1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng môn học phân tích tín dụng và cho vay

37 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 238 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Mục đích của chương này là xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bảncủa ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàngthì tín dụng được hiểu như sau:Tí

Trang 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

PHÂN TÍCH TÍN DỤNGMục tiêu

Chương này trình bày các vấn đề chung về phân tích tín dụng ngân hàng đểcung cấp nền tảng kiến thức cho sinh viên học tiếp các chương sau

Nghiên cứu các vấn đề về tín dụng, phân loại tín dụng ngân hàng, chínhsách tín dụng của Ngân hàng, định giá một khoản cho vay, đảm bảo tín dụng Ngânhàng Đây là các nội dung cơ sở làm tiền đề để nghiên cứu các nội dung liên quanđến phân tích tín dụng và cho vay

Nghiên cứu các công đoạn của quy trình cho vay, vị trí của mỗi công đoạn,mối quan hệ giữa các công đoạn, nội dung công việc của từng công đoạn, các thủtục giấy tờ, nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên tham gia Mục đích, ýnghĩa của công tác phân tích tín dụng, các nguồn thông tin làm cơ sở cho phân tích

và những nội dung chủ yếu khi tiến hành phân tích tín dụng đối với một khoản chovay

I Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng

Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tíndụng có một nội dung riêng Trong quan hệ tài chính tín dụng có thể hiểu theo cácnghĩa sau:

 Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư sang chủ thểthiếu hụt thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vaysang người đi vay

 Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên

cơ sở có hoàn trả giữa 2 chủ thể Như một công ty công nghiệp hoặc thương mạibán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán chuyểngiao hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận bênmua phải trả tiền cho bên bán Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và cácđịnh chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thứccho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhấtđịnh người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi

Trang 2

 Mục đích của chương này là xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bảncủa ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàngthì tín dụng được hiểu như sau:

Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp

và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sửdụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàntrả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Các loại tín dụng ngân hàng

* Nguyên tắc tín dụng:

1> Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì là do hai bên, ngân hàng và kháchhàng, thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng Đảm bảo sử dụng vốn vayđúng mục đích thỏa thuận nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năngthu hồi nợ vay sau này Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu

rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có

sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không Điều này rất quantrọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đếnkhả năng thu hồi nợ vay sau này Việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúngmục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra được ngânlưu để trả nợ cho ngân hàng

Về phía khách hàng việc sủ dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nângcao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả nănghoàn trả nợ cho ngân hàng Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngânhàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này

2> Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồngtín dụng

Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu tronghoạt động cho vay Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồnvốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sửdụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gởi tiền, do đó, sau khi cho vaytrong một thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng

để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gởi tiền Hơn nữa bản chất của quan hệ

Trang 3

tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau mộtthời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi.

Cũng như quan hệ tín dụng khác,tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung:

 Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sửdụng;

 Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời

 Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

Tín dụng ngân hàng( sau đây gọi tắt là tín dụng) có thể phân chia thành ranhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau

1.1 Dựa vào mục đích của tín dụng

Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau:

 Cho vay phục vụ SXKD công thương nghiệp;

 Cho vay tiêu dùng cá nhân;

 Cho vay mua bán bất động sản

 Cho vay sản xuất nông nghiệp;

 Cho vay kinh doanh XNK…

1.2 Dựa vào thời hạn tín dụng

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

 Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm Mụcđích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tưvào tài sản lưu động;

 Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm.Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tưvào tài sản cố định

 Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mụcđích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các

dự án đầu tư

1.3 Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

 Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thếchấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uytín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay

Trang 4

 Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sỏ các bảo đảmcho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của 1 bên thứ 3nào khác.

1.4 Dựa vào phương thức cho vay

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

 Cho vay theo món

 Cho vay theo hạn mức tín dụng

 Cho vay theo hạn mức thấu chiCác loại cho vay này sẽ được xem xét kĩ hơn trong các chương nói vềtín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân

1.5 Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

 Cho vay chỉ có 1 kì hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ 1lầnkhi đáo hạn;

 Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ haycòn gọi là cho vay trả góp

 Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn nợ cụ thể mà tùykhả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúcnào

1.3 Lãi suất tín dụng ngân hàng

Hoạt động kinh doanh tín dụng cũng như các họat động kinh doanh khác, ngân hàng cũng quan tâm đến lợi tức và mức độ sinh lời của đồng vốn kinh doanh.Khác với các loại hình kinh doanh khác về đối tượng nên lợi tức tín dụng cũng có những nét đặt thù riêng

-Về mặt hình thức: Lợi tức tín dụng là khoản lợi nhuận mà tổ chức kinhdoanh tín dụng thu được sau một chu trình hoạt động cho vay

-Về mặt nội dung: Lợi tức tín dụng là một phần giá trị thặng dư mà người

đi vay trích ra để trả cho người cho vay vì đã sử dụng tiền vay trong một khoảngthời gian nhất định

Nguồn gốc của lợi tức tín dụng chính là giá trị thặng dư đã sáng tạo ra trongquá trình sản xuất kinh doanh Người đi vay do sử dụng vốn vay của người kháctrong một khoảng thời gian nhất định để kinh doanh nên phải trả tiền lãi Ngườicho vay do sở hữu một khoản vốn cho vay nên được hưởng lợi tức Lợi tức chính

Trang 5

là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định Lợi tức

là một loại giá cả và cũng chịu tác động của qui luật cung cầu, qui luật thị trường

Để đánh giá mức độ sinh lời của đồng vốn cho vay, khái niệm tỉ suất lợi tức haycòn gọi là lãi suất thường được sử dụng

Lãi suất tín dụng: Tỉ suất lợi tức là tỉ lệ phần trăm (%) giữa tổng số lợi tức thu được với tổng số tiền cho vay được tính trong một thời gian nhất định

( thường là ngày, tháng, quý, 6 tháng hay một năm)

Lãi suất tín dụng ngân hàng phải bảo đảm bù đắp đầy đủ những chi phí bỏ

ra và mang lại lợi nhuận cho nhà kinh doanh nên lãi suất bao gồm những yếu tốsau:

(1) Chi phí huy động và quản lý, thực hiện khoản cho vay Đây là toàn bộ

chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động cho vay bao gồm những khoản mục chủ yếunhư: lãi đầu vào, chi phí về tiền lương, khấu hao tài sản cố định, khoản chi phínày có thể cắt giảm nếu thực hiện được một sự đổi mới trong tổ chức và hoạt độngcủa tổ chức tín dụng Vì thế đây là khâu mấu chốt trong quá trình cạnh tranh giữacác ngân hàng

(2) Chi phí bù đắp rủi ro cho vay Đó là khả năng không thu hồi được lãihoặc cả vốn lẫn lãi của món vay Cũng giống như mọi loại hình kinh doanh khác,hoạt động tín dụng cũng có khả năng rủi ro, thậm chí rủi ro rất cao Vì vậy việctính vào trong mức lãi một tỷ lệ rủi ro để dự phòng là điều cần thiết Rủi ro có thể

do khách quan mang lại, cũng có thể do chủ quan gây ra và có thể phòng tránhđược trong chừng mực nhất định Vì vậy tùy thuộc vào năng lực của Ngân hàng

mà có thể đưa tỷ lệ này đến mức thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh

(3) Lợi nhuận mong đợi từ khoản cho vay Yếu tố cuối cùng để cấu thànhmột mức lãi suất hợp lý chính là yếu tố lãi ròng Như bất kỳ một hoạt động kinhdoanh nào khác, hoạt động tín dụng quan tâm đến khả năng tích lũy của chính hoạtđộng kinh doanh của mình Mức lãi ròng phụ thuộc vào mức sinh lợi chung củanền kinh tế Tuy nhiên do điều kiện đặc thù mà có thể nảy sinh chênh lệch

Để định giá của một khoản cho vay, Ngân hàng cần phải xác định được cácyếu tố cấu thành nên lãi suất cho vay, trong đó 4 yếu tố quan trọng nhất là:

(1) lãi suất phải bao gồm tất cả chi phí huy động vốn;

(2) lãi suất phải bù đắp chi phí quản lý và thực hiện cho vay;

Trang 6

Lãi suất cho vay = Libor + tỷ lệ điều chỉnh rủi ro + tỷ lệ điều chỉnh theo thời hạn+ tỷ lệ suất lợi nhuận cận biên

Lãi suất cho vay = Lãi suất cho vay cơ bản + tỷ lệ điều chỉnh rủi ro +

tỷ lệ điều chỉnh theo thời hạn+ tỷ lệ điều chỉnh theo yếu tố cạnh tranh

Lãi suất cho vay với thời hạn (t)= Lãi suất huy động có kỳ hạn tương ứng (t) + chi phí quản lý thực hiện khoản cho vay+ tỷ lệ điều chỉnh rủi ro + lợi nhuận mong đợi của NH

(3) lãi suất phải trang trải được các loại rủi ro;

(4) lãi suất phải có phần thặng dư cho người cho vay

Có 3 phương pháp định giá khoản cho vay như sau:

(1) Định giá theo lãi suất cơ bản Đó là việc ngân hàng xác định lãi suất cơbản để áp dụng cho khách hàng uy tín nhất của họ và dùng lãi suất này làm cơ sở

để tính lãi suất cho vay đối với các loại khách hàng khác nhau bằng cách cộngthêm vào lãi suất cơ bản một tỷ lệ % nhất định Cách xác định lãi suất cơ bảnthường do ngân hàng xác định nhưng chủ yếu là do cung cầu tín dụng trong nềnkinh tế quyết định Những nhân tố quyết định đến lãi suất cơ bản như: Chi phí huyđộng vốn cho ngân hàng (thường dựa vào các nguồn vốn quan trọng nhất của ngânhàng), thu nhập do đầu tư (thường dựa vào các chứng khoán kho bạc),lãi suất củacác nguồn đi vay thay thế (thường dựa vào lãi suất của tín phiếu thương mại) Việcđiều chỉnh lãi suất cơ bản dựa vào 3 yếu tố là điều chỉnh theo mức độ rủi ro; điềuchỉnh theo thời hạn vay và điều chỉnh theo nhân tố cạnh tranh Cụ thể:

(2) Định giá dựa trên cơ sở lãi suất Libor (London Interbank Offered Rate :lãi suất thị trường liên ngân hàng London), thường áp dụng trong trường hợp chovay bằng ngoại tệ

(3) Định giá dựa theo quỹ huy động tương ứng Lãi suất của khoản cho vaytheo quỹ huy động tương ứng được xác định bằng cách cộng thêm một khoảnchênh lệch vào lãi suất của nguồn tài trợ tương ứng:

1.4 Bảo đảm tín dụng ngân hàng

1.4.1 Khái niệm và vai trò của bảo đảm tín dụng

Trang 7

Bất kì một khoản tín dụng nào cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định Trongkhi đó ngân hàng kinh doanh chủ yếu dựa trên vốn của người khác, nếu một khoảnvốn đã cho vay nhưng vì một lý do nào đó không thu hồi được nợ sẽ gây khó khăncho ngân hàng trong quá trình hoạt động thậm chí có thể gây mất khả năng thanhtoán dẫn đến phá sản ngân hàng Bên cạnh đó, sự tồn tại và phát triển của ngânhàng có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội vì tín dụng góp phần tàitrợ, đầu tư cho các ngành Vì vậy vấn đề an toàn trong công tác tín dụng được đặcbiệt quan tâm nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, tránh trường hợp đọng vốn kéodài dẫn đến mất vốn ngân hàng Do đó bảo đảm tín dụng có ý nghĩa hết sức to lớntrong việc ngăn ngừa rủi ro tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển lành mạnh.

(Theo điều 2 nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của chính phủ về bảo đảm tiền vay: “Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được khoản nợ đã cho khách hàng vay”.)

Bảo đảm tín dụng có 2 vai trò cơ bản sau:

(1) Bảo đảm tín dụng vừa là nguồn thu nợ vừa tác động đến nghĩa vụ trả nợ,ngăn chặn tình trạng lạm dụng và sử dụng vốn thiếu tính toán của khách hàng

(2) Bảo đảm tín dụng có tác dụng phòng ngừa rủi ro tín dụng, giảm nhẹ tổn

thất cho tổ chức tín dụng khi khách hàng không thanh toán được nợ.

1.4.2 Đặc trưng của bảo đảm tín dụng

- Giá trị của bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm: Bảo đảm tín dụngkhông chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có ý nghĩa thúc dục người đi vayphải trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản, nhưng nếu giá trị tài sản nhỏ hơn nghĩa

vụ được đảm bảo, người vay dễ có động cơ không trả nợ Nghĩa vụ được bảo đảmbao gồm: vốn gốc, lãi, lãi quá hạn và các chi phí liên quan khác

- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng vay vốn vàđược pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sở pháp lý để ngânhàng được quyền ưu tiên xử lý tài sản để thu nợ khi người vay không thực hiệnnghĩa vụ trả nợ, đó là cơ sở để người cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm đểthu nợ (nếu có rủi ro xảy ra)

- Tài sản phải có khả năng bán được Mức độ thanh khoản của tài sản cómối quan hệ tỷ lệ thuận với lợi ích của ngân hàng cho vay

1.4.3 Hình thức thế chấp

Trang 8

Thế chấp là bên vay vốn dùng tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữucủa mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi nguồn thu nợ thứ nhất bị mất.

Có các loại thế chấp:

- Căn cứ theo tính chất pháp lý:

+ Thế chấp pháp lý: là phương thức thế chấp mà khách hàng lập sẵn mộtgiấy sang nhượng chủ quyền để khi không có tiền trả nợ, ngân hàng có quyền bánhay quản lý tài sản đó

+ Thế chấp công bằng: ngân hàng chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền

sở hữu tài sản bảo đảm cho khoản vay Do đó ngân hàng muốn phát mãi tài sảnphải chờ qua phán quyết của tòa án

- Căn cứ vào số lần thế chấp:

+ Thế chấp thứ nhất: Là tài sản đang thế chấp cho một món vay

+ Thế chấp thứ hai: tài sản đang thế chấp cho món nợ thứ nhất nhưng giá trịthế chấp còn thừa ra khách hàng đang thế chấp cho ngân hàng khác (hay ngânhàng đó) để vay thêm một món nợ nữa

* Những vấn đề liên quan đến việc cho vay thế chấp tài sản

(1) Giám định tính chất pháp lý của tài sản thế chấp Việc giám định tínhchất pháp lý của tài sản thế chấp không phải là vấn đề phức tạp nhưng đối với ViệtNam thì khá phức tạp, xảy ra nhiều rủi ro liên quan đến vấn đề này là do chưa thựchiện đăng ký tài sản và cấp giấy chứng nhận về sở hữu tài sản, các cơ quan nhànước chưa quản lý hết toàn bộ tài sản đăng ký hoặc quản lý phân tán ở nhiều đơn

vị Để hạn chế rủi ro liên quan đến thủ tục pháp lý, cần phải khai thác thêm cácnguồn thông tin khác như tham khảo ý kiến của trung tâm phòng ngừa rủi ro, cácngười cư trú gắn với tài sản thế chấp

(2) Định giá tài sản thế chấp Về nguyên tắc, phải định giá tài sản thế chấptheo giá thị trường nhằm đảm bảo thu nợ và đáp ứng nhu cầu về vốn của kháchhàng Tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp nên để đảm bảo chính xác cần phải tổchức theo hướng chuyên môn hoá Đối với những tài sản lớn, phức tạp, cần phảithuê các tổ chức tư vấn để thực hiện định giá Chú ý về việc định giá tài sản thếchấp là quyền sử dụng đất hay đất thuê

(3) Xác định số tiền cho vay tối đa so với giá trị tài sản thế chấp Giá trị tàisản thế chấp thông thường lớn hơn số tiền cho vay cộng lãi và chi phí liên quankhác khi thanh lý Vì vậy, giá trị tài sản thế chấp dùng để tính toán là giá trị dự

Trang 9

kiến của tài sản trong tương lai Để đơn giản, ngân hàng thường điều chỉnh tỷ lệcho vay so với tài sản thế chấp tuỳ theo tính ổn định về thị trường và giá cả củatừng loại tài sản.

(4) Hợp đồng thế chấp Thủ tục thế chấp bao gồm hợp đồng thế chấp, giấychứng nhận quyền sở hữu tài sản (hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợpđồng thuê đất) Hợp đồng thế chấp phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghitrong hợp đồng tín dụng Đối với tài sản thế chấp được hình thành từ vốn vay, khitài sản đưa vào sử dụng phải lập phụ lục hợp đồng thế chấp tài sản hình thành vốnvay, trong đó mô tả đặc điểm và xác định giá trị tàI sản Hợp đồng thế chấp cóchứng nhận của công chứng Nhà nước trong trường hợp các bên có thoả thuậnhoặc pháp luật quy định phải thực hiện Sau khi hợp đồng thế chấp được ký kết,các bên tham gia hợp đồng hoặc người được uỷ quyền có thể đăng ký với các cơquan đăng ký giao dịch bảo đảm (những tài sản bắt buộc phải đăng ký giao dịchbảo đảm: tài sản quy định phải đăng ký quyền sở hữu theo luật, tài sản giao cho

bên thế chấp hay người thứ ba nắm giữ (nghị định 08/2000/NĐ-CP về đăng ký

giao dịch bảo đảm))

(5) Thời hạn thế chấp và giải chấp Thời hạn thế chấp tài sản không có thờihạn riêng mà phụ thuộc vào thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng tàisản thế chấp, có nghĩa, khi người vay thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ được đảmbảo bằng tài sản thế chấp thì thời hạn thế chấp cũng chấp dứt Về mặt thủ tục, khithực hiện xong nghĩa vụ, ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận sở hữu tài sản thếchấp cho người vay và lập giấy xác nhận giải toả tài sản thế chấp gởi đến cơ quan

có liên quan Nếu không trả được nợ thì ngân hàng sẽ xử lý tài sản thế chấp theoquy định của pháp luật

1.4.4 Hình thức cầm cố

Cầm cố là việc người đi vay tiến hành chuyển giao tài sản (động sản) thuộc

sở hữu của mình cho người cho vay cất giữ để làm vật bảo đảm cho số nợ vaytrong thời gian nhất định Trong nghiệp vụ cho vay cầm cố gồm các bên: Bên cầm

cố (Là các pháp nhân hay thể nhân khi vay vốn ngân hàng buộc phải có tài sảncầm cố) Bên nhận cầm cố (Là bên cho vay, có thể là ngân hàng thương mại, công

ty tài chính hay hợp tác xã tín dụng) Có các loại cầm cố:

(1) Cầm cố hàng hóa: Là hình thức đảm bảo có ưu thế hơn đảm bảo bằng

bất động sản bởi nó giúp ngân hàng dễ bán để thu nợ hơn khi khách hàng vay

Trang 10

không trả được nợ, ngoài ra, nó giúp khách hàng vay dự trữ vật tư hàng hoá đảmbảo ổn định sản xuất và đáp ứng yêu cầu thị trường Điều kiện cầm cố hàng hoá làhàng hoá có giá trị ổn định, dễ tiêu thụ ở hiện tại và tương lai, và là hàng hoá đượcphép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh hàng hoá đó Việc quản lýhàng hoá cầm cố thường được thực hiện theo các cách sau:

+ Quản lý tại kho ngân hàng: Khách hàng chuyển giao tài sản cho ngânhàng, ngân hàng lập giấy biên nhận cho khách hàng và thực hiện quản lý, bảoquản hàng hoá không bị hư hại cho đến khi khách hàng trả xong nợ thì ngân hàngtrả lại cho khách hàng

+ Quản lý tại kho khách hàng: Hàng hoá cầm cố được lưu giữ ở một khoriêng của khách hàng và đặt dưới sự giám sát của ngân hàng Ngân hàng ký vớikhách hàng 1 hợp đồng thuê kho và đăng ký hợp đồng này với cơ quan Nhà nước.Ngân hàng là người duy nhất giữ chìa khoá, được phép ra vào kho và có bảngniêm phong kho mang tên ngân hàng

+ Quản lý tại kho của bên thứ ba: Người thứ ba là người nhận ký thác đơnthuần hay người nhận ký gởi để bán hàng hoá hộ hay là người nhận gia công.trong trường hợp này, người thứ ba phải có trách nhiệm bảo quản hàng hoá, thamgia vào việc ký kết hợp đồng cầm cố và cam kết chuyển giao hàng hoá khi có sựdồng ý của ngân hàng

Theo quy định của pháp luật, đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữuthì việc cầm cố phải giao tài sản cho ngân hàng nên ngân hàng có thể lập thủ tụcthuê kho của bên thứ ba giống như trường hợp hai hoặc áp dụng phương thức cầm

cố các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng ký thác, gia công

(2) Cầm cố chứng khoán: Bên đi vay chuyển giao các chứng khoán cầm

cố tại tổ chức tín dụng để nhận tiền vay Khi đáo hạn khách hàng trả nợ và nhận lạichứng khoán Các loại chứng khoán cầm cố như công trái, trái phiếu kho bạc, đôthị, công ty, cổ phiếu và các giấy nợ khác Thông thường, trái phiếu nhà nước có

tỷ lệ cho vay cao hơn trái phiếu công ty vì mức rủi ro thấp

(3) Cầm cố các chứng chỉ tiền gửi: Chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm và tiền

gửi có kì hạn (nếu cầm cố tiền gửi thanh toán thì tài khoản tiền gửi thanh toán sẽ

bị phong tỏa) Đây là loại hình đảm bảo an toàn và ít tốn kém vì không cần phảiđịnh giá, việc xử lý thu hồi nợ đơn giản, chi phí phát sinh trong quá trình bảo quảnkhông đáng kể

Trang 11

(4) Cầm cố vàng, đá quý, ngọc quý

(5) Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu: Bên đi vay nhượng lại hợp đồngnhận thầu cho ngân hàng để được tài trợ vốn vì trong hợp đồng có cam kết trả tiềncủa bên đấu thầu Các công ty có hợp đồng xây dựng hoặc cung cấp nếu thiếu vốn

để thực hiện hợp đồng có thể nhượng lại hợp đồng đó cho ngân hàng để được tàitrợ vốn

(6) Bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

(7) Bảo đảm bằng các khoản phải thu

(8) Bảo đảm bằng thương phiếu:

+ Bên bảo lãnh: Là pháp nhân hoặc thể nhân theo yêu cầu của người đi vay

sẽ đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm và nhận trách nhiệm thay chongười đi vay nếu người đi vay không trả được nợ cho ngân hàng

+ Bên được bảo lãnh: Là công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế hay cá nhân cónhu cầu vay vốn ngân hàng nhưng không đủ uy tín hay không có tài sản để bảođảm cho khoản vốn vay Khi được bảo lãnh, bên được bảo lãnh sẽ phải trả mộtkhoản chi phí nhất định cho bên bảo lãnh

+ Bên nhận bảo lãnh: Đó là người cho vay ( Ngân hàng thương mại, công

ty tài chính)

Điều kiện đối với người bảo lãnh: Phải có đủ năng lực pháp lý và khả năngtrả nợ thay cho khách hàng, có đủ năng lực tài chính, uy tín hay tài sản dùng đểbảo đảm nợ vay Sơ đồ khái quát của hình thức bảo lãnh

Trang 12

(1): Hợp đồng bảo lãnh (4): Yêu cầu thanh toán.

(2): Ngân hàng cấp tín dụng (5): Thanh toán cho ngân hàng

(3): Người vay không trả được nợ (6): Bồi thường bảo lãnh

Trình tự xét duyệt một bảo lãnh Xem xét tư cách pháp nhân của một ngườibảo lãnh: Người bảo lãnh phải đủ tư cách pháp nhân và đủ năng lực hành vi, người

kí giấy có đủ khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh? Xem xét uy tín

và khả năng tài chính của người bảo lãnh Uy tín của người bảo lãnh thể hiện ởtrách nhiệm và sự sòng phẳng trong thanh toán của người bảo lãnh trong suốt quátrình kinh doanh từ trước tới nay Do đó trong bảo lãnh cần xem xét khả năng tàichính thực tế của người bảo lãnh và chỉ chấp nhận bảo lãnh cho những khoản vốnvay nhỏ hơn rất nhiều so với khả năng tài chính của người bảo lãnh Cần xem xétđộng cơ của người bảo lãnh nhằm lợi ích gì: núp bóng quốc doanh để kinh doanhhay muốn mượn tay Ngân hàng để bán tài sản bất hợp pháp?

1 QUY TRÌNH TÍN DỤNG

Ý nghĩa của việc thiết lập quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là bản tổng hợp miêu tả các bước đi cụ thể từ khi tiếpnhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định chovay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng

Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng có ý nghĩa rấtquan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng Về mặt hiệu quả, quy trìnhtín dụng hợp lý góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín dụng Vềmặt quản trị, quy trình tín dụng có tác dụng sau đây:

Ngân hàng

(1)

(6)

Trang 13

Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc phân định trách nhiệm vàquyền hạn của từng bộ phận liên quan trong hoạt động tín dụng.Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủtục vay vốn về mặt hành chính.

Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quantrong hoạt động tín dụng

Quy trình tín dụng căn bản

Tùy theo đặc điểm tổ chức và quản trị, mỗi ngân hàng đều tự thiết kế vàxây dựng cho mình một quy trình tín dụng riêng Ở đây, chỉ trình bày các bướccăn bản của 1 quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng có thể phân theo nhiều giai đoạn khác nhau như: 2 giaiđoạn (trước khi cấp tín dung, sau khi cấp tín dụng), 3 giai đoạn (trước khi cấp tíndụng, trong khi cấp tín dụng, sau khi cấp tín dụng) Hiện nay, quy trình tín dụngđược chia thành những giai đoạn như:

Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu vàquy mô tín dụng, CBTD hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin yêucầu khác nhau Nhìn chung, 1 bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ kháchhàng những thông tin sau:

 Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng

 Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng

 Thông tin về bảo đảm tín dụng

Trang 14

Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, ngân hàng thường yêu cầukhách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau:

 Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất

 Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay

 Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết

2.2.2 Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của kháchhàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cảgốc và lời Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống cụ thểdẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó

và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra Mặt khác,phân tích tín dụng cũng quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vayvốn mà khách hàng cung cấp, từ đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hànglàm cơ sở quyết định cho vay Cách thức thu thập thông tin và phân tích cụ thể 1bộ

hồ sơ tín dụng như thế nào sẽ được trình bày trong chương sau

2.2.3 Quyết định và ký hợp đồng tín dụng

Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với 1 hồ sơ vay vốncủa khách hàng Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnhhưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động tíndụng của ngân hàng Có 2 loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này:

 Quyết định chấp thuận cho vay đối với 1 khách hàng không tốt

 Từ chối cho vay đối với 1 khách hàng tốt

Cả 2 loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng Loại sailầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức làthiệt hại về tài chính Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơhội cho vay

Nhằm hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định tín dụng các ngân hàng thườngchú trọng 2 vấn đề (1) thu thập và xử lý thông tin 1 cách đầy đủ và chính xác làm

Trang 15

cơ sở để ra quyết định, (2) trao quyền quyết định cho 1 hội đồng tín dụng hoặcnhững người có năng lực phân tích và phán quyết.

2.2.3.1 Cơ sở để ra quyết định tín dụng

Cơ sở để ra quyết định tín dụng trước hết dựa vào thông tin thu thập và xử lý

từ hồ sơ tín dụng, do giai đoạn trước chuyển sang Kế đến, dựa vào những thôngtin khác hoặc thông tin cập nhật hóa có liên quan, thông tin đa dạng từ nhiềunguồn khác nhau đó được cập nhật hóa, đặc biệt là các thông tin đáng tin cậy từcác công ty nghiên cứu thị trường có uy tín, chẳng hạn như thông tin cập nhật vềtình hình thị trường, chính sách tín dụng của ngân hàng, các quy định về hoạt độngtín dụng của ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn cho vay của ngân hàng, kết quảthẩm định các hình thức bảo đảm nợ vay

2.2.3.2 Quyền phán quyết dụng

Tùy theo quy mô vốn vay lớn hay nhỏ quyền phán quyết thường được trao cho

1 hội đồng tín dụng hay 1 cá nhân phụ trách Hội đồng tín dụng, bao gồm nhữngngười có quyền hạn và trách nhiệm quan trọng trong ngân hàng, thường phánquyết những hồ sơ vay vốn có quy mô lớn trong khi quyền phán quyết các hồ sơvay có quy mô nhỏ thường được trao cho cá nhân phụ trách

Quyền phán quyết tín dụng: có 2 cách:

+ Cách 1: Người ra quyết định thường là những nhân viên có trình độ, kinhnghiệm và uy tín tại ngân hàng Việc phân công nhiệm vụ này phụ thuộc vàochính sách và phương pháp quản trị của mỗi ngân hàng Có thể tập trung quyền raquyết định cho một người như Giám đốc, hoặc nhóm người như hội đồng quản trị

Ưu điểm của cách này làm cho ngân hàng dễ dàng điều hành và điều chỉnh

cơ cấu tín dụng theo mục tiêu định sẵn

Nhược điểm: Rất khó cho ngân hàng khi họ có một số lượng khách hànglớn Ngoài ra, có thể dẫn đến tiêu cực Hơn nữa, tạo cho nhân viên cấp dưới có sự

ỷ lại khi tham gia thẩm định nhất là khi không có sự phân định rõ ràng được tráchnhiệm của các cá nhân khi tham gia vào quá trình hình thành nên quyết định tíndụng Cách này chỉ thích hợp với ngân hàng nhỏ

+ Cách 2: Thường gặp trong hoạt động tín dụng ngày nay là phân quyềnbằng việc quy định các mức phán quyết tín dụng cho từng cấp nhân viên Mứcphán quyết của từng cấp nhân viên phụ thuộc vào: Kinh nghiệm của nhân viên,thời hạn cấp tín dụng, loại cho vay (chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, có đảm bảo,

Trang 16

không có đảm bảo), đồng tiền cấp (nội, ngoại tệ) Cách này muốn phát huy hiệuquả, nhà quản trị phải xác định rõ trình độ và kinh nghiệm của các nhân viên thamgia vào giai đoạn này, từ đó quy định số tiền tối đa mà họ được quyền phán quyết

Ưu điểm: sẽ phát huy tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của nhân viên,giảm sức ép lên nhà quản trị, giảm thời gian lưu giữ hồ sơ, tạo cơ sở kiểm soát vànâng cao chất lượng tín dụng

Nhược điểm: phương pháp tuy nhanh nhưng không đảm bảo tính chính xác

và khách quan khi có kết quả quyết định tín dụng và kết quả khâu thẩm định tráingược nhau

Kết thúc giai đoạn này, nhà quản trị phải tính giá cả, chi phí cho khoản tíndụng nếu được cấp, lượng định những rủi ro có thể xảy ra để dự kiến thu nhập cóđược từ khoản tín dụng được cấp Kết thúc giai đoạn này được xác định bởi cácvăn bản thể hiện kết quả ra quyết định tín dụng Nếu từ chối, ngân hàng có vănbản, nêu ra lý do từ chối và người ra quyết định phải ghi ý kiến từ chối lên giấy đềnghị cấp tín dụng cũng như hồ sơ xin cấp tín dụng Nếu chấp thuận: ngân hàng sẽtiến hành ký kết hợp đồng tín dụng cùng với các hợp đồng liên quan Đây là hành

vi pháp lý quan trọng để làm cơ sở giao vốn cho người vay và kiểm soát việc thuhồi vốn cấp Hợp đồng tín dụng được ký kết với các điều khoản rõ ràng, cụ thể thìcông tác giám sát tín dụng ở giai đoạn sau sẽ thuận lợi Hồ sơ tín dụng ban đầuhình thành bao gồm: các giấy tờ giai đoạn 1 + Báo cáo kết quả phân tích giai đoạn

2 + các tài liệu cập nhật về khách hàng + các hợp đồng về đảm bảo tín dụng + hợpđồng tín dụng được ký kết Hồ sơ này được lưu giữ tại ngân hàng và được cậpnhật thường xuyên

Lưu ý cần phân biệt rõ trách nhiệm giữa người ra quyết định tín dụng vớingười đại diện ngân hàng ký kết hợp đồng tín dụng Người ra quyết định phải chịutrách nhiệm về tính đúng đắn, hợp lý của các yếu tố liên quan đến khoản tín dụngnhư: mục đích, số tiền, thời hạn, điều kiện giải ngân, cách thu nợ, , Người ký hợpđồng là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng để ký vào văn bản xác lậpcác nghĩa vụ và quyền hạn của 2 bên trong quan hệ tín dụng ( tổng giám đốc, giámđốc) Người này có thể uỷ quyền cho người khác bằng văn bản, người được uỷquyền không được uỷ quyền lại cho người khác Tuy nhiên, người ra quyết địnhtin dụng không được uỷ quyền cho người khác, việc thay đổi người ra quyết địnhtín dụng phải tiến hành theo trình từ nghiêm ngặt của ngân hàng

Trang 17

2.2.4 Giải ngân

Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã

ký kết trong hợp đồng Giải ngân phải đảm bảo nguyên tắc vận động của tín dụnggắn liền với vận động của hàng hoá, đó là việc phát tiền vay phải có hàng hoá đốiứng, phù hợp với mục đích vay của hợp đồng tín dụng Phương thức giải ngân phụthuộc vào nội dung cam kết của hợp đồng Theo tính chất nghiệp vụ, chia 2 loại:

+ Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền thuần tuý trong hạn mức tín dụng, không

đòi hỏi thêm bất cứ điều kiện nào (thường áp dụng cho loại hình cho vay tiêudung, cho vay hộ sản xuất, mức vay nhỏ)

+ Giải ngân là quyết định cho vay phụ kèm theo với việc cấp tiền khi hợp

đồng có quy định những điều kiện ràng buộc cho việc giải ngân Trong trường hợpnày có các tình huống: ngân hàng có thể từ chối cấp tiền vay khi những điều kiện

để đảm bảo môi trường tốt cho khoản tín dụng, những vấn đề liên quan đến chínhsách đầu tư, thuế, những điều kiện về vốn đối ứng không được đáp ứng Ngânhàng chỉ cấp tiền vay theo những điều kiện ràng buộc của hợp đồng nhưng nhữngđiều kiện ràng buộc chưa được đáp ứng thì vốn vay chưa được giải ngân

Tuỳ theo mỗi loại và kỹ thuật cho vay khác nhau mà phương pháp giảingân khác nhau Thường có các phương pháp chính như:

+ Cho vay mua hàng tồn kho, máy móc thiết bị thì phương pháp giải ngâncủa ngân hàng là trả thẳng cho bên bán dựa trên các chứng từ cung cấp hàng hoá

+ Khi cho vay để thực hiện các dự án đầu tư, việc giải ngân căn cứ vào khốilượng xây lắp đã hoàn thành Việc phát tiền vay dựa trên cơ sở biên bản nghiệmthu hoàn thành công trình hoặc hạn mục công trình Nếu bên ngoài nhận thuần thìchuyển trả thẳng cho bên nhận thầu

+ Đối với kỹ thuật chiết khấu, factoring, cho vay theo tỷ lệ hàng tồn kho,khoản phải thu, việc giải ngân được thực hiện bằng cách chuyển vào tài khoản tiềngởi thanh toán của người vay

+ Cho vay để mua hàng nông sản, thuỷ sản thì giải ngân theo tiến độ muahàng Cơ sở giải ngân là dựa vào mức tồn kho hàng hoá và biên bản kiểm tra hàngtồn kho của ngân hàng

2.2.5 Giám sát, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng

(1) Giám sát tín dụng: là nhằm kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã

cam kết theo hợp đồng tín dụng như: Khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích

Trang 18

không, kiểm soát mức độ rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình sử dụng vốn,theo dõi thực hiện các điều khoản cụ thể đã thoả thuận tr ong hợp đồng, kịp thờiphát hiện những vi phạm để có những ứng xử kịp thời, theo dõi và ghi nhận việcthực hiện quy trình tín dụng của các bộ phận có liên quan tại ngân hàng Cácphương pháp giám sát mà ngân hàng thường áp dụng:

+ Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng

+ Phân tích báo cáo tài chính theo định kỳ

+ Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động kinh doanh

+ Kiểm tra việc đảm bảo tiền vay

+ Giám sát hoạt động khách hàng thông qua các mối quan hệ với kháchhàng khác

+ Giám sát qua những thông tin khác

(2) Công tác thu nợ: Khách hàng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cho

ngân hàng đúng hạn và đầy đủ như trong cam kết theo hợp đồng Các phươngpháp thu nợ:

+ Thu gốc và lãi một lần ở kỳ hạn trả nợ cuối cùng

+ Thu nợ gốc 1 lần khi đến hạn, thu lãi định kỳ

+ Thu nợ gốc và lãi theo nhiều kỳ hạn

Thủ tục thu nợ: trước ngày đáo hạn trả nợ, ngân hàng thường thông báo chokhách hàng biết số nợ phải thanh toán và ngày thanh toán bằng các hình thức nhưthông báo bằng thư, qua bưu điện, trực tiếp, bằng điện thoại hay qua mạng Trongquá trình giám sát thu nợ, ngân hàng thường áp dụng một số biện pháp sau:

+ Điều chỉnh kỳ hạn nợ

+ Chuyển nợ quá hạn các khoản đến hạn nhưng chưa trả được

+ Coi các kỳ hạn sau đều đến hạn và chuyển nợ quá hạn số nợ còn lại

+ Khi đáo hạn mà khách hàng không trả được do nguyên nhân khách quan,nếu có nhu cầu và hội đủ các điều kiện, ngân hàng xem xét để gia hạn nợ Việc giahạn nợ (kéo dài thời hạn trả) sẽ quay lại giai đoạn 2

+ Đảo nợ: là ký hợp đồng mới để thanh lý hợp đồng cũ Phương pháp nàychỉ áp dụng trong một số trường hợp nhất định như ngân hàng cho vay khách hàngthuộc đối tượng trung dài hạn do khách hàng không có nguồn vốn tương ứng hay

do nhu cầu quản trị danh mục cho vay ngân hàng phải cấu trúc lại nợ, có sự thay

Ngày đăng: 10/09/2014, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w