1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

105 1,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa dạng hóa sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 681 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tàiTrên cơ sở nghiên cứu các chính sách của Đảng và Nhà nước về pháttriển dịch vụ du lịch; các Nghị quyết, văn bản của Đảng bộ và chính quyềnthành phố Hà Nội;

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

+ Các loại đa dạng hóa sản phẩm 33

Đa dạng hóa đồng tâm là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới có liên quan

Sử dụng khi: 33

Đa dạng hóa hàng dọc là bổ sung thêm hoạt động kinh doanh mới không liên quan đến các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp 34+ Điều kiện để đa dạng hoá sản phẩm du lịch: 34

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

APTA Hiệp hội Du lịch châu Mỹ

ASEANTA Hiệp hội Du lịch ASEAN

CNN Mạng Tin tức Truyền hình cáp được thành lập năm 1980 bởi

Ted Turner và là một nhánh của Turner Broadcasting System,

sở hữu bởi Time WarnerCTA Hiệp hội Du lịch vùng Caribe

ĐHKTQD Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

VTV Đài truyền hình Việt Nam

BBC Thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc

GDP Tổng sản phẩm nội địa

WTTC Hiệp hội Lữ hành và Du lịch thế giới

PATA Hiệp hội Du lịchChâu Á - Thái Bình Dương

WTO Tổ chức Du lịch thế giới,

JATA Hiệp hội Du lịch Nhật Bản

Trang 2

UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc

MICE Du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện,

du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tácSLVO Sea Links Vacation Ownership

VH-TT-DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 3

+ Các loại đa dạng hóa sản phẩm 33

Đa dạng hóa đồng tâm là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới có liên quan

Sử dụng khi: 33

Đa dạng hóa hàng dọc là bổ sung thêm hoạt động kinh doanh mới không liên quan đến các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp 34+ Điều kiện để đa dạng hoá sản phẩm du lịch: 34

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay trên thế giới, du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế - xã hộiphổ biến, là cầu nối hữu nghị, phương tiện gìn giữ hòa bình và hợp tác giữacác quốc gia, dân tộc Du lịch hiện được coi là một trong những ngành kinh tếhàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vìnhững lợi ích to lớn về nhiều mặt mà nó đem lại Ở nước ta, trong suốt 49năm hình thành và phát triển, ngành du lịch luôn được Đảng và Nhà nướcquan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của du lịch trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng

Tuy đạt được những kết quả cơ bản, tích cực, nhưng ngành du lịch cònbộc lộ những hạn chế, yếu kém cần khắc phục Đó là, chất lượng sản phẩm dulịch chưa cao, loại hình du lịch chưa phong phú, độc đáo, chưa đậm đà bảnsắc dân tộc Việt Nam; giá cả đắt hơn so với một số nước khu vực nên khảnăng cạnh tranh yếu Sự đa dạng và chất lượng của sản phẩm du lịch, cáchthức tổ chức sản phẩm du lịch trọn gói còn hạn chế, chưa có tính chuyênnghiệp cao Những điều đó làm cho du lịch Việt Nam ít lợi thế cạnh tranh sovới các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Tính đặc thù của sản phẩm ở từng doanhnghiệp chưa rõ nét, lợi thế của mỗi vùng, mỗi địa phương chưa được khaithác và phát huy triệt để Sản phẩm du lịch Việt Nam vì thế chưa thật đa dạng

cả bề rộng lẫn chiều sâu Các loại hình du lịch mới tuy đã được chú ý nghiêncứu phát triển, song còn hạn chế; cơ chế chính sách còn thiếu thông thoáng,còn nhiều khó khăn, vướng mắc về thủ tục Nhiều khu du lịch, điểm du lịchkhai thác ở dạng tự nhiên, chưa được đầu tư tôn tạo đúng mức Chương trình

du lịch còn đơn điệu, trùng lắp, chưa đáp ứng nhu cầu của từng đối tượngkhách, của mỗi thị trường Việc bảo tồn, nâng cấp các di tích lịch sử, văn hóa,nghệ thuật phục vụ cho hoạt động du lịch còn nhiều bất cập Công tác tuyên

Trang 5

truyền, quảng bá du lịch, nhất là ở nước ngoài, tuy đã có những tiến bộ nhiều

so với các năm trước, nhưng còn rất hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thông tincủa khách du lịch và các nhà đầu tư

Với những hạn chế, yếu kém trên, là người công tác trong ngành du

lịch, tác giả lựa chọn đề tài “Đa đạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô Hà

Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp thạc

sỹ kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, đã có khá nhiều hội thảo và công trình nghiên cứu nhằmđẩy mạnh hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch của nước ta

- Tăng cường liên kết kinh tế nhằm phát triển du lịch tỉnh Bình Định.Luận văn thạc sỹ kinh tế của Huỳnh Thị Luật, ĐHKTQD (2008)

- Kinh tế nhiều thành phần trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Đồng Tháp.Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Minh Tuấn, Học viện chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh (2008)

- Du lịch trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh BìnhThuận Luận văn thạc sỹ kinh tế của Dụng Văn Duy, Học viện chính trị Quốcgia Hồ Chí Minh (2002)

- Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An Luận văn thạc sỹ kinh tế củaHoàng Đức Cường, Học vện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1999)

- Kinh tế du lịch của Thừa Thiên - Huế, tiềm năng và phát triển Luậnvăn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thị Hoá, Học viện chính trị quốc gia Hồ ChíMinh (1997)

Các đề tài nói trên tập trung chủ yếu vào các chủ đề khai thác tiềmnăng của các địa phương để phát triển kinh tế du lịch; các thành phần kinh tếtrong hoạt động du lịch; vấn đề liên kết kinh tế trong hoạt động du lịch….Chưa có đề tài nào nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô HàNội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đây vẫn là một chủ đề mới

Trang 6

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu các chính sách của Đảng và Nhà nước về pháttriển dịch vụ du lịch; các Nghị quyết, văn bản của Đảng bộ và chính quyềnthành phố Hà Nội; thực trạng về phát triển du lịch Hà Nội, luận văn nhằmlàm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về sản phẩm du lịch; thực trạng sản phẩm

du lịch của thủ đô Hà Nội và đưa ra các giải pháp khắc phục để du lịch thủ đôngày càng phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính chất liênngành, liên vùng và tính xã hội hoá cao Tuy nhiên, luận văn chỉ nghiên cứu

về đa dạng hoá loại hình sản phẩm du lịch ở thủ đô Hà Nội

• Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: thủ đô Hà Nội

- Về thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sản phẩm du lịch từnăm 2002 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử để nghiên cứu Cụ thể thu thập những thông tin, số liệu vềhoạt động du lịch của thủ đô Hà Nội thời gian vừa qua Đồng thời tác giả sửdụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu đối với những người nghiên cứu vàquản lý về lĩnh vực du lịch tìm ra những kinh nghiệm, nguyên nhân củanhững tồn tại để đưa ra phương hướng sát hợp và có hiệu quả trong việc đadạng hoá sản phẩm du lịch của Thủ đô Hà Nội

6 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về du lịch, kinh doanh du lịch

và sản phẩm du lịch

- Đánh giá thực trạng sản phẩm du lịch của thủ đô Hà Nội trong thờigian qua

Trang 7

- Kiến nghị một số phương hướng, giải pháp đa dạng hoá sản phẩm

du lịch của thủ đô Hà Nội

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về du lịch và sản phẩm du

lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Chương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch của thủ đô Hà Nội giai

đoạn 2002 - 2008.

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đa

dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô Hà Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Trang 8

Xuất phát từ góc độ của nhà kinh doanh du lịch - người khai phángành du lịch cận đại, Thomas Cook đã nêu ra định nghĩa ngành du lịch tức

là: “Để khách du lịch thu được hứng thú tình cảm xã hội lớn nhất, tổ chức sự nghiệp để người ta đưa hết trách nhiệm lớn nhất” Người Nhật Bản cho rằng ngành du lịch là “Công nghệ tin tức” có thể phản ánh tình hình chính trị, nếp

sống xã hội và sự thay đổi tài chính Người Anh đặc biệt nhấn mạnh sự giaolưu giữa người với người trong du lịch, coi trọng tiếp đãi nhiệt tình, nên gọi

ngành du lịch là “Ngành tiếp đãi hữu hảo nhiệt tình” Người Mỹ cho rằng rối

loạn chính trị, khủng hoảng kinh tế và thiên tai địch họa đều sẽ dẫn đến sự

tuột dốc của du lịch, vì thế gọi ngành du lịch là “Ngành nghề béo bệu” Người Nam Tư gọi ngành du lịch là “Hộ chiếu đi tới hòa bình thế giới”.

Trang 9

Các cách nêu trên chỉ là sự giải thích đơn giản dễ hiểu đối với một sốđặc điểm và tác dụng của ngành du lịch chứ chưa vạch rõ bản chất của ngành

du lịch

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, nhanhchóng của ngành du lịch thế giới, việc nghiên cứu của mọi người đối vớingành du lịch cũng không ngừng đi sâu và đã có rất nhiều quan điểm có tính

chất gợi mở Các học giả Mỹ, Mathieson và Wall cho rằng: “Du lịch là ngành nghề có hàng loạt mối liên quan lẫn nhau để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước Du lịch liên quan đến du khách, hình thức lữ hành, cung cấp ăn, ở, thiết bị và các vật dụng khác, nó cấu thành một khái niệm tổng hợp không ngừng biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, một khái niệm đang hình thành và đang thống nhất” Cùng quan điểm này, các tác giả khác của Mỹ là Mcintosh, Charles R.Goeldner, J.R.Brent Ritchie phát biểu: “Du lịch như là tổng các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách” Kuns - một học giả người Thụy Sỹ cho rằng

du lịch là “Công nghiệp giao thông”, ông cho rằng: “Công nghiệp giao thông có thể được coi là một bộ phận của kinh tế quốc dân, nhiệm vụ của nó

là phục vụ cho khách du lịch rời khỏi nơi thường trú đi thăm viếng nơi khác.

Đó là nền kinh tế tổng hợp do nhiều ngành thương nghiệp và công nghiệp tổ hợp thành, chức năng của nó là nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách” Học giả Nhật Bản, Tiền Điền Dũng trong khái luận về du lịch cho rằng: “Ngành

du lịch là hoạt động kinh doanh đa dạng, do rất nhiều bộ môn du lịch đối lập khác nhau triển khai nhằm thích ứng với nhu cầu của khách du lịch” Học giả

Mexico trong cuốn ngành du lịch là môi giới giao lưu của loài người luận bàn

rằng: “Ngành du lịch có thể được xem là tổng các mối quan hệ được hình thành nên nhằm cung cấp dịch vụ và các tiện lợi khác cho khách du lịch”.

Trang 10

Như vậy, các khái niệm và các định nghĩa về ngành du lịch trên đây

tuy không thật giống nhau, nhưng đều có hai chỗ tương đồng Thứ nhất,

ngành du lịch là một ngành kinh tế có tính tổng hợp do hàng loạt ngành liên

quan cùng tổ hợp thành; Thứ hai, nhiệm vụ của ngành du lịch là cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách Do đó, có thể hiểu: Ngành du lịch là ngành kinh

tế có tính tổng hợp lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm cầm thiết và dịch vụ cho khách du lịch, tạo điều kiện tiện lợi cho hoạt động du lịch của họ.

Trong thực tế, sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia thường bao gồmcác mục tiêu như: kinh tế, chính trị và xã hội,… Nhà nước thúc đẩy du lịchphát triển có thể lấy một trong các mục tiêu đó làm chính và có thể xem xéttới các mục tiêu còn lại, hoặc cũng có thể coi trọng và xác định nhiều mụctiêu khác nhau Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện và tình hình cụthể của nước đó, tuy nhiên cùng với sự thay đổi tương ứng phát triển du lịchkhông phải chỉ lấy phát triển kinh tế làm mục tiêu duy nhất - ngành du lịch làngành mà mục tiêu cơ bản của nó ở chỗ thông qua thúc đẩy, xúc tiến, cungcấp hàng hóa và dịch vụ để tạo ra thu nhập và đóng góp vào thu nhập của nềnkinh tế quốc dân Ngành du lịch ngoài tính chất cơ bản mang tính kinh tế ra,

so với các ngành khác còn có các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, ngành du lịch mang tính tổng hợp: hoạt động du lịch là hoạt

động có tính tổng hợp, trong quá trình hoạt động du lịch, khách du lịch có cácnhu cầu về đi lại, ăn ở, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm… Vì thế, sản phẩm

và dịch vụ du lịch phải là sản phẩm tổng hợp của sự phối hợp liên ngành nhưcông ty du lịch, khách sạn du lịch, doanh nghiệp vận chuyển khách du lịch,đơn vị bán hàng lưu niệm du lịch…, đồng thời bao gồm các đơn vị sản xuấtcủa ngành như dệt, ngành xây dựng… và một số cơ sở sản xuất tư liệu phi vậtchất, như văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, tài chính, hải quan, bưuđiện, tôn giáo… cuối cùng phải được khác du lịch chấp nhận

Trang 11

Thứ hai, ngành du lịch mang tính phục vụ: ngành du lịch mang tính

phục vụ, bởi vì sản phẩm du lịch chủ yếu cung cấp dịch vụ thỏa mãn nhu cầukhách du lịch như: dịch vụ thiết kế các chương trình du lịch, dịch vụ hướngdẫn, dịch vụ vận chuyển khách bằng phương tiện vận chuyển khác nhau, dịch

vụ làm các thủ tục liên quan tới quá trình du lịch, dịch vụ cho thuê chỗ trọ,dịch vụ phục vụ ăn, phục vụ uống, dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ tưvấn… Đặc điểm của dịch vụ đã nói lên sự linh hoạt, mềm dẻo trong hoạtđộng kinh doanh du lịch nhằm phục vụ khách hàng và thu được tiền và quantrọng hơn là đối với những người phục vụ làm sao chiều được khách để họtiêu thụ các dịch vụ của mình nhằm thu được tiền trong điều kiện thực tế chophép của mình Để thực hiện được tốt nội dung này, đòi hỏi người phục vụtrong ngành du lịch không chỉ có kỹ năng, nghề nghiệp giỏi mà cần kỹ nănggiao tiếp tốt; phải am hiểu tâm lý khách du lịch để phục vụ tốt; không ngừngnâng cao danh tiếng và uy tín không chỉ cho cá nhân mà cho cả cơ sở kinhdoanh du lịch của mình

Thứ ba, ngành du lịch mang tính thời vụ: tính thời vụ thể hiện ở thời

gian hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm, xảy ra dưới tácđộng của một số yếu tố xác định, có yếu tố mang tính tự nhiên (sự thay đổicủa thời tiết khí hậu, sự vận động của mặt trời, mặt trăng, sự thay đổi của bốnmùa), có yếu tố mang tính kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật, có yếu tố mangtính tâm lý… thể hiện rõ ở nhiều loại hình du lịch, nhất ở các loại hình du lịchnghỉ biển, thể thao theo mùa,… sự tác động nhiều mặt của tính thời vụ trong

du lịch cho nên đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các doanhnghiệp kinh doanh du lịch phải có phương pháp thích hợp trong hoạt động,nhằm hạn chế những tác động bất lợi nêu trên trong toàn ngành và các cơ sởtrực thuộc Muốn hạn chế tính thời vụ trong du lịch, cần phải xây dựng và ápdụng một chương trình toàn diện, chú ý cách áp dụng các biện pháp hữu hiệu,

cố gắng giảm thiểu sự cách biệt mùa vụ, lợi dụng đầy đủ thiết bị và tài

Trang 12

nguyên du lịch, tạo ra hiệu quả và lợi ích kinh tế nhiều hơn, hạn chế ảnhhưởng của tính thời vụ du lịch trong phạm vi quốc gia, ở những trung tâm dulịch chính và ở từng điểm du lịch…

Thứ tư, ngành du lịch mang tính quốc tế: hoạt động kinh doanh du lịch

còn được phân theo lãnh thổ hoạt động: một là, đón tiếp khách nước ngoài tớitiến hành hoạt động tham quan du lịch trong nước; hai là, tổ chức khách trongnước ra nước ngoài du lịch; ba là, tổ chức cho khách trong nước tiến hànhhoạt động tham quan giải trí trong nước Hai hoạt động đầu đều chứa đựngnhiều yếu tố quốc tế cùng với sự phát triển không ngừng của du lịch quốc tế,việc tìm mọi cách để thu hút khách nước ngoài tới nước mình du lịch đã trởthành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, nếu muốn cóngành du lịch phát triển Tuy nhiên, không phải không có ảnh hưởng tiêu cực

do tính quốc tế của ngành du lịch gây ra, đó là: các thế lực phản động thườngthông qua việc đội lốt là khách du lịch để thâm nhập sâu vào nước sở tạinhằm móc nối, xây dựng cơ sổ để tuyên truyền, kích động, gây mâu thuẫn nội

bộ giữa các dân tộc, tôn giáo làm mất trật tự, an toàn xã hội của quốc gia đó,hòng lật đổ chính quyền… Do tính chất này, ngành du lịch cần đặc biệt quantâm đến việc tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ cho nhân viên trong ngành, đặcbiệt là hướng dẫn viên du lịch quốc tế, hoặc nhân viên có mối quan hệ thườngxuyên với khách du lịch nước ngoài

Thứ năm, ngành du lịch mang tính nhạy cảm: ngành du lịch có tính

nhạy cảm hơn so với các ngành kinh tế khác Bởi vì, việc tạo ra và thỏa mãnsản phẩm du lịch phải chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều yếu tố Nếu nhìn

từ nội bộ ngành du lịch, ngành du lịch do nhiều bộ phận hợp thành Đặc điểmnày đòi hỏi trình độ tổ chức, phối hợp giữa các bộ phận có liên quan sao chođồng bộ và phải nâng cao trình độ nhận thức của mỗi bộ phận trong hoạtđộng kinh doanh thông qua đào tạo và huấn luyện Nhìn từ bên ngoài, cácyếu tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội… đều có thể ảnh hưởng đối với

Trang 13

ngành du lịch, dẫn tới sự đình đốn của du lịch như: động đát, biến đổi về khíhậu, dịch bệnh hoành hành, khủng hoảng kinh tế, quan hệ giữa các nhà nướcxấu đi, chiến tranh và hoạt động khủng bố, mâu thuẫn sắc tộc tăng lên…để cóthể khắc phục và hạn chế những hậu quả xấu do các nhân tố trên gây ra, cácdoanh nghiệp kinh doanh du lịch cần phải đa dạng hóa hình thức kinh doanh,hoặc có thể liên kết liên doanh để trở thành các công ty mạnh hoặc các tậpđoàn lớn có tầm cỡ ở khu vực hoặc trên thế giới.

Thứ sáu, ngành du lịch mang tính phụ thuộc: tính phụ thuộc của ngành

du lịch trước hết biểu hiện ở sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia mang tínhđịnh hướng đối với tài nguyên du lịch Một trong những điều kiện quan trọng

để phát triển du lịch cần có là tài nguyên du lịch phải độc đáo, hấp dẫn hơnnữa, tính phụ thuộc của ngành du lịch còn biểu hiện ở tính phụ thuộc vàotrình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân Nguồn khách là yếu tố sống cònngành du lịch, mà việc thu hút nguồn khách được quyết định bởi trình độ pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia, hoặc khu vực; và ngược lại, trình độ phát triểnkinh tế của nước tiếp đón lại quyết định tới khả năng tiếp đón khách du lịch,

và ảnh hưởng tới chất lượng các dịch vụ ở mức độ nhất định Biểu hiện khácnữa về tính phụ thuộc của ngành du lịch còn ở chỗ, đó là phụ thuộc vào sựhợp tác toàn diện, sự phát triển họp lý giữa các ngành, nghề có liên quan tới

du lịch Bất cứ một ngành nghề nào có liên quan tới du lịch mà tuột ra khỏi

“mắt xích” thì hoạt động kinh doanh của ngành du lịch sẽ khó có thể đạt đượckết quả như mong muốn

1.1.2 Các điều kiện phát triển du lịch

Du lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàncảnh thuận lợi nhất định Trong số các điều kiện đó có những điều kiện trựctiếp tác động đến việc hình thành nhu cầu du lịch và việc tổ chức các hoạtđộng kinh doanh du lịch, bên cạnh đó có những điều kiện gắn liền với đặcđiểm của từng khu vực địa lý Các điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với

Trang 14

nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát sinh, pháttriển du lịch Các điều kiện đó là:

1.1.2.1 Các điều kiện chung, bao gồm: các điều kiện chung đối với sựphát triển của hoạt động đi du lịch (như: thời gian nhàn rỗi của dân cư; mứcsống vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân cao; điều kiện giaothông phát triển; điều kiện chính trị ổn định, hòa bình); các điều kiện có ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh du lịch (như: tình hình phát triển kinh tế củađất nước; điều kiện chính trị ổn định, sự an toàn của du khách)

1.1.2.2 Các điều kiện đặc trưng - các điều kiện cần thiết đối với từngnơi, từng vùng Đầu tiên phải kể đến điều kiện về tài nguyên du lịch Đây làđiều kiện cần thiết, bởi vì không có tài nguyên du lịch thì khó có thể pháttriển du lịch Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên ban tặng, cũng có thể

do con người tạo ra Các tài nguyên thiên nhiên thường do: địa hình đa dạng,phong phú; khí hậu ôn hòa, mát mẻ, thuận lợi cho nghỉ dưỡng; động thực vậtphong phú, đặc sắc; tài nguyên nước; vị trí địa lý mang lại tài nguyên nhânvăn là các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị, kinh tế có ý nghĩađặc trưng cho phát triển du lịch ở một vùng, một địa danh nào đó có sức hấpdẫn khách du lịch đến với các mục đích khác nhau

1.1.2.3 Các điều kiện phục vụ khách du lịch vô cùng quan trọng gồm:các điều kiện về tổ chức chung như: sự sẵn sàng chuyên nghiệp của bộ máy tổchức nhà nước chung và chuyên ngành với hệ thống thể chế quản lý đầy đủ,hợp lý và đội ngũ cán bộ với số lượng, cơ cấu, trình độ cao… hệ thống cácdoanh nghiệp kinh doanh như khách sạn, lữ hành, vận chuyển và các dịch vụkhác Các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm cơ sở vật chất thuộc

hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc ngành du lịch

1.1.2.4 Các điều kiện về kinh tế bao gồm các điều kiện bảo đảm cácnguồn lực, việc thiết lập và mở rộng các quan hệ kinh tế…

1.1.2.5 Các điều kiện, sự kiện đặc biệt gắn liền với sự năng động sángtạo của chính quyền và ngành du lịch tạo nên

Trang 15

1.1.3 Xu hướng phát triển du lịch

Du lịch phát sinh từ khi ngành thủ công tách ra khỏi nông nghiệp.Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, ở nhiềuquốc gia du lịch là ngành kinh tế hàng đầu Trong những năm tới dự đoán dulịch sẽ phát triển theo các xu hướng sau:

1.1.3.1 Xu hướng phát triển của cầu du lịch Sự phát triển của cầu du

lịch dự đoán theo 6 xu hướng sau:

- Nhu cầu du lịch ngày càng tăng, du lịch trở thành một tiêu chuẩnđánh giá mức sống của dân cư

- Du lịch quốc tế phát triển, phân bố các luồng khách, hướng du lịchthay đổi Châu Á ngày càng thu hút nhiều khách du lịch, trong khi lượngkhách đến Châu Âu, Châu Mỹ có xu hướng giảm tương đối

- Cơ cấu chi tiêu của du khách thay đổi theo hướng tỷ trọng chi tiêu chocác dịch vụ cơ bản giảm tương đối, trong lúc tỷ trọng chi tiêu cho các dịch vụ

bổ sung tăng lên

- Du khách có nhu cầu thay đổi hình thức chuyến đi theo hướng tự dohơn, đa dạng hơn

- Sự hình thành các nhóm du khách theo độ tuổi với các mục đích vànhu cầu khác nhau

- Du khách có nhu cầu đi du lịch nhiều địa điểm trong một chuyến du lịch Những xu thế phát triển cần phải được nghiên cứu để kịp thời đáp ứng

1.1.3.2 Các xu thế phát triển của cung du lịch: có nhiều nhân tố chi phối

sự phát triển của cung du lịch, trong đó, đặc biệt là sự chi phối của cầu du lịch

và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành Những nămtới đây dự đoán các xu hướng phát triển cung du lịch như sau:

- Danh mục sản phẩm du lịch được mở rộng, phong phú, có nhiều sảnphẩm độc đáo

Trang 16

- Hệ thống tổ chức bán sản phẩm du lịch cũng phát triển, có nhiềuhình thứ tổ chức du lịch phù hợp với nhu cầu du lịch đa dạng.

- Vai trò của tuyên truyền quảng cáo trong du lịch ngày càng đượcnâng cao

- Ngành du lịch ngày càng được hiện đại hóa trên tất cả các khâu

- Xu hướng quốc tế hóa trong phát triển du lịch là tất yếu khách quan.Các quốc gia, các địa phương có xu hướng giảm thiểu các thủ tục hành chínhtạo điều kiện cho du lịch phát triển

- Tính thời vụ trong du lịch ngày càng được khắc phục

1.2 SẢN PHẨM DU LỊCH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH

1.2.1 Sản phẩm du lịch

1.2.1.1 Khái niệm sản phẩm du lịch và đặc tính của sản phẩm du lịch

+ Khái niệm

“Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồngnhất hữu hình và vô hình Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thểnhư thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầukhông khí tại nơi nghỉ mát” (Michael M Coltman)

Sản phẩm du lịch còn gọi là kinh nghiệm du lịch và nó là tổng thể nênKrapf nói “một khách sạn không làm nên du lịch”

Điều 4 chương I Luật Du lịch giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du lịch làtập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trongchuyến đi du lịch”

+ Đặc tính của sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch có nhiều đặc tính riêng biệt những đặc tính này cũng

là những đặc trưng của dịch vụ du lịch Sau đây là những đặc tính sản phẩm

du lịch:

- Khách mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm

Trang 17

- Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước.

- Khoảng thời gian mua sản phẩm và thấy, sử dụng sản phẩm quá lâu

- Sản phẩm du lịch ở xa khách hàng

- Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau

- Sản phẩm du lịch như chỗ ngồi ở máy bay, phòng ngủ khách sạn, ghếngồi nhà hàng không thể để tồn kho

- Trong thời gian ngắn, lượng cung sản phẩm du lịch cố định, nhưnglượng cầu của khách có thể gia tăng hoặc giảm sút

- Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành hoặc không trung thànhvới công ty bán sản phẩm

- Nhu cầu của khách đối với sản phẩm du lịch dễ bị thay đổi vì sự giaođộng về tiền tệ, chính trị

- Những điều tốt đẹp và mọi dịch vụ, phương tiện vận chuyển, hạ tầng cơ sở

- Những hoạt động kinh tế, tài chính

1.2.1.2.2 Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf

- Các di sản thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên

- Các di sản do con người tạo ra

- Các yếu tố thuộc về con người: tôn giáo phong tục, tập quán

- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc

- Những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch: khách sạn,nhà hàng

- Các chính sách kinh tế, tài chính, chính sách xã hội

Trang 18

1.2.1.2.3 Cách sắp xếp của Michael M Coltman

M Coltman chia sản phẩm du lịch theo hai hướng tài nguyên:

+ Tài nguyên theo hướng Marketing

- Tài nguyên thiên nhiên: phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc

đá, đèo, hệ động vật và thực vật, bãi biển, hải cảng

- Nơi tiêu biểu văn hóa và lịch sử: vùng khảo cổ, kiến trúc truyền

thống, nghề thủ công bản địa, thực phẩm đặc sản, lễ lạt, nghi thức, phong tục,múa hát

- Nơi giải trí: công viên, sân golf, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bơi lội….

- Các tiện nghi du lịch: chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua

sắm, trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký giữ chỗ

- Khí hậu.

- Các tài nguyên thiên nhiên khác.

- Hấp dẫn tâm lý: mỹ quan, thái độ hài lòng.

+ Cách sắp xếp theo hướng chức năng điều hành.

- Khả năng mua đất đai

- Kế hoạch và phân vùng

- Vận chuyển: đường bộ, đường hàng không, xe lửa, xe đò, tàu bè…

- Phục vụ công cộng: nước dùng, điện, nước thải

- Kỹ nghệ trợ giúp: công an, cứu hỏa, y tế, nhà thờ, chùa, ngân hàng,cung ứng lương thực, giặt ủi, các dịch vụ trợ giúp khác

- Lực lượng lao động: thuê mướn lao động được, khéo léo tay ngề, dạyngoại ngữ, dạy kỹ thuật

Trang 19

yếu tố thiên nhiên của mỗi nước và quan niệm của mỗi tác giả, từ đó cónhững mô hình 4S, 3H và 6S.

Mô hình sản phẩm du lịch 4S và 3H của Mỹ và mô hình 6S của Pháp

1.2.1.3.1 Mô hình 4S

SEA : Biển

SUN : Mặt trời, tắm nắng

SHOP : Cửa hàng lưu niệm, mua sắm

SEX(or SAND) : Hấp dẫn, khêu gợi giới tính (hay bãi cát tẵm nắng)

+ Biển (Sea)

Biển là những yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch Những nơinào có bãi biển đẹp, sạch sẽ là nơi du khách đổ xô về tắm biển, lướt ván, phơinắng, nghỉ dưỡng

+ Mặt trời (Sun)

Đối với khách du lịch quốc tế, yếu tố mặt trời, ánh nắng rất quan trọng

là những người ở xứ lạnh, ít khi thấy ánh nắng mặt trời Vào những mùa mưa,nhiệt độ rất thấp và lạnh, ít người đi du lịch vào mùa này Vì vậy, họ thườngtìm đến những vùng nắng ấm để tắm và sưởi nắng

+ Cửa hàng bán đồ lưu niệm, mua sắm (Shop)

Mua sắm là quan trọng đối với khách du lịch, khách đi hầu hết là đểthỏa mãn sự hiểu biết, kinh nghiệm Họ muốn biết những nơi xa lạ, biếtphong tục tập quán, lối sống của dân cư địa phương, những nét văn hóa,sinh hoạt của những sắc tộc, bộ lạc hoang sơ… Và khi ra về ngoài những

ấn tượng, những kinh nghiệm mà họ có được một cách vô hình, họ cần cómột thứ gì đó để làm kỷ niệm cho chuyến đi của chính bản thân họ, chongười thân và bạn bè Đó là sản phẩm hữu hình, những món quà lưu niệmmang đầy dấu ấn cho suốt cả cuộc đời của họ về một nơi, một vùng, mộtnước xa xôi nào đó Điều này gợi lại cho họ một kỷ niệm khó phai mờ vềmột chuyến đi

Trang 20

Cửa hàng bán hàng lưu niệm và sự mua sắm giữ một vai trò quan trọngtrong việc thu hút khách du lịch Điều này đã chứng minh cho ta thấy ở nơinghèo nàn, các cửa hàng bán đồ lưu niệm hoặc thuế hải quan quá cao đánhtrên sản phẩm khách du lịch mua làm quà lưu niệm, là những nơi ít khách dulịch và có thể là nơi mà khách “một đi và không bao giờ trở lại” Trái lại,những nơi nào có chính sách thuế khóa về hải quan thoáng, để khuyến khíchkhách du lịch mua sắm nhiều là những nơi khách du lịch thường lui tới vàgiới thiệu cho bạn bè đi du lịch và chính những nơi này đã thu về một nguồnngoại tệ đáng kể cho ngành du lịch.

+ Yếu tố hấp dẫn giới tính (Sex) hay bãi cát (Sand)

Yếu tố hấp dẫn giới tính bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau Nhưng dùhiểu theo nghĩa nào đi nữa thì chữ sex trong du lịch thể hiện tính khêu gợi,hấp dẫn và để đáp ứng sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý Vì vậy, trong du lịch

có từ kèm theo chữ sex, đó là sex - tour

Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, từ khi châu Âu, châu Mỹ, châu Phi

bị dịch bệnh AIDS hoành hành, khách du lịch đổ xô về châu Á, Đông Nam Á,những nước không kém phát triển về mặt kinh tế mà còn chậm về sự lan tràncơn bệnh AIDS để thỏa mãn một phần “nhu cầu không nói ra” và hy vọngvào một tỷ lệ xác suất cao hơn về sự an toàn so với những nước khác Nhìnlại những nước gần Việt Nam, trong những năm gần đây đã thu về một nguồnlợi kinh tế đáng kể khi thả nổi vấn đề sex trong du lịch, nhưng đằng saunguồn lợi và sự phát triển đó, du lịch đã để lại một dấu ấn sâu sắc về sự phá

vỡ đối với xã hội và con người Nhưng cái lợi của ngành du lịch tại nhữngnước này điển hình là Thái Lan, theo ước tính của những chuyên gia trên thếgiới, không bù đắp được về sự mất mát, thiệt hại về xã hội, con người

Nếu loại trừ yếu tố hấp dẫn giới tính (sex) thì yếu tố bãi cát (sand) cũnghấp dẫn khách du lịch Với những bãi cát trắng, mịn chạy dài dọc theo bờbiển sẽ thu hút khách du lịch Người ta thích phơi mình trên những bãi cát để

Trang 21

tắm nắng, nhìn những đợt sóng biển và cũng có nhiều người nhất là trẻ emthích nô đùa với cát muốn làm dã tràng xe cát niển đông, thích đắp những lâuđài, những hình tượng thân thương hoặc chôn mình dưới cát…

Biết được tính hấp dẫn của những bãi cát đối với khách du lịch, nênnhững vùng không có cát hoặc ít cát như phi luật tân, đã từng đi mua cát về

để tạo thành bãi cát ở những điểm du lịch nhằm thu hút khách

1.2.1.3.2 mô hình 3H

Thành phần của mô hình 3H bao gồm:

- Heritage : Di sản, nhà thờ

- Hospitality : Lòng hiếu khách, khách sạn - nhà hàng

- Honesty : Lương thiện, uy tín trong kinh doanh

+ Di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa, nhà thờ (Heritage)

Những lĩnh vực thuộc về di sản văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, côngnghệ, những công trình kiến trúc cổ của một vùng, một đất nước, tùy theomức độ quan trọng, quý giá có thể trở thành những di sản văn hóa của mộtquốc gia, của thế giới

Song song với việc phát triển du lịch, việc phát triển, bảo tồn, vun đắpcác giá trị truyền thống dân tộc được coi trọng, vì văn hóa là một nhân tố, mộtđộng lực vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển Giá trị truyền thống dântộc việt nam được thể hiện, phát huy rõ nét nhất qua truyền thống mấy ngànnăm dựng nước và giữ nước, sắc thái dân tộc, văn hóa dân tộc

Hiểu theo nghĩa nhà thờ của thuật ngữ Heritage thì đây cũng là một yếu

tố quan trọng đối với khách du lịch quốc tế Hiện nay trên thế giới, khách đi

du lịch nhiều nhất thuộc các nước châu Âu, châu Mỹ Ở đây đa số người dântheo đạo thiên chúa, nên dù ở đâu, đi đâu họ cũng cần có nhà thờ để tham dựthánh lễ vào mỗi ngày chủ nhật Đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đốivới họ

Trang 22

+ Lòng hiếu khách, khách sạn - nhà hàng (Hospitality)

Từ Hospitality có nghĩa là lòng hiếu khách Trong du lịch, từHospitality còn có nghĩa là những dịch vụ trong khách sạn nhà hàng Dù hiểutheo nghĩa nào đi nữa thì trong du lịch những yếu tố về lòng hiếu khách,những dịch vụ trong khách sạn nhà hàng là những yếu tố vô cùng quan trọng

để cấu thành sản phẩm du lịch

Lòng hiếu khách thể hiện qua sự tiếp xúc giữa khách với nhân viên cungứng dịch vụ, giữa khách và nhân viên nhà nước như hải quan, công an, nhânviên ngân hàng, bưu điện, chính quyền địa phương và sự tiếp xúc giữa kháchvới cư dân đại phương nơi khách đến tham quan, du lịch Sự niềm nở, tận tìnhgiúp đõ khách, trò chuyện với khách một cách vui vẻ khi họ tìm hiểu về phongtục, tập quán về đất nước họ đến thăm sẽ làm tăng thêm chất lượng sản phẩm.Làm tốt những công việc này sẽ gây một ấn tượng tốt đẹp đối với mỗi ngườikhách và sau chuyến đi, họ muốn có dịp để trở lại hoặc giới thiệu cho bạn bè,người thân đến du lịch Trái lại, chỉ cần một điều nhỏ xúc phạm đến danh dựcủa khách qua sự lạnh lùng, gắt gỏng, hách dịch thì những điều tốt đẹp trongchuyến đi đều tan biến thành mây khói và khách “một đi không trở lại”

Hai yếu tố quan trọng để tạo thành tour du lịch trọn gói đó là khách sạnnhà hàng và vận chuyển ngoại trừ khách tham quan, hầu hết du lịch đều nghỉqua đêm nên cần có khách sạn nhà hàng giải quyết vấn đề lưu trú ăn uống.Krapf nói: “khách sạn không làm nên du lịch” Đúng vậy, trong du lịch cầnphải có nhiều khách sạn và nhiều thứ khác nữa Tuy nhiên khi Krapf nói nhưvậy, cho thấy vai trò quan trọng của khách sạn nhà hàng trong du lịch

+ Tính lương thiện (Honesty)

Tính lương thiện là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh Kinhdoanh phải lấy chữ tín làm dầu cho nên vấn đề uy tín với khách là điều cầnthiết, nó đảm bảo lòng tin của khách khi bỏ tiền ra mua sản phẩm mà chưathấy, chưa sử dụng được sản phẩm

Trang 23

Trong vệ sinh thực phẩm, thức uống phải có lý lịch, xuất xứ, phải cóchứng minh nguồn gốc và quá trình hình thành.

Ví dụ, một chiếc bánh ngọt bao gồm bột, đường, sữa, trứng và màu.Vậy phải chứng minh quá trình hình thành chiếc bánh bằng cách chứngminh bột mì xuất xứ từ đâu, trứng gà công nghiệp hay gà nuôi ở thôn quê,

gà nuôi bằng thức ăn gì; đường loại gì, có sử dụng đường hóa học không;sữa bò xuất xứ từ nước nào, của Hà Lan, của Việt Nam hay từ Anh, có sửdụng từ sữa bò của các nước có bò điên hay không và các loại màu sử dụng

có tính độc hại không…?

Về môi trường, không khí phải trong lành, không bi bụi, khói làm ônhiễm nước thải phải xử lý như thê nào để tránh tình trạng làm ô nhiễm cácdòng sông

Các điểm du lịch, đường phố phải xanh, sạch và đẹp điều này nói lêntrình độ dân trí, ý thức của người dân và sự quan tâm của chính quyền

Trang 24

Tại các nước và khu vực như singapore, thái lan, hồng kông đường phốrất tráng lệ đẹp, sạch sẽ, luôn luôn có những đội cảnh sát du lịch giữ gìn trật

tự và nhặt từng lá cây, từng cọng rác để làm đẹp, sạch thành phố làm chokhách du lịch có một ấn tượng rất tốt đẹp về những nước này

+ Sức khỏe (Santé)

Yếu tố sức khỏe bao gồm các loại hình thể thao, chữa bệnh và nghỉ dưỡng Người ta đi du lịch hầu hết là để nghỉ ngơi, lấy lại sức khỏe sau nhữngnăm tháng làm việc căng thẳng về tinh thần và thể chất

Để thu hút khách đi du lịch vì lý do sức khỏe, các đơn vị cung ứng dulịch phải kết hợp những yếu tố liên quan đến sức khỏe trong sản phẩm du lịchnhư các hoạt động thể thao bao gồm sân golf, lướt ván, bể bơi, sân tennis, leonúi, câu cá, cắm trại

Ngoài các loại hình mang tính thể thao trên, các khách sạn cũng cần

có các dịch vụ tắm hơi, masage đa dạng, phong phú, loại hình này chữa một

số bệnh rất hiệu quả

+ An ninh, trật tự xã hội (Sécurité)

Yếu tố an ninh, trật tự xã hội bao gồm các vấn đề ổn định chính trị,trật tự, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo hiểm sinh mạng cho khách du lịch

Vấn đề an ninh là yếu tố quan tâm hàng đầu để phát triển du lịch Mộtvùng, một nước thiếu an ninh thì ngành du lịch không thể phát triển Bảo vệtính mạng cho khách là vấn đề cực kỳ quan trọng Du khách có thể bị phe đốinghịch của một quốc gia bắt cóc hoặc sát hại, nên vấn đề giữ gìn tính mạng,tinh thần, của cải vật chất của khách là vấn đề tất yếu và cần thiết Để gópphần vào việc giảm thiểu mức rủi ro và đảm bảo an ninh trật tự cho khách cầnphải thực hiện nhiêu biện phấp đồng bộ giữa chính quyền,các đơn vị cungứng du lịch Về chính quyền phải ổn định chính trị, bài trừ tệ nạn xã hội như

Trang 25

ăn xin ,cướp giật, móc túi, nài ép khách mua hàng Về phía hãng lữ hành phảitrang bị phương tiện vận chuyển tốt nhất và tài xế phải có kinh nghiệm, cẩnthận Về khách sạn, phải giữ gìn an ninh, cửa phòng chắc chắn để chống trộmcắp, chống kẻ lạ đột nhập gây nguy hiểm cho khách.

+ Sự thanh thản (Sérénité)

Ngoài mục đích du lịch công vụ, hầu hét khách đi du lịch vì mục đíchhưởng thụ, đi tìm sự thanh thản cho tâm hồn để bù đắp vào sự mất mát quanhiều năm tháng làm việc cật lực, căng thẳng tinh thần

Người dân ở các nước tiên tiến, hằng ngày phải làm việc với cường

độ cao trong các nhà máy, công xưởng, văn phòng Gia đình, vợ chồng,con cái ít có những dịp đoàn tụ đầy đủ, lâu dài Vì vậy, nền tảng tình cảmkhông bền chặt, không keo sơn dễ dẫn đến tan vỡ hạnh phúc Con ngườimất thăng bằng về tinh thần, lạc lõng, thiếu chỗ bám tựa bên cạnh đó,khoa học và ứng dụng khoa học phát triển như vũ bão, nào là khí giới giếtngười hàng loạt như bom nguyên tử, bom hóa học, bom khinh khí, tên lửađạn đạo tầm ngắn, tầm xa xuyên lục địa, hệ thống tên lửa phòng chốngchiến tranh giữa các vì sao, các nước lớn, bé đua nhau phát triển, thửnghiệm vũ khí hạt nhân, và nỗi lợ ám ảnh về những chứng bệnh hiểmnghèo cùng với những sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt giữa các tập đoàn,giữa các công ty trong nước và quốc tế đã làm cho con người choáng váng,mất thăng bằng thật sự, gây nên chứng bệnh thời đại, đó là chứng bệnhcăng thảng thần kinh (stress) Ngoài ra, một chứng khác vô cùng nguyhiểm đã và đang có nguy cơ giết chết hang triệu người mà hiện nay chưatìm ra loại thuốc chữa trị, ngăn ngừa hữu hiệu, đó là bệnh AIDS

Đứng trước những sự thay đổi nhanh chóng về khoa học kỹ thuậtvaf cả

về mặt tinh thần, hàng ngày con người phải đối phó với những công việc

Trang 26

nhàm chán, căng thẳng, nguy hiểm, người ta cần sự thanh thản và họ muốnquay về, tìm về thiên nhiên, muốn được tận hưởng những giây phút yên tĩnh

để thư giãn tinh thần, được nhìn lại những cảnh thiên nhiên núi non hùng vĩ,hoang sơ, đi tìm cái màu xanh của núi rừng, của biển cả, rong rêu để xua đicái màu xám xịt của bụi khói, của bê tông cốt thép, sự nặng nề của nhữngnhà máy, công xưởng và những tòa nhà chọc trời

Người Nhật, sau thế chiến thứ hai, với quyết tâm, lòng yêu nước cao

độ, họ đã nhanh chóng khôi phục và đưa đất nước lên hàng cường quốc,đứng đầu về kinh tế, kỹ thuật công nghệ Nhưng một khi đất nước đã thịnhvượng, mức sống của người dân cao thì họ có khuynh hướng giảm đàn sứclao động để dành thời gian cần thiết cho việc nghỉ ngơi Chính vì lý do nàynên trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ 20 và bước vào đầu thậpniên của thế kỷ 21, nền kinh tế Nhật có chiều hướng phát triển chậm, hoặckhựng lại, và hiện nay nước Nhật là một trong những nước có số lượng dân đi

du lịch ra nước ngoài nhiều nhất thế giới

Do tính chất quan trọng của tài nguyên thiên nhiên về rừng núi, biển

cả, sông hồ, ghềnh, thác, thú rừng hoang dã Vì vậy, những nơi nào có lắmcảnh đẹp, những nơi đó thu hút khách du lịch rất mạnh Cho nên, khi chọnmột nơi làm nước đến, điểm đến tham quan du lịch, người làm Marketingphải chú ý và tận dụng những sản phẩm do thiên nhiên ban tặng để kết hợptạo nên sản phẩm du lịch phong phú hấp dẫn

+ Dịch vụ, phong cách phục vụ (Service)

Sản phẩm du lịch hầu hết là những dịch vụ, những đơn vị cung ứng dulịch nhưn khách sạn, vận chuyển tham quan giải trí là thành phần cốt lõi đểtạo nên tour du lịch trọn gói Khi bán tour du lịch trọn gói đơn vị cung ứng du

Trang 27

lịch chỉ bán dịch vụ Thật vậy, sau khi kết thúc chuyến đi, khách không thểmang theo phòng ngủ, mang theo chỗ ngồi trên xe hoặc mang theo nhữngđiểm đến du lịch Khi bán sản phẩm du lịch là bán dịch vụ, bán chỗ ngồi củamột chuyến bay, bán dịch vụ vui chơi, giải trí… sau chuyến đi du khách chỉmang theo những kỷ niệm, kinh nghiệm về chuyến đi.

Dịch vụ du lịch rất phong phú như dịch vụ ở khách sạn, dịch vụ thủ tụcđăng ký, nhập, xuất khách sạn, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ bưu điện viễnthông, ngân hàng, hải quan…

Qua mỗi dịch vụ đó, để phục vụ khách hữu hiệu, nó đòi hỏi tất cảnhững người liên quan trong việc phục vụ phải am hiểu nghề nghiệp và cóphong cách phục vụ tốt

Phục vụ và phong cách phục vụ là những sản phẩm vô hình Khách sẽhài lòng và được bù đắp nếu sản phẩm hữu hình có phần thiếu sót được thaythế bằng những sản phẩm vô hình như hình thức phục vụ qua phong cáchphục vụ của những nhân viên, khéo léo, vui vẻ, niềm nở tận tình Sản phẩmhữu hình như khách sạn, nhà hàng thì tốn kém, trái lại sản phẩm vô hình ít tốnkém, cho nên trong hoạt động du lịch phải quan tâm làm tốt khâu phục vụ gấpbội lần so với sản phẩm hữu hình

+ Sự thỏa mãn (Satisfaction)

Mục đích của việc đi du lịch là để thỏa mãn nhu cầu của con người.nhu cầu du lịch tùy thuộc mục đích của chuyến đi Tuy nhiên, trong du lịchngười đi du lịch là để thỏa mãn được nhiều mục đích khác nhau chứ khônghẳn thuần túy về công vụ, hưởng thụ hay chỉ vì một động cơ nào khác, đànhrằng chủ đề và nội dung của tour du lịch trọn gói có thể là du lịch công vụ,hội họp, du lịch ngiên cứu, tham quan hay du lịch sinh thái…

Đáp ứng được thỏa mãn của khách nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào

Trang 28

các dịch vụ, phong cách phục vụ, đó là những yếu tố gây ấn tượng tốt đẹp chokhách về đất nước, con người nơi họ đến du lịch.

1.2.1.4 Những điều lưu ý về Marketing sản phẩm du lịch

+ Khả năng tiếp cận: Là việc có thể tiếp cận sản phẩm về vị trí hoặc

thời gian hoạt động

- Tạo hiệu quả

- Tạo ấn tượng tâm lý

+ Tiếp xúc của khách hàng với hệ thống cung cấp dịch vụ

Khi làm Marketing cần chú ý đến quá trình tham gia của khách vàoviệc cung cấp sản phẩm du lịch trong 3 giai đoạn:

- Trước khi tiêu thụ

- Trong khi tiêu thụ: giao tiếp của khách hàng với nhân viên, với sảnphẩm thông qua cá dấu hiệu, đặc điểm hữu hình

- Sau khi tiêu thụ: sự hài lòng của khách đối với sản phẩm du lịch đếnmức độ nào

+ Tiếp xúc của khách hàng với các khách hàng khác

Mọi khách hàng luôn là một phần của sản phẩm du lịch, nó góp phầnvào chất lượng chung của sản phẩm du lịch

+ Sự tham gia

Trong du lịch, sự lôi cuốn khách vào việc tham gia cung cấp dịch vụ cóthể làm thỏa mãn sự hài lòng của khách và giảm chi phí hoạt động

Trang 29

- Các tổ chức trung gian để đưa khách đến với sản phẩm thường tổchức theo một hệ thống bao gồm nhiều kênh phân phối Chúng ta có thể địnhnghĩa kênh phân phối trong du lịch như sau:

“Hệ thống kênh phân phối trong du lịch là một tập hợp các đơn vị cung ứng hay cá nhân để hoạt động những việc thuộc lĩnh vực của mình hoặc của những đơn vị khác nhằm đưa khách hàng đến với sản phẩm hoặc cung cấp thông tin về sản phẩm cho khách hàng”.

+ Chức năng của kênh phân phối

Kênh phân phối có những chức năng:

- Thông tin (Information)

- Kích thích khách hàng (Promotion)

- Thiết lập những mối liên hệ (Contact)

- Tiến hành thương lượng (Negotiation)

Trang 30

- Tổ chức vận chuyển (Physical distribution)

- Đảm bảo kinh phí (Financing)

- Chấp nhận rủi ro (Risk taking)

Phân phối trực tiếp và gián tiếp (Kênh phân phối)

Khách hàng

Các nhà cung ứngVận chuyển Phòng ở Ăn uống Tham quan Dịch vụ khác

Sơ đồ 1.1: Hệ thống phân phối trong du lịch theo S Wahab,

Trang 31

Sơ đồ 1.2: Các kênh phân phối

+ Tổ chức và hoạt động của hệ thống phân phối du lịch

Trong hệ thống phân phối du lịch, có 3 kênh phân phối chính:

- Công ty du lich trọn gói

Ở Việt Nam, những người làm dịch vụ bao biện du lịch hoặc công ty

du lịch trọn gói là một trong những bộ phận của dịch vụ lữ hành (dịch vụ lữhành bao gồm những đơn vị tổ chức, xây dựng và bán các chương trình dulịch trọn gói hoặc theo yêu cầu của khách và những đại lý bán chương trình

du lịch)

Đặc tính

Du lịch trọn gói là hai hoặc nhiều sản phẩm du lịch không bán riêng lẻtừng cái mà bán ra như một sản phẩm đơn nhất với giá nguyên kiện (ăn, ở,tham quan, vận chuyển…)

Những ích lợi và bất tiện của việc bao trọn gói đối với khách hàng vànhà cung ứng dịch vụ:

du lịch

Người

cung ứng

Nhà bao gói du lịch

Văn phòng du lịch

Khách hàng

Khách hàng

Khách hàng

Người

cung ứng

Nhà baogói dulịch

Vănphòng dulịch

Kênhchuyênbiệt

Kháchhàng

Trang 32

- Đối với khách hàng, thuận lợi trước tiên là khách biết những chi tiếtchuyến du lịch như: thời gian, phương tiện vận chuyển, ăn ở khách sạn Thứhai là khách biết được giá cả, chi phí trọn gói cho chuyến đi Ngoài ra, kháchcòn tiết kiệm được nhờ giá rẻ trong lúc mua trọn gói Tuy nhiên, bất tiện chokhách khi mua chuyến du lịch trọn gói vì sự ràng buộc, phụ thuộc vào sự kếthợp các bộ phận trong bao trọn gói Thật vậy, có những bộ phận mà kháchkhông thích hợp cũng phải chịu giá Và sau hết, khách bị ràng buộc vào thờibiểu nhất định.

- Đối với đơn vị cung ứng du lịch trọn gói có lợi là sản phẩm hấp dẫnhơn và nhờ dịch vụ trọn gói, đơn vị cung ứng cải thiện được tình trạng kinhdoanh ế ẩm vào những mùa ít khách Ngoài ra, nhờ dịch vụ trọn gói đơn vịcung ứng du lịch tiết kiệm được phí tổn

* Một bộ du lịch trọn gói gồm ít nhất là phương tiện di chuyển và nơi

cư trú Ngoài ra, dịch vụ trọn gói còn có các bữa ăn, giải trí và tham quan

Hoạt động của công ty du lịch trọn gói

Những dịch vụ bao gói của công ty du lịch trọn gói được thể hiện qua

những kênh phân phối tổ chức và hoạt động của kênh

- Những chuyến du lịch trọn gói thường được bán thông qua bản thânnhững công ty cung ứng dịch vụ trọn gói (kênh cấp không vì bán trực tiếp)hoặc thông qua những điểm bán lẻ của chính công ty đó hoặc những điểm bán

lẻ mà công ty kiểm soát (kênh một cấp) và cũng có trường hợp dành cho cácvăn phòng du lịch được công ty chấp thuận

- Những công ty du lịch trọn gói thường cộng tác với các hãng hàngkhông, hãng tàu biển, khách sạn nhà hàng, các địa điểm dịch vụ tham quan,giải trí, các công ty thuê xe và cũng có thể cả chính phủ để sắp xếp nhữngsuất bao cho khách

Trang 33

- Các đại lý du lịch

Trong mạng lưới phân phối du lịch, đại lý du lịch là bộ phận kết nốiquan trọng nhất Đại lý du lịch hay văn phòng du lịch là tiếp điểm cuối cùnggiữa người muốn bán sản phẩm và những người muốn mua sản phẩm

Ở những nước có ngành du lịch phát triển, người ta ước tính có khoảng75% vé máy bay và hầu như toàn bộ các vé tàu khách đều được bán thôngqua các văn phòng du lịch

Ở Việt Nam, theo thống kê của cục thống kê du lịch, hiện nay cókhoảng trên 70 đơn vị hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế Có trên

100 đại lý du lịch và trên 85 doanh nghiệp kinh doanh khách du lịch nướcngoài làm vệ tinh cho các công ty lữ hành nước ngoài

Các đại lý du lịch, ngoài việc bán vé còn cung cấp nhiều dịch vụ khác,chẳng hạn đặt trước khách sạn, thuê xe, cố vấn cho khách trong việc lựa chọnnơi nghỉ mát, bán bảo hiểm du lịch, hướng dẫn về hộ chiếu và thị thực

Các sản phẩm từ hãng hàng không như vé máy bay, phòng ngủ củakhách sạn hay các tour trọn gói của các hãng đại lý lữ hành muốn bán chokhách, thường qua trung gian của các văn phòng du lịch đặc trách kinh tiêuhoặc các hợp tác xã đại lý, từ đó sản phẩm được phân phối về các đại lý con

để rồi bán cho khách hàng (kênh 2 cấp)

- Các công ty và văn phòng chuyên biệt khác

Các công ty chuyên biệt bao gồm văn phòng giao dịch, cơ quan chuyên

về du lịch của chính phủ

Văn phòng giao dịch

Văn phòng giao dịch là tổ chức bán sản phẩm cho một nhà cung ứngtrong một vùng nhất định Các văn phòng giao dịch thừa hưởng hoa hồng từcác nhà cung ứng từ khoảng 2 - 3 % về kết quả bán sản phẩm Ngoài khoảntiền này, các văn phòng giao dịch thường nhận thêm của các nhà cung ứngmột khoản tiền về quảng cáo hàng năm

Trang 34

Các văn phòng giao dịch thường bán, quảng cáo cho các sản phẩm bán

dễ chạy và có thể họ hoạt động quảng cáo, bán sản phẩm cho đối thủ cạnhtranh Khi sử dụng văn phòng giao dịch cần chú ý:

- Kiểm tra xem đó có phải là một cơ sở có uy tín hay không

- Kiểm tra những nỗ lực về tiếp thị của họ qua danh nghĩa của các nhàcung ứng trước đay mà họ phục vụ

- Bảo đảm rằng họ thông tin đầy đủ tin tức cho nhà cung ứng về những

nỗ lực tiếp thị mà họ đang tiến hành

Văn phòng marketing du lịch của chính phủ

Mỗi chính phủ thường có một phòng phụ trách về Marketing du lịch ởnước ngoài Văn phòng này thường khuyến khích việc du lịch và cung cấpnhững tin tức về du lịch của nước mình Văn phòng này thường cho phépnhững nhà cung ứng của nước mình như khách sạn, các công ty lữ hành kếthợp làm công tác Marketing

Văn phòng marketing của chính phủ phụ trách:

- Tổ chức những dịch vụ du lịch, hội chợ du lịch với sự cộng tác củanhững nhà cung ứng

- Hành động như một trung gian để phân phát các cẩm nang và nhữngtài liệu liên quan đến thông tin du lịch

- Đảm trách nhiệm vụ xúc tiến nhanh chóng việc cấp giấy phép xuấtnhập cảnh

+ Phân phối trong khách sạn

Khách sạn thường tổ chức hệ thống phân phối thông qua các bộ phận:

- Phân phối thông qua sản phẩm tour trọn gói

Các doanh nghiệp lữ hành, các đơn vị tổ chức tour thường có quan hệmật thiết với các khách sạn qua việc ký kết hợp đồng việc ký kết hợp đồngthuê phòng này có lợi cho cả đôi bên: các đơn vị tổ chức tour, khách sạn phânphối được phòng ngủ, đảm bảo được công suất phòng cao, tránh thất thu

Trang 35

doanh số vào những mùa ế ẩm Các đơn vị tổ chức tour cũng vậy, an tâm hơn

về số phòng mà khách sạn để dành cho khách vào những mùa đông khách

Để đảm bảo và chủ động hơn trong việc phân phối sản phẩm thông quatour trọn gói, ngày nay có những công ty, khách sạn lớn cũng tổ chức tour vàphân phối vé cho các hãng đại lý bán

- Phân phối qua đội ngũ bán trực tiếp

Những khách sạn lớn không những có đội ngũ bán sản phẩm như phòng

lễ tân, phòng đăng ký giữ chỗ phụ trách, mà còn có các phòng đại diện kháchsạn đặt tại cửa khẩu sân bay để hướng dẫn, bán sản phẩm trực tiếp cho khách

Trong khách sạn, đọi ngũ bán trực tiếp do nhân viên lễ tân phụ trách vànhân viên đăng ký giữ chỗ cho khách Giữa các nhân viên này có mối liên hệmật thiết với nhau trong việc bán phòng Họ cũng phối hợp chặt chẽ với các

bộ phận khác như bộ phận buồng để nắm bắt thực tế tình trạng phòng vàkhách để kịp thời điều chỉnh thông tin và theo sự chỉ đạo của cấp quản lý,nhân viên phụ trách marketing về việc dự báo phòng để bán sản phẩm quaviệc cho khách đăng ký giữ chỗ, nhằm tránh thất thu và tránh rủi ro trong việccho đăng ký vượt trội

- Phân phối qua hệ thống đặt phòng từ xa, thanh toán qua mạng

Qua mạng Internet, các khách sạn phân phối phòng qua hệ thống đặtphong từ xa Khách mua sản phẩm và thanh toán qua mạng mà không cầnphải tiếp xúc trực tiếp với nhân viên khách sạn

Việc phân phối này rất thuận lợi cho cả khách lẫn khách sạn tuy nhiên,

nó cũng có khuyết điểm về việc giới hạn thông tin

- Phân phối thông qua các đại lý vé, các khu vui chơi giải trí hoặc các bộ phận chuyên trách về du lịch đi lại trong các công ty, cơ quan

Các đại lý hoặc tổng đại lý vé là nơi giới thiệu, bán sản phẩm cho cáchãng máy bay, cho doanh nghiệp lữ hành và cho cả khách sạn Tại đây vừa lànơi hướng dẫn và bán phòng thông qua việc khách sạn phân phối để các đại

lý hưởng hoa hồng theo phần trăm về số vé, số phòng bán được

Trang 36

Ngoài các đại lý, khách sạn cũng thông qua các điểm vui chơi, giải tríhoặc các bộ phận chuyên trách về du lichk đi lại trong các công ty, cơ quan

để giới thiệu, bán sản phẩm của khách sạn mình Và các bộ phận này dĩ nhiêncũng được hưởng phần trăm hoa hồng

1.2.1.6 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch

+ Khái niệm.

Đa dạng hóa sản phẩm du lịch là quá trình phát triển, cải biến, sáng tạo ranhiều loại sản phẩm từ những sản phẩm truyền thống sẵn có, đồng thời cải biến

và kết hợp nhiều loại hình dịch vụ du lịch để tạo ra sản phẩm du lịch mới

Đây là một trong những phương thức căn bản để nâng cao sức cạnhtranh trên thị trường

+ Các loại đa dạng hóa sản phẩm

Đa dạng hóa được chia làm 3 loại:

• Đa dạng hóa đồng tâm

• Đa dạng hóa hàng dọc

• Đa dạng hóa hàng ngang

Đa dạng hóa đồng tâm là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới cóliên quan Sử dụng khi:

• Bổ sung sản phẩm dịch vụ mới có liên quan đến các sản phẩm đangkinh doanh sẽ nâng cao được doanh số bán của sản phẩm hiện tại

• Sản phẩm dịch vụ mới được bán với giá cạnh tranh hơn

• Sản phẩm mới có thể cân bằng sự lên xuống trong doanh thu củadoanh nghiệp

• Sản phẩm dịch vụ hiện tại của doanh nghiệp đang trong giai đoạnsuy thoái

• Khi doanh nghiệp có đội ngũ quản trị mạnh

Đa dạng hóa hàng ngang là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới cho

đối tượng khách hàng hiện tại của doanh nghiệp Sử dụng khi:

Trang 37

• Doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ hiện tại sẽ bị ảnh hưởng nếu bổsung các sản phẩm dịch vụ không liên quan

• Kinh doanh trong ngành có tính cạnh tranh cao, hoặc không tăng trưởng

• Các kênh phân phối hiện tại được sử dụng để tung sản phẩm mớicho các khách hàng hiện tại

• Sản phẩm dịch vụ mới có mô hình kinh doanh không theo chu kỳ sovới sản phẩm hiện tại

Đa dạng hóa hàng dọc là bổ sung thêm hoạt động kinh doanh mới không liên quan đến các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp.

Các trường hợp sử dụng:

• Xây dựng lợi thế cạnh tranh

• Khác biệt hóa so với đối thủ cạnh tranh

+ Điều kiện để đa dạng hoá sản phẩm du lịch:

• Đa dạng hóa sản phẩm phải gắn liền với chuyên môn hóa

• Đa dạng hóa sản phẩm dựa trên quan điểm hệ thống là phát triểntoàn diện các ngành trên cơ sở tập trung hóa và chuyên môn hóa kết hợp vớicông nghệ hiện đại và công nghệ truyền thống

Khuynh hướng phát triển của các doanh nghiệp đều hướng đến sản xuất

và kinh doanh đa sản phẩm như tài chính, bảo hiểm, du lịch Có những loạisản phẩm vào thời điểm này bán chạy, nhưng thời điểm khác thì nhu cầugiảm, vì vậy nếu có các sản phẩm khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp điều chỉnhthị trường, sẽ luôn đảm bảo việc làm cho người lao động và doanh số củadoanh nghiệp

1.2.2 Sự cần thiết phải đa dạng hoá sản phẩm du lịch

1.2.2.1 Xuất phát từ vai trò của ngành du lịch đối đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Một là, Ý nghĩa về mặt kinh tế của phát triển du lịch

+ Ý nghĩa về mặt kinh tế của phát triển du lịch nội địa

Trang 38

- Tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất

ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật …),làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội

- Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữacác vùng

- Du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khoẻ cho nhân dan laođộng và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Giúp cho việc

sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch quốc tế được hợp lý hơn

+ Ý nghĩa về mặt kinh tế của việc phát triển du lịch quốc tế chủ động

- Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thungoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

- Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất Thể hiện trướcnhất ở chỗ du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hoá côngnghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, nông lâm sản… theo giá bán lẻcao hơn (nếu bán qua xuất khẩu sẽ theo giá bán buôn) Được trao đổi thôngqua con đường du lịch, các hàng hoá này không phải chịu hàng rào thuế quanmậu dịch

- Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là ngành “xuấtkhẩu vô hình” hàng hoá du lịch Đó là cảnh quan thiên nhiên, khí hậu và ánhnắng mặt trời vùng nhiệt đới, những giá trị của những di tích lịch sử - vănhoá, tính độc đáo trong truyền thống phong tục, tập quán … mà không bị mất

đi qua mỗi lần bán thậm trí giá trị và uy tín của nó còn tăng lên qua mỗi lầnđưa ra thị trường nếu như chất lượng phục vụ du lịch cao

- Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Du lịch đemlại tỷ suất lợi nhuận cao vì vốn đầu tư ít mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh,

kỹ thuật không phức tạp, thu hút được nhiều lao động

- Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tếquốc tế

Trang 39

+ Các ý nghĩa khác về mặt kinh tế của việc phát triển hoạt động du lịch nói chung

- Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương phát triển du lịch

- Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo

Hai là, Ý nghĩa về mặt xã hội của việc phát triển du lịch đối với đất nước

- Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân Theonhư thống kê năm 2000 của Thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quantrọng Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây, du lịch tạo ra được một việclàm mới, đến nănm 2005 cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành dulịch Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên Thế giới hiện nay thu hútkhảong 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong cácdịch vụ bổ sung Số lao động trong dịch vụ bổ sung có thể tăng lên nhiều lầnnếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú về chủng loại.Theo dự báo của UN - WTO, năm 2010 ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

- Du lịch làm giảm quá trình đô thị hoá ở các nước kinh tế phát triển,

do việc khai thác và đưa vào sử dụng các tài nguyên thiên nhiên ở các vùngnúi xa xôi, vùng biển …thu hút người dân đi du lịch

- Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nướcchủ nhà

- Du lịch đánh thức các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của các dân tộc

- Du lịch làm tăng thêm sự hiểu biết chung về xã hội của người dânthông qua người ở địa phương khác, khách nước ngoài (về phong cách sống,thẩm mỹ, ngoại ngữ…)

- Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết củanhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau

Trang 40

1.2.2.2 Do yêu cầu phát triển du lịch thành ngành mũi nhọn của nền kinh tế

Với những tiềm năng được thiên nhiên ưu đãi, cộng với sự chủ độngvào cuộc, du lịch Việt Nam đang có nhiều cơ hội trở thành ngành kinh tế mũinhọn, nhất là khi Việt Nam lọt vào nhóm 20 điểm đến yêu thích theo khảo sátmới đây của Tạp chí du lịch Conde Nast Traveller

Việt Nam và những địa danh của Việt Nam trong nhiều năm gần đâyluôn được nhắc đến trong các cuộc bình chọn về du lịch trên Thế giới và khuvực như bình chọn điểm đến hấp dẫn, kỳ quan thiên nhiên của Thế giới,khách sạn được ưu chuộng nhất, resort đẹp nhất…

Để du lịch phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì hoạt độngquảng bá, xúc tiến du lịch cần được quan tâm đặc biệt để thực hiện mục tiêunày Cùng với việc tổ chức các hoạt động du lịch trong nước, tham gia các sựkiện du lịch ở nước ngoài, ngành Du lịch cần phải chủ động tăng cường hợptác với các kênh truyền hình trong và ngoài nước như VTV, CNN, BBC,Discovery ….để xây dựng nhiều chương trình quảng bá về đất nước, conngười Việt Nam

Cùng với việc quảng bá thì ngành du lịch cần phải có kế hoạch đầu tư ,nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, đa dạng hoá các sản phẩm du lịch… để kéodài thời gian lưu trú của khách du lịch quốc tế khi đến Việt Nam

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng ngành công nghiệp này cần phảituân thủ sự chỉ huy của một “nhạc trưởng” trong quản lý hành chính nhà nướcnhằm phát huy sưc mạnh của các doanh nghiệp, khai thác tiềm năng sẵn cómột các hợp lý để phát triển du lịch bền vững, thay vì tình trạng đầu tư thiếuquy hoạch, dàn trải, “mạnh ai nấy làm” như hiện nay

Để phát triển ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, giaiđoạn từ nay đến 2010 phải được coi là thời kỳ đột phá quan trọng của du lịch

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ, tăng cường hội nhập kinh tếquốc tế Ngành Du lịch phấn đấu năm 2010 đón 5,5 - 6 triệu lượt khách quốc

Ngày đăng: 11/09/2014, 04:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2006), Thời cơ và thánh thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương maị Thế giới WTO, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời cơ và thánh thức khiViệt Nam gia nhập Tổ chức Thương maị Thế giới WTO
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Laođộng - Xã hội
Năm: 2006
2. Michael M.Coltman (1991), Tiếp thị du lịch, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp thị du lịch
Tác giả: Michael M.Coltman
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 1991
3. Chính phủ (2007), Nghị định số 39/NĐ- CP ngày 01/6/2007, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 39/NĐ- CP ngày 01/6/2007, Quy định chitiết thi hành một số điều của Luật Du lịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
4. Cục thống kê thành phố Hà Nội (2008), Niên giám thống kê Hà Nội 2007, Công ty TNHH In Khuyến học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Hà Nội 2007
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hà Nội
Năm: 2008
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
7. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (chủ biên) (2008), Giáo trình Kinh tế Du lịch, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinhtế Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên) (1995), Tâm lý và nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý và nghệthuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1995
9. Phạm Xuân Hậu (2001), Quản trị chất lượng dịch vụ khách sạn - du lịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chất lượng dịch vụ khách sạn - du lịch
Tác giả: Phạm Xuân Hậu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Trần Ngọc Nam, Hoàng Anh (2009), Cẩm nang nghiệp vụ tiếp thị Du lịch và quy định pháp luật mới về kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn, Nhà xuất bản lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiệp vụ tiếp thị Du lịchvà quy định pháp luật mới về kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn
Tác giả: Trần Ngọc Nam, Hoàng Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
Năm: 2009
11.Trần Nhạn (1996), Du lịch và kinh doanh du lịch, Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và kinh doanh du lịch
Tác giả: Trần Nhạn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin
Năm: 1996
12. Quốc Hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (2005), Luật Du lịch, số 44/2005/QH11, ngày 16 tháng 6 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
Tác giả: Quốc Hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Năm: 2005
13. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội (2008), Báo cáo Tổng kết hoạt động Du lịch Hà Nội năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ năm 2009, tháng 12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết hoạtđộng Du lịch Hà Nội năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ năm 2009
Tác giả: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội
Năm: 2008
15. Thành ủy Hà Nội (2006), Chương trình 07/Ctr -TU về Phát triển một số ngành dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010, ngày 04/8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình 07/Ctr -TU về Phát triển một sốngành dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Thành ủy Hà Nội
Năm: 2006
18. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1999), Pháp lệnh du lịch ngày 08/02/1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh du lịch ngày 08/02/1999
Tác giả: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 1999
14. Tạp chí Du lịch các năm 2008 và 2009, Nhà xuất bàn Thế giới Khác
17. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002, phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001- 2010 Khác
21. www.mangdulich.com 22. www.hanoitourist.gov.vn 23. www.vietnamtourism.com 24. www.webdulich.com Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Hệ thống phân phối trong du lịch theo S. Wahab, Crampon và Rothfield - đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sơ đồ 1.1 Hệ thống phân phối trong du lịch theo S. Wahab, Crampon và Rothfield (Trang 30)
Sơ đồ 1.2: Các kênh phân phối - đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sơ đồ 1.2 Các kênh phân phối (Trang 31)
Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch đến thủ đô và doanh thu hàng năm Chỉ tiêu Đ.vị 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 I - đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.1 Số lượng khách du lịch đến thủ đô và doanh thu hàng năm Chỉ tiêu Đ.vị 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 I (Trang 57)
Bảng 2.2 : Số lao động và thu nhập bình quân đầu người của du lịch Hà Nội - đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.2 Số lao động và thu nhập bình quân đầu người của du lịch Hà Nội (Trang 58)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 của Du lịch Hà Nội - đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 của Du lịch Hà Nội (Trang 83)
Bảng 3.3: Đánh giá về năng lực chuyên môn của đội ngũ hướng dẫn viên Du lịch Hà Nội - đa dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.3 Đánh giá về năng lực chuyên môn của đội ngũ hướng dẫn viên Du lịch Hà Nội (Trang 97)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w