Khái niệm về kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độclập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính
Trang 1Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu
khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 2NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Ký hiệu và chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 4Biểu 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt nam chi nhánh Tiên Sơn từ năm 2007 đến năm2010 Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Theo quan điểm trước đây, kiểm toán nội bộ (KTNB) chịu trách nhiệmkiểm toán báo cáo tài chính và tập trung vào công tác kiểm tra kế toán, thôngtin tài chính của công ty Tuy nhiên, vai trò của KTNB hiện đại được mởrộng, bao gồm công tác kiểm toán tính hiệu quả và tính tuân thủ của mọi hoạtđộng cũng như tư vấn hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanhnghiệp Là người “bảo vệ giá trị cho doanh nghiệp”, KTNB giữ vai trò “quansát viên độc lập” nhằm đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy địnhpháp luật quốc gia, đạo đức kinh doanh và quy chế công ty KTNB là người
“giám sát, bảo trợ, nâng cấp hệ thống kiểm soát nội bộ” trong vai trò đảm bảohiệu quả kinh doanh và xây dựng các thủ tục kiểm soát cần thiết Là công cụgiúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý doanh nghiệp,KTNB đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích Nhờ đó Ban giám đốc vàhội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn mọi khiquy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt qúa tầm kiểm soát của họ.Thực tiễn trên thế giới cho thấy, trong các công ty có bộ phận KTNB, thườngkhả năng gian lận thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn Và do vậy,kiểm toán viên nội bộ (KTVNB) phải làm nhiệm vụ của nhà tư vấn kiểm soát
và kiểm toán hoạt động; kiểm toán tuân thủ pháp luật, nội quy và chính sáchđiều hành; kiểm tra kế toán và tài chính
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt, hoạtđộng có tính nhạy cảm cao, chứa đựng nhiều rủi ro Rủi ro hoạt động kinhdoanh ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng như thua lỗ,phá sản mà còn gây tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội
Trang 6Nước ta khi nền kinh tế đang chuyển đổi sang cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, hệ thống ngân hàng đã
có những bước phát triển đáng kể, đã và đang trở thành khâu then chốt trong
hệ thống kinh tế Việt Nam Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, còn không
ít những hạn chế, nhất là hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Cũng như hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam, công tác kiểmtoán nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) công thương ViệtNam chi nhánh Tiên Sơn còn nhiều khiếm khuyết do vai trò, chức năng, tráchnhiệm chưa rỏ ràng và cũng thiếu công cụ để thực hiện công tác giám sát Do
đó, việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn” sẽ giúp cho Ngân
hàng hoạt động an toàn, có hiệu quả, có kỷ cương kỷ luật, góp phần quantrọng vào sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượngkiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại mà chủ yếu là nội dung, chuẩnmực, qui trình, phương pháp kiểm toán, kiểm toán viên, tổ chức kiểm toán
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu những nội dung trên tạiNgân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn, nhưng nhữngkết quả cũng có thể vận dụng được cho kiểm toán nội bộ của các ngân hàngkhác, cho các loại kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nước
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửđồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp so sánh tổng hợp, phân tích vàtiếp cận với mô phỏng thực tế
5 Tên và kết cấu của luận văn:
- Tên luận văn: “ Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn”
- Kết cấu luận văn gồm:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về chất lượng kiểm toán nội bộ
trong ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm toán
nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn
Kết luận
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng của kiểm toán nội bộ
1.1.1.1 Khái niệm về kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độclập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập
về tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục quy trình đó đượcthiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua đó đơn vị thực hiện kiểm toán nội
bộ đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt độngcủa các hệ thống, các quy trình, quy định, gúp phần đảm bảo tổ chức tín dụnghoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật
Với nội dung như vậy, Uỷ ban Basel đã đưa ra định nghĩa về KTNB nhưsau: “KTNB là hoạt động độc lập, khách quan; là hoạt động tư vấn được tổchức thực hiện nhằm tăng thêm giá trị và cải thiện hoạt động của doanhnghiệp KTNB giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình bằng cách
tổ chức kiểm tra có tính hệ thống và chặt chẽ nhằm đánh giá và nâng cao hiệuquả của các hoạt động quản trị rủi ro, kiểm soát và quản trị tổ chức”
Trong các chuẩn mực hành nghề KTNB có định nghĩa: “ KTNB là mộtchức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét
và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đốivới tổ chức đó”
Tháng 6/1999, Hội đồng quản trị Viện KTNB đã thông qua định nghĩanhư sau về KTNB: “ KTNB là hoạt động đảm bảo và tư vấn một cách độc lậpkhách quan; Được thiết kế nhằm tăng giá trị và tăng cường hoạt động của một
Trang 9tổ chức Nó cho phép tổ chức đạt được các mục tiêu của mình bằng cách tiếpcận có kỷ luật và hệ thống nhằm đánh giá và tăng cường hiệu lực của các quytrình quản trị, điều hành, kiểm soát và quản lý rủi ro”.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 610 ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chínhthì: “KTNB là một bộ phận trong hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn
vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ củapháp luật và các quy định của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ của đơn vị đó.”
1.1.1.2 Bản chất của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là công cụ của lãnh đạo để thực hiện chức năng giámsát nội bộ của ngân hàng KTNB thực hiện nhiệm vụ đánh giá tính hiệu lực,tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng KTNBcung cấp một sự đánh giá độc lập, khách quan về tính đầy đủ, tính tuân thủ,tính chính xác đối với việc thực hiện chiến lược, các chính sách, các quy trình
và các quyết định điều hành đã được ban hành Từ đó KTNB đề xuất các kiếnnghị, các giải pháp để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soátnội bộ của ngân hàng cũng như nâng cao tính an toàn, lành mạnh và hiệu quảtrong điều hành hoạt động kinh doanh ngân hàng
KTNB là một chức năng quản lý được thiết lập, là bộ phận cấu thành của
hệ thống giám sát nội bộ của ngân hàng Các phát hiện hoặc kết luận củaKTNB được báo cáo trực tiếp lên Hội đồng quản trị và Ban điều hành Hoạtđộng của KTNB mang tính độc lập, khách quan có nghĩa là KTNB khôngtham gia vào bất kỳ một quy trình nào thuộc hệ điều hành của ngân hàngthương mại và không chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của các bộ phậnđiều hành, bộ phận hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng Về tổ chức, ngườithực thi kiểm toán phải là người độc lập về quan hệ tình cảm và kinh tế với
Trang 10lãnh đạo đơn vị và cơ sở được kiểm toán Có thể nói rằng tất cả các hoạtđộng các bộ phận và các quy trình của ngân hàng đều thuộc phạm vi xem xétcủa KTNB.
Như vậy, cách hiểu KTNB đúng nhất có thể thừa nhận rằng đó là loại hình kiểm soát có tổ chức mà chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của những kiểm soát khác, trên cơ sở đó thực hiện chức năng tư vấn cho các
bộ phận nghiệp vụ.
1.1.1.3 Chức năng của kiểm toán nội bộ
Kiểm tra, rà soát, đánh giá mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của
hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ, nhằm cải tiến và hoàn thiện hệ thốngkiểm tra, kiểm soát nội bộ Nhằm thực hiện mục tiêu này, đơn vị thực hiệnkiểm toán nội bộ được khuyến khích thực hiện hoạt động tư vấn, tham gia vàoqui trình xây dựng, cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộvới điều kiện không được vi phạm nguyên tắc độc lập, khách quan
Chức năng xác minh (kiểm tra và xác nhận) chứng thực Báo cáo tàichính hay được thể hiện dưới dạng báo cáo kiểm toán Chức năng này hướng
về quá khứ, nó kiểm tra và đánh giá mức độ trung thực, sự tuân thủ các chuẩnmực kiểm toán của Báo cáo tài chính, và năng lực tài chính của đơn vị đượckiểm toán
Chức năng tư vấn (trình bày ý kiến) đáp ứng được các yêu cầu của cácnhà quản lý và từ thực tiễn xã hội Chức năng này nhìn nhận, định hướng chomột tương lai đúng đắn Khi xã hội càng phát triển thì người ta càng coi trọngchức năng này
1.1.2 Sự cần thiết khách quan của kiểm toán nội bộ
Nếu như kiểm toán độc lập đầu có mặt ở Việt Nam được hơn 10 năm thìcho đến nay, khái niệm KTNB vẫn còn xa lạ với nhiều nhà quản lý Tuy nhiênyêu cầu hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), sự phát triển nhanh
Trang 11chóng của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một sốdoanh nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của KTNB ởdoanh nghiệp.
Trên thế giới, kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng chỉ phát triển từsau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Wordcom và Enron (Mỹ) những năm
2000 – 2001 và đặc biệt khi luật Sarbanes – Oxley của Mỹ ra đời năm 2002.Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phảibáo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty
Trong khi hoạt động của kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báocáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của KTNB không bịgiới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong ngân hàng Mục đích của KTNB là phục
vụ cho công tác quản lý ngân hàng, chứ không phải cho đối tác bên ngoài.KTNB không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giácác rủi ro cả trong và ngoài ngân hàng
Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho ngân hàng rất nhiều lợi ích Đây làcông cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý củangân hàng Thông qua công cụ này, Ban giám đốc và Hội đồng quản trị có thểkiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, tăng khả năng đạt các mụctiêu kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, thông tin tài chính của doanh nghiệp cầncho nhiều người và được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho cácquyết định kinh tế Để nâng cao chất lượng và độ tin cậy của thông tin tàichính đòi hỏi phải có KTNB để dánh giá đúng tình hình hoạt động của đơn
vị Luật pháp yêu cầu và để yên lòng cho nhà đầu tư thì các báo cáo tài chínhphải được kiểm toán và chỉ có những thông tin kinh tế đã được kiểm toán mới
là căn cứ tin cậy cho việc đề ra các quyết định hiệu quả hợp lý
Trang 12Từ những lý do đó, kiểm toán đã và đang là một ngành nghề không thểthiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước Sự phát triển của hoạt động kiểm toán sẽ tăng cường hiệu quảcủa công tác quản lý kinh tế trong từng đơn vị cũng như trong toàn xã hội,đồng thời góp phần vào sự nghiệp đổi mới hệ thống công cụ quản lý, cải cáchnền hành chính Quốc gia.
1.1.3 Các hình thức KTNB
Các hình thức kiểm toán nội bộ có thể các đơn vị đang thực hiện: Kiểmtoán toàn diện và kiểm toán trọng điểm; Kiểm toán thường xuyên và kiểmtoán định kỳ; Kiểm toán trước( tiền kiểm ) và kiểm toán sau ( hậu kiểm).Kiểm toán toàn diện là việc kiểm tra nhằm đánh giá một cách kháchquan và có tính xây dựng trong phạm vi: Các nguồn tài lực, nhân lực và vậtlực được quản lý có quan tâm đến tính kinh tế, tính hiệu quả và sự hữu hiệu ;
và mối quan hệ về trách nhiệm giải trình phải được tách biệt rõ ràng
Kiểm toán trọng điểm là kiểm toán có xem xét đến các yếu tố trọng yếutrong một cuộc kiểm toán hoặc các đơn vị được xem là trọng điểm
Kiểm toán thường xuyên có thể theo tháng, quý
Kiểm toán định kỳ có thể theo năm
Tiền kiểm và Hậu kiểm nhằm tiết kiệm ngân sách Đặc biệt hậu kiểmnhằm giảm bớt thời gian và chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình muabán, xuất nhập khẩu
1.1.4 Nội dung của kiểm toán nội bộ
1.1.4.1 Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm để xem xét và đánh giá vềtính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán
- Tính kinh tế là xem xét, đánh giá công việc đạt được mục tiêu đề ra vớichi phí nhỏ nhất
Trang 13- Tính hiệu lực là khả năng về mức độ hoàn thành các nhiệm vụ và mụctiêu đã xác định của đơn vị.
-Tính hiệu quả là việc đạt được kết quả cao nhất với một lượng nguồnlực nhất định, hay đây còn gọi là nguyên tắc tối đa
Đây là hoạt động kiểm toán mà chủ thể kiểm toán hướng tới việc kiểmtra, đánh giá tính hiệu quả, tính kinh tế, tính hiệu lực trong qúa trình quản lý
và sử dụng các nguồn lực kinh tế cho một hay toàn bộ hoạt động kinh doanhcủa đơn vị được kiểm toán Đối tượng của kiểm toán hoạt động rất phongphú và đa dạng, từ việc đánh giá toàn bộ hoạt động của đơn vị, một phương
án kinh doanh, một quy trình công nghệ, một loại tài sản hay thiết bị mới đưavào hoạt động đến các việc luân chuyển chứng từ trong một đơn vị Nhu vậykiểm toán hoạt động không chỉ dừng lại ở các nghiệp vụ tài chính mà có thểthực hiện trong cả lĩnh vực phi tài chính Vì thế, khó có thể đưa ra mọt khuônmẫu cho kiểm toán hoạt động Mặt khác, tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệuquả của một quá trình hoạt động rất khó được đánh giá một cách khách quan,đặc biệt là đối với hoạt động của một cơ quan Chính phủ, đơn vị sự nghiệp, tổchức xã hội nghề nghiệp Do đó, việc xây dựng các chuẩn mực để đánh giácác thông tin trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một việc mang nặng tínhchủ quan
Nội dung kiểm toán hoạt động trong ngân hàng thường được xác địnhbao gồm: Kiểm tra việc huy động, phân phối, sử dụng một cách tiết kiệm và
có hiệu quả các nguồn lực ngân hàng trong hoạt động kinh doanh; Kiểm tratính hiệu quả của hoạt động kinh doanh liên quan đến phân phối, sử dụng thunhập, bảo toàn và phát triển vốn trong ngân hàng; Kiểm tra và đánh giá tínhhiệu quả hoạt động của các bộ phận chức năng trong việc thực hiện các mụctiêu kinh doanh của ngân hàng; Thực tế, việc đánh giá tính hiệu quả, tính kinh
tế, tính hiệu lực các hoạt động kinh doanh ngân hàng là vấn đề hết sức khókhăn và phức tạp
Trang 141.1.4.2 Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là loại kiểm toán nhằm để xem xét đơn vị được kiểmtoán có tuân thủ các quy định mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc cơquan chức năng của nhà nước hoặc cơ quan chuyên môn đề ra hay không.Đối tượng của kiểm toán tuân thủ khá linh hoạt Đó có thể là việc tuânthủ các quy tắc do các cơ quan Nhà nước cấp trên đề ra, như việc kiểm trađánh giá về việc tuân thủ các quy định về thuế giá trị gia tăng, các quy định
về bảo vệ môi trường, bảo vệ người lao động hoặc còn là việc tuân thủ cácquy định do cơ quan chuyên môn để ra như tuân thủ các quy trình và thủ tụcgiải ngân của Kho bạc Nhà nước, việc tuân thủ các điều kiện và thủ tục vayvốn của ngân hàng
Kiểm toán này được thực hiện để phục vụ cho nhu cầu của bản thân cácđơn vị, hoặc nhu cầu của cơ quan quản lý cấp trên Trường hợp việc kiểmtoán do một khách hàng, không phải đơn vị được kiểm toán có nhu cầu, nhưviệc kiểm tra tính tuân thủ các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp ở mộtđơn vị do cơ quan thuế thuê, thì kết quả kiểm toán sẽ được báo cáo cho cơquan có nhu cầu thuê mướn kiểm toán
Kiểm toán tuân thủ có thể được thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ,kiểm toán viên độc lập, hay kiểm toán viên nhà nước Kết quả kiểm toán tuânthủ dùng để phục vụ cho các cấp có thẩm quyền liên quan
1.1.4.3 Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận
về tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính cũng như xem xét báo cáo tàichính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và yêu cầu của luậtpháp hay không Đây là loại hình kiểm toán xuất hiện sớm và khá phổ biến.Hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện bởi đối tượng làbáo cao tài chính và báo cáo quản trị Khi thực hiện kiểm toán, nội dung cơ
Trang 15bản bao gồm: Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan và tin cậycủa các báo cáo tài chính trước khi ký duyệt và công bố; Kiểm tra và đánh giácác báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị và đưa ra những kiến nghị và tưvấn cần thiết cho hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo sự hợp lý, hiệu quả.
1.1.5 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Lập kế hoạch KTNB hàng năm và thực hiện các hoạt động KTNB theo
kế hoạch, các chính sách, quy trình và thủ tục KTNB đã được phê duyệt, đảmbảo chất lượng và hiệu quả
Thực hiện kiểm toán việc huy động, khai thác, phân phối và sử dụng tối
ưu các nguồn lực trong đơn vị
Thực hiện kiểm toán tình hình thực hiện các mục tiêu và chỉ tiêu kinh tế
do ban lãnh đạo đơn vị đặt ra
Thực hiện kiểm toán việc chấp hành chính sách, chế độ và những quiđịnh của đơn vị
Thực hiện kiểm toán chất lượng thực thi nhiệm vụ được giao
Thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Góp ý hoàn thiện cho các bộ phận được kiểm toán
Kiểm tra, rà soát , đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với đơn vị(cơ chế, chính sách, thủ tục, quy trình hoặc các vấn đề trong hoạt động) dựa trênmức độ rủi ro (cao, trung bình hoặc thấp) và mức độ ảnh hưởng đến hoạt độngcủa đơn vị Đối với những vấn đề có ảnh hưởng xấu, KTNB cần thông báo kịpthời và đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm ngăn ngừa, khắc phục nhữngsai sót; Kiến nghị xử lý những vi phạm; Đề xuất các biện pháp hoàn thiện , nângcao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Lập báo cáo kiểm toán: Thông báo và đệ trình kịp thời các kết quả kiểmtoán nội bộ cho các bên hữu quan theo đúng chính sách, quy định và quy địnhcủa pháp luật
Trang 16Phát triển, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện phương pháp KTNB và phạm
vi hoạt động của KTNB
Thực hiện quy trình đảm bảo chất lượng công tác KTNB
Thiết lập hồ sơ về trình độ, năng lực để làm cơ sở tuyển dụng, đề bạt,luân chuyển cán bộ Lập kế hoạch và tổ chức đào tạo nhằm nâng cao và bảođảm năng lực chuyên môn cho kiểm toán viên nội bộ
1.1.6 Quy trình, phương pháp KTNB
1.1.6.1 Quy trình KTNB
Quy trình KTNB quy định các quy trình và hướng dẫn chi tiết vềphương thức đánh giá rủi ro, lập kế hoạch KTNB hàng năm, kế hoạch từngcuộc kiểm toán, cách thực hiện công việc kiểm toán, lập và gửi báo cáokiểm toán, lưu giữ hồ sơ, tài liệu KTNB Quy trình được quy định áp dụngthống nhất cho các cuộc kiểm toán, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quảcủa các cuộc kiểm toán
Quy trình kiểm toán nội bộ thông thường bao gồm 4 bước:
- Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán nội bộ
- Bước 2: Thực hiện kiểm toán nội bộ
- Bước 3: Kết thúc kiểm toán nội bộ
- Bước 4: Theo dõi việc thực hiện ý kiến đề xuất của kiểm toán nội bộđối với bộ phận được kiểm toán nội bộ
1.1.6.2 Phương pháp KTNB
Phương pháp kiểm toán định hướng theo mức độ rủi ro, ưu tiên tập trungnguồn lực để tiết kiểm toán các đơn vị, bộ phận, quy trình được đánh giá cómức độ rủi ro cao
KTNB phải xác định, phân tích, đánh giá những rủi ro và xây dựng hồ
sơ rủi ro cho từng hoạt động của ngân hàng Hồ sơ rủi ro bao gồm toàn bộ cácrủi ro tiềm tàng, tác động có thể có của các rủi ro đó đối với hoạt động của
Trang 17ngân hàng và khả năng có thể xảy ra của các rủi ro đó Dựa trên đánh giá vềtác động, khả năng xảy ra các rủi ro, từng rủi ro được phân loại thành rủi rocao, trung bình hoặc thấp Việc đánh giá, phân loại rủi ro phải được thực hiện
Kết quả KTNB phải được xây dựng dựa trên kết quả đánh giá rủi ro vàphải được cập nhật, thay đổi, điều chỉnh phù hợp với các diễn biến, thay đổitrong hoạt động của ngân hàng và sự thay đổi của các rủi ro đi kèm theo.Với mỗi loại kiểm toán nội bộ khác nhau thì phương pháp kiểm toáncũng khác nhau:
- Đối với kiểm toán tuân thủ: Phương pháp kiểm toán thường sử dụng làcác phương pháp kiểm tra, quan sát, phân tích, so sánh, đối chiếu, phỏng vấn,thẩm tra, xác nhận
- Đối với kiểm toán hoạt động: Thường sử dụng các phương pháp: Kiểmtra, đối chiếu, phân tích, so sánh, phỏng vấn, qui nạp, sử dụng ý kiến của cácchuyên gia, tái lập mô hình, nghiên cứu các trường hợp điển hình
- Đối với kiểm toán báo cáo tài chính: Thường sử dụng các phươngpháp: Kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ cùng với các kỹthuật kiểm toán cụ thể khác nhau trong quá trình kiểm toán
1.2 CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.2.1 Khái niệm
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 220 kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán thì " Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn
Trang 18của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thỏa mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian định trước với giá phí hợp lý"
Chất lượng kiểm toán nói chung là một chỉ tiêu tổng hợp, phụ thuộc vàchịu tác động của nhiều yếu tố Chất lượng kiểm toán là một chỉ tiêu phứctạp, khó đo lường, định lượng Đồng thời việc đánh giá chất lượng kiểm toáncòn phụ thuộc vào sự nhìn nhận và đánh giá của các bên khác nhau như từ nội
bộ đơn vị (Hội đồng quản trị hay Ban điều hành) hay được nhìn nhận từ các
tổ chức kiểm toán bên ngoài như kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước
* Đối với nội bộ ngân hàng: Chất lượng hoạt động kiểm toán của KTNB
phụ thuộc vào sự đánh giá của Hội đồng quản trị và của Ban Tổng giám đốc.Khi KTNB thực hiện được những yêu cầu quản lý và quản trị của các nhàlãnh đạo ngân hàng với mức chi phí hợp lý cũng có thể đánh giá hoạt độngcủa KTNB đạt chất lượng, cụ thể:
- Đảm bảo các bộ phận nghiệp vụ trong ngân hàng thực hiện đúng cácquy định của pháp luật;
- Đảm bảo thực hiện đúng các quy định, quy chế nội bộ;
- Hoạt động của ngân hàng đảm bảo an toàn và sử dụng hiệu quả cácnguồn lực;
- Kiểm tra báo cáo tài chính trung thực và đáng tin cậy phục vụ cho côngtác lãnh đạo, điều hành của Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc;
- Đưa ra được những kiến nghị với Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc
về hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả và hiệulực của hệ thống này trong ngân hàng
Trang 19* Đối với tổ chức kiểm toán độc lập:
KTNB là một nhân tố cơ bản trong môi trường kiểm soát, KTNB cungcấp một sự giám sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn
vị, trong đó có cả hệ thống kiểm soát nội bộ Bộ phận KTNB hữu hiệu sẽ giúpđơn vị có được những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động nóichung, chất lượng công tác kiểm soát nói riêng để điều chỉnh, bổ sung các quychế kiểm soát thích hợp và có hiệu lực hơn Vì vậy KTNB được đánh giá chấtlượng thông qua các thông tin sau:
- Đảm bảo tính độc lập của KTNB thông qua các tiêu thức như có trựcthuộc cấp lãnh đạo cao nhất của đơn vị không, có bị giới hạn phạm vi hoạtđộng không, đảm bảo quyền hạn về truy cập thông tin và hoạt động đối vớicác hoạt động tác nghiệp của các bộ phận khác trong đơn vị không, có đượcbáo cáo trực tuyến lên cấp lãnh đạo cao nhất không và có được cấp lãnh đạotiếp nhận thông tin báo cáo đầy đủ và kịp thời không; kiểm toán viên nội bộphải độc lập với những hoạt động mà họ kiểm toán;
- Nhân viên KTNB có đạo đức, trung thực, khách quan trong công việckhông, có đủ trình độ chuyên môn, năng lực khả năng có đáp ứng được nhiệm
vụ hay không;
- Hoạt động KTNB có tuân thủ các quy trình, phương pháp và chuẩnmực không Có thực hiện phân tích, đánh giá rủi ro và trọng yếu để xác địnhphạm vi và quy mô thực hiện kiểm toán không
* Đối với kiểm toán nhà nước
Hoạt động kiểm toán đa dạng, phức tạp và mang tính chất đặc thù riêngtrong từng cuộc kiểm toán Do vậy, những tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá chấtlượng kiểm toán cho đến nay có phần mang tính chất định tính Theo quanđiểm đó thì chất lượng kiểm toán là mức độ đạt được có tiêu chuẩn chung đã
đề ra Đối với một cuộc kiểm toán được coi là có chất lượng khi nó được thựchiện trên cơ sở bảo đảm tốt các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Trang 20- Xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán đầy đủ, phù hợp, xácđịnh rõ được mục tiêu kiểm toán, nội dung kiểm toán, phạm vi kiểm toán,mức độ trọng yếu, rủi ro kiểm toán và phương pháp kiểm toán.
- Tuân thủ kế hoạch kiểm toán, các quy định chuyên môn nghiệp vụchuẩn mực, quy trình kiểm toán, các quy định nghiệp vụ khác và pháp luật cóliên quan
- Thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ
sở cho việc hình thành các ý kiến, kết luận kiểm toán
- Báo cáo kiểm toán phù hợp với chuẩn mực và các quy định về báo cáokiểm toán do đơn vị có tổ chức kiểm toán ban hành; phản ánh đầy đủ tìnhhình, kết quả kiểm toán và các mục tiêu kiểm toán đã đề ra; những sai sót,gian lận, những tồn tại trong quản lý trình bày trong báo cáo đã được xem xét,giải quyết thoả đáng; các ý kiến nhận xét, đánh giá, kêt luận kiểm toán đượccăn cứ vào những bằng chứng kiểm toán đầy đủ, xác thực và tin cây, phù hợpvới pháp luật hiện hành
- Phân bổ quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kiểm toán
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng KTNB
1.2.2.1 Các chỉ tiêu trực tiếp
Thứ nhất: Tính độc lập của KTNB
Hoạt động của kiểm toán là hoạt động mang tính chất độc lập Tính độclập trong kiểm toán được hiểu là KTNB phải độc lập với các bộ phận tácnghiệp khác trong ngân hàng và được bảo vệ loại trừ các ảnh hưởng từ bênngoài trong quá trình thực hiện kiểm toán Bộ phận KTNB và kiểm toán viênnội bộ chỉ tuân thủ pháp luật, các chuẩn mực nghiệp vụ chuyên môn, có quanđiểm vô tư khách quan khi thực hiện kiểm toán, đánh giá các kết quả và công
bố báo cáo kiểm toán Nếu không có tính độc lập thì kết quả kiểm toán khôngtin cậy, chức năng kiểm toán không được thực thi trong đời sống xã hội Do
Trang 21vậy, tính độc lập ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm toán, là tiền đề cơbản đảm bảo cho hoạt động kiểm toán có hiệu lực và hiệu quả Để kết quảkiểm toán đảm bảo khách quan, sát thực, thì tính độc lập của bộ phận KTNB
và kiểm toán viên nội bộ phải được đảm bảo, kiểm toán viên nội bộ phải có
đủ quyền hạn thực thi công việc chỉ tuân thủ theo pháp luật và các quy địnhchuyên môn nghiệp vụ
Tính độc lập của KTNB càng cao, độ tin cậy về các kết quả kiểm toáncàng lớn, đồng thời tính độc lập nhằm đảm bảo cho KTNB có đủ quyền hạntheo pháp luật quy định và có chế độ đãi ngộ thoả đáng từ Hội đồng quản trị
Thứ hai: Tính chuyên nghiệp của hoạt động kiểm toán
Mức độ chuyên nghiệp của hoạt động KTNB được phản ánh qua cáchthức tổ chức bộ máy KTNB, số lượng và chất lượng kiểm toán viên, cụ thể:Mạng lưới tổ chức: Căn cứ vào quy mô hoạt động, mạng lưới của ngânhàng, Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc phải thiết lập và xây dựng bộmáy KTNB tương xứng với quy mô hoạt động kinh doanh của chính ngânhàng mình
- Số lượng và chất lượng kiểm toán viên nội bộ:
+ Số lượng kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo đủ lực lượng để thựchiện nhiệm vụ thường xuyên, liên tục
+ Nhân viên làm việc trong bộ phận KTNB cần phải có: Tuân thủ đạođức nghề nghiệp, tính trung thực, có ý thức chấp hành pháp luật và nhìn nhậnkhách quan; có bằng cấp về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực được phâncông và luôn được cập nhật kiến thức Có kiến thức, hiểu biết chung về phápluật, về quản trị và các nghiệp vụ ngân hàng; kiến thức, kỹ năng và kinhnghiệm về kiểm toán; trau dồi trình độ nghiệp vụ thông qua việc học tậpkhông ngừng; khả năng thu thập, phân tích, đánh giá và tổng hợp thông tin,phải thận trọng nghề nghiệp đúng mực khi thực hiện kiểm toán; khả năng giao
Trang 22tiếp bao gồm cả khả năng nói và viết; phải khéo ứng xử tiếp xúc với mọingười và trao đổi thông tin có hiệu quả.
Thứ ba: Tính chuẩn tắc:
Hoạt động của KTNB phải tuân thủ các chuẩn mực đã được thừa nhận,thực hiện theo quy trình và phương pháp kiểm toán đã ban hành Khả năngtuân thủ các chuẩn mực kiểm toán và quy trình kiểm toán Mặt khác, phươngpháp kiểm toán của KTNB đang sử dụng cũng là thước đo đánh giá chấtlượng KTNB của ngân hàng thương mại
Thứ tư: Tính đầy đủ của chương trình KTNB
Mức độ đầy đủ của chương trình KTNB như: Quy mô và tần suất kiểmtoán; những tài liệu lưu trữ; nội dung của chương trình kiểm toán; các hìnhthức kiểm toán đang thực hiện
Thứ năm: Tính hiệu quả
Mức độ hiệu quả của KTNB, thể hiện bằng chi phí kiểm toán thấp nhất
có thể trong việc duy trì hoạt động KTNB thường xuyên, toàn diện và kháchquan toàn bộ hoạt động của ngân hàng
Các chỉ tiêu được các kiểm toán viên của kiểm toán độc lập, kiểm toánnhà nước đánh giá khách quan, từ đó rút ra những nhận xét chính xác về chấtlượng KTNB
1.2.2.2 Các chỉ tiêu gián tiếp
Bên cạnh các chỉ tiêu trực tiếp, chất lượng KTNB của ngân hàng thươngmại còn được phản ánh qua các chỉ tiêu gián tiếp, thông qua các chỉ tiêu phảnánh chất lượng hoạt động chính ngân hàng thương mại như mức độ tuân thủpháp luật của nhà nước, mức độ tăng trưởng về nguồn vốn và tín dụng, chấtlượng tín dụng, mức độ trích lập dự phòng rủi ro, hiệu quả hoạt động củangân hàng Chính hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân tủ vàkiểm toán hoạt động của KTNB đã góp phần quan trọng làm báo cáo tài chính
Trang 23của ngân hàng đúng chuẩn mực, phản ánh khách quan chính xác tình hìnhhoạt động của ngân hàng, giúp ngân hàng tránh được vi phạm pháp luật vàcác chế độ tài chính của nhà nước và nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt độngcủa ngân hàng.
Hoạt động KTNB có chất lượng sẽ góp phần tích cực cho hoạt độngkinh doanh của ngân hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả, do vậy có thể giántiếp đánh giá chất lượng hoạt động KTNB thông qua các chỉ tiêu gián tiếpnhư chất lượng và hiệu quả của hoạt động kinh doanh
Thứ nhất: Các chỉ tiêu tăng trưởng về vốn Trên cơ sở các chính sách,
công nghệ, tính chuyên nghiệp của ngân hàng và uy tín của chính ngân hàngtrên thị trường có thể thu hút các nguồn vốn trên thị trường tiền tệ và khu vựcdân cư
Thứ hai: Các chỉ tiêu tăng trưởng về tín dụng Để tăng trưởng tín dụng
đòi hỏi ngân hàng phải đưa ra nhiều biện pháp nghiệp vụ khác nhau
Thứ ba: Các chỉ tiêu chất lượng hoạt động tín dụng, các khoản chi phí
trích lập dự phòng rủi ro hoạt động tín dụng Căn cứ vào các chỉ tiêu của hoạtđộng tín dụng từng ngân hàng để đánh giá chất lượng của hoạt động kiểmtoán của bộ phận KTNB, cụ thể: tốc độ tăng trưởng dư nợ, chất lượng tíndụng của từng loại hình tín dụng, các khoản trích lập dự phòng rủi ro
Thứ tư: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
ngân hàng mang lại trong một thời gian nhất định (niên độ tài chính)
Qua đó, các kiểm toán viên căn cứ vào các chỉ tiêu thông qua báo cáo tàichính và các thuyết minh liên quan để có thể đánh giá được chất lượng hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng cũng như của bộ phận KTNB Với các chỉtiêu tăng trưởng tốt thì có thể đánh giá chất lượng hoạt động của bộ phậnKTNB có hiệu quả
Trang 241.2.3 Các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán nội bộ
1.2.3.1 Mô hình tổ chức
Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo thông suốt trong việc uỷ quyền và phâncông trách nhiệm, không chồng chéo, không bỏ sót các nội dung quản lý, pháthuy được năng lực quản lý các cấp là điều kiện để xây dựng môi trường kiểmsoát hiệu quả
Trong điều kiện phát triển nhanh chóng của hệ thống ngân hàng thươngmại, với nguồn vốn lớn, khách hàng đông, chi nhánh phân tán ở các tỉnh,thành phố, tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả trong đó có hệ thống giám sát nội
bộ, quản trị được rủi ro là yêu cầu hết sức quan trọng của mỗi ngân hàngTrong bộ máy ngân hàng hết sức chú ý nghiên cứu tổ chức, ban hànhchức năng, nhiệm vụ bố trí nhân sự có phẩm chất, năng lực cho hệ thốngKTNB
Để có hệ thống giám sát nội bộ hiệu quả thì cơ cấu bộ máy phải hợp lý
để đảm bảo rằng các cơ chế kiểm tra, kiểm soát, KTNB được vận hành tốt,những rủi ro, gian lận được kiểm soát
1.2.3.2 Nội dung và yêu cầu kiểm toán nội bộ
Nếu nội dung kiểm toán nội bộ càng đơn giản và yêu cầu kiểm toán nội
bộ càng thấp thì chất lượng kiểm toán nội bộ càng cao và ngược lại
KTNB thực hiện kiểm toán chủ yếu là kiểm toán hoạt động Tuy nhiênnội dung kiểm toán phổ biến hầu hết hiện nay là kiểm toán Báo cáo tài chính.Các báo cáo quản trị hiện nay vẫn ít dùng, thậm chí không dùng Do vậy,công việc kiểm toán báo cáo kế toán quản trị vẫn chưa nhiều, chưa được thựchiện một cách thường xuyên
Công việc kiểm toán tuân thủ các đơn vị hiện nay thường nhằm vào:Kiểm tra việc chấp hành chính sách, chế độ quản lý kinh tế tài chính của nhànước, từ đó có những ý kiến đề xuất để hoàn thiện chính sách chế độ Kiểm
Trang 25tra những quy định và quy chế kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện, xử lý, ngănchặn vi phạm, từ đó đề xuất ý kiến hoàn thiện hơn về quy chế kiểm soát nội
bộ Kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý, kiểm soát của các bộphận, tập thể cá nhân trong đơn vị
Các kết luận đạt được và các báo cáo được ban hành phải rỏ ràng ngắngọn trong việc xác định các vấn đề nổi cộm và đưa ra các giải pháp đối vớicác lĩnh vực hoạt động cần điều chỉnh
1.2.3.3 Kiểm toán viên
Bất kỳ một tổ chức nào con người cũng là yếu tố quan trọng, có ý nghĩaquyết định sự thành công hay thất bại Đối với công tác KTNB cũng vậy cho
dù cơ chế, quy chế, nguyên tắc, thủ tục có chặt chẻ đến đâu song thiếu độingũ nhân viên có phẩm chất, năng lực sẽ không thực hiện được nhiệm vụ.Bởi vậy ngân hàng phải có chính sách quản lý, tuyển dụng, chính sáchđào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học, hợp lý để có được đội ngũ cán
bộ, nhân viên có phẩm chất, năng lực chuyên môn tốt, có ý thức kỷ luật, cótính chuyên nghiệp cao Với đặc thù riêng có của hoạt động ngân hàng thìmỗi nhân viên ngân hàng đều có trách nhiệm kiểm tra, tự kiểm tra theo quytrình nghiệp vụ, theo quy định ngân hàng đã thiết lập, đề cao ý thức chấp hànhtrong mọi thao tác nghiệp vụ và từng vị trí công tác
Trong hoạt động kiểm toán thì nhân viên kiểm toán còn phải thực hiệnquy tắc đạo đức nghề nghiệp, đó là: tính trung thực, tính khách quan; Cónăng lực chuyên môn, tính bảo mật trong thực hiện nhiệm vụ
1.2.3.4 Chuẩn mực kiểm toán nội bộ
Một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm thay đổi cách nhìnnhận về hoạt động KTNB chính là nhờ hoạt động này đã có chuẩn mực thựchành Chuẩn mực này được Viện kiểm toán viên nội bộ ban hành vào tháng 6năm 1978 Tiếp sau đó, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ đã ban hành các quy
Trang 26định về chuẩn mực KTNB Các chuẩn mực này được xem như phần mở rộng
và giải thích cho các chuẩn mực ban hành năm 1978 Chuẩn mực này là tiêuchuẩn dùng để đánh giá và đo lường các hoạt động của bộ phận KTNB, nókhông chỉ là thước đo chất lượng mà còn là hành lang pháp lý và kỹ thuậtđiều chỉnh hành vi của kiểm toán viên nội bộ và các bên có liên quan Đây lànhân tố góp phần làm cho tính chuyên nghiệp của KTNB được thể hiện rõ
1.2.3.5 Quy trình, phương pháp KTNB
* Quy trình kiểm toán nội bộ
Quy trình kiểm toán nội bộ càng khoa học, chặt chẽ và phù hợp thì chấtlượng kiểm toán càng cao và ngược lại
Quy trình kiểm toán thông thường gồm 4 bước (bốn giai đoạn)
+ Chuẩn bị kiểm toán: Nội dung chính của bước chuẩn bị kiểm toán làkhảo sát thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, tình hình tài chính
và các thông tin liên quan đến đối tượng được kiểm toán; xác định mục tiêu,nội dung, phạm vi kiểm toán và phương pháp kiểm toán thích hợp; lập kếhoạch kiểm toán
+ Thực hiện kiểm toán: Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán đúng đơn vịđược kiểm toán với mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm toán, địa điểm và thờihạn ghi trong quyết định kiểm toán Các thành viên đoàn kiểm toán thu thập
và đánh giá các bằng chứng kiểm toán; kiểm tra đối chiếu, xác nhận về nhữngnội dung kiểm toán
+ Lập và gửi báo cáo kiểm toán: Kết thúc cuộc kiểm toán, đoàn kiểmtoán lập báo cáo kiểm toán ghi rõ các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận vàkiến nghị về những nội dung đã kiểm toán Báo cáo kiểm toán được gửi chođơn vị được kiểm toán viên nội bộ cũng lập ra báo cáo kiểm toán nội bộ gửicho Ban Tổng giám đốc hoặc Hội đồng quản trị ở đây những ý kiến đề xuất
và kết luận của kiểm toán viên nội bộ có được lãnh đạo đơn vị tiếp nhận hay
Trang 27không, có thực hiện được hay không, đơn vị và bộ phận được kiểm toán cóbiết hay không là vấn đề thực tế còn những nổi cộm cần giải quyết Đứng vềmặt lý thuyết và quy định, KTNB cần phải có ý kiến công khai với Ban Tổnggiám đốc, Hội đồng quản trị và bộ phận được kiểm toán để có trách nhiệmtheo dõi việc thực hiện ý kiến đề xuất của bộ phận được kiểm toán.
Hồ sơ kiểm toán: Tài liệu của mỗi cuộc kiểm toán được lập thành hồ sơkiểm toán Các tài liệu thuộc hồ sơ kiểm toán do pháp luật quy định Hồ sơkiểm toán phải được bảo quản đầy đủ, an toàn và bảo mật
+ Theo dõi sau kiểm toán: Trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ chưakết thúc bằng việc trình báo cáo Các công việc tiếp theo là kiểm tra xu hướngcác kết quả và khuyến nghị đưa ra trong báo cáo kiểm toán tại một thời điểmmuộn hơn Do kiểm toán viên nội bộ không có quyền trực tiếp đưa ra cáckhuyến nghị vào thực hiện nên việc này phụ thuộc vào các nhân viên chứcnăng hay Ban Giám đốc có ra quyết định quản lý phù hợp không Các côngviệc tiếp theo có liên quan đến kiểm tra lại có thể là trách nhiệm của kiểmtoán viên hay Ban Tổng giám đốc hoặc cùng chia sẻ trách nhiệm Việc theodõi sau kiểm toán nhằm đánh giá hiệu lực, hiệu quả của các khuyến nghị vàrút kinh nghiệm cho việc xây dựng kiến nghị kiểm toán trong những lần kiểmtoán sau
* Phương pháp KTNB
Do lĩnh vực hoạt động của các ngân hàng thương mại dễ bị tổn thương,rất nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế, phương pháp KTNB trong giaiđoạn hiện nay cần phải được đổi mới đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngânhàng thương mại Phương pháp kiểm tra, kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giárủi ro là phương pháp đánh giá rủi ro tập trung, rủi ro của từng bộ phận mộtcách hệ thống
Trang 28Cách tiếp cận phương pháp này tập trung vào những vấn đề mà ngânhàng đang phải đối mặt và đưa ra sự đảm bảo đối với việc quản trị rủi ro màngân hàng đang thực hiện Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro được định nghĩa
là có sự kiện nào mà cản trở hoặc tác động xấu đến ngân hàng trong việc hoànthành các mục tiêu kinh doanh đề ra Nhũng rủi ro tài chính cơ bản trong kinhdoanh ngân hàng gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán,rủi ro lãi suất, rủi rohối đoái và các rủi ro khác như môi trường, công nghệ, pháp lý
Để thực hiện phương pháp này trên cơ sở đánh giá rủi ro ngân hàng cầnphải xác định, ghi chép các rủi ro tại mỗi đơn vị kinh doanh từ đó xây dựng
kế hoạch kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Về mặt môi trường: KTNB chịu ảnh hưởng tác động bởi các nhân tố bênngoài từ các khách hàng, các đối tác của ngân hàng
1.3 KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt,hoạt động của ngân hàng thương mại có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Là ngân hàng kinh doanh tiền gửi
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tài chính quan trọng nhất,chức năng ban đầu của nó là nhận tiền gửi, sau đó chuyển tải những khoảnvốn huy động được đến những người có nhu cầu chi tiêu và đầu tư
Trang 29Ngày nay, trên thị trường tài chính có rất nhiều tổ chức cung cấp dịch vụngân hàng, song người ta vẫn phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chứctín dụng khác ở chỗ là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, sau đó ngân hàngthương mại chủ yếu cấp tín dụng ngắn hạn cho khách hàng có nhu cầu sửdụng vốn.
Thứ hai: Hoạt động của ngân hàng thương mại có tính nhạy cảm cao, chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự giám sát chặt chẻ của pháp luật
Là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, dựa vào niềm tin và gắn bó với cộngđồng xã hội, dân cư, bởi vậy có tính nhạy cảm cao Một tác động nhỏ cũng cóthể gây ra những tác động lớn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng Nếungân hàng hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và pháttriển bền vững Ngược lại, khi ngân hàng hoạt động không tốt sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến người gửi tiền, có hiệu ứng dây chuyền, tác động xấu đến hệthống ngân hàng thương mại và đời sống kinh tế xã hội
Do đặc điểm của đối tượng kinh doanh và tính hệ thống của nó, nên kinhdoanh trong ngân hàng thương mại chứa đựng rủi ro cao hơn gấp bội so vớicác lĩnh vực kinh doanh khác Rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại
có tính lan truyền và để lại hậu quả lớn không chỉ trong nội tại của ngân hàng
mà còn cả trong nền kinh tế xã hội Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn quản
lý khối lượng lớn tiền, tài sản, và các giấy tờ có giá( trái phiếu, cổ phiếu, kỳphiếu) Khả năng thất thoát những tài sản này là rất cao Bởi vậy hoạt độngngân hàng thương mại phải được giám sát chặt chẻ bằng các quy định và luậtđịnh bên trong và môi trường pháp lý bên ngoài ngân hàng
Thứ ba: Khách hàng của ngân hàng rất đông đảo và đa dạng
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh, trực tiếp giao dịch
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các ca nhân bằng việc nhận tiền gửi, tiềntiết kiệm thực hiện các dịch vụ ngân hàng, cho vay các đối tượng trên Do đó
Trang 30khách hàng của ngân hàng rất đông đảo, đa dạng, khối lượng giao dịch nhiều,giá trị lớn, mạng lưới giao dịch khách hàng rộng, phân tán nhiều nơi Ngânhàng thương mại cần tổ chức quản lý, giám sát hoạt động tài chính của ngânhàng chặt chẻ và hiệu quả
Thứ tư: Các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại mang tính tương đồng, dễ bắt trước và gắn với yếu tố thời gian
Các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại cung cấp cho kháchhàng rất đa dạng nhưng phần lớn các sản phẩm của mỗi ngân hàng này lạitương đồng với sản phẩm của ngân hàng khác Các ngân hàng thường áp dụngcác sản phẩm dịch vụ của nhau khi cung cấp sản phẩm dịch vụ với khách hàng.Mặt khác sản phẩm dịch vụ ngân hàng thương mại thường gắn với yếu
tố thời gian Chính yếu tố thời gian là nhân tố quan trọng quyết định giá cảsản phẩm dịch vụ, ngân hàng
1.3.2 Nhiệm vụ và chức năng của ngân hàng thương mại
Để thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại thựchiện tổng hợp nhiều hoạt động nghiệp vụ, trong đó có thể chia thành 3 nghiệp
vụ chính đó là:
- Nghiệp vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ tạo vốn)
- Nghiệp vụ tài sản có (Cấp tín dụng và đầu tư)
- Hoạt động trung gian (Dịch vụ ngân hàng)
* Nghiệp vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ tạo vốn)
Đây là một trong hai nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng thươngmại Nghiệp vụ tài sản nợ của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ tạo vốndưới các hình thức khác nhau để tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng Cácnguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:
- Vốn tự có: Nguồn vốn này của ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọngnhỏ trong toàn bộ nguồn vốn hoạt động nhưng nó lại có vai trò hết sức quan
Trang 31trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại Nguồn vốn nàychính là cơ sở để xác định lượng vốn được phép huy động, tỷ lệ được phépcho vay và khả năng đảm bảo thanh toán của ngân hàng cho khách hàng.Nguồn vốn này có thể được cấp từ nhà nước (ngân hàng thương mại nhànước) hoặc thu hút từ các cổ đông đóng góp (ngân hàng thương mại cổ phần).Nguồn vốn này bao gồm vốn pháp định, các quỹ dự trữ, quỹ phúc lợi, khenthưởng và lợi nhuận chưa chia.
- Vốn huy động: Nguồn vốn này được các ngân hàng thương mại huyđộng từ các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và từ dân cư theo các hìnhthức sau:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền nằm trong tài khoản vãng lai hoặctài khoản thanh toán của khách hàng và có thể rút ra bất kỳ lúc nào Ưu điểmcủa tiền gửi không kỳ hạn là chi phí huy động thấp, nhưng nhược điểm là tính
ổn định không cao
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có quy định cụ thể về thời hạn rúttiền của khách hàng Nó có thể là loại tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệpkinh doanh có các khoản thu và xác định được thời gian chi trả các khoản tiềntích luỹ của doanh nghiệp
+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng củangân hàng Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền ngân hàng giaocho một quyển sổ tiết kiệm, sổ này coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vàoquỹ của ngân hàng
Hai loại tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn địnhtrong thời gian dài nên rất được các ngân hàng thương mại chú trọng và cóbiện pháp kích thích bằng việc tạo ra các sản phẩm huy động với thời hạn vàlãi suất huy động khác nhau với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất huyđộng càng cao
Trang 32- Vốn vay: Ngân hàng có thể huy động vốn vay bằng cách vay ngắn hạn,trung hoặc dài hạn từ ngân hàng trung ương hay các tỏ chức tín dụng kháchoặc nhận quỹ uỷ thác đầu tư của các tỏ chức tài trợ (Chính phủ hay quốc tế)
để huy động vốn từ dan cư hay tổ chức, công ty nào đó
* Nghiệp vụ tài sản có (cấp tín dụng và đầu tư)
Hoạt động nghiệp vụ tài sản có là hoạt động nghiệp vụ sử dụng nguồnvốn của ngân hàng thương mại vào các hoạt động kinh doanh chủ yếu sau:
- Hoạt động cho vay: Là việc ngân hàng thương mại cho khách hàng vaymột số tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay,người vay phải hoàn trả ngân hàng một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi.Nghiệp vụ cho vay là hoạt động nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các ngânhàng thương mại và cũng là hoạt động nghiệp vụ có thể thúc đẩy hay kìmhãm các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân
Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại theo các tiêu thức khácnhau như:
+ Căn cứ theo thời gian: chia ra cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn.+ Căn cứ theo mục đích cho vay: chia ra cho vay nông nghiệp, côngnghiệp, thương mại; cho vay cá nhân
+ Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: chia ra cho vay bằng tiền;cho vay bằng tài sản (tài trợ thuê mua)
+ Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: cho vay không đảmbảo (tín chấp); cho vay có đảm bảo (có thể bằng tài sản thế chấp, cầm có; bảolãnh của người thứ ba; tài sản hình thành từ vốn vay)
+ Căn cứ vào tính chất tham gia của vốn: chia ra cho vay vốn lưu động,cho vay vốn cố định
- Hoạt đông đầu tư: Đầu tư chứng khoán và đầu tư liên doanh, liên kết
Trang 33* Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng
Trong hoạt động ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng được coi là các hoạtđộng nghiệp vụ tài sản có và các nghiệp vụ tài sản nợ Thông thường ngânhàng cung cấp các dịch vụ trung gian như:
+ Hoạt động bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết trả thay cho kháchhàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc khôngthực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng có cáchình thức thông dụng sau đây: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng;bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thuế quan; bảo lãnh thanh toán tiền tạm ứng.+ Dịch vụ thanh toán, thu chi hộ khách hàng ( chuyển tiền, thu hộ séc,dịch vụ cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán)
+ Kinh doanh ngoại hối, vàng bạc đá quý
+ Hoạt động tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính giúp đỡ các công ty, xínghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu
+ Hoạt động đại lý kinh doanh chứng khoán (theo uỷ nhiệm của khách hàng)Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung, hổ trợ chonhau Trong đó các nghiệp vụ tài sản nợ là cơ sở để thực hiện nghiệp vụ tàisản có Nghiệp vụ tài sản có làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng thươngmại, góp phần mở rộng vốn hoạt động của ngân hàng do được tăng vốn dựtrữ, tăng khả năng huy động vốn Trên cơ sở hoạt động tín dụng, các ngânhàng thương mại có thể thực hiện được các hoạt động dịch vụ ngân hàng Nếuthực hiện tốt hoạt động dịch vụ thì ngân hàng thương mại càng có điều kiệntăng nguồn vốn hoạt động nghiệp vụ trung gian
1.3.3 Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến KTNB
Hoạt động kinh doanh tiền tệ vốn mang đặc thù rủi ro Vì vậy, gắn liềnvới phát triển, mở rộng hoạt động huy động và sử dụng vốn là biện pháp kiểm
Trang 34soát quản lý rủi ro chặt chẻ trên toàn hệ thống Do đó chất lượng KTNB ảnhhưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Thứ nhất: Hoạt động huy động vốn Các ngân hàng thương mại thực
hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu vực của nền kinh tếbằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền tiết kiệm củacác tổ chức kinh tế và của cộng đồng dân cư Người gửi tiết kiệm được nhậnđược một khoản tiền lãi với mức lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở cácngân hàng, đảm bảo mức độ an toàn và hình thức thanh khoản cao Nhiệm vụcủa KTNB là kiểm tra đối chiếu lãi suất huy động tiết kiệm phải đúng quyđịnh với biểu lãi suất của ngân hàng, tránh trường hợp lãi suất cao, thấp hơnquy định gây tổn thất cho ngân hàng và khách hàng
Thứ hai: Hoạt động sử dụng vốn Chức năng đầu tiên của các ngân hàng
thương mại là mở rộng tín dụng đối với các khách hàng đáng tin cậy có nghĩa
là tìm kiếm các cơ hội để thực hiện việc cho vay Song bên cạnh đó việc rủi ro
về hoạt động này rất lớn, đòi hỏi nhiệm vụ của bộ phận KTNB là phải giámsát việc thực hiện các quy trình, quy định cho vay, thẩm định cho vay, kiểmsoát các khoản vay và cơ cấu nợ nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn nhữngsai sót trong quá trình hoạt động và đưa ra các ý kiến tham mưu cho Ban điềuhành để điều chỉnh kịp thời Kiểm tra phương án kinh doanh của khách hàng
để làm cơ sở đánh giá hiệu quả của phương án vay vốn và khả năng thanhtoán nợ
1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng KTNB ngân hàng thương mại
1.3.4.1 Mô hình tổ chức
Trong điều kiện hiện nay các ngân hàng thương mại phát triển và mởrộng một cách nhanh chóng song song với việc phát triển đó đòi hỏi phải cómột tổ chức bộ máy giám sát hiệu quả, trung thực, độc lập, khách quan để
Trang 35ngăn chặn những rủi ro, gian lận.
- KTNB xem xét, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của các quy trình nhậndạng, phương pháp đo lường và quản lý rủi ro
- KTNB trực tiếp đánh giá hệ thống thông tin quản lý và hệ thốngthông tin tài chính bao gồm cả hệ thống thông tin điện tử và dịch vụ ngânhàng điện tử
- KTNB còn có trách nhiệm rà soát, đánh giá các cơ chế nội bộ ngânhàng đảm bảo sự tuân thủ các quy định pháp luật, quy định về các tỷ lệ đảmbảo an toàn hoạt động ngân hàng, các quy định nội bộ, quy trình, quy tắc tácnghiệp, đạo đức nghề nghiệp, quy định, quy trình quản trị, điều hành tácnghiệp, các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản
Đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, sử dụngnguồn lực từ đó xác định mức độ phù hợp giữa kết quả hoạt động và mục tiêu
đề ra
1.3.4.3 Kiểm toán viên
Khi hoạt động ngân hàng càng đa dạng và phức tạp, quy mô ngân hàngcàng lớn, đòi hỏi ngân hàng phải có đủ số lượng kiểm toán viên cần thiết có
đủ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời ngân hàng phải
có chính sách đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút nhân tàicho hoạt động KTNB Có như vậy hoạt động KTNB mới có chất lượng như
Trang 36mong muốn.
1.3.4.4 Quy trình, phương pháp kiểm toán
Hoạt động ngân hàng có tính chất rủi ro rất lớn, KTNB biết vận dụngquy trình và phương pháp kiểm toán đúng đắn và có khoa học sẽ đóng gópmột phần không nhỏ trong việc mang lại hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng
- Khi tiến hành kiểm toán, quy trình kiểm toán rất quan trọng Bộ phậnKTNB lập kế hoạch kiểm toán không cụ thể thì không biết được nội dung,phạm vi kiểm toán sẽ dẫn đến việc thu thập tài liệu không đầy đủ kịp thời, từ
đó đưa ra những kết luận, nhận xét chưa đúng với thực trạng của đơn vị đó
- Công việc của kiểm toán không chỉ dựa trên những hoá đơn chứng từ
và tài liệu có sẵn, xét đoán chủ quan mà phải biết nghiên cứu, phân tích, đánhgiá để xác định nội dung, phạm vi, quy mô và thời gian vận dụng các phươngpháp kiểm toán cơ bản nhưng phải có sự liên kết với kiểm toán tuân thủ lúc đóđánh giá được mức độ rủi ro để đề xuất đưa ra được những ý kiến đáng tin cậy
1.3.4.5 Chuẩn mực kiểm toán nội bộ
Yếu tố này ảnh hưởng lớn đến chất lượng KTNB, các kiểm toán viên nội
bộ không được đào tạo đúng chuyên ngành, không có đạo đức nghề nghiệp cónghĩa là không thực hiện đúng nguyên tắc yêu cầu cần và đủ của người kiểmtoán viên và một yêu cầu không thể thiếu của người kiểm toán viên nội bộ làphải độc lập, khách quan, trung thực, công bằng, không kiêm nhiệm cáccương vị, các công việc chuyên môn khác trong đơn vị
1.3.4.6 Các yếu tố khác
- Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp trong đó có ngân hàng thương mại
là tế bào của nền kinh tế, chịu sự tác động các chính sách vĩ mô và quản lýcủa nhà nước Với đặc điểm riêng có của ngân hàng, thì ngân hàng thươngmại còn chịu sự giám sát chặt chẻ của pháp luật
Hoạt động ngân hàng thương mại dưới sự quản lý nhà nước của ngân
Trang 37hàng trung ương, một mặt là chấp hành các quy định của “ Luật các tổ chứctín dụng”, các quy định của ngành ngân hàng mặt khác chịu sự thanh tra,giám sát của ngân hàng trung ương Tại Điều 122 luật các tổ chức tín dụngđược sửa đổi, bổ sung ngày 01/10/2004 quy định rõ: “ Tổ chức tín dụng phảilựa chọn một tổ chức kiểm toán độc lập đủ điều kiện theo quy định của ngânhàng nhà nước kiểm toán các hoạt động của mình”.
- Về môi trường: Trong năm 2008 việc kinh doanh ngân hàng có nhiềubiến động phức tạp do ảnh hưởng từ xu hướng suy thoái kinh tế của nền kinh
tế Mỹ nói riêng và của toàn thế giới nói chung Lạm phát trong nước tăng cao,chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng nhà nước đã ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng Đòi hỏi bộ phận KTNB phải kiểm tra thườngxuyên các hoạt động thẩm định và cho vay để chống rủi ro không đáng có vànâng cao hiệu quả kinh doanh
1.4.1. Bài học kinh nghiệm về kiểm toán nội bộ cho ngân hàng thương mại Việt nam
Từ kinh nghiệm một số nước nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số kinhnghiệm có thể áp dụng phù hợp với thực tiễn các ngân hàng thương mại ởViệt Nam như sau:
Thứ nhất, Hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần chức năng giám sát nội
bộ trực thuộc hệ điều hành của ngân hàng, được cài đặt ngay trong các quytrình hay các hoạt động hàng ngày của ngân hàng Bộ phận kiểm soát nội bộ,với tư cách là công cụ kiểm tra sự tuân thủ các quy định, chính sách, các quytrình, các quyết định của nhà nước và của ngành ngân hàng, của các cấp điềuhành chỉ là một bộ phận nội tại của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng
Thứ hai, KTNB là theo dõi và đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống kiểm soát nội bộ, phát hiện các rủi ro có thể phát sinh do những khiếmkhuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó có những kiến nghị với hội đồngquản trị, ban điều hành hay các bộ phận của ngân hàng để kiểm soát các rủi ro
Trang 38và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Thứ ba, KTNB phải là một bộ phận độc lập, khách quan không tham gia
vào bất kỳ một quy trình nào thuộc hệ thống điều hành của các ngân hàngthương mại và không phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của các hoạtđộng của ngân hàng
Thứ tư, Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, KTNB phải đảm bảo tuân
thủ các quy định của pháp luật, ngân hàng và thực hiện kiểm toán theo cácchuẩn mực quốc tế được chấp nhận rộng rãi
Kết luận chương 1
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ,tín dụng với hai nhiệm vụ chủ yếu quan trọng nhất là: nhận tiền gửi và chovay Do đặc điểm kinh doanh hàng hóa đặc biệt, ngân hàng luôn chịu nhiềurủi ro lớn trong hoạt động có thể gây nên tổn thất cho ngân hàng và khônghoàn thành các mục tiêu đề ra
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH TIÊN SƠN
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TIÊN SƠN
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam chi nhánh Tiên Sơn
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi Nhánh Tiên Sơn tiềnthân là chi nhánh cấp 2 Ngân hàng công thương tiên sơn trực thuộc NHCTBắc Ninh thành chi nhánh thuộc Ngân Hàng Công Thương Việt Nam, kể từngày 01/01/2006, là một trong những đơn vị ngân hàng được thành lập đầutiên trên địa bàn Từ Sơn, có trụ sở tại Thị Trấn Từ Sơn – Bắc Ninh Đăng kýkinh doanh số 0100111948087 đăng ký lần đầu ngày 03/01/2006 , đăng kýthay đổi lần 1 ngày 17/08/2009 do Sở Kế Hoạch Đầu Tư Tỉnh Bắc Ninh Cấp.Trải qua 5 năm ra đời và biết bao nhiêu biến động thăng trầm của nềnkinh tế đất nước, hoạt động của ngân hàng phải liên tục đối mặt với nhữngkhó khăn, thử thách Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi NhánhTiên Sơn từ số vốn điều lệ khiêm tốn ban đầu chỉ có 22 tỷ đồng , nhưng đếnnay đã có những bước phát triển vượt bậc Vào cuối năm 2010 , vốn điều lệcủa ngân hàng đạt 2.200 tỷ đồng , tổng tài sản đạt mức 32.586 tỷ đồng , lợinhuận trước thuế đạt 669,8 tỷ đồng , vốn chủ sở hữu là 3.904,8 tỷ đồng Đãcung cấp một danh mục các loại hình dịch vụ đa dạng , đáp ứng yêu cầu của
Trang 40mọi đối tượng trong nền kinh tế
Mốc son quan trọng trên tiến trình đổi mới hoạt động của ngân hàngđược xác định từ khi Hội Đồng Bộ Trưởng ( nay là Chính Phủ ) ban hànhnghị định 53/NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 về việc hoạt động theo mô hìnhngân hàng hai cấp : Ngân Hàng Nhà Nước và Ngân Hàng Chuyên Doanh Trong bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập tại Việt Nam có NgânHàng Công Thương Việt Nam ( NHCTVN – Incombank ) chuyên hoạt độngtrong lĩnh vực công thương nghiệp , cũng từ đây hoạt động của chi nhánhngân hàng công thương tiên sơn được chuyển đổi cho phù hợp với sự vậnđộng và phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nóiriêng với tên gọi mới : Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam ChiNhánh Tiên Sơn
Ngân hàng TMCP công thương việt nam chi nhánh tiên sơn luôn đượcNgân hàng nhà nước xếp hạng A và liên tục đạt các giải thưởng lớn trong
và ngoài nước như thương hiệu mạnh Viêt Nam, thương hiệu việt uy tínchất lượng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam chi nhánh Tiên Sơn
Đây là mô hình được áp dụng triển khai theo đề án đổi mới hoạt độngNgân hàng từ năm 2011
- Hoạt động của Hội đồng quản trị: Với chức năng là cơ quan quản trị
Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam chi nhánh Tiên Sơn do Đại hội
đồng cổ đông bẩu Hội đồng quản trị quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền
và được Đại hội đồng cổ đông uỷ quyền thực hiện Hội đồng quản trị cử raThường trực Hội đồng quản trị để thường xuyên theo dõi tình hình hoạt độngcủa ngân hàng và kịp thời xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền của Tổng giámđốc Hội đồng quản trị, Thường trực hội đồng quản trị chỉ đạo Ban giám đốc