1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Kinh tế phát triển Thực trạng và giải pháp cho việc áp dụng tăng trưởng Xanh tại Việt Nam

37 2,3K 37

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 426,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục Lục A. LỜI NÓI ĐẦU 2 B. NỘI DUNG 3 I. KHÁI QUÁT VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH 3 1. Một số định nghĩa về tăng trưởng xanh. 3 2. Nội dung của tăng trưởng xanh. 4 a. Sản xuât và tiêu dùng bền vững. 4 b. Xanh hóa kinh doanh và thị trường. 5 c. Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững. 5 d. Áp dụng thuế xanh. 7 II. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM 9 1. Thực trạng 9 a. Trong công nghiệp 9 b. Trong nông, lâm nghiệp 14 c. Trong dịch vụ và tiêu dùng 15 d. Về năng lượng xanh 17 e. Về năng lượng tái tạo 17 2. Thuận lợi khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam 23 a. Về vị trí địa lý: 23 b. Về sự trợ giúp quốc tế 25 c. Về tình hình chính trị, chính sách 26 d. Về nguồn lao động 27 3. Khó khăn khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam. 28 a. Về nhận thức 28 b. Về cách thức vận hành nền kinh tế 29 c. Về ngồn vốn cho việc thực hiện tăng trưởng xanh. 29 d. Về cơ chế, chính sách 30 e. Về vấn đề ESG (môi trường, xã hội, quản trị) 31 III. GIẢI PHÁP CHO VIỆC ÁP DỤNG TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM 32 C. KẾT LUẬN 36 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 Nhóm 2 1 Tiểu luận Kinh tế phát triển A. LỜI NÓI ĐẦU Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) thì Kinh tế Xanh là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người, công bằng cho xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro, tai biến về môi trường và khủng hoảng sinh thái. Đây được xem là mô hình mới, góp phần giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên... Trước tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng nhanh chóng phát thải khí nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tăng trưởng Xanh sẽ là xu hướng phát triển tất yếu và là lựa chọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam, chuyển đổi mô hình Kinh tế Xanh sẽ mang lại hiệu quả lâu dài, trong đó cần chú trọng đầu tư phát triển một số ngành Kinh tế Xanh mũi nhọn như nông nghiệp hữu cơ, du lịch sinh thái, công nghiệp tái chế, năng lượng tái tạo, tái sinh rừng tự nhiên… Tăng trưởng xanh (Green Growth) là hướng tiếp cận mới trong tăng trưởng kinh tế, với cách tiếp cận này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn hướng tới sự phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng cuộc sống con người, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Chính vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đang tiếp cận theo xu hướng mới này nhằm hướng tới phát triển bền vững. Vời việc lựa chọn đề tài : «Thực trạng và giải pháp cho việc áp dụng tăng trưởng Xanh tại Việt Nam », chúng tôi hy vọng sẽ mang lại cái nhìn tổng quan về tăng trưởng Xanh, nhìn ra thực trạng việc áp dụng tăng trưởng Xanh tại Việt Nam và định hưởng giải pháp cho những thực trạng đó. Nhóm

Trang 1

Mục Lục

2 Thuận lợi khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam 23

c Về ngồn vốn cho việc thực hiện tăng trưởng xanh 29

e Về vấn đề ESG (môi trường, xã hội, quản trị) 31

III GIẢI PHÁP CHO VIỆC ÁP DỤNG TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI

Trang 2

A LỜI NÓI ĐẦU

Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) thì Kinh tế Xanh là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người, công bằng cho xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro, tai biến về môi trường và khủng hoảng sinh thái Đây được xem là mô hình mới, góp phần giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

Trước tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng nhanh chóng phát thải khí nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tăng trưởng Xanh sẽ là xu hướng phát triển tất yếu và là lựa chọn của nhiều quốc gia trên thế giới Đối với Việt Nam, chuyển đổi mô hình Kinh tế Xanh sẽ mang lại hiệu quả lâu dài, trong

đó cần chú trọng đầu tư phát triển một số ngành Kinh tế Xanh mũi nhọn như nông nghiệp hữu cơ, du lịch sinh thái, công nghiệp tái chế, năng lượng tái tạo, tái sinh rừng tự nhiên…

Tăng trưởng xanh (Green Growth) là hướng tiếp cận mới trong tăng trưởng kinh

tế, với cách tiếp cận này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn hướng tới sự phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng cuộc sống con người, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu Chính vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đang tiếp cận theo xu hướng mới này nhằm hướng tới phát triển bền vững

Vời việc lựa chọn đề tài : «Thực trạng và giải pháp cho việc áp dụng tăng trưởng Xanh tại Việt Nam », chúng tôi hy vọng sẽ mang lại cái nhìn tổng quan về

tăng trưởng Xanh, nhìn ra thực trạng việc áp dụng tăng trưởng Xanh tại Việt Nam

và định hưởng giải pháp cho những thực trạng đó

Trang 3

B NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH

1 Một số định nghĩa về tăng trưởng xanh.

Theo tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên Hợp Quốc: Tăng trưởng

xanh hay xây dựng nền kinh tế xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và

cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội

Theo OECD: Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên

và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho

sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới

Trong dự thảo Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam thời kỳ

2011-2020 và tầm nhìn đến 2050 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra quan điểm chiến lược ‘‘Tăng trưởng xanh ở Việt Nam là phương thức thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả nền kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo, và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững’’ Ở Việt Nam, chiến lược tăng trưởng xanh được coi là một bước cụ thể hóa trong chiến lược phát triển bền vững, là nội dung chính của phát triển bền vững

Từ đây ta có thể thấy các khái niệm của các tổ chức khác nhau có cách diễn đạt khác nhau nhưng chúng đều quy tụ 3 điểm chính :

(i) Kinh tế xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính để giảm thiểu biến đổi khí hậu

(ii) Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, hao tổn ít nhiên liệu, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái, đổi mới công nghệ

Trang 4

(iii) Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng.

2 Nội dung của tăng trưởng xanh.

a Sản xuất và tiêu dùng bền vững.

Sản xuất và tiêu thụ được xem là bền vững khi việc sản xuất và tiêu thụ đó đáp ứng được các nhu cầu cơ bản và đem lại chất lượng cuộc sống tốt hơn, đồng thời giảm thiểu việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các vật liệu độc hại, và giảm thiểu lượng chất thải và các chất ô nhiễm phát thải trong suốt vòng đời sản phẩm, nhằm tránh gây nguy hại đến các nhu cầu của các thế hệ sau Cách tiếp cận

về sản xuất và tiêu thụ bền vững được xem là chiến lược thực hiện cụ thể để đạt được phát triển bền vững, trong đó bao gồm các yếu tố về kinh tế, môi trường và

xã hội Một cấu phần quan trọng của cách tiếp cận về sản xuất và tiêu thụ bền vững

là việc áp dụng rộng rãi các chính sách, các hoạt động của các thành phần tư nhân, cũng như các hoạt động đầu tư để tác động đến cả cung và cầu các sản phẩm và dịch vụ nhằm giúp giảm thiểu các tác động xấu của việc sản xuất và tiêu thụ một cách đồng bộ

Sản xuất bền vững bao gồm việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới, sáng tạo trong thiết kế và cải tiến sản phẩm, cũng như chú trọng đến các quá trình sản xuất như khuyến khích áp dụng sinh thái công nghiệp, các tiếp cậnvòng đời sản phẩm, sản xuất sạch hơn, sản xuất xanh,…

Tiêu thụ bền vững là việc áp dụng một cách thức khác để tiêu dùng mà việc tiêu dùng đó giúp giảm đi lượng nguyên liệu và mức độ năng lượng sử dụng cho một đơn vị sản phẩm Ngoài sản phẩm, tiêu thụ bền vững cũng có thể được mở rộng

ra cho các đối tượng khác như dịch vụ, các tài nguyên thiên nhiên, điện, nước, đất Giữa sản xuất và tiêu thụ bền vững có sự liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm giúp cho việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bắt đầu từ công đoạn sản xuất sản phẩm, quá trình sử dụng sản phẩm, và cuối cùng là thải bỏ sản phẩm đã sử dụng, đạt được hiệu quả cao nhất Ngoài ra, giữa sản xuất và tiêu thụ bền vững cũng có sự tương tác qua lại, chẳng hạn như các nhà sản xuất có thể tác động đến việc tiêu thụ qua việc thiết kế lại sản phẩm (theo hướng bền vững) và sau đó quảng bá đến người tiêu

Trang 5

dùng Với người tiêu dùng, họ cũng có thể tác động ngược trở lại với nhà sản xuất thông qua những lựa chọn sản phẩm của mình

b Xanh hóa kinh doanh và thị trường.

Giá thị trường hiện nay không phản ánh được đầy đủ các chi phí chế biến của đầu vào (ví dụ như tài nguyên thiên nhiên) và kết quả đầu ra (ví dụ như chất thải, nước và khí thải) Như vậy cần phải có một khoản chi phí sinh thái cho việc sử dụng tài nguyên trước và sau vào giá của hàng hoá Điều này nghĩa là các hoạt động giao dịch thị trường sẽ không có chi phí môi trường, xã hội Hê quả của nó là sẽ phải mất một mức thâm hụt- thâm hụt sinh thái Khi thâm hụt sinh thái sâu sắc thì sẽ dẫn đến nguy cơ về thảm hoạ môi trường

Chính phủ phải đi đầu và khuyến khích xanh hóa kinh doanh trong tất cả các cấp độ của nền kinh tế, để:

1) tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc làm xanh;

2) thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu;

3) hỗ trợ các thị trường mới cho các sản phẩm bền vững;

4) cải thiện việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

5) giảm suy thoái môi trường gây ra bởi các hoạt động kinh doanh

c Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững.

Quy hoạch bền vững.

Quy hoạch bền vững là một chiến lược được đề ra để xây dựng và bảo trì hệ thống cơ sở hạ tầng bền vững Quy hoạch bền vững tạo ra tiềm năng cao cho việc làm “xanh”, góp phần bảo vệ và giữ gìn môi trường và góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi để tăng trưởng xanh Để có một dự án quy hoạch tốt, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, không phải là đơn giản Có 4 yếu tố được đưa ra xem xét khi đánh giá quy hoạch:

Xã hội: Quy hoạch đô thị ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều người từ nhiều sắc tộc khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau Để đồ án sống được theo thời gian với đầy đủ ý nghĩa mong muốn, đồ án đó phải vì con người, nghĩa là phải mang tính nhân văn, phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội như giáo dục, y tế, việc làm, thu nhập, giao thông và các dịch vụ

Trang 6

cần thiết khác, đó là những yếu tố tạo nên tính bền vững xã hội.

Tự nhiên: Tiêu chí này dựa trên nguyên tắc cơ bản là tất cả mọi cấu phần của

đồ án quy hoạch phải tồn tại thân thiện với môi trường sinh thái Người ta thiết lập một thứ tự ưu tiên để phân tích tác động của đồ án đến môi trường

- Ưu tiên thứ nhất là nguồn nước.Nếu một đồ án quy hoạch có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mà không thể khắc phụ được thì bị từ bỏ ngay

- Ưu tiên thứ hai là những khoảng không gian xanh Cây xanh ở Úc cũng có quyền pháp lý và được bảo vệ như những công dân Mỗi cây đều có hồ sơ lý lịch và được quản lý bằng máy vi tính Canberra của Úc được coi là một trong những thành phố xanh nhất thế giới với tỷ lệ ba cây xanh trên một đầu người.Nếu đồ án quy hoạch ảnh hưởng xấu cho khoảng không gian xanh cũng bị từ bỏ ngay

- Ưu tiên thứ ba là tài nguyên và thổ nhưỡng Tài nguyên khoáng sản của Úc khá phong phú được bảo vệ và gìn giữ như “của để dành” cho thế hệ mai sau.Nếu dưới vùng đất định quy hoạch có khoáng sản thì trước hết người ta sẽ sơ bộ lập phương án khai thác, xem xét tình hình biến động của loại khoáng sản trên thị trường thế giới để tiên đoán thời gian cạn kiệt mà Úc phải khai thác (có khi là cả trăm năm sau), và vào thời điểm đó thì khai thác như thế nào Đồ án quy hoạch không được ảnh hưởng đến việc khai thác sau này

Kỹ thuật: Đồ án quy hoạch được coi là bền vững kỹ thuật khi tích hợp được mọi yêu cầu hạ tầng kỹ thuật một cách đầy đủ và đồng bộ với các phương án hợp

lý bảo đảm cho cuộc sống văn minh lâu dài.Ví dụ khi quy hoạch một tuyến đường, người ta đưa tất cả các công trình phụ trợ cần thiết như điện, nước, thoát nước, viễn thông, cây xanh, chiếu sáng v.v vào chung một dự án Tiến độ thi công cũng được lập rất cụ thể chi tiết và đồng bộ, xây trước, xây sau nhịp nhàng và hợp lý Không đào đi đào lại gây lãng phí.Khi dự án hoàn thành, các công trình phụ trợ sẽ được bán lại cho nhà cung cấp dịch vụ tương ứng Những công trình như cấp thoát nước, môi trường, cây xanh, chiếu sáng v.v không thu được vốn từ nhà cung cấp dịch vụ thì chi phí được tính vào giá đất

Tài chính: Công tác phân tích kinh tế - xã hội và tài chính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở giai đoạn ba - quy hoạch sơ bộ - và thẩm định lại ở giai đoạn cuối

Trang 7

cùng, nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý.Người ta lập mô hình tài chính đầy đủ cho toàn bộ vòng đời của công trình Thậm chí là chi phí để phá dỡ sau khi công trình hoàn thành sứ mệnh tồn tại (có khi cả trăm năm sau) cũng được dự toán rất chi tiết.

Tòa nhà xanh.

Các toà nhà hiện nay ở các nước phát triển, sử dụng rất nhiều nguồn nguyên liệu, và tiêu tốn rất nhiều các nguồn tài nguyên để xây dựng Kéo theo nó là cả một quá trình xây dựng phát thải cao và ô nhiễm Vì thế toà nhà xanh là đối tượng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững

Khái niệm ‘Tòa nhà xanh” được hiểu là những tòa nhà đạt chuẩn về sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm sự tỏa hơi do hiệu ứng nhà kính, bảo toàn nguồn nước, chống ô nhiễm tiếng ồn, nguồn nước, không khí, đất và ánh sáng Chủ đầu tư đã đưa thêm những giải pháp để giúp cho công trình của họ được an toàn hơn, sạch hơn,

và được coi là nơi có môi trường làm việc, sinh sống và vui chơi thân thiện với môi trường Hiệu quả của những tòa nhà xanh là giúp làm giảm mức tiêu thụ điện do sử dụng năng lượng tự nhiên, nguồn nước tưới tiêu, giảm rác thải do quá trình tái chế

và tái sử dụng cũng như các chất gây ô nhiễm.Các toà nhà xanh đã được xây dựng: Toà nhà xanh tại Mỹ (trụ sở hội đồng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên); Trung tâm Thương mại Xanh CII-Sohrabji Godrej ở Hyderabad tại Ấn Độ

d Áp dụng thuế xanh.

Thuế xanh (còn gọi là "thuế môi trường" hoặc "thuế ô nhiễm") là loại thuế đặc biệt đánh trên việc tiêu thụ các chất gây ô nhiễm môi trường hoặc hàng hoá có sử dụng sản xuất các chất ô nhiễm Lý thuyết kinh tế cho rằng đánh thuế đối với lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường sẽ làm giảm tác hại môi trường theo cách thức ít tốn kém nhất, bằng cách khuyến khích thay đổi hành vi của những doanh nghiệp và

hộ gia đình có thể làm giảm ô nhiễm của họ với chi phí thấp nhất Có một số cách đánh thuế như:

- Thuế môi trường thuần túy nhằm mục đích đảm bảo rằng gây ô nhiễm phải đối mặt với chi phí bằng cách thu phí đối với các thiệt hại gây ra cho người khác

- Thuế trực tiếp nhằm hạn chế ô nhiễm của người gây ô nhiễm

Trang 8

- Thuế gián tiếp, tức là đánh thuế vào các hàng hóa hay dịch vụ liên quan mà khi sử dụng ít sẽ ít gây ô nhiễm.

Trang 9

II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM

1 Thực trạng

Kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển mới trong thời gian gần đây với tốc độ tăng trưởng khá nhanh, đời sống nhân dân cải thiện đáng kể và cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch hợp lý theo hướng công nghiệp hóa Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của nước ta là chưa bền vững

Nhằm cải thiện tình hình đó, ngày 25/9/2012 Chính phủ ban hành Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam cho giai đoạn 2011-2012 và tầm nhìn 2050 Kể từ ngày ban hành chiến lược, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực:

a Trong công nghiệp

Áp dụng các mô hình sản xuất sạch hơn.(SXSH)

Xu thế chung của thế giới hiện nay là hướng sự quan tâm và tham gia của cộng đồng không chỉ vào lĩnh vực sản xuất mà cả lĩnh vực tiêu dùng vì mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Ngày nay, khái niệm sản xuất sạch hơn (SXSH) ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp và thay dần các thuật ngữ giảm thiểu chất thải, phòng ngừa ô nhiễm

Theo Chương trình Môi trường LHQ (UNEP, 1994):

“Sản xuất sạch hơn là sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa môi

trường tổng hợp đối với các quá trình sản xuất, các sản phẩm và các dịch vụ nhằm làm giảm tác động xấu đến con người và môi trường”.

Trang 10

- Đối với quá trình sản xuất: sản xuất sạch hơn bao gồm bảo toàn nguyên liệu

và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải

- Đối với sản phẩm: sản xuất sạch hơn bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu

cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ

- Đối với dịch vụ: sản xuất sạch hơn đưa các yếu tố về môi trường vào trong

thiết kế và phát triển các dịch vụ

Việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp hơn 10 năm qua ở nước ta đã mang lại lợi ích kinh tế rõ ràng do hiệu quả sản xuất được nâng cao thông qua sử dụng hiệu quả hơn nguyên vật liệu, năng lượng, nước để giảm đáng

kể lượng chất thải và các chất ô nhiễm cần xử lý, cải thiện môi trường lao động và quan trọng hơn là nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

Bảng: Kết quả áp dụng SXSH ở một số ngành công nghiệp của Việt Nam

Trang 11

Nguồn: Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam

Trang 12

Sản xuất sạch hơn đã được phổ biến tại Việt Nam từ những năm 90 của thập kỷ trước bằng sự thành lập của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam và nỗ lực của nhiều nhà tài trợ như Thuỵ Điển, Canada, Đan Mạch, v.v Tuy nhiên mặc dù đã được trình diễn tại hàng trăm cơ sở sản xuất và lợi ích của nó đã được chứng minh trên thực tế, được truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, mức độ lan toả của SXSH đã không được như mong muốn Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn xa lạ, chưa hiểu và chưa áp dụng công cụ này Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2009 với mục tiêu phổ biến rộng rãi công cụ này vào các cơ sở sản xuất tại Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất công nghiệp, đồng thời giảm thiểu chất thải và tác động của các cơ sở sản xuất đến môi trường và sức khoẻ con người.

Xây dựng và phát triển các đô thị và khu công nghiệp bền vững:

Phát triển khu công nghiệp gắn liền với hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, trung tâm đô thị, thu hút lao động, tạo việc làm cho người lao động Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại để có chiến lược phát triển thị trường lao động chất lượng cao trong các khu công nghiệp trong thời gian tới là vấn

đề cần quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội

Hiện nay, có thể kể đến các khu đô thị điển hình như: Khu đô thị Mỹ Phước

4 (thị trấn Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương); khu đô thị Ecopark (Phường Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên); khu đô thị xanh Quang Minh Green City (Huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng)…

Đơn cử trường hợp của khu đô thị Mỹ Phước: Nằm ở trung tâm huyện Bến Cát, tại thị trấn Mỹ Phước hiện có các khu công nghiệp lớn, góp phần quan trọng vào việc thu hút đầu tư Để phát triển bền vững, cùng với công nghiệp, đô thị Mỹ Phước cũng được chú trọng quy hoạch ngay từ đầu và từng bước được xây dựng theo quy hoạch Từ chủ trương đưa công nghiệp về các huyện phía bắc của Tỉnh ủy

và các giải pháp chú trọng đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng làm nền tảng đột phá của UBND tỉnh, sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt công nghiệp và đô

Trang 13

thị Mỹ Phước đã hoàn toàn thay đổi Từ một vùng đất gò đồi hoang hóa, nơi đây đã trở thành trung tâm công nghiệp của huyện Bến Cát, góp phần quan trọng vào việc thu hút đầu tư, đưa Bến Cát trở thành một trong những địa phương có công nghiệp phát triển mạnh, giá trị sản xuất đạt 50.000 tỷ đồng/năm, trong đó giá trị công nghiệp chiếm đến 86,2% Nhờ xác định thị trấn Mỹ Phước là trung tâm công nghiệp của huyện, ngay từ những ngày đầu xây dựng các KCN, hạ tầng giao thông đô thị, nơi đây đã được quy hoạch đồng bộ, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và người dân địa phương Nhờ vậy, các KCN kết nối đồng bộ với mạng giao thông của tỉnh và của khu vực, tạo thuận lợi để công nghiệp phát triển Tính đến nay, Bến Cát đã thu hút hơn 1.600 dự án của các doanh nghiệp (DN) trong và ngoài nước; trong đó có 1.177 dự án của DN trong nước với tổng vốn đăng ký gần 10.000 tỷ đồng và 430 dự

án đầu tư nước ngoài đến từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ, như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Ý, Mỹ với tổng vốn đầu tư hơn 4,8 tỷ USD Phần lớn, các dự án này đều tập trung vào các KCN Mỹ Phước Tại đây còn có những dự án với số vốn đầu tư lớn, như: Nhà máy sản xuất vỏ ô tô của Kumho Tires, vốn đầu tư 380 triệu USD; Công

ty Giấy Graft Vina (Thái Lan) vốn đầu tư 180 triệu USD; Công ty TNHH nước giải khát Kirin Việt Nam (Nhật Bản), vốn đầu tư 90 triệu USD; Tập đoàn Maruzen Foods Corporation (Nhật Bản), vốn đầu tư hơn 100 triệu USD; Công ty Tomoku (Nhật Bản) 47 triệu USD Một nhà đầu tư đến từ Nhật Bản, cho biết tập đoàn này lựa chọn Mỹ Phước để đặt nhà máy sản xuất là do nơi đây có hạ tầng giao thông, KCN và đô thị phát triển đồng bộ, đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư Trong đó,

hạ tầng đô thị hoàn chỉnh là động lực giúp nhà đầu tư an tâm bỏ vốn làm ăn, vì đô thị phát triển sẽ giúp doanh nghiệp ổn định được nguồn nhân lực để làm ăn lâu dài Công nghiệp và đô thị phát triển, kéo theo dịch vụ phát triển Theo số liệu của UBND huyện, mỗi năm Bến Cát có gần 2.000 giấy phép kinh doanh được cấp mới cho hộ kinh doanh cá thể Toàn huyện hiện có hơn 17.100 hộ kinh doanh cá thể với tổng số vốn đăng ký hơn 2.200 tỷ đồng; phần lớn tập trung tại Mỹ Phước Các hộ kinh doanh cá thể này đã góp phần đưa giá trị dịch vụ của Bến Cát lên 4.100 tỷ đồng/năm Dịch vụ phát triển ngoài việc giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, còn góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước tại địa phương

Trang 15

b Trong nông, lâm nghiệp

Thực hiện một nền nông nghiệp sinh thái với nguyên lý cơ bản là canh tác tổng hợp, lấy xen canh, luân canh, nông lâm súc kết hợp làm trọng tâm Nội dung chính của nó là: Sự đa dạng về sinh học và cấu trúc của các hệ thống canh tác tổng hợp, các hệ thống nông lâm nghiệp kết hợp, quản lý dinh dưỡng tổng hợp Ngoài ra cần quan tâm đến vấn đề: Hạn chế xói mòn đất và rửa trôi dinh dưỡng, quay vòng tất cả những dòng các chất dinh dưỡng hữu cơ, xúc tiến các nguồn dinh dưỡng sinh học, tuyển chọn và sử dụng các loài cây con phù hợp, hiệu quả là những hợp phần của các hệ thống được cải tiến và được xem là ưu việt của khái niệm INM (Integrated Pest Management), phòng trừ sâu hại tổng hợp Hiện tại chúng ta đã có phương án đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phù trợ phục vụ cho sự cơ cấu lại ngành công nghiệp điện để thực hiện chiến lược quốc gia phát triển xanh

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được thành lập tại Quyết định số 1820/QĐ-BNV ngày 31.10.2011 với mục tiêu nhằm tập hợp các tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước có tâm huyết, đã và đang tham gia vào việc phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như: Nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, chế biến, kinh doanh, cấp giấy chứng nhận, quảng bá và sử dụng sản phẩm hữu cơ Hiệp hội được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, nhằm phối hợp hoạt động để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên, thành viên, đóng góp những ý kiến thực tiễn vào quá trình xây dựng chính sách liên quan đến nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Sự ra đời của Hiệp hội cũng nhằm mục đích phấn đấu cho mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, toàn diện theo hướng hiện đại Bên cạnh đó, Hiệp hội cũng

là tổ chức đại diện để kết nối với mạng lưới nông nghiệp hữu cơ châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước khác VOA cũng sẽ tham gia vào Liên đoàn phong trào hữu cơ quốc tế (Tổ chức IFOAM) nhằm chia sẻ những kinh nghiệm hoạt động của các tổ chức thành viên, khai thác thị trường và bảo vệ lợi ích của sản phẩm hữu cơ Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài không bị phương hại

c Trong dịch vụ và tiêu dùng

Trang 16

Lồng ghép mua sắm xanh vào chương trình dán nhãn sinh thái Trong xu thế phát triển bền vững hiện nay có 2 nội dung được đề cập tới là sản xuất bền vững và tiêu dùng bền vững Để thực hiện tiêu dùng bền vững trước tiên cần phải sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường Sản phẩm-dịch vụ thân thiện môi trường là những sản phẩm, những dịch vụ: tiết kiệm năng lượng và nước trong quá trình sản xuất và tiêu dùng; không hoặc ít phát sinh chất thải và rò rỉ các chất

ô nhiễm; được sản xuất từ nguyên liệu tái chế và có thể tái sử dụng; sử dụng năng lượng tái tạo trong quá trình sản xuất và tiêu dùng; không hoặc ít sử dụng hoá chất nguy hại, vật liệu phóng xạ và chế phẩm sinh học độc hại

Song song với mua sắm xanh nhiều nước còn sử dụng nhãn sinh thái hay nhãn môi trường Ban đầu việc sử dụng nhãn này chỉ xuất hiện ở các nước phát triển một cách rất tự phát theo xu thế thị trường do có nhiều công ty/hãng kinh doanh nhận thấy rằng có thể biến mối quan ngại về môi trường thành yếu tố có lợi nhằm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Chính vì thế đã xuất hiện rất nhiều nhãn thông tin gắn trên các sản phẩm như “tái chế”, “thân thiện môi trường”, “sử dụng ít năng lượng”, “có thành phần được tái chế”…

Ở Việt Nam, việc xây dựng chương trình cấp nhãn môi trường đã bước đầu được thực hiện với mục đích: Nâng cao nhận thức, đồng thời cung cấp các thông tin tin cậy và hướng dẫn người tiêu dùng trong việc lựa chọn sản phẩm ít tác động hơn đối với môi trường, tạo ra sự khuyến khích thị trường đối với các nhà sản xuất nhằm cungcấp các sản phẩm thân thiện với môi trường, giảm các tác động có hại tới môi trường do sản xuất, sử dụng, tiêu thụ và thải bỏ sản phẩm gây ra; nâng cao chất lượng môi trường và khuyến khích quản lý bền vững các tài nguyên thiên nhiên…Chương trình Nhãn xanh Việt Nam được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ tháng 3 năm 2009 nhằm mục tiêu liên tục cải thiện và duy trì chất lượng môi trường sống thông qua giảm thiểu sử dụng và tiêu dùng năng lượng, vật liệu cũng như các loại chất thải sinh ra do quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng phục vụ đời sống

Trang 17

Để đạt được hiệu quả bảo vệ môi trường, Chương trình Nhãn xanh Việt Nam thực hiện đánh giá khả năng kiểm soát, hạn chế tác động đối với môi trường của các loại sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng theo quan điểm “xem xét toàn bộ vòng đời sản phẩm” Theo đó, lợi ích môi trường mà mỗi sản phẩm có khả năng mang lại từ việc giảm thiểu phát thải các loại chất gây ô nhiễm, chất độc hại ra môi trường từ các khâu khai thác nguyên/vật liệu, sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng cho đến khi thải bỏ đối với loại hình sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng đó sẽ được xem xét và đánh giá trên

cơ sở các bộ tiêu chí được xây dựng riêng cho từng loại hình sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng

d Về năng lượng xanh

Trên thực tế, Việt Nam đã và đang thử nghiệm một số mô hình năng lượng xanh như mô hình phân loại rác tại nguồn 3R (giảm thiểu, tái chế và tái sử dụng) Đồng thời để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo an ninh năng lượng lâu dài, Việt Nam đang cố gắng nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học (xăng/diesel pha ethanol

và diesel sinh học), thay thế một phần xăng, dầu khoáng, tiến tới xây dựng ngành

“xăng dầu sạch”

Ngày 31/1/2009, tại Hà Nội, tập đoàn ô tô Thành Công đã tổ chức lễ ký kết

và giao lô hàng 50 xe đầu tiên trong hợp đồng cung cấp 500 chiếc xe buýt hiệu Daewoo chạy bằng khí tự nhiên cho công ty Sonadezi ở Đồng Nai Số xe buýt này

sẽ được sử dụng trong việc đưa đón công nhân ở các khu công nghiệp cũng như vận chuyển hành khách công cộng tại tỉnh Đồng Nai

e Về năng lượng tái tạo

Năng lượng mặt trời: đang được sử dụng ở các dạng:

* Sấy công nghiệp và sấy đơn giản Các thiết bị sấy bằng năng lượng mặt trời được sử dụng trong nông nghiệp, dược liệu, hải sản Đến nay đã lắp đặt khoảng 10

hệ thống sấy công nghiệp và 60 hệ thống sấy đơn giản

* Giàn đun nước Giàn đun nước hộ tập thể với mặt thu 10-50m2 đun được 1000-5000 lít nước nóng 50-700C mỗi ngày và 1 số giàn đun hộ gia đình với mặt

Trang 18

hành phức tạp, không sản sinh nước nóng vào những ngày hiếu nắng và do giá thành cao nên chưa được lắp đặt rộng rãi.

* Giàn pin mặt trời Giàn pin mặt trời được sử dụng sớm ở miền Nam Hiện có khoảng 40 trạm điện mặt trời công suất 500-1000 Wp được lắp đặt ở các xã và 800 giàn có công suất 22.5-50 Wp phục vụ các bệnh viện, trạm xá, nhà văn hoá,…

Năng lượng gió: đã có một số các dự án điện gió được triển khai và áp dụng tại

Việt Nam, một số dự án đã đi vào hoạt động chính thức và cung cấp điện cho nhân dân lân cận cũng như hòa vào lưới điện quốc gia

Bảng: Một số dự án điện gió tại Việt Nam Tên dự án nhà máy điện gió Công suất (MW) Vị trí dự án

PV Power – IMPSA 600 – 1.000 Bình Thuận

Ngày đăng: 11/09/2014, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w