1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV

20 623 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 468 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 ở Mỹ, vấn đề giám sát tài chính nói chung và giám sát ngân hàng nói riêng nhận được quan tâm từ các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách. Theo World Bank, hệ thống tài chính ổn định là nền tảng cho sự phát triển kinh tế, giảm nghèo đói ở các nước đang phát triển. Qua đó, nhận thấy muốn nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường hệ thống tài chính phải có hệ thống giám sát tài chính vững mạnh. Các nước đang phát triển hiện nay trong đó có Việt Nam phải đối mặt với những trở ngại như: chuẩn mực kế toán yếu kém, không minh bạch thông tin tài chính, thị trường nghèo nàn… gây khó khăn trong việc giám sát thị trường, thực thi hành chính và pháp lý. Do đó mục tiêu của bài viết này là phân tích đối sánh mô hình tổ chức giám sát tài chính tại Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam. Từ đó, rút ra kinh nghiệm trong việc tổ chức giám sát ngân hàng tại Việt Nam.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – LUẬT KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

- -MÔN NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

TIỂU LUẬN

Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV

Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2014

Trang 2

Trang

1

Chương 1 Thực trạng mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại Hàn Quốc,

2

1.1 Tổ chức giám sát Ngân hàng tại Hàn Quốc

2

2

2

2

1.1.1.3 Sau khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008

3

1.1.2 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc

3

1.1.3 Cơ cấu tổ chức giám sát của FSS

4

6

Trang 3

1.2 Tổ chức giám sát Ngân hàng tại Singapore 6

6

1.2.2 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Singapore 7

1.2.3 Cơ cấu tổ chức giám sát của MAS

7

10

1.3 Tổ chức giám sát Ngân hàng tại Việt Nam 10

10

1.3.2 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Việt Nam 10

1.3.3 Cơ cấu tổ chức giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

11

11

Chương 2 Đối sánh ba mô hình giám sát ngân hàng

12

12

Trang 4

2.2 Đặc điểm riêng 12

2.2.1 Lực chọn mô hình tổ chức giám sát 12

13

14

15

16

Trang 5

Lời mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 ở Mỹ, vấn đề giám sát tài chính nói chung và giám sát ngân hàng nói riêng nhận được quan tâm từ các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách Theo World Bank, hệ thống tài chính ổn định là nền tảng cho

sự phát triển kinh tế, giảm nghèo đói ở các nước đang phát triển Qua đó, nhận thấy muốn nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường hệ thống tài chính phải có hệ thống giám sát tài chính vững mạnh Các nước đang phát triển hiện nay trong đó có Việt Nam phải đối mặt với những trở ngại như: chuẩn mực kế toán yếu kém, không minh bạch thông tin tài chính, thị trường nghèo nàn… gây khó khăn trong việc giám sát thị trường, thực thi hành chính và pháp lý Do đó mục tiêu của bài viết này là phân tích đối sánh mô hình tổ chức giám sát tài chính tại Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam Từ đó, rút ra kinh nghiệm trong

việc tổ chức giám sát ngân hàng tại Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu:

Tìm hiểu ưu và nhược điểm của mô hình tổ chức giám sát tài chính, đồng thời đưa

ra một số đề nghị về mô hình tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng tại Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu

Mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam áp dụng mô hình tổ chức hoạt động giám sát tài chính như thế nào?

- Sự khác biệt giữa các mô hình tổ chức hoạt động giám sát tài chính?

5 Nội dung nghiên cứu:

- Thực trạng mô hình tổ chức giám sát tài chính tại Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam

- Đối sánh điểm giống và khác nhau giữa ba mô hình tổ chức giám sát tài chính

- Một số giải pháp cho mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trang 6

Chương 1: Mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại

Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam

1.1 Tổ chức giám sát ngân hàng tại Hàn Quốc

1.1.1 Lịch sử hình thành

1.1.1.1 Trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998

Trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 2007, Hàn Quốc áp dụng mô hình tổ chức giám sát chuyên ngành

Hình 1: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc trước năm 1998

Nguồn: Thu thập của học viên Khi khủng hoảng xảy ra, Chính phủ Hàn Quốc cho rằng hệ thống giám sát hiện tại không có sự liên kết chặt chẽ giữa các Ban giám sát, không chuyên môn hóa, lỏng lẻo trong hoạt động dẫn đến khủng hoảng Do đó, Hàn Quốc nhờ có sự giúp sức của IMF đã tiến hành cải cách hệ thống giám sát tài chính

1.1.1.2 Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998

Năm 2008, Hàn Quốc có bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử cải cách hệ thống giám sát tài chính Việc thành lập Ủy ban giám sát tài chính có chức năng ban hành các quy định về giám sát toàn bộ các định chế tài chính trong nền kinh tế

Hình 2: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc sau năm 1998

Nguồn: Tổng hợp của học viên

Bank of Korea

Financial Supervisor y Service

Korea Deposit Insurance Corporation

Ministry of Finance &

Economy

Securities

& Future Commissio n

Financial Supervisor y Commissio n

Trang 7

Bên cạnh đó, Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai cùng với Dịch vụ giám sát tài chính cũng được thành lập Đây là cánh tay đắc lực của Ủy ban giám sát tài chính, trực tiếp giám sát các hoạt động của thị trường

Dịch vụ giám sát tài chính (FSS) được thành lập bằng cách hợp nhất 4 cơ quan giám sát là: Cơ quan giám sát Ngân hàng; Ban Kiểm soát Chứng khoán; Ban Kiểm soát Bảo hiểm; Cơ quan giám sát phi ngân hàng

1.1.1.3 Sau khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008

Năm 2008, Hàn Quốc nhận thấy rủi ro trong hoạt động của các tập đoàn tài chính

đa quốc gia nên đã tiến hành điều chỉnh mô hình tổ chức giám sát tài chính Năm 2008,

Ủy ban Giám sát tài chính đã tách ra làm hai phần chính: một là thành lập Ủy ban dịch vụ tài chính (FSC) và hai là sát nhập vào Bộ Tài chính kinh tế tạo thành Bộ Chiến lược và tài chính Như vậy, hệ thống giám sát tài chính của Hàn Quốc hiện nay bao gồm Ủy ban dịch vụ tài chính, Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai, Dịch vụ giám sát tài chính

1.1.2 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc

Hiện nay Hàn Quốc đang áp dụng mô hình một cơ quan giám sát hợp nhất tập trung Trong đó, Ủy ban dịch vụ tài chính, Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai hướng dẫn và giám sát hoạt động thực thi giám sát của Dịch vụ giám sát tài chính Dịch

vụ giám sát tài chính chịu trách nhiệm giám sát ba mảng chính là Tập đoàn và bảo hiểm, Ngân hàng và tổ chức Phi ngân hàng, Thị trường vốn

Hình 3: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc hiện nay

Nguồn: Tổng hợp của học viên

Bank of Korea (BOK)

Financial Supervisor y Service (FSS)

Korea Deposit Insurance Corporation (KDIC)

Ministry of Strategy and Finance (MOSF)

Coordinatio

n and Insurance

Banking And Non-banking

Capital Market

Securities

& Future Commission (SFC)

Financial Services Commission (FSC)

Trang 8

 Ủy ban dịch vụ tài chính (FSC): thành lập ngày 03 tháng 3 năm 2008.

Nhiệm vụ chính của FSC là ban hành các chính sách quản lý giám sát tài chính, giải quyết các vấn đề tài chính quan trọng và giám sát hoạt động của Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai, Dịch vụ giám sát tài chính

 Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai (SFC): thành lập tháng 4 năm 1998.

Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai có nhiệm vụ như sau: Điều tra các giao dịch không công bằng trong thị trường chứng khoán và hợp đồng tương lai; Lập chuẩn mực kế toán và tiến hành kiểm toán khi có nhu cầu điều tra; Quản lý, theo dõi và giám sát thị trường chứng khoán và hợp đồng tương lai trong phạm vi quyền hạn cho phép từ FSC; Nhiệm vụ khác giao cho SFC theo pháp luật hoặc các quy định khác có liên quan

 Dịch vụ giám sát tài chính (FSS): thành lập ngày 02 Tháng 1 năm 1999

Nhiệm vụ của FSS bao gồm: Kiểm tra và giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính được quy định trong Đạo luật về việc thành lập các tổ chức giám sát tài chính; Xử phạt theo Luật định khi có hành vi vi phạm pháp luật; Hỗ trợ trong việc thực hiện nhiệm vụ của FSC và SFC; Nhiệm vụ khác giao cho FSS theo pháp luật hoặc các quy định khác có liên quan

Dịch vụ giám sát tài chính (FSS) là cơ quan giám sát độc lập Ngân hàng trung ương Hàn Quốc, Bộ Chiến lược và tài chính, Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc khi có nhu cầu về hoạch định chiến lược tài chính thì yêu cầu FSC cung cấp thông tin, hoặc sẽ cử người cùng FSC và FSS thực hiện thu thập dữ liệu về giám sát cần thiết

Ngân hàng trung ương Hàn Quốc, Bộ Chiến lược và tài chính, Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc đưa ra các chính sách quản lý hoạt động của các định chế tài chính Khi có nhu cầu thông tin về tình hình giám sát trong nước để phục vụ cho việc soạn thảo văn bản luật thì các đơn vị này yêu cầu FSC và FSS cung cấp tài liệu hoặc sẽ

cử người cùng FSS khảo sát số liệu cần thiết Tuy nhiên không trường hợp FSC và FSS cho rằng lý do yêu cầu thông tin của các đơn vị này không phù hợp với nguyên tắc bảo mật thì FSC và FSS có quyền từ chối

1.1.3 Cơ cấu tổ chức giám sát của FSS

Đội ngũ lãnh đạo

Cơ cấu tổ chức của Dịch vụ Giám sát Tài chính bao gồm: một Thống đốc, ba Phó Thống đốc, chín Trợ lý Thống đốc, và một Giám đốc điều hành kiểm toán

Trang 9

Thống đốc Dịch vụ giám sát tài chính do Tổng thống bổ nhiệm Các Phó Thống đốc

và Trợ lý Thống đốc của Dịch vụ Giám sát tài chính được bổ nhiệm theo quyết định của Chủ tịch FSC dựa trên đề nghị của Thống đốc FSS Giám đốc điều hành kiểm toán được Tổng thống Hàn Quốc bổ nhiệm theo đề nghị của Ủy ban Dịch vụ tài chính

Nhiệm kỳ của Phó Thống đốc, trợ lý thống đốc và các kiểm toán viên là ba năm, và mỗi người trong số họ có thể được bổ nhiệm lại chỉ một lần

Hình 4: Cơ cấu tổ chức hoạt động giám sát của FSS

Nguồn: http://english.fss.or.kr/ Thống đốc có quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm đối với toàn bộ nhân viên

Phó Thống đốc, trợ lý thống đốc, kiểm toán viên, và người lao động không tham gia vào bất kỳ hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận khác hơn nhiệm vụ của mình, và không giữ chức khác mà không có sự chấp thuận từ người có thẩm quyền bổ nhiệm

Nhiệm vụ và quyền hạn của từng chức danh đều được phân chia rõ ràng

Cơ cấu tổ chức giám sát

FSS giám sát phân theo ba mảng chính là: Tập đoàn và Bảo hiểm, Ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng, Thị trường vốn Tất cả đều có chức năng cụ thể và phối hợp chặt chẽ với nhau trên toàn hệ thống giúp cho Hàn Quốc có thể giám sát các định chế tài chính đa ngành nghề Ta cũng có thể thấy đối tượng giám sát của FSS rất đa dạng cụ thể như:

- Tổ chức tài chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và đại lý chuyển giao

- Công ty quản lý tài sản và các công ty tư vấn đầu tư, công ty ủy thác

- Ngân hàng Thương mại, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ và Liên đoàn các Ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng công đoàn và Liên đoàn Liên minh tín dụng quốc gia

- Công ty chuyên ngành tài chính tín dụng, hợp tác xã kinh doanh tín dụng

Trang 10

- Đại lý Hợp đồng tương lai theo Luật Thương mại tương lai.

- Các lĩnh vực kinh doanh tín dụng của Liên đoàn Quốc gia Thủy sản Hợp tác xã

- Căn cứ các quy định của hành vi khác và các đạo luật cấp dưới

- Cá nhân tham gia vào hoạt động tài chính theo quy định của Nghị định tổng thống Bên cạnh đó, việc bảo vệ người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu khi có một văn phòng riêng do chính Thống đốc trực tiếp chỉ đạo, giải quyết các quyền lợi của người gửi tiền, nhà đầu tư nhỏ lẻ khi khủng hoảng xảy ra Việc làm này cũng đem lại lòng tin cho dân chúng đối với chính phủ Hàn Quốc

1.1.4 Mục tiêu giám sát của FSS

Củng cố tính hợp lý của trật tự tín dụng, góp phần phát triển kinh tế

Duy trì sự công bằng của giao dịch tài chính, đảm bảo tính minh bạch và công khai trong hoạt động tài chính

Bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch tài chính

1.2 Tổ chức giám sát ngân hàng tại Singapore

1.2.1 Lịch sử hình thành

Trước năm 1970, các chức năng tiền tệ khác nhau sẽ phải kết hợp với ngân hàng trương ương tương ứng với các phòng ban của chính phủ

Cùng với phát triển kinh tế, môi trừơng tài chính ngân hàng ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có mô hình giám sát quản lý phù hợp để cho thị trường tiền tệ phát triển Do đó, năm 1970, Quốc hội Singapore đã thông qua Luật quản lý tiền tệ dẫn đến sự ra đời của Cơ quan quản lý tiền tệ (MAS) vào ngày 01/01/1971, đóng vai trò như ngân hàng trung ương của Singapore Thông qua đạo luật này (MAS Act), MAS được ủy quyền hoạt động như một ngân hàng và là cơ quan đại diện tài chính của Chính phủ, nhằm giám sát và thúc đẩy ổn định tiền tệ, tín dụng và chính sách ngoại hối có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế

Tháng 04/1977, MAS thêm chức năng quản lý ngành bảo hiểm Và tháng 09/1984, MAS được chuyển giao quản lý thêm lĩnh vực chứng khoán

Hiện nay, MAS đảm nhận chức năng giám sát, quản lý và điều hành các đạo luật khác nhau liên quan đến tiền tệ, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các lĩnh vực tài chính nói chung Sau khi sáp nhập với Ban Ủy Viên tiền tệ vào ngày 01 Tháng 10 năm

2002 , MAS cũng đã thừa nhận chức năng phát hành tiền tệ

Trang 11

1.2.2 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Singapore

Singapore có cấu trúc quản lý tài chính hợp nhất, cơ quan quản lý tiền tệ có quyền điều hành lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm

Hình 5: Mô hình quản lý hệ thống tài chính Singapore

Nguồn: http://www.mas.gov.sg/

Là cơ quan giám sát thống nhất tất cả lĩnh vực dịch vụ tài chính, MAS chỉ đạo giám sát dựa trên rủi ro của các định chế tài chính Điều này bao gồm việc cấp phép cho các định chế tài chính cung cấp dịch vụ (đặc biệt là nhận tiền gửi), thiết lập các quy định và chuẩn mực, các biện pháp xử lý các định chế, các nhân vi phạm

MAS giám sát hệ thống tài chính để phát hiện các rủi ro tiềm năng, xu hướng mới nổi để hướng dẫn và hỗ trợ các hoạt động quản lý cho các tổ chức tài chính

MAS có trách nhiệm phải báo cáo thường niên cho Thủ tướng và Quốc hội trong vòng sáu tháng kể từ kết thúc năm tài chính MAS chịu trách nhiệm cuối cùng về chính sách quản lý, giám sát, tiền tệ trước Quốc hội thông qua Bộ trưởng phụ trách MAS

Do tầm quan trọng của khu vực tài chính, MAS được chính phủ ủng hộ và được cung cấp các nguồn lực đầy đủ Tuy nhiên cơ cấu trong Hội đồng quản trị của MAS làm tăng khả năng ảnh hưởng chính trị trong hoạt động của nó Bốn trong chín thành viên của Hội đồng quản trị bao gồm Chủ tịch và Phó chủ tịch là Bộ trưởng và thành viên thứ 5 là thư ký thường trực của Bộ tài chính Làm tăng khả năng ảnh hưởng chính trị đến MAS

1.2.3 Cơ cấu tổ chức giám sát của MAS

MAS được quản lý bởi Hội đồng quản trị (Board of Directions), chịu trách nhiệm đối với các chính sách và quản lý chung công việc kinh doanh của MAS Hội đồng quản trị thiết lập định hướng chung cho MAS

Trang 12

Hình 6: Cơ cấu tổ chức giám sát của Singapore

Nguồn: http://www.mas.gov.sg/ Giám đốc điều hành chịu trách nhiệm quản lý, điều hành các công việc được giao, đồng thời báo cáo cho Hội đồng quản trị về hành động và quyết định của mình

Ủy ban Kiểm toán (Audit Committee) cung cấp đánh giá độc lập về kiểm soát nội

bộ của MAS và xử lý báo cáo tài chính

Ủy ban rủi ro (Risk Committee) thực hiện giám sát và hướng dẫn về quản lý rủi ro tiềm năng và giám sát vĩ mô cho MAS và gửi đánh giá báo cáo cho Hội đồng quản trị

Mô hình tổ chức giám sát của MAS có sự chuyên môn hóa cao về chức năng nhiệm

vụ giữa các phòng ban cũng như về nhân sự Các mâu thuẫn tiềm ẩn hay hiện tại giữa bên giám sát và bên phát triển sẽ được ban điều hành cấp cao giải quyết Cụ thể:

Đối với lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm:

Vụ Ngân hàng giám sát việc cấp phép và quy định cho các ngân hàng, công ty tài chính, các đại lý chuyển và đổi tiền tại Singapore Giám sát thông qua quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro đáp ứng các yêu cầu quốc tế Cụ thể, Cục ngân hàng I giám sát các nhóm ngân hàng địa phương được sát nhập và các ngân hàng nước ngoài Cục ngân hàng II giám sát các ngân hàng kinh doanh kết hợp bán lẻ và bán buôn, các công ty tài chính, và các đại lý chuyển đổi tiền tệ Cục Ngân hàng III giám sát các hoạt động ngân hàng nói chung liên quan đến kinh doanh nguồn vốn và nhận tiền gửi

Ngày đăng: 11/09/2014, 08:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc trước năm 1998 - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 1 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc trước năm 1998 (Trang 6)
Hình 2: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc sau năm 1998 - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 2 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc sau năm 1998 (Trang 6)
Hình 3: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc hiện nay - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 3 Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc hiện nay (Trang 7)
Hình 4: Cơ cấu tổ chức hoạt động giám sát của FSS - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 4 Cơ cấu tổ chức hoạt động giám sát của FSS (Trang 9)
Hình 5: Mô hình quản lý hệ thống tài chính Singapore - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 5 Mô hình quản lý hệ thống tài chính Singapore (Trang 11)
Hình 6: Cơ cấu tổ chức giám sát của Singapore - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 6 Cơ cấu tổ chức giám sát của Singapore (Trang 12)
Hình 7: Mô hình tổ chức hoạt động giám sát của Việt Nam - Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV
Hình 7 Mô hình tổ chức hoạt động giám sát của Việt Nam (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w