LỜI NÓI ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Theo quy định của nhà trường, nhiệm vụ chuyên đề môn học sau môn học là điều cần thiết, giúp cho chúng em có một cái nhìn xác thực hơn về môn học, tạo cho chúng em có được sự tìm tòi, tự học hỏi trên cơ sở được sự hướng dẫn và những kiến thức mà các thầy cô đã giảng dạy. Trong quá trình học môn “Tài chính doanh nghiệp phần II”Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Minh Tuấn”. làm nhiệm vụ cho mình. 2. SƠ LƯỢC VỀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI Hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kỳ doanh nghiệp nào đều gắn liền với hoạt động tài chính và hoạt động tài chính không thể tách khỏi quan hệ trao đổi tồn tại giữa các đơn vị kinh tế. Hoạt động tài chính có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu tạo vốn trong doanh nghiệp đến khâu phân phối tiền lãi thu được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật. Trong kinh doanh nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng.v.v. Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau. Song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa.v.v.. Vì vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo quy định của nhà trường, nhiệm vụ chuyên đề môn học sau môn học làđiều cần thiết, giúp cho chúng em có một cái nhìn xác thực hơn về môn học, tạocho chúng em có được sự tìm tòi, tự học hỏi trên cơ sở được sự hướng dẫn vànhững kiến thức mà các thầy cô đã giảng dạy
Trong quá trình học môn “Tài chính doanh nghiệp phần II”Xuất phát từ
nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính thông qua hệ
thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, em đã chọn đề tài: “Phân tích tình
hình tài chính qua báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Minh Tuấn” làm nhiệm vụ cho mình.
2 SƠ LƯỢC VỀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kỳ doanh nghiệp nào đều gắn liền vớihoạt động tài chính và hoạt động tài chính không thể tách khỏi quan hệ trao đổitồn tại giữa các đơn vị kinh tế Hoạt động tài chính có mặt trong tất cả các khâucủa quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu tạo vốn trong doanh nghiệp đến khâuphân phối tiền lãi thu được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳngtrước pháp luật Trong kinh doanh nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tàichính của doanh nghiệp như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, kháchhàng.v.v Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
ở các góc độ khác nhau Song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo racác dòng tiền mặt, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tốiđa.v.v Vì vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽgiúp cho các nhà doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thựctrạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnhhưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó có những giải pháp hữuhiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: vtvu2015@gmail.com ; Fabook: vttuan85
Trang 2LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I Khái niệm và mục đích của việc lập báo cáo tài chính
1 Khái niệm báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồnvốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanhtrong thời kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác, báo cáo kế toán tài chính làphương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệpcho những người quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quanthuế và các cơ quan chức năng.)
2 Mục đích của việc lập báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập với mục đích sau:
- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, công
nợ, nguồn vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trongmột kỳ hạch toán
- Cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu phục vụ cho việc đánh giátình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp đồng thời đánh giá thực trạngtài chính của doanh nghiệp trong kỳ đã qua và những dự đoán cho tương lai.Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyếtđịnh về quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hay đầu tư vào doanhnghiệp, các chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai củadoanh nghiệp
II Bản chất, vai trò của báo cáo tài chính
1 Bản chất của báo cáo tài chính
Báo cáo kế toán quản trị cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin cầnthiết để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, nó tồntại vì lợi ích của nhà quản lý Nói một cách tổng quát, nó cung cấp những thôngtin phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý và chủ yếu mang tính định
Trang 3hướng cho tương lai Báo cáo kế toán quản trị được lập ra theo yêu cầu quản lý
cụ thể của doanh nghiệp, không mang tính pháp lệnh
2 Vai trò của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanhnghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp nhưcác cơ quan quản lý của Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại và đầu tư tiềm năng,các chủ nợ, các nhà kiểm toán viên độc lập
III Nội dung của báo cáo tài chính
Theo quy định hiện hành (theo Quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày25/10/2000) báo cáo tài chính quy định bắt buộc cho các doanh nghiệp gồm 4biểu mẫu sau:
- Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Outcome Statement)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flows)
- Thuyết minh báo cáo tài chính (Explaination of Financial Statements)
1 Bảng cân đối kế toán ( B01 - DN)
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tìnhhình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định dướihình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành Bảng cân đối kế toán làtài liệu quan trọng nhất để đánh giá ,nghiên cứu một cách tổng quát tình hình vàkết quả kinh doanh trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chínhcủa doanh nghiệp
2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (B02-DNN)
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phảnánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán của doanhnghiệp chi tiết theo từng loại hoạt động kinh doanh và tình hình thực hiện nghĩa
vụ với nhà nước về thuế, các khoản phải nộp khác
Căn cứ vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, người sử dụng thông tin có thể nhận xét và đánh giá khái quát tình hình
Trang 4khoản với nhà nước.Thông qua việc phân tích số liệu trên báo cáo này, ta có thểbiết được xu hướng phát triển và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kỳ này
so với kỳ trước
3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03 - DN)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hìnhthành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người sử dụng có thể đánh giá đượckhả năng tạo ra tiền sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp khả năng thanhtoán của doanh nghiệp và dự đoán được luồng tiền trong kỳ tiếp theo củadoanh nghiệp
4 Thuyết minh báo cáo tài chính (B09 - DN)
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tàichính của doanh nghiệp, được lập nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động sảnxuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính đồng thời giải thíchthêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa trình bày một cách rõràng và cụ thể được
5 Một số chỉ tiêu chủ yếu trong thuyết minh báo cáo
- Chi phí sản xuất, kinh doanh được lập theo các yếu tố:
+ Chi phí nguyên vật liệu
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí nhân công
+ Chi phí khác bằng tiền
+ Chi phí khấu hao tài sản cố động
+ Chi phí khác bằng tiền
-Tình hình tăng, giảm tài sản cố định
- Tình hình thu nhập của cộng nhân viên
- Tình hình tăng, giảm vốn chủ sở hữu
- Tình hình tăng, giảm các khoản đầu tư vào các đơn vị khác
Trang 5- Các khoản phải thu và nợ phải trả
- Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
+ Bố trí cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn
+ Khả năng thanh toán
+ Tỷ suất sinh lời
IV - Phương pháp phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
Khi phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua hệ thống báocáo tài chính kế toán cần phải sử dụng một số phương pháp chủ yếu, phươngpháp so sánh được sử dụng nhiều trong quá trình phân tích Phương pháp sosánh được dùng để xác định xu hướng phát triển và mức độ biến động của cácchỉ tiêu kinh tế Để tiến hành so sánh được cần phải giải quyết những vấn đề sau:
- Chọn tiêu chuẩn so sánh
- Điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế
- Hình thức so sánh
1 Tổ chức công tác Phân tích tài chính của doanh nghiệp
a - Khái quát chung về tổ chức phân tích :
Tổ chức phân tích là vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích để đánhgiá đúng kết quả, chỉ rõ những sai lầm và tìm biện pháp sửa chữa thiếu sót trongquản lý tài chính và sử dụng vốn Đây là một yêu cầu rất cơ bản có ý nghĩa rấtthực tiễn đối với người quản lý kinh doanh
b - Quy trình tổ chức công tác phân tích tài chính :
Bước 1:
Chuẩn bị cho công tác phân tích: Xác định về nội dung, phạm vi thời gian vàcách tổ chức phân tích Nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề cần đượcphân tích: có thể toàn bộ các chỉ tiêu hoặc các chỉ tiêu chủ yếu Đây là cơ sở đểxây dựng đề cương cụ thể để tiến hành phân tích Luận văn tốt nghiệp
Phạm vi phân tích có thể là toàn bộ Công ty hoặc một đơn vị phụ thuộc, kỳphân tích có thể là một kỳ kinh doanh (6 tháng hoặc một năm) được chọn để
Trang 6hợp
Sưu tầm tài liệu làm căn cứ phân tích bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán (còn gọi là bảng tổng kết tài sản)
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Một số tài liệu liên quan khác như: số dư tài khoản 131, 331
- Kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu, tính chính xác của các con số
Bước 2:
- Tiến hành phân tích: Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu, số liệu và phương phápphân tích, cần xác định hệ thống chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tíchphù hợp Khi phân tích tài chính ta sử dụng các phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp theo tỷ lệ
- Phương pháp chỉ tiêu
- Phương pháp xu hướng
- Phương pháp so sánh
Bước 3: Lập báo cáo phân tích
Báo cáo phân tích là bản tổng hợp gồm hai phần: Đánh giá cơ bản cùngnhững tài liệu chọn lọc để minh hoạ rút ra từ quá trình phân tích Đánh giá cùngminh hoạ cần nêu rõ cả thực trạng và tiềm năng cần khai thác Từ đó nêu rõđược phương hướng và biện pháp phấn đấu trong kỳ tới
2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp
2.1 Các hệ số về khả năng thanh toán
• Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả nă thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiệnnay doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả (Nợ dài hạn +
Nợ ngắn hạn)
Tổng tài sản
HS khả năng thanh toán tổng quát =
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Trang 7• Hệ số khả năng thanh toán tạm thời
Hệ số khả nưng thanh toán tạm thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưuđộng với nợ ngắn hạn
• Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả nưng trả nợ ngay,không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hoá
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Tổng nợ ngắn hạn
• Hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụngvốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ
LN trước thuế và lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả
2.2 Các hệ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Trang 8• Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư là tỷ lệ giữa TSLĐ (giá trị còn lại) với Tổng TS của doanhnghiệp
Giá trị còn lại của TSCĐ và đầu tư dài hạn
Tỷ suất đầu tư =
• Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của mộtvòng quay hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán
Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Trang 9• Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phảithu thành tiền mặt của doanh nghiệp
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu Trong đó:
Số dư các khoản phải Số dư các khoản đầu kỳ + phải thu cuối kỳ
Số dư TB các khoản phải thu =
2
• Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phảithu
360 ngày
Kỳ thu tiền trung bình =
Vòng quay các khoản phải thu
• Số ngày một vòng quay vốn lưu động
Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động phản ánh trung bình một vòng quay vốnlưu động hết bao nhiêu ngày
360 ngày
Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động =
Số vòng quay vốn lưu động
Trang 10• Hiệu xuất sử dụng vốn cố định
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp Cónghĩa là cứ đầu tư trung bình 1 đồng vào vốn cố định thì tạo ra bao nhiêu đồngthanh toán
Doanh thu thuần
• Tỷ suất doanh lợi doanh thu
Tỷ suất này thể hiện trong 1 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiệntrong kỳ có mấy đồng lợi nhuận
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất doanh lợi doanh thu =
Doanh thu thuần
• Tỷ suất doanh lợi tổng vốn
Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lợi của đồng vốn Chỉ tiêu này phảnánh cứ 1 đồng vốn bình quân trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn =
Vốn sản xuất bình quân
Trang 11• Doanh lợi vốn chủ sở hữu
Là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này Chỉ tiêu này chobiết 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra mấy đồng lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận thuần
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
• Tỷ suất lợi nhuận Vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn lưu động bình quân toạ ra mấy đồng lợinhuận sau thuế
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
• Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn cố định bình quân tạo ra mấy đồng lợinhuận sau thuế
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định =
Vốn cố định bình quân
Trang 12CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG MINH TUẤN
I VÀI NÉT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG MINH TUẤN
Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Minh Tuấn do các cá nhân góp vốn đầu
tư, có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập
Tên công ty DỰNG MINH TUẤN: TỔNG CTY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY Tên công ty (English) :
khai thác sản xuất VLXD và đá ốp lát XK,
II THỰC TRẠNG VỀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế,các doanh nghiệp đều cố gắng giữ vững vị trí của mình và luôn tìm biện phápnhằm mở rộng thị trường Để có thể làm được điều đó, các doanh nghiệp khôngnhững phải nghiên cứu nhu cầu thị trường mà đồng thời phải đánh giá được thựclực hiện có của mình qua việc phân tích các báo cáo tài chính Mục đích này chỉđạt được khi các báo cáo tài chính được lập một cách trung thực Hàng quýCông ty thực hiện chế độ các báo cáo bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo
Trang 13kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính vàcác phụ biểu khác
III PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG MINH TUẤN
1 Đánh giá khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp
Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho ta nhận định một cáchtổng quát về tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là tốt hay xấu Điều đó chophép Giám đốc Công ty thấy rõ được thực chất của quá trình hoạt động kinhdoanh thương mại và dự đoán được khả năng phát triển hay xu hướng suy thoáicủa Công ty mình và trên cơ sở đó đề ra biện pháp quản lý hữu hiệu
1.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán BẢNG 1 BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG MINH TUẤN
Đơn vị tính: (1000 Đồng)
Trang 16Qua số liều trên bảng cân đối kế toán (Bảng 1) ta sẽ thấy được quy mô màCông ty hiện đang quản lý và sử dụng cùng với sự hình thành nguồn vốn ấy nhưthế nào, đồng thời thấy được xu hướng biến động của chúng là tốt hay chưa tốtqua các kỳ kế toán Để tìm ra nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự biến đổi ấychúng ta cần đi xâu xem mức độ ảnh hưởng của các khoản mục đến tài sản vànguồn hình thành tài sản như thế nào Từ đó có biện pháp điều chỉnh cho phùhợp
Để có thể đạt được mục tiêu trên, ta cần phân tích, đánh giá cơ cấu tài sản và
cơ cấu nguồn hình thành tài sản
Phân tích đánh giá cơ cấu vốn và nguồn hình thành vốn
Thực trạng tài chính của Công ty được biểu hiện rõ nét trên bảng cân đối kếtoán (Bảng 1) nó nói lên sự biến động trong cơ cấu tài sản, trong cơ cấu nguồnvốn đồng thời cũng chỉ rõ việc doanh nghiệp huy động và sử dụng vốn có hiệuquả hay không giữa hai kỳ kế toán liên tiếp
Trang 17quy mô kinh doanh của Công ty tăng lên nhiều so với năm 2003 Trong nền kinh
tế thị trường hiện nay, để có thể duy trì và mở rộng thị trường, để có thể cạnhtranh được với các doanh nghiệp cùng ngành khác thì việc mở rộng quy mô vốnkinh doanh là điều hợp lý và tất nhiên
Tuy nhiên để đánh giá thực trạng tài chính của Công ty ta không chỉ dừng lại
ở quy mô vốn kinh doanh mà vẫn nắm được sự biến động của tài sản cùngnhững yếu tố tác động đến sự biến đổi này
BẢNG 2:CƠ CẤU TÀI SẢN
Đơn vị tính:(1000) ĐVN
Ta thấy mức tăng +42.968.959.000đ là khá cao và là điều kiện tốt để Công ty
mở rộng phạm vi hoạt động của mình Năm 2003 Công ty đầu tư 97,11% tổngtài sản vào tài sản lưu động trong khi đó TSCĐ là 2,89% và năm 2004 tỷ trọng
Trang 18tư xây dựng Minh Tuấn thì TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với TSCĐbởi lẽ chu kỳ sản xuất kinh doanh của Công ty ngắn, số vòng quay lớn do đó màcần nhiều TSLĐ So với những doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì TSLĐchiếm trên 90% tổng tài sản là hợp lý Việc đầu tư vào TSLĐ sẽ tạo vốn chohoạt động kinh doanh đồng thời giải quyết nhanh khâu thanh toán cũng như trả
nợ vay Đến năm 2004 tỷ trọng TSLĐ vẫn chiếm chủ yếu trong tổng tài sản,chiếm 97,04% và TSCĐ là 2,96% Đây là dấu hiệu chứng tỏ Công ty đã chútrọng hơn đến việc đầu tư vào TSCĐ tuy nhiên việc điều chỉnh này là rất ít,không đáng kể và không làm thay đổi cơ cấu vốn
Từ số liệu bảng 2, ta thấy so với năm 2004 lượng tiền và TSLĐ khác tăng lênrất nhanh ( lượng tiền tăng + 28.626.719.000đ với mức tăng tương đối là310,95% và TSLĐ khác tăng là +657.044.000đ và 263,58%) Điều này cho thấytốc độ tăng của các khoản mục này là rất lớn, song do tỷ trọng của chúng chiếmtrong tổng TSLĐ khá nhỏ nên mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến độngcủa TSLĐ là không lớn Sở dĩ năm 2004 Công ty có lượng tiền và TSLĐ kháctăng như vậy là do đã giảm được tỷ trọng của các khoản phải thu và hàng tồnkho và do việc mở rộng quy mô kinh doanh
Trong cơ cấu TSLĐ thì các tài khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷtrọng lớn Năm 2003 các khoản phải thu chiếm 38,41% và hàng tồn kho chiếm53,38% tổng tài sản và con số tương ứng của năm 2004 là 34,04% và45,44% Nếu chỉ xét riêng trong cơ cấu TSLĐ thì năm 2003 riêng 2 khoản phải thu vàhàng tồn kho đã chiếm tỷ lệ 94,52% và 81,90% trong năm 2004 Số liệu trênbảng 2 ta thấy tốc độ tăng của các khoản phải thu là 10,08% nhỏ hơn tốc độ tăngcủa TSLĐ là 24,11% Và tốc độ tăng của hàng tồn kho giữ ở mức 5,72% điềunày chứng tỏ Công ty có xu hướng giảm lượng hàng tồn kho nhằm tránh ứ đọngvốn
Như vậy, sự biến động của TSLĐ chịu ảnh hưởng của 4 nhân tố: tiền, cáckhoản phải thu, hàng tồn kho, TSLĐ khác nhìn chung sự biến động này là
Trang 19tương đối tốt song Công ty cần phải quan tâm nhiều hơn nữa trong việc giảmcác khoản phải thu và hàng tồn kho vì xét trong 1 quá trình lâu dài thì 2 khoảnnày có tác động rất mạnh mẽ đến TSLĐ đồng thời nó cũng thể hiện hiệu quả sửdụng vốn TSLĐ ngày càng tốt hơn
Trong cơ cấu tài sản, TSCĐ và đầu tư dài hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ mặc dùđầu tư vào năm 2004 tăng tuyệt đối +1.386.605.000đ với tỷ lệ tương đối là26,99% Qua khảo sát tình hình TSCĐ tăng là do Công ty trang bị mới một sốlượng lớn các máy móc thiết bị và phương tiện vận tải phục vụ cho nhu cầu củaCông ty (Phương tiện vận tải tăng 2.355.707.000đ thiết bị, dụng cụ quản lý tăng72.252.000đ )
Bên cạnh việc tăng TSCĐ thì hoạt động đầu tư tài chính dài hạn của Công tycũng tăng rõ rệt Cụ thể: Năm 2003 Công ty đầu tư vào chứng khoán270.000.000đ (chiếm 0,16% tổng tài sản) và đến năm 2004 con số này đã tănglên là 553.000.000đ (chiếm 0,25% tổng tài sản)
-Về cơ cấu nguồn vốn
Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn giúp chúng ta thấy, để có vốn cho sảnxuất kinh doanh Công ty đã huy động từ những nguồn nào và mức độ ảnh hưởngcủa từng nhân tố đến sự biến động của nguồn vốn Qua đó thấy mức độ độc lập
về mặt tài chính và trách nhiệm pháp lý đối với các khoản nợ của Công ty :
Bảng 3: CƠ CẤU NGUỒN VỐN
Đơn vị tính:(1000) ĐVN
Trang 20Qua số liệu trên bảng 3 năm 2004, so với năm 2003 nguồn vốn tăng42.968.959.000đ với mức tăng tương đối là 24,19% Sự tăng, giảm nguồn vốnchịu ảnh hượng của 2 nhân tố là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu Nếu nhưnguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp
có khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệpđối với chủ nợ là rất cao Ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trongtổng số nguồn vốn thì khả năng bảo đảm về mặt tài chính là rất thấp
Qua bảng số liệu trên cho thấy tỷ trọng nợ phải trả và tỷ trọng nguồn vốn chủ
sở hữu qua 2 kỳ kế toán là không có sự thay đổi đáng kể Năm 2003 nợ phải trảchiếm 74,62% và nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 25,38% tổng nguồn vốn, chứng
tỏ khả năng đảm bảo về mặt tài chính của Công ty là thấp, tổng số nợ phải trảquá cao Năm 2004 số nợ của Công ty vẫn đạt 74,93% trong khi nguồn vốn chủ
sở hữu là 25,07% Mức độ tăng giữa 2 năm lần lượt là 24,71%và 22,65%
Mặc dù vốn chủ sở hữu của Công ty đã tăng được 10 tỷ đồng là một con sốđáng mừng nhưng kéo theo đó là sự gia tăng của nợ phải trả là 32 tỷ đồng Tuynhiên, đây cũng không phải là dấu hiệu xấu vì các khoản nợ ngắn hạn Nhưng
Trang 21bên cạnh đó Công ty cũng cần có chính sách thích hợp để đảm bảo khả năngthanh toán các khoản nợ, vay ngắn hạn (vì thời hạn của chúng rất ngắn)
Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn hoạt động sản xuất kinh doanh
Để đánh giá tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh củaCông ty, cần phải phân tích 2 chỉ tiêu là nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn tàitrợ tạm thời Chỉ tiêu nguồn tài trợ thường xuyên cho ta biết để tài trợ cho các
dự án hay kế hoạch chiến lược lâu dài của Công ty thì mức độ đó đến đâu, cócần điều chỉnh không và điều chỉnh đến mức nào là đủ Từ số liệu trên bảng cânđối tài khoản năm 2004 ta lập bảng phân tích nguồn tài trợ của Công ty
Bảng 4: BẢNG PHÂN TÍCH NGUỒN TÀI TRỢ
Đơn vị tính(1000) ĐVN
Qua số liệu trên bảng 4, nguồn tài trợ thường xuyên của năm 2004 tăng sovới năm 2003 là 10.210.311.000đ, tỷ lệ tăng tương ứng là 22,65% Nguồn tài trợthường xuyên chỉ chiếm 25,4% (năm 2003) nhu cầu về tài sản Trong nguồn tài
Trang 22không có nợ dài hạn Đây là dấu hiệu tốt vì Công ty đã tăng được nguồn vốn chủ
sở hữu để bù đắp cho nhu cầu về tài sản Trong nguồn vốn kinh doanh thì tỷtrọng nguồn vốn ngân sách là rất lớn chiếm 70% (trong năm 2003 là12.733.636.000đ và năm 2004 là 13.091.225.000đ ) ngoài ra là nguồn vốn tự bổxung Có 5 quỹ để hình thành nên nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty là quỹphát triển kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi vàquỹ trợ cấp mất việc làm Trong đó Công ty ưu tiên tăng quỹ phát triển kinhdoanh, chiếm tỷ lệ 78% tổng các quỹ (năm 2003 là 8.625.978.000đ, năm 2004 là18.214.327.000đ ) việc tăng quỹ kinh doanh này cho thấy việc làm ăn của Công
ty ngày càng mở rộng
Nếu so sánh nguồn tài trợ tạm thời và nguồn tài trợ thường xuyên, ta thấy tỷ
lệ này đạt 294,0% vào năm 2003 và đến năm 2004 là 298,96% (tăng 4,96%).Cho thấy sự thiếu ổn định và vững chắc trong kinh doanh của Công ty khả năngtài chính của Công ty chưa thực sự mạnh, thực lực của công ty chưa đủ đáp ứngnhu cầu của kinh doanh và nguồn tài trợ phụ thuộc quá nhiếu vào ngắn hạn Khiphân tích tình hình bảo đảm vốn cho sản xuất kinh doanh người ta còn sử dụngchỉ tiêu "nhu cầu vốn lưu động thường xuyên"
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn mà Công ty cần
để tài trợ cho 1 phần tài sản lưu động là hàng tồn kho và các khoản phải thu Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của Công ty năm 2003, 2004 thể hiện ởbảng sau
Bảng 5: NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG THƯỜNG
Đơn vị tính:(1000) ĐVN
Trang 23Như vậy nhu cầu vốn lưu động thường xuyên năm 2004 so với năm 2003giảm đi 20.259.704.000đ Năm 2003 nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là+31.739.991.000đ nghĩa là tồn kho và phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn chứng tỏngoài việc tài trợ cho tồn kho và các khoản phải thu bằng nguồn vốn ngắn hạn,Công ty còn phải dùng nguồn chủ sở hữu để tài trợ cho phần chênh lệch đó (vìCông ty không sử dụng nợ dài hạn) Cũng như vậy năm 2004 Công ty vẫn phải
sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để bù đắp cho tồn kho và phải thu là11.480.288.000đ
Tuy nhiên, theo kết quả tính toán được ở bảng 5 ta thấy nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên năm 2004 giảm đi 20.259.704.000đ so với năm 2003nguyên nhân chủ yếu là do nợ ngắn hạn tăng nhanh so với tồn kho và phải thutăng là 12.298.591.000đ ) Nhưng nếu chỉ dừng ở đây ta cũng chưa thể đưa rakết luận chính xác việc giảm tỷ lệ tăng hàng tồn kho và các khoản phải thu là tốthay xấu, vì trong phần này có những khoản mục tăng lên đôi khi được coi là tốt,chẳng hạn như đến cuối kỳ mà giá mua hàng hoá tăng lên so với đầu kỳ trongkhi Công ty lại dự trữ nhiều thì sẽ là điều tốt vì Công ty sẽ được hưởng chênhlệch giá của hàng hoá này Vì vậy để có thể kết luận chính xác ta cần đi sâu phântích cơ cấu hàng tồn kho và các khoản phải thu, cùng cơ cấu nợ ngắn hạn Trước tiên ta hãy xem xét cơ cấu tồn kho và các khoản phải thu qua việcphân tích các số liệu trên bảng sau:
Bảng 6: CƠ CẤU TỒN KHO VÀ PHẢI THU
Đơn vị tính:(1000) ĐVN
Trang 24So với năm 2003 giá trị hàng tồn kho và các khoản phải thu năm 2003 tăng
cả về số lượng tuyệt đối và tương đối, cụ thể tăng 12.298.591.000đ với tỷ lệ tăng7,54% (Bảng 5) Việc tăng giảm tồn kho và phải thu là tổ hợp của sự tăng giảmcủa từng khoản mục trong đó Có kết quả trên là do Công ty đã tăng hàng tồnkho 5.424.264.000đ và tăng giá trị các khoản phải thu 6.874.327.000đ với tốc độtăng tương ứng là 5,72% và 10,08% ( Bảng 3)
Nếu xét riêng trong cơ cấu hàng tồn kho, thì số liệu bảng 2.6 cho thấy công
cụ dụng cụ và hàng hoá tồn kho đều tăng Cụ thể năm 2004 công cụ dụng cụtrong kho tăng 1.911.450.000đ và hàng tồn kho tăng 701.232.000đ với tỷ lệ tăngtương ứng là 121,01% và 0,73% Lý do tăng cơ cấu hàng tồn kho là do Công typhải nhập về một số lượng lớn hàng khuyến mại
Cùng với việc phân tích cơ cấu hàng tồn kho, việc phân tích cơ cấu cáckhoản phải thu và ảnh hưởng của các chỉ tiêu trong đó như thế nào đến hoạtđộng của Công ty cũng có một ý nghĩa quan trọng Qua số liệu tính toán ở bảng
6 ta thấy tổng giá trị các khoản phải thu năm 2004 tăng 6.874.327.000đ với tỷ lệ
là 10,08% so với năm 2003 Điều này chứng tỏ năm 2004 Công ty đã bị chiếmdụng vốn nhiều hơn mà nguyên nhân là tổ hợp sự tăng giảm của các nhân tố sau:phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ và các khoảnphải thu khác