Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực đã được một số học giả người Nhật đưa ra. Năm 1965, hai học giả người Nhật Bản Kojima và Kurimoto đã đề nghị thành lập một Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương mà thành viên gồm năm nước công nghiệp phát triển, có thể mở cửa cho một số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái Bình Dương. Sau đó, một số học giả khác như Tiến sĩ Saburo Okita (cựu Ngoại trưởng Nhật) và Tiến sĩ John Crawford (Đại học Tổng hợp Quốc gia Ôtxtrâylia) đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế ở khu vực. Tư tưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm 1980. Chính PECC sau này đã cùng với ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ tư vấn kinh tế rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lập APEC.Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đã gợi ý thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực. Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiến triển của vòng đàm phán Urugoay của GATT và hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), trong khi chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Bob Hawke ở Ôtxtrâylia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế, thương mại với châu á đối với Ôtxtrâylia nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế.Tháng 1 năm 1989, tại Xêun, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu á Thái Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩy phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương. Nhật Bản, Malaixia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philíppin, Xinhgapo, Brunây, Inđônêxia, Niu Dilân, Canađa và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này. Tháng 11 năm 1989, các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại Canbêra, Ôtxtrâylia quyết định chính thức thành lập APEC.
Trang 1ĐỀ TÀI :
SỰ HÌNH THÀNH VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG, CƠ CẤU
TỔ CHỨC CỦA APEC LỜI MỞ ĐẦU
I Lịch sử hình thành và phát triển của APEC
1 Sáng kiến của Ô-xtrây-lia về việc thành lập APEC
Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực đã được một
số học giả người Nhật đưa ra Năm 1965, hai học giả người Nhật Bản Kojima
và Kurimoto đã đề nghị thành lập một "Khu vực mậu dịch tự do Thái BìnhDương" mà thành viên gồm năm nước công nghiệp phát triển, có thể mở cửa chomột số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo TháiBình Dương Sau đó, một số học giả khác như Tiến sĩ Saburo Okita (cựu Ngoạitrưởng Nhật) và Tiến sĩ John Crawford (Đại học Tổng hợp Quốc gia Ôt-xtrây-lia)
đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh
tế ở khu vực Tư tưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồng Hợp tácKinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm 1980 Chính PECC sau này đã cùng vớiASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ tư vấn kinh tế rộngrãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lập APEC
Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt
Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đãgợi ý thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tếkhu vực Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiếntriển của vòng đàm phán U-ru-goay của GATT và hình thành Khu vực Mậu dịch
Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), trong khi chính phủ Công Đảng của Thủ tướng BobHawke ở Ôt-xtrây-lia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của mối
Trang 2quan hệ kinh tế, thương mại với châu á đối với Ôt-xtrây-lia nên đã kịp thời nắm bắt
và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế
Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đãnêu ý tưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu á
- Thái Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩyphát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương Nhật Bản,Ma-lai-xia, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xia,Niu Di-lân, Ca-na-đa và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này Tháng 11 năm 1989, các Bộtrưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia quyết định chính thức thành lập APEC
2 Bối cảnh ra đời
+ Kinh tế toàn cầu: Sự gia tăng của quá trình toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực
khiến các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng tính phụ thuộc vào nhau Trong khi
đó, vòng đàm phán Uruguay trong khuôn khổ GATT có nguy cơ không đạt đượckết quả như mong đợi, đã thúc đẩy thêm quá trình khu vực hoá với sự hình thànhcác khối mậu dịch khu vực lớn trên thế giới như EU, NAFTA, AFTA
+ Kinh tế khu vực: Khu vực châu Á, đặc biệt là Đông Á là những nền kinh tế năng
động trên thế giới vào những năm 1980 có tốc độ tăng trưởng trung bình là 10%/năm Mặc dù vậy, chưa có hình thức hợp tác kinh tế thương mại có hiệu quảtrong khu vực Châu Á Thái Bình Dương để thúc đẩy sự phát triển kinh tế
9-+ Chính trị: Sự điều chỉnh chiến lược của các quốc gia lớn vào cuối những năm 80
khi chiến tranh lạnh chấm dứt, đặc biệt là sự hội tụ về lợi ích kinh tế cũng nhưchính trị giữa những nước lớn dẫn tới việc hình thành một cơ cấu kinh tế thươngmại trong khu vực
+ Các nước đang phát triển: (ASEAN) cũng muốn tăng cường tiếng nói trong khu
vực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng không muốn làm lu mờ những cơ chếhợp tác chính trị sẵn có
Trang 3 Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC
Từ cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm 1980, sự tăng trưởngkinh tế liên tục và với nhịp độ cao của châu Á mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông
Á đã thu hút sự chú ý của cả thế giới Tiếp theo "sự thần kỳ" của Nhật Bản, các nềnkinh tế công nghiệp mới (NIEs), ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc
đã biến châu Á thành khu vực phát triển kinh tế năng động bậc nhất thế giới
Từ những năm 1980, các nước châu Á luôn luôn dẫn đầu thế giới về tốc độphát triển kinh tế trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vào đầu những năm 1990.Xuất khẩu thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á Trong giaiđoạn 1980-1992, xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc
độ bình quân hàng năm trên 10%, so với 4% của các nước châu Âu và Mỹ La-tinh
và 6% của các nước công nghiệp phát triển vốn chiếm tới 2/3 thương mại thế giới.Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nước châu Á tăng mạnh, phần lớn từ
Mỹ, Nhật Bản và các nền kinh tế NIEs Tiềm lực lớn về xuất khẩu hàng hoá, dịch
vụ và vốn đầu tư đòi hỏi phải có thị trường ổn định, rộng mở và hạn chế đến mứctối đa những hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ, đầu tư trongkhu vực Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trở thành nhu cầu cấp thiết đểbảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định
Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh, thể hiện qua sự phâncông lao động quốc tế đan xen nhau dưới tác động của những tiến bộ của khoa học
- công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Việc Trung Quốc cải cách và mở cửacàng làm gia tăng xu thế này ở châu Á - Thái Bình Dương Trong nền kinh tế thếgiới, các hoạt động sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng đượcquốc tế hóa Cùng với toàn cầu hóa và như một sự ứng phó với toàn cầu hoá, xuthế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Từ cuối
Trang 4những năm 1980, liên kết kinh tế khu vực ở châu Âu và Bắc Mỹ được đẩy mạnhthêm một bước Các nước thuộc Liên hiệp châu Âu đã thoả thuận lập ra một thịtrường chung vào năm 1992 và ráo riết lập kế hoạch cho một liên minh tiền tệ vớimột đồng tiền chung Còn ở Bắc Mỹ, tháng 1 năm 1989 Mỹ và Ca-na-đa chínhthức ký Hiệp định thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do song phương (CAFTA).Trong khi đó, ở châu Á- Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị, và
là một khu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa cómột hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực
để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnhcủa chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ
Từ những năm 1970 -1980, nhất là cuối những năm 1980, trong khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộclẫn nhau một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt Chỉ nói riêng về thương mại, năm
1989, xuất khẩu hàng hóa của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Mỹ chiếm25,8% tổng giá trị xuất khẩu của họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sang châu Á -Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ Xuất khẩu của NhậtBản sang các nước châu Á - Thái Bình Dương chiếm 33% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của Nhật Bản và giá trị xuất khẩu của châu Á - Thái Bình Dương sang NhậtBản chiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này Xuất khẩu của NhậtBản sang Mỹ chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và xuất khẩu của Mỹsang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ Sự tuỳ thuộc lẫn nhaungày càng tăng về kinh tế đã tạo ra một lực gắn kết, một nhu cầu phối hợp giữa cácnền kinh tế trong khu vực với nhau
Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ởkhu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như
sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách
Trang 5quan, cấp bách cho việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực nhằmphối hợp chính sách về các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự do hóa và khuyến khíchthương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học -công nghệ giữa các nền kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương, qua đó duy trì tốc độtăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực châu Á -Thái Bình Dương khi bước vào thế kỷ XXI.
3 Quá trình hình thành và phát triển
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được 12thành viên thuộc khu vực Châu Á-Thái Bình Dương sáng lập tại Hội nghị Bộtrưởng Ngoại giao và Kinh tế tổ chức ở Can-bê-ra tháng 11/1989 theo sáng kiếncủa Ôt-xtrây-lia Các thành viên sáng lập là Mỹ, Nhật, Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân,Ca-na-đa, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Xinh-ga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xia vàMa-lai-xia
+ Tháng 11/1991 kết nạp thêm Trung Quốc, lãnh thổ Hồng Công và Đài Loan;
+ Tháng 11/1993 thêm Pa-pua Niu Ghi-nê, Mê-hi-cô;
+ Tháng 11/1994 thêm Chi-lê và tạm ngừng thời hạn xét kết nạp thành viên trong 3năm;
+ Đến tháng 11/1998 kết nạp thêm Việt Nam, Nga và Pê-ru, đồng thời APEC quyếtđịnh tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới thêm 10 năm nữa để củng
cố tổ chức
Đến nay có thêm 9 nền kinh tế đã xin gia nhập APEC là: Ấn Độ, Pa-kit-xtan,
Ma Cao, Mông Cổ, Pa-na-ma, Cô-lôm-bi-a, Xri-lan-ca, Ê-cua-đo, Cốt-xta-ri-ca.Trong số ba thành viên ASEAN chưa phải là thành viên của APEC, Cam-pu-chia
và Lào đã thông qua Việt Nam bày tỏ mong muốn gia nhập APEC Năm 2007 khithời hạn ngừng kết nạp thành viên mới hết hiệu lực, APEC sẽ thảo luận vấn đề kếtnạp thành viên mới
Như vậy, cho đến thời điểm này, APEC có 21 thành viên với khoảng 2,7 tỷdân, chiếm khoảng 52% diện tích lãnh thổ, 59% dân số, 70% nguồn tài nguyên
Trang 6thiên nhiên trên thế giới và đóng góp khoảng 57% GDP toàn cầu và hơn 50%thương mại thế giới APEC bao gồm cả hai khu vực kinh tế mạnh và năng độngnhất thế giới: khu vực Đông á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội, kinh tế và vănhóa Trung bình GDP các nước thành viên APEC đạt mức tăng trưởng khaỏng 7%
so với 5% của các nước không thành viên Chỉ trong mười năm đầu tồn tại và pháttriển, các nền kinh tế thành viên APEC đã đóng góp gần 70% cho sự tăng trưởngchung của nền kinh tế toàn cầu
Nội dung hoạt động xoay quanh 3 trụ cột chính là tự do hoá thương mại vàđầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, và hợp tác kinh tế kỹ thuật với cácchương trình hành động tập thể (CAP) và chương trình hành động quốc gia (IAP)của từng thành viên
Nói cách khác, mục tiêu của APEC không phải là để xây dựng một khốithương mại, một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do như kiểu
EU, NAFTA hay AFTA, mà là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biệnpháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nến kinh tế thành viên trên cơ
sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khuvực khác
4 Điều kiện kết nạp thành viên.
+ Vị trí địa lý: nằm ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, tiếp giáp bờ biển TháiBình Dương
+ Quan hệ kinh tế: có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nền kinh tế thành viênAPEC ( thương mại hàng hóa, dịch vụ, sự đi lại do các quan chức…)
+ Tương đồng về kinh tế: chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thịtrường
Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: tham gia các hoạt động củaAPEC
Trang 7Nền kinh tế phải hoàn thiện Chương trình Hành động Tập thể (CAP) VÀChương trình Hành động Quốc gia (IAP) theo quy định của APEC Ngoài quy chếthành viên chính thức, APEC còn có quy chế quan sát viên dành cho ba tổ chứckhu vực là ASEAN, PECC và Diễn đàn Nam Thái Bình Dương (SPF) (không cóquy chế quan sát viên cho một nước hay vùng lãnh thổ riêng biệt) Các nước khôngphải thành viên APEC có thể được tham gia các hoạt động của APEC với tư cáchkhách mời tại các nhóm Công tác của APEC.
II Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC
- Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của các dântộc trong khu vực, và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế thế giới;
Trang 8- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự tuỳthuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các luồng hànghoá, dịch vụ, vốn và công nghệ;
- Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi ích của cácnước châu Á - Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác;
- Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu tưgiữa các thành viên phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO ở những lĩnhvực thích hợp và không làm tổn hại tới các nền kinh tế khác
Tuy nhiên, không giống như các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU),ngay từ đầu APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuếquan, liên minh thuế quan, hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăngcường hệ thống thương mại đa phương mở, mục tiêu này đã hình thành ngay từđầu Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai năm 1990 Mục tiêu này được thúc đẩy tạiHội nghị Cấp cao lần thứ nhất tại Seattle (Mỹ) tháng 11 năm 1993 khi các nhàLãnh đạo APEC thừa nhận sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự đa dạng củacác nền kinh tế ở khu vực, đồng thời bắt đầu nhìn nhận về một "cộng đồng”châu Á - Thái Bình Dương Và một năm sau các nhà Lãnh đạo APEC đã “ nhấttrí tuyên bố cam kết hoàn thành việc đạt được mục tiêu về thương mại, đầu tư
tự do và mở trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2010 đối vớicác thành viên phát triển và năm 2020 đối với các thành viên đang phát triển"
2 Nguyên tắc hoạt động của APEC
2.1 Nguyên tắc cùng có lợi
Trang 9Tuyên bố Xê-un của Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba năm 1991 nêu rõ: "Việchợp tác trong APEC dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, có tính đến sự khác biệttrong các giai đoạn phát triển kinh tế trong các hệ thống chính trị - xã hội, vàchú ý đầy đủ đến các nhu cầu của những nền kinh tế đang phát triển".
Việc duy trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi đóng vai trò quyết định đốivới sự phát triển của APEC vì diễn đàn này là tập hợp lực lượng của các nềnkinh tế rất đa dạng về điều kiện địa lý, lịch sử và văn hoá, về chế độ chính trị -
xã hội và đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển Trong điềukiện APEC bao gồm cả những nền kinh tế lớn và phát triển nhất, cũng nhưnhững nền kinh tế nhỏ và kém phát triển hơn, APEC đã nhấn mạnh tới các mốiquan tâm chung, lợi ích chung của các thành viên và tập trung vào các vấn đềhợp tác kinh tế và phát triển Nhờ vậy, APEC có sức hấp dẫn lớn đối với cácnước trong và ngoài khu vực Chỉ gần mười năm sau khi thành lập, APEC đãbao gồm 21 thành viên, trong đó có những nền kinh tế hùng mạnh bậc nhất thếgiới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc
Trong khi thừa nhận mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực phảidựa trên cơ sở cùng có lợi, để phù hợp với tính đa dạng của khu vực, nguyên tắcnày cũng nhấn mạnh cần chú ý tới sự khác biệt về trình độ phát triển, chế độchính trị - xã hội và yêu cầu của các nền kinh tế đang phát triển Đây là điểm rấtquan trọng trong nguyên tắc hoạt động của APEC nhằm giải toả mối lo ngại củamột số thành viên là nước đang phát triển trong APEC rằng sự khác biệt lớn vềtrình độ phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ có thể dẫn tới sự lệ thuộc bấtbình đẳng của họ vào các nền kinh tế tiến tiến hơn, làm tăng mâu thuẫn và phâncực Bắc - Nam ngay trong APEC
Trang 10Các nước ASEAN đã thông qua nguyên tắc nhất trí Cun-ching (1989), trong đónhấn mạnh: "Việc tăng cường APEC cần phải dựa trên cơ sở công bằng, bìnhđẳng và cùng có lợi, có chú ý đầy đủ đến sự khác biệt trong các giai đoạn pháttriển kinh tế và hệ thống chính trị - xã hội của các nước trong khu vực".
2.2 Nguyên tắc đồng thuận (consensus)
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hợp tác trong APEC, nhưTuyên bố Xê-un đã nêu rõ, là dựa trên "cam kết về sự đối thoại cởi mở và xâydựng sự đồng thuận, bình đẳng, tôn trọng quan điểm của tất cả thành viên thamgia"
Khác với hoạt động trong GATT/WTO, trong đó các nước phải qua một quátrình thương thuyết, đàm phán lâu dài và thường là gay gắt để đạt được nhữngthoả thuận và hiệp định có tính pháp lý quốc tế cao, APEC đi tới các quyết địnhthông qua quá trình xây dựng sự đồng thuận
Thông qua nguyên tắc này, APEC đã xây dựng được những nền tảng có ýnghĩa quan trọng và thực tế để đẩy mạnh hợp tác, một chương trình làm việctoàn diện và một thoả thuận lịch sử về tự do hóa thương mại và đầu tư trongkhu vực tới năm 2020
2.3 Nguyên tắc tự nguyện
Xuất phát từ đặc điểm của các nền kinh tế thành viên và các mối quan hệkinh tế quốc tế trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, sự hợp tác giữa cácthành viên trong APEC mang tính chất tự nguyện Nguyên tắc tự nguyện thểhiện trên hai điểm: