu cầu thì thông báo từ chối
Nếu thẩm định hình thức thấy đủ điều kiện luật định thì cơ quan có thẩm quyền
sẽ ra thông báo chấp nhận đơn và được công bố trên công báo sở hữu côngnghiệp vào tháng thứ hai kể từ ngày đơn được chấp nhận
Thẩm định nội dung đơn: điều 114 LSHTT
Quy định chung:
Thời hạn thẩm định là không quá 9 tháng kể từ ngày công bố đơn
Nếu đủ điều kiện Cục sẽ thông báo cho người nộp đơn biết và yêu cầu họ làmthủ tục cần thiết để cấp văn bằng bảo hộ
Nếu xét không đủ điều kiện bảo hộ Cục sẽ thông báo cho người nộp đơn lý do từchối bảo hộ Người bị từ chối có quyền khiếu nại với Cục SHTT Nếu khôngđồng ý với trả lời của Cục thì khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ khoa học công nghệhoặc kiện ra tòa
- Sửa đổi văn bằng bảo hộ (điều 97 LSHTT)
Trang 15- Thay đổi, sửa chữa thiếu sót liên quan đến họ tên, địa chỉ tác giả, chủ sởhữu văn bằng bảo hộ.
- Sửa đổi quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệuchứng nhận
- Tách, bổ sung, chuyển đổi đơn đăng ký (điều 115 LSHTT
Người nộp đơn chỉ có quyền tách, bổ sung, chuyển đổi đăng ký nhãn hiệu trướckhi Cục SHTT thông báo từ chối hoặc quyết định cấp văn bằng bảo hộ Việc bổsung đơn đăng ký nhãn hiệu không được mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộhoặc nêu trong đơn và không làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng
ký trong đơn Đối với đơn được tách thì ngày nộp đơn được tách được xác định
là ngày nộp đơn của đơn ban đầu
Rút đơn đăng ký (điều 116 LSHTT)
Chủ thể nộp đơn có quyền tuyên bố rút đơn đăng ký nhãn hiệu bằng văn bản dochính mình đứng tên hoặc thông qua tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu côngnghiệp (nếu giấy ủy quyền có nêu rõ việc ủy quyền rút đơn) trước khi Cục SHTTthông báo từ chối hoặc cấp văn bằng bảo hộ Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu đãrút đều được coi là chưa từng được nộp, trừ trường hợp đơn được dùng làm căn
cứ để yêu cầu hưởng quyền ưu tiên
3 Đăng kí đơn bảo hộ nhãn hiệu theo thoả ước và nghị định thư Madrid
Thoả ước madrid
Nội dung của thỏa ước là thiết lập một thủ tục đăng kí quốc tế nhãn hiệu, hệthống này mang lại khả năng bảo hộ nhãn hiệu tại một hoặc toàn bộ các nướcthành viên thông qua việc nộp đơn đăng ký duy nhất cho văn phòng Tổ chức Shởhữu trí tuệ, viết tắt là WIPO tại Geneve của Thụy Sĩ