Như vậy, trong luận văn này khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài được hiểu theo khái niệm của cơ quan Thống kê là doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài không phân biệt
Trang 1DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 3
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.2 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh: 5
1.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh 7
1.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 7
1.2 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 8
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.2.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 12
1.2.3 Vai trò của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 14
1.2.4 Sự cần thiết phải nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 21
2.1 Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 21
2.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu 21
Trang 22.2 Một số phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 34
2.2.1 Phương pháp phân tổ: 34
2.2.2 Phương pháp đồ thị: 39
2.2.3 Phương pháp phân tích dãy số thời gian 41
2.2.4 Phương pháp hồi quy tương quan 42
2.2.5 Phương pháp chỉ số 47
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ ĐỂ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2000 - 2008 48
3.1 Tổng quan doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 48
3.2 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 60
3.2.1 Tính toán và phân tích một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000-2008 60
3.2.2 Tính và phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000-2008 theo ngành kinh tế, đối tác đầu tư và theo hình thức đầu tư 71
3.3 Một số kiến nghị và giải pháp 79
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 3Bảng 2.1: Phân hệ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (dạng thuận) 31Bảng 2.2: Các tiêu thức phân tổ nghiên cứu HQSXKD doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài 38Bảng 2.3: Tỷ trọng một số chỉ tiêu chủ yếu doanh nghiệp 50Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu chủ yếu doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
chia theo loại hình 57Bảng 3.1: Năng suất lao động bình quân theo tổng doanh thu của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2000-2008 60Bảng 3.2: Biến động Năng suất lao động bình quân theo tổng doanh thu của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn2000-2008 61Bảng 3.3: Năng suất lao động bình quân theo doanh thu thuần 62Bảng 3.4: Biến động Năng suất lao động bình quân theo doanh thu thuần của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn2000-2008 64Bảng 3.5: Tỷ suất lợi nhuận theo lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000-2008 64Bảng 3.6: Biến động tỷ suất lợi nhuận theo lao động của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000-2008 Biểu 3.7: Hiệu suất sử dụng nguồn vốn, tài sản cố định, tài sản lưu động theo
doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ởViệt Nam giai đoạn 2000-2008 65Bảng 3.8: Biến động hiệu suất sử dụng tổng vốn theo doanh thu của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000-2008 66Bảng 3.9: Biến động hiệu suất sử dụng vốn cố định theo doanh thu của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000-2008 66
Trang 467Biểu 3.11: Hiệu suất sử dụng tổng vốn, vốn cố định, vốn lưu động theo lợi nhuận
trước thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 68Bảng 3.12: Biến động hiệu suất sử dụng tổng vốn theo lợi nhuận trước thuế của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn2000-2008 68Bảng 3.13 Biến động hiệu suất sử dụng vốn cố định theo lợi nhuận trước thuế của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giaiđoạn 2000-2008 69Bảng 3.14: Biến động hiệu suất sử dụng vốn lưu động theo lợi nhuận trước thuế của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giaiđoạn 2000-2008 69Bảng 3.15: NSLĐ theo doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam chia theo hình thức đầu tư giai đoạn 2000-2008 71Biểu 3.16 Biến động NSLD theo doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam chia theo hình thức đầu tư giai đoạn2000-2008 72Bảng 3.17: Tỷ suất lợi nhuận theo lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài theohình thức đầu tư giai đoạn 2000-2008 73Biểu 3.18 Biến động tỷ suất lợi nhuận theo lao động của các DN có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam chia theo hình thức đầu tư giai đoạn 2000-2008 74Biểu 3.19: Hiệu suất sử dụng tổng vốn, vốn cố định, vốn lưu động theo doanh thu
của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thứcđầu tư giai đoạn 2000-2008 75Bảng 3.20: So sánh hiệu suất tổng vốn theo tổng doanh thu của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam theo hình thức đầu tư 76Bảng 3.21 Hệ số ICOR giai đoạn 2000 - 2008 78Bảng 3.22: Hệ số TFP chia theo thành phần kinh tế 79
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sau 20 năm đổi mới, hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài không ngừng phát triển cả về số lượng, quy mô đầu tư và chất lượng, tính đếnthời điểm 31/12/2008 có 5626 doanh nghiệp cao gấp 3,7 lần số doanh nghiệp năm
2000, bình quân mỗi năm tăng 17,7% số doanh nghiệp Các doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng đa dạng hoá ngành nghề và hình thứcdoanh nghiệp Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là mộttrong năm thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển lâu dài và bình đẳng vớicác thành phần kinh tế khác Mặc dù vốn đầu tư chỉ chiếm 17,2%, doanh thu chỉchiếm 18,7% so với toàn bộ doanh nghiệp, năm 2008 hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là khu vực đạt hiệu quảkinh tế cao với lợi nhuận trước thuế chiếm tới 49% và đóng góp vào ngân sách nhànước chiếm tới 41% so với toàn bộ doanh nghiệp, thu hút tới 1,83 triệu lao động,chiếm 22,4% tổng số lao động toàn doanh nghiệp, gấp 4,5 lần năm 2000 với thunhập gấp 1,1 lần so với thu nhập của lao động khu vực khác
Từ trước đến nay, đã có một số luận văn, đề tài nghiên cứu về hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung nhưng chưa có luận văn nghiên cứuhiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài Để có cơ sở khoa học cho những nhà quản lý và hoạch định chiến lược định
ra các chính sách thu hút vốn đầu tư và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vàoViệt Nam Việc vận dụng các phương pháp thống kê để phân tích hiệu quả sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa
quan trọng Vì vậy, tôi chọn đề tài "Nghiên cứu thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008" để viết luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá và phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cơ sở cho những nhà quản lý và hoạch địnhchiến lược xây dựng các chính sách thu hút vốn đầu tư và khuyến khích các doanh
Trang 7nghiệp đầu tư vào Việt Nam phù hợp với chiến lược phát triển bền vững trong từngthời kỳ và dài hạn ở Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ởViệt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
- Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đã hoàn thiện, luận văn tính toán một số chỉ tiêu
để phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, Luận văn sử dụngmột số phương pháp thống kê như phương pháp phân tổ, phương pháp đồ thị,phương pháp chỉ số, phương pháp hồi quy tương quan và phần mềm SPSS
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục biểu đồ,danh mục từ viết tắt và phần phụ lục, Luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2000 -2008
Chương 3: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm hiệu quả
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh
1) Theo từ điển học sinh - NXB giáo dục Hà Nội 1982 " Hiệu quả là kết quả rõ rệt"2) Theo P Samueleson và W Nordhuas " Hiệu quả là một mối quan tâm trungtâm của kinh tế học Hiệu quả tức là không lãng phí"
3) Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quảtính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh
4) Theo giáo trình thống kê kinh tế (dành cho sinh viên ngành kinh tế) Hiệuquả là " làm đủ, không thừa, không thiếu những việc cần thiết, sử dụng tối ưu nguồnlực đầu vào để tạo ra đầu ra"
5) Theo nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt đượctrong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Như vậy, hiệu quả đượcđồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chiphí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phíkhác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả là phạm trùphản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn ) để đạt đượcmục tiêu xác định Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh gia trongmối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xácđịnh có thể tạo ra ở mức độ nào
Khi nghiên cứu phạm trù hiệu quả nếu liên quan đến phương diện xét, hiệuquả bao gồm
Trang 9- Hiệu quả xã hội: chỉ xét về mặt xã hội
- Hiệu quả kinh tế: chỉ xét về mặt kinh tế
- Hiệu quả kinh tế - xã hội: xét cả về mặt kinh tế và xã hội
- Hiệu quả an ninh quốc phòng: chỉ xét về mặt an ninh quốc phòng
- Hiệu quả môi trường sinh thái chỉ xét về mặt môi trường sinh thái
Nếu liên quan đến quan điểm đánh giá hiệu quả thì hiệu quả bao gồm:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: nếu đánh giá hiệu quả theo quan điểm xã hội
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh nếu đánh giá hiệu quả theo quan điểm củadoanh nghiệp
1.1.1.2 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế
Hiện còn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế
- Theo giáo trình " Kinh tế và quản lý công nghiệp thì " Hiệu quả kinh tế làphạm trù phản ánh trình độ và năng lực quản lý, bảo đảm thực hiện có kết quả caonhững nhiệm vụ kinh tế - xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất" NXB giáo dục -1994
- Theo giáo trình thống kê kinh tế tập I, " Hiệu quả là phạm trù kinh tế , biểuhiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế mà xã hội đạt được và chi phí bỏ ra để đạtđược hiệu quả đó" NXB giáo dục 2002 Tiến sỹ Phan Công Nghĩa chủ biên
- Theo giáo trình thống kê kinh tế (dành cho sinh viên khối kinh tế ) thì "Hiệuquả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu,phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thựchiện mục tiêu tối đa hoá lợi ích thu được và tối thiểu hoá nguồn lực bỏ ra" NXB đạihọc kinh tế quốc dân 2010 TS Bùi Đức Triệu chủ biên
Theo các khái niệm hiệu quả kinh tế ở trên, có thể thấy về bản chất hiệu quảkinh tế là một phạm trù kinh tế tổng hợp phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đầu
ra và chi phí đầu vào của quá trình sản xuất
Quan hệ so sánh đó có thể là hiệu số (Hiệu quả kinh tế = kết quả đầu ra - chiphí đầu vào) hoặc quan hệ phân số ( Hiệu quả kinh tế = kết quả đầu ra chia cho chiphí đầu vào)
Để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về
Trang 10tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, có thể khái quát thanh 4 loại quan điểm sau đây:
- Quan điểm 1: Coi tiêu chuẩn đánh giá hiệu qủa kinh tế là kết quả tăng trưởngcủa GO, VA (GDP) hoặc lợi nhuận
Quan điểm 2: Coi tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là tăng năng suất lao động
- Quan điểm 3: Coi tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là đạt được mức hiệuquả tối đa trong những điều kiện cụ thể nhất định
- Quan điểm 4: Coi tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là đạt được quan hệ tỷ
lệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.1.1.1.3 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Như trên đã trình bày, nếu đánh giá hiệu quả theo quan điểm doanh nghiệp thì
đó là hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiện còn nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Theo giáo trình thống kê công nghiệp, chủ biên PGS TS Nguyễn Công Nhựchủ biên NXB thống kê - 2004 " Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, nhằm thựchiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp" (NXB thống kê - 2004)
- Theo giáo trình thống kê kinh doanh, đồng chủ biên GS.TS Phạm Ngọc Kiểm
- PGS.TS Nguyễn Công Nhự " Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh
tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác cácnguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh" (NXBthống kê - 2004)
- Theo sách chuyên khảo phân tích kinh tế doanh nghiệp " Hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụngnguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp Đây là vấn đề hết sức phức tạp, cóliên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mức của quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động "NXB Tài chính - 2/2003
1.1.2 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Trang 11Tùy theo mục đích nghiên cứu, theo từng giác độ nghiên cứu, ta phân loại hiệuquả sản xuất kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau:
- Theo phạm vi tính toán, có thể phân hiệu quả sản xuất kinh doanh thành
+Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả xã hội
+ Hiệu quả an ninh quốc phòng
+ Hiệu quả đầu tư
+ Hiệu quả môi trường
Trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp và toàn xã hội cần phải phấn đấuđạt đồng thời các loại hiệu quả trên Có như vậy mới đảm bảo cho sự phát triển bềnvững Song trong thực tế khó có thể đạt đồng thời các mục tiêu hiệu quả tổng hợp đó
- Theo nội dung tính toán, có thể phân hiệu quả sản xuất kinh doanh thành:
+ Hiệu quả tính dưới dạng thuận (tức là Hiệu quả sản xuất kinh doanh = Kếtquả chia cho chi phí)
+ Hiệu quả tính dưới dạng nghịch (hiệu quả sản xuất kinh doanh = chi phí chiacho kết quả)
- Theo phạm vi tính toán, có thể chia hiệu quả sản xuất kinh doanh thành:+ Hiệu quả toàn phần (còn gọi là hiệu quả đầy đủ) là loại chỉ tiêu hiệu quả được tính chung cho toàn bộ kết quả và toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực
+ Hiệu quả đầu tư tăng thêm: chỉ tính cho phần đầu tư tăng thêm và kết quả tăng thêm của thời kỳ tính toán Nó được xác định bằng cách so sánh phần kết quả gia tăng do đầu tư tăng thêm đem lại
+ Hiệu quả cận biên là kết quả so sánh giữa kết quả đạt được do đồng đầu tư cuối cùng đem lại Đối với các đơn vị cơ sở hiện nay chưa tính được chỉ tiêu hiệu quả cận biên
- Theo hình thái biểu hiện, có
+ Hiệu quả hiện
+ Hiệu quả ẩn
Trong thực tế hiện nay, các doanh nghiệp thường mới tính hiệu quả sản xuất
Trang 12kinh doanh dưới dạng hiện.
1.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh
Như trên đã trình bày, các doanh nghiệp thường mới tính hiệu quả sản xuấtkinh doanh dưới dạng hiệu
Công thức tính hiệu quả sản xuất kinh doanh đầy đủ có dạng
+ Hiệu quả sản xuất kinh doanh dạng thuận:
CPDV
KQDR
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đơn vị chi phí hoặc nguồn lực tạo
ra được bao nhiêu đơn vị kết quả kinh tế, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
+ Hiệu quả sản xuất kinh doanh dạng nghịch: H ' CPDV KQDR
(1.2)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết lượng chi phí hoặc nguồn lực bình quân để tạo
ra được một đơn vị kết quả kinh tế, chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Trong đó chi phí có thể là chi phí thường xuyên hoặc nguồn lực như lao động,vốn, tài sản cố định…
Công thức tính hiệu quả sản xuất kinh doanh tính riêng cho phần đầu tư tăng thêm+ Hiệu quả đầu tư tăng thêm dạng thuận:E CPDV KQDR
Sự gia tăng kết quả CPDV1 CPDV1 CPDVR0
1.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 13Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là điều kiện sống còn đểdoanh nghiệp tồn tại và phát triển, nếu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhkhông ngừng được nâng cao thì kết quả thu được ngày càng tăng, điều đó có nghĩa
là thu nhập của người lao động cũng tăng theo Khi người lao động có thu nhập cao,
họ sẽ có điều kiện để chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân và giađình, mặt khác nhờ có thu nhập cao mà người lao động sẽ hăng say làm việc hơnlàm cho năng suất lao động ngày càng tăng Điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp ngàycàng nâng cao được hiệu quả hoạt động nhập khẩu và làm ăn ngày càng tấn tới Suycho cùng thì nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpcũng chính là nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động và ngược lạiNâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là sử dụng hợp lý hơn các yếu tố củaquá trình sản xuất, với chi phí không đổi nhưng tạo ra nhiều kết quả hơn Như vậy,phấn đấu nâng cao nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ làm giảm giá thành, tăng nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, đạt hiệu quả và nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề quan tâm của doanh nghiệp và trởthành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh
tế thị trường
1.2 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hộikhóa IX thông qua ngày 12 tháng 11 năm 19961 (sau đây gọi chung là Luật Đầu tưnước ngoài), “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” gồm doanh nghiệp liêndoanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với 04 đặc tính cơ bản sau:
(1) Sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tối thiểu 30% vốn pháp định 2 :
1 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 9/6/2000
2 Vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là mức vốn phải có để thành lập doanh nghiệp, được ghi trong điều lệ doanh nghiệp Khái niệm này rất khác với khái niệm vốn pháp định của Luật Doanh nghiệp 1999, áp dụng đối với các doanh nghiệp trong nước Vốn pháp định theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài gần với khái niệm vốn tự có của doanh nghiệp.
Trang 14"Nhà đầu tư nước ngoài" theo Luật Đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế, cánhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
"Đầu tư trực tiếp nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Namvốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quyđịnh của Luật Đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp:
- Do hai bên (là bên Việt Nam và bên nước ngoài) hoặc nhiều bên (là bên ViệtNam và các bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài và bên Việt Nam hoặc các bênViệt Nam và các bên nước ngoài) hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợpđồng liên doanh; hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài; hoặc
- Do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp ViệtNam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sởhợp đồng liên doanh
Trong doanh nghiệp liên doanh, phần góp vốn của Bên nước ngoài hoặc cácBên nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không được dưới30% vốn pháp định3
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do nhà đầu tư nướcngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam
Như vậy, theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài phải có tỷ lệ tham gia của bên hoặc các bên nước ngoài không dưới
30% vốn pháp định Đây là đặc trưng quan trọng nhất, là tiêu chí phân định khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với các khu vực khác của nền kinh tế Tuy ngưỡng30% cao hơn khá nhiều so với ngưỡng 10% thường được Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) và Tổ chức các nước phát triển (OECD) áp dụng nhưng cũng có ý nghĩa nhấtđịnh trong việc trong việc phân định rõ ràng giữa các thành phần kinh tế và đặc biệt
có ý nghĩa trong công tác thống kê
3 Quy định tại Điều 8 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Điều 14 Nghị định 24/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31 tháng 7 năm 2000 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định phần vốn góp của (các) Bên nước ngoài được thấp hơn 30% vốn pháp định trong một số trường hợp cụ thể nhưng không thấp hơn 20% vốn pháp định
Trang 15(2)Vốn pháp định của doanh nghiệp không được nhỏ hơn 30% vốn đầu tư:
Theo quy định tại Điều 16 Luật Đầu tư nước ngoài, vốn pháp định của doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của doanhnghiệp Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30% nhưng phải được
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp thuận Trong quá trình hoạtđộng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được giảm vốn pháp định
(3)
Loại hình doanh nghiệp:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam dướimột hình thức duy nhất là công ty trách nhiệm hữu hạn
Theo quy định tại Nghị định 38/2003/NĐ-CP ngày 15/4/2003 của Chính phủ
về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt độngtheo hình thức công ty cổ phần, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đủđiều kiện được thí điểm chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần
có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp này không nhiều vàchỉ dưới dạng thí điểm
Theo quy định của Luật Đầu tư 2005, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàibao gồm (1) doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạtđộng đầu tư tại Việt Nam; và (2) doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoàimua cổ phần, sáp nhập, mua lại Như vậy, Luật Đầu tư 2005 đã mở rộng khái niệmdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bên cạnh các doanh nghiệp do nhà đầu tưnước ngoài thành lập, các doanh nghiệp Việt Nam có sự tham gia của nhà đầu tư
4 Điều 6 (đối với doanh nghiệp liên doanh) và Điều 15 (đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài)
Trang 16nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các đặc trưng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định củaLuật Đầu tư nước ngoài cũng đã thay đổi:
(1) Không có quy định về tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Việc không quy định ngưỡng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài để phân địnhhoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài là khó khăn lớn nhất cho công tác quản
lý nhà nước nói chung và công tác thống kê nói riêng hiện nay
(2) Khái niệm vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như quy định trước đây không còn
Vốn pháp định theo quy định của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005 (sau đây gọi là Luật Doanh nghiệp 2005) là mức vốn tổi
thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp Chỉ doanh
nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực, ngành nghề nhất định mới cần phải có vốnpháp định
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, vốn điều lệ của doanh nghiệp là
số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhấtđịnh và được ghi vào Điều lệ công ty
Hiện không có quy định về mối liên hệ giữa vốn điều lệ của doanh nghiệp vàvốn đầu tư của dự án do doanh nghiệp thực hiện hoặc tham gia thực hiện như quyđịnh tương ứng nêu tại đặc trưng thứ 2 ở trên
(3) Loại hình doanh nghiệp
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005, nhà đầu tư nướcngoài được thành lập doanh nghiệp theo tất cả các hình thức quy định tại LuậtDoanh nghiệp, gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợpdanh và doanh nghiệp tư nhân
Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài còn được thành lập tổ chức tín dụng, doanhnghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy địnhcủa pháp luật; cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sởdịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi và các tổ chức kinh tế khác
Trang 17Như vậy, trong luận văn này khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài được hiểu theo khái niệm của cơ quan Thống kê là doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài không phân biệt tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài là bao nhiêu.
1.2.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về bản chất, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư của tưnhân nước ngoài với mục đích căn bản là lợi nhuận, nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn vàđiều hành hoạt động kinh doanh nên họ phải làm cho sản phẩm có sức cạnh tranhtrên thị trường Do vậy, nhà đầu tư cùng với việc đưa vốn vào còn đưa cả côngnghệ, bí quyết, kỹ năng tiếp thị, quản lý, đào tạo nhân công, v.v cho nước tiếpnhận vốn Như vậy, ngoài việc được bổ sung nguồn vốn thiếu hụt, doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và đàotạo đội ngũ lao động của nước tiếp nhận vốn Do vậy, hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về nguồn lực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi nguồn
nhân lực có tay nghề cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có ngoại ngữ và chịuđược áp lực công việc
Thứ hai, về vốn nhà đầu tư nước ngoài là người trực tiếp bỏ vốn và chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Do vậy, Doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài một mặt bổ sung được nguồn vốn thiếu hụt trongnước để đầu tư phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên các doanh nghiệp có vốn đầu tư
Trang 18trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đầu tư vẫn tập trung vào những ngành sử dụng ítvốn, thời gian xây dựng ngắn và thu hồi vốn nhanh.
Thứ ba, về quản lý sản xuất kinhdoanh: các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài quản lý, thực hiện hoạt động động sản xuất kinh doanh phải tuânthủ các quy định trong Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư ban hành năm 2005 Đây
là loại hình đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư nước ngoài có quyền điều hành doanhnghiệp Quyền này phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư vào vốn đầu tư củadoanh nghiệp Trong trường hợp góp 100% vốn thì nhà đầu tư có toàn quyền quyếtđịnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Về hình thức đầu tư thì doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đangchuyển dần từ liên doanh là chủ yếu sang hình thức 100% vốn nước ngoài là phổ biến
Thứ tư, về sản phẩm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài thường mang hàm lượng kinh tế cao, sản phẩm đạt tiêu chuẩn, bao bì,mẫu mã đẹp, một mặt đáp ứng thị trường tiêu thụ trong nước thay thế hàng nhậpkhẩu, mặt khác các sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường làxuất khẩu
Thứ năm, về ngành nghề sản xuất kinh doanh: mục đích của các nhà đầu tư là
lợi nhuận nên các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài phần lớn tập trung vào những ngành nghề có thể mang lại lợinhuận cao như hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và một sốngành dịch vụ có vị trí quan trọng như tài chính tín dụng, dịch vụ bảo hiểm, thươngnghiệp, hoạt động giáo dục và đào tạo, viễn thông…
Thứ sáu, về phân phối thu nhập: Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và lợi nhuận của doanhnghiệp được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần
Thứ bảy, về thị trường các nhà đầu tư nước ngoài thường rất tinh thông về thị
trường thế giới và tiến bộ kỹ thuật, hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn liềnvới lợi ích của chủ đầu tư nên họ có thể lựa chọn công nghệ, chất lượng nhân lực vàkhả năng quản lý cho nước xúc tiến đầu tư, nhất là đối với các nước đang phát triển
Trang 19như Việt Nam Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vì lợi nhuận các nhà đầu tư nước ngoài cóthể chuyển giao một số công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, khai thác tàinguyên khoáng sản lãng phí, đẩy các doanh nghiệp của nước sở tại tới bờ phá sản,hoặc làm mất cân đối cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư
1.2.3 Vai trò của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng khẳng định vai tròquan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực doanh nghiệp có tốc độ pháttriển năng động nhất
do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực (năm 2000 chiếm 18,6%) và trong
5 năm 2001-2005 chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã hội; trong 3 năm
2007-2009 chiếm khoảng 25.9% (Theo Niên giám Thống kê cơ cấu vốn đầu tư thực hiệncủa khu vực FDI năm 2007 là 24,3% và năm 2008 là 30,9%)
Đóng góp của doanh nghiệp vào tăng trưởng kinh tế hay GDP của Việt Nam:Vốn đầu tư của doanh nghiệp trực tiếp nước ngoài đã góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế đất nước Từ năm 1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốcđộng tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó: (i) 5 năm 1991-1995: tăng 8,18%(nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%);(ii) 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựngtăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%) Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trongnước tăng gấp hơn 2 lần năm 1990: (iii) 5 năm 2001-2005: tốc độ tăng GDP đạt7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng7%; (iv) Năm 2006 đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựngtăng 10,37%, dịch vụ tăng 8,29%; (v) Năm 2007 đạt 8,46% (nông lâm ngư tăng
Trang 203,76%; công nghiệp xây dựng tăng 10,22%, dịch vụ tăng 8,85% và (vi) năm 2008đạt 6,31% (nông lâm ngư tăng 4,68%; công nghiệp xây dựng tăng 5,98%, dịch vụtăng 7,37%.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp:
Trong 20 năm qua doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng mộtvai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành côngnghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốcgia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho ngườilao động Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quảđầu tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đóđược khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, côngnghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phầnthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài trong ngành công nghiệp qua các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 40%năm 2004, 44,6% năm 2007 và năm 2008)
Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài trong 5 năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất côngnghiệp của cả nước Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7%vào 2 năm 2004 và 2005, 44,4% năm 2008
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đầu tư vào nhiều ngànhcông nghiệp chế biến, chế tạo và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệpnhư dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử giadụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Hiện doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp 100% sản lượng của một số sảnphẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép,
Trang 2133% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sảnlượng sợi, 25% hàng may mặc
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần hình thành vàphát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệcao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một sốđịa phương đất đai kém màu mỡ
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyểngiao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọngcủa đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạođiện tử, tin học, ô tô, xe máy Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹvào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượngcác dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon,Panasonic, Ritech.v.v)
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương cácnước trong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệthống quản lý hiện đại của công ty mẹ
Trong nông-lâm-ngư nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp đáng kể vào NSNN và góp phần ổn định các cân đối vĩ mô:
Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại ViệtNam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào ngân sáchngày càng tăng Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước Trong 5năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
Trang 22nước ngoài đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm Riêng 2 năm 2007 và
2008 khu vực kinh tế có vốn đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005
Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến các cân đối lớn của nềnkinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tếthông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếpqua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, cao hơn mứcbình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạchxuất khẩu của cả nước Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần
so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm25%, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm
2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2006, 2007 và 2008
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm một tỷ trọng cao trongxuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linhkiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc…Thông qua mạng lưới tiêu thụcủa các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cậnđược với các thị trường trên thế giới
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũngnhư các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phầngia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phầnđưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnhvực tài chính, ngân hàng
Doanh nghiệp doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần mở
Trang 23rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọngtrong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộngquan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy ViệtNam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoáthương mại và đầu tư Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN,APEC, ASEM và WTO Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo
hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định
tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói và sựủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam khôngngừng được cải thiện
Về mặt xã hội, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực:
Đến nay, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo raviệc làm cho trên 1,2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp kháctheo kết quả điều tra của WB cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 laođộng gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúclợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDPđầu người tăng lên hàng năm Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động củacác doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đã từng bước hìnhthành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từngbước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong côngnghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinhnghiệm quản lý tiên tiến
Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới côngnghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sảnphẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế Đặc biệt, một số chuyên gia
Trang 24Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã dầnthay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanhnghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại.
1.2.4 Sự cần thiết phải nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài là quá trình nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ mật thiết vớimặt chất nhằm nêu lên bản chất cụ thể và tính quy luật về kết quả sản xuất kinhdoanh trong tương quan với chi phí hoặc nguồn lực tương ứng đối với các bên liênquan gồm có các chủ đầu tư, người lao động, nước tiếp nhận đầu tư Qúa trình nàygiúp đánh giá được thực trạng, ưu nhược điểm hoạt động sản xuất kinh doanh,hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài nói riêng, làm cơ sở đề xuất các quyết định quản lý, giải phápkhuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài
+ Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài qua thời gian: nhằm phân tích mức độ, xu thế quy luật biếnđộng hiệu quả sản xuất kinh doanh
+ Phân tích biến động hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài qua không gian: nhằm đánh giá, so sánh hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giữa các tỉnh, thànhphố, ngành, vùng kinh tế và giữa các hình thức đầu tư;
+ Phân tích hiệu quả theo bộ phận: nhằm đánh giá hiệu quả của từng bộ phận
và tác động của chúng đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài của toàn nền kinh tế như lao động, năng suất lao động, vốn vàquy mô nguồn vốn, hiệu suất sử dụng tài sản cố định, tài sản lưu động tác động đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh như thế nào;
+ Phân tích tác động của hiệu quả kinh tế tới các chỉ tiêu kết quả: nhằm xácđịnh nguyên nhân làm căn cứ xây dựng các giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng
Trang 25chi phí, nguồn lực và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
+ Phân tích hiệu quả theo nhân tố: nhằm nghiên cứu tác động của từng nhân tốcấu thành đối với hiệu quả sản xuấ kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài;
+ Nghiên cứu mối liên hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
2.1 Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu
Để thực hiện phân tích hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài, vấn đề quan trọng là là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉtiêu về hiệu quả kinh tế Hệ thống chỉ tiêu là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiệncác định mức hiệu quả Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với
hệ thống phương pháp phân tích Các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối có phương phápphân tích khác với các chỉ tiêu hiệu quả tương đối Điều này có nghĩa hệ thống chỉtiêu hiệu quả là cơ sở, là tiền đề để lựa chọn và xây dựng hệ thống các phương phápphân tích hiệu quả
Hiện nay, Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài còn sơ sài, chưa hệ thống được các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho các nhà hoạchđịnh chính sách Cụ thể:
- Năng suất lao động theo doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bình quân một lao động làm việc tạo ra baonhiêu doanh thu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Năng suất lao động theo doanh thu = Tổng doanh thu sản xuất kinhdoanh/lao động bình quân
- Tỷ lệ nộp ngân sách so với doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nộp ngân sách của doanh nghiệp trên doanhthu sản xuất kinh doanh
Trang 27Tỷ lệ nộp ngân sách so với doanh thu = Tổng số phải nộp ngân sách/tổngdoanh thu sản xuất kinh doanh
- Thu nhập của người lao động
Là tổng các khoản mà người lao động nhận được do sự tham gia của họ vàoquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thu nhập của người lao độngbao gồm:
+ Tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chấtnhư lương: Gồm tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng tronglương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác của người lao động được hạch toánvào chi phí sản xuất, vào giá thành sản phẩm như phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ,phụ cấp đi lại, ăn giữa ca, trợ cấp thuê nhà và các khoản phụ cấp thường xuyên,không thường xuyên khác cho người lao động Bao gồm các hình thức trả bằngtiền, bằng hiện vật như: Thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áobảo hộ lao động)
+ Bảo hiểm xã hội trả thay lương: Là khoản cơ quan BHXH chi trả chongười lao động của doanh nghiệp trong thời gian nghỉ ốm, thai sản, tai nạn laođộng theo chế độ quy định hiện hành
+ Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh: Làcác khoản chi trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi phísản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủdoanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trên )
- Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, một ngành hoặc một loại hìnhkinh tế, qua đó đánh giá chất lượng, sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và là căn cứ để các nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà hoạch địnhchính sách đưa ra các quyết định phù hợp với thực tiễn
Trang 28+ Tỷ suất lợi nhuận tính theo doanh thu
Là tỷ lệ so sánh giữa tổng số lợi nhuận trước thuế thu được từ các hoạt độngsản xuất kinh doanh và các hoạt động khác trong năm với tổng doanh thu của doanhnghiệp, phản ánh một đồng doanh thu tạo ra trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận.Công thức tính:
Tỷ suất lợi nhuận
=
Lợi nhuận trước thuếtính theo doanh thu Doanh thu trong kỳ
Trong đó: Doanh thu trong kỳ bao gồm:
(i) Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ =
Doanh thu bán hàng vàcung cấp dịch vụ -
Các khoản giảm trừdoanh thu
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: phản ánh tổng doanh thu bánhàng hóa, thành phẩm, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ trong năm củadoanh nghiệp
- Các khoản giảm trừ doanh thu: phản ánh tổng hợp các khoản được ghi giảmtrừ vào tổng doanh thu trong năm, bao gồm: Các khoản chiết khấu thương mại;Cáckhoản giảm giá hàng bán; Doanh thu hàng bán bị trả lại và các khoản thuế: thuế tiêuthụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT của doanh nghiệp nộp thuế GTGT tínhtheo phương pháp trực tiếp phải nộp tương ứng với số doanh thu được xác địnhtrong năm
(ii) Doanh thu hoạt động tài chính:
Phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia vàdoanh thu hoạt động tài chính khác trong năm của doanh nghiệp, bao gồm:
- Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi Ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp,lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hoá,dịch vụ;
- Cổ tức, lợi nhuận được chia;
Trang 29- Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn;
- Thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp liên doanh, đầu tư vàocông ty liên kết, đầu tư vào công ty con, đầu tư vốn khác;
- Thu nhập về các hoạt động đầu tư khác;
- Lãi tỷ giá hối đoái;
- Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ;
- Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn;
- Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác
(iii) Thu nhập khác:
Phản ánh các khoản thu nhập khác, các khoản doanh thu ngoài hoạt động sảnxuất, kinh doanh trong năm của doanh nghiệp, bao gồm:
- Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ;
- Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, tài sản cố định đưa đi gópvốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác;
- Thu nhập từ nghiệp vụ bán và thuê lại tài sản;
- Thu tiền được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng;
- Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ;
- Các khoản thuế được NSNN hoàn lại;
- Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ;
- Các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, sảnphẩm, dịch vụ không tính trong doanh thu (nếu có);
- Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân tặngcho doanh nghiệp;
- Các khoản thu nhập khác ngoài các khoản nêu trên
+ Tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn
Là tỷ lệ so sánh giữa tổng số lợi nhuận trước thuế thu được từ các hoạt độngsản xuất kinh doanh và các hoạt động khác trong năm với tổng nguồn vốn bình quântrong kỳ, phản ánh một đồng vốn sinh ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Công thức tính:
Trang 30Tỷ suất lợi nhuận
Nguồn số liệu từ điều tra doanh nghiệp do Tổng cục thống kê tiến hành hàng năm
- Giá trị tăng thêm trên một đồng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệpChỉ tiêu giá trị tăng thêm trên một đồng giá trị tài sản cố định (TSCĐ) của
doanh nghiệp là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu của việc đầu tư, trang
bị và sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp Dựa vào chỉ tiêu này, có thể đánhgiá được hiệu quả của việc đầu tư, trang bị và sử dụng TSCĐ (như: máy móc, thiết
bị, công nghệ, giây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải,…) của doanh nghiệptrong một thời kỳ; từ đó, có chính sách điều chỉnh đầu tư và sử dụng TSCĐ hiệuquả hơn
Giá trị tăng thêm trên một đồng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp là tỷ lệ
giữa tổng giá trị tăng thêm trong kỳ chia cho tổng giá trị tài sản cố định trong cùng
kỳ nghiên cứu Chỉ tiêu này nói lên, trong kỳ nghiên cứu (thường là một năm) mộtđồng giá trị TSCĐ của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm
Tuy nhiên, các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn một số tồn tại sau:
+ Các chỉ tiêu hiệu quả chưa đảm bảo tính hệ thống, thường được sử dụng một
Trang 31cách rời rạc Do đó việc tính toán, phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ thiếu đồng bộ, không bảo đảm tính hệ thống.+ Những chỉ tiêu kết quả hiện nay chưa phản ánh được toàn bộ hiệu quả củakhu vực FDI mà chỉ tính riêng cho khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài
+ Các chỉ tiêu tính toán hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài hiện nay chưa phản ánh được đầy đủ những mặt cơ bản của hiệuquả sản xuất doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài do còn thiếu nhiềuchỉ tiêu hiệu quả quan trọng như:
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả nguồn vốn trong việc tạo ra giá trị gia tăng,giá trị xuất khẩu thuần, tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của lao động trong việc tạo ra giá trị gia tăng,giá trị xuất khẩu thuần, tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ
- Các chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả chi phí đây là những chỉ tiêu cần thiết giúpđánh giá hiệu quả của chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ở tầm vĩ mô cũng như vi mô
- Các chỉ tiêu ở dạng nghịch ít được vận dụng, điều này cũng làm hạn chế khảnăng nghiên cứu các mục tiêu khác nhau
- Chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả đầu tư vốn đầu tư của doanh nghiệp nói chung,doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng
- Chỉ tiêu phản ánh về các nhân tố tổng hợp (TFP) để phản ánh sự đóng gópcủa các nhân tố như vốn, lao động và công nghệ vào tăng trưởng của khu vực doanhnghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng
Chính vì vậy, việc xây dựng Hệ thống chỉ tiêu một cách đồng bộ để phân tích,
đánh giá về hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
2.2.2 Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Phân hệ chỉ tiêu Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư
Trang 32trực tiếp nước ngoài gồm có: nhóm chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của chiphí và nhóm chỉ tiêu hiệu quả nguồn lực
Công thức tính của các nhóm chỉ tiêu này được xây dựng từ các công thức tínhhiệu quả toàn bộ tổng quát sau:
Năng suất của chi phí hoặc
nguồn lực tính theo kết quả =
Kết quả kinh tế -Chi phí hoặc nguồn lực
Ý nghĩa kinh tế: Bình quân một đơn vị chi phí hoặc nguồn lực tạo ra được bao
nhiêu đơn vị kết quả kinh tế, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Năng suất của chi phí
hoặc nguồn lực dạng
nghịch
= ChiKÕt phÝ hoÆcqu¶ kinh nguåntÕ lùc
Ý nghĩa kinh tế: Lượng chi phí hoặc nguồn lực cần thiết bình quân để tạo ra
được một đơn vị kết quả kinh tế, chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế về chi phí
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng của tổng chi phí và từng loại chiphí Hay nói cách khác chúng phản ánh bình quân một đồng chi phí trong thời kỳnghiên cứu tạo ra được bao nhiêu đồng kết quả
- Công thức chung theo dạng thuận:
Năng suất của chi phí
Kết quả kinh tế -Chi phí
- Công thức chung theo dạng nghịch:
Năng suất của chi phí tính theo
kết quả dạng nghịch = KÕt qu¶ kinh tÕ
phÝ Chi
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, chi phí được phân loại theo những tiêu thứckhác nhau và vì vậy sẽ có những nhóm chỉ tiêu hiệu quả khác nhau tương ứng.Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện như chỉ tiêu giátrị sản xuất, doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế
Trang 33của doanh nghiệp
Chi phí ở đây bao gồm chi phí về lao động, số ngày công, giờ công hoặc tiềnlương, tiền công của lao động, chi phí trung gian và chi phí hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả về nguồn lực:
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả về nguồn lực được phân thành nhóm chỉ tiêu hiệu quảnguồn vốn và nhóm chỉ tiêu hiệu quả về nguồn lực
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả nguồn vốn:
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra kết quả của nguồn vốn trong thời
kỳ nghiên cứu
Công thức chung theo dạng thuận:
Năng suất từng nguồn vốn hoặc tổng
nguồn vốn tính theo kết quả = Nguånvènb×nhqu©n
tÕ qu¶ kinh KÕt
Công thức chung theo dạng nghịch
Năng suất nguồn vốn tính
theo kết quả dạng nghịch = KÕt qu¶ kinh tÕ
n
© qu nh
× b vèn Nguån
Từ những công thức này chúng ta có thể tính các chỉ tiêu hiệu quả của từngloại nguồn vốn như vốn chủ sở hữu, vốn tín dụng, vốn khác hoặc tổng nguồn vốn
+ Hiệu suất sử dụng tổng vốn so với doanh thu:
NSvcđ H = DT Ca
+ Hiệu suất sử dụng tổng vốn so với doanh thu thuần
NSvcđ H = DTT Ca+ Hiệu suất sử dụng tổng vốn so với lợi nhuận trước thuế
H = Ca S
Trang 34+ Hiệu suất sử dụng tổng vốn so lợi nhuận sau thuế
Ca
H =
Ca
Pr
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả nguồn nhân lực:
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra kết quả của nguồn nhân lựctrong thời kỳ nghiên cứu
+ Công thức chung dạng thuận
Năng suất nguồn nhân
lực tính theo kết quả = Nguån nh © n lùc b × nh qu © n
tÕ qu¶ kinh KÕt
* Công thức chung theo dạng nghịch:
Năng suất nguồn
nhân lực tính theo kết quả
+ Năng suất lao động bình quân theo doanh thu thuần
DTT
L DTT
+ Năng suất lao động bình quân theo doanh lợi nhuận trước thuế
DT
W =
L S
+ Năng suất lao động bình quân theo doanh lợi nhuận trước thuế
DT
W =
L
Pr
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của tài sản
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng của tổng tài sản và từng loại tàisản cố định và tài sản lưu động
Trang 35Công thức tính theo dạng thuận:
Năng suất của tài
sản tính theo kết quả = Tµi s¶ n b × nh qu © n
tÕ qu¶ kinh KÕt
* Công thức chung theo dạng nghịch:
Năng suất của tài
sản tính theo kết quả = KÕt qu¶ kinh tÕ
n
© qu nh
× b s¶
Tµi
(2.1-22)Cần lưu ý rằng tổng nguồn vốn và tổng tài sản bằng nhau nên hiệu quả củahai chỉ tiêu này cũng bằng nhau Tùy mục tiêu nghiên cứu mà có thể tính các chỉtiêu phản ánh hiệu quả tài sản cố định, hiệu quả tài sản lưu động hoặc hiệu quả củatổng tài sản
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định so với doanh thu
Ca
H =
FA DT
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định so với doanh thu thuần
Ca
H = DTT FA+ Hiệu suất sử dụng vốn lưu động so với doanh thu, doanh thu thuần, lợinhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế
Ca
H = CAPr+ Số vòng quay vốn lưu động
CA
DTT DT
Bảng 2.1: Phân hệ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (dạng thuận)
Trang 36Kết quả
Chi phí/nguồn lực
Ký hiệu
Gía trị tăng thêm
Doanh thu
Doanh thu thuần
Lợi nhuận trước thuế
Lợi nhuận sau thuế
Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế tổng hợp
Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: ICOR
Khái niệm: là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp phản ánh quan hệ so sánh giữa
một chỉ tiêu đầu vào là vốn đầu tư đầu vào là vốn đầu tư thực hiện hoặc tích luỹ tàisản và chỉ tiêu đầu ra là kết quả sản xuất đạt được
Có hai cách tiếp cận số liệu để tính toán chỉ tiêu ICOR:
Cách tiếp cận 1: Giả thiết K là giá trị còn lại của TSCĐ, từ đó K(t) = K(t-1) +
I (t) và quan hệ có thể viết lại:
ICOR = ∑I(ti) / ((GDP (tn)-GDP(t0)) (1)
Hệ số ICOR thường được tính cho một giai đoạn vì đồng vốn thường có độ trễ,sau một giai đoạn mới phát huy tác dụng Ở Việt nam thường tính ICOR của hàngnăm và chia cả tử và mẫu cho GDP, quan hệ (1) được viết lại:
ICOR = (Tỷ lệ đầu tư theo giá so sánh trên GDP theo giá so sánh)/Tốc độ tăng
Cách tiếp cận này có một số nhược điểm như sau:
- Để công thức (1) tồn tại phải coi giá trị tài sản của một năm nào đó đã là giátrị còn lại, như vậy giá trị vốn được tính tại một năm nào đó thường lớn hơn số vốn
Trang 37thực sự một lượng là giá trị hao mòn tài sản cố định.
- Được sử dụng để tính ICOR hàng năm sẽ dẫn đến sai lệch rất lớn về kết quả vì:K(t) - K(t-1) = – σ K(t-1) + I (t) ≠ I(t)
Cách tiếp cận số liệu 2: ước lượng vốn dựa trên chuỗi số liệu về đầu tư/tích
luỹ theo giá so sánh và và tỷ lệ khấu hao từ điều tra doanh nghiệp sau đó áp dụngquan hệ ICOR = ∆k =( K(tn)-K(t0)) / (GDP (tn)-GDP(t0)) (2)
Trong Luận văn này, Tôi áp dụng cách tiệp cận số liệu 2, cách tiệp cận thứnhất không chính xác vì không tính đến việc trích khấu hàng năm trên tổng tài sản
cố định và giá trị hao tài sản cố định; việc giả thiết tổng số vốn của năm sau là giátrị còn lại và nguyên giá là rất khác nhau
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Khái niệm:
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) được tính toán từ phương pháp ướclượng nguồn tăng trưởng từ hàm sản xuất Cobb-Douglash sau khi trừ đi các yếu tốđóng góp vào tăng trưởng như vốn, lao động, tài nguyên phần còn lại của tăngtrưởng là do đóng góp về sự gia tăng hiệu quả trong nền kinh tế gọi là năng suất cácnhân tố tổng hợp (TFP-Total factors productivity) Hệ số TFP càng cao nền kinh tếcàng hiệu quả và ngược lại Solow (1957)
Một phương pháp phổ biến dùng để đánh giá đóng góp các nhân tố, trong đó
có yếu tố vốn vào tăng trưởng GDP là sử dụng hàm sản xuất, với hai yếu tố đầu vào
cơ bản là vốn và lao động Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế là do hai phầnchính: (1) sự gia tăng của các yếu tố đầu vào; (2) sự gia tăng về năng suất bằng hệ
số năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity – TFP) Cụ thể về cáchtính đóng góp của vốn, lao động và tổng năng suất các nhân tố sản xuất vào tăngtrưởng GDP là như sau:
Phương pháp luận để ước lượng nguồn tăng trưởng dựa trên công trình nghiêncứu của Solow (1957))
Hàm sản xuất tổng thể được giả định có dạng tổng quát như sau:
Trang 38trong đó, GDP là tổng sản phẩm trong nước, K và L là các tổng nhập lượng
vốn và lao động và t là thời gian Một giả định đơn giản nhất về tác động của thờigian là sự tiến bộ tiến bộ về hiệu quả kinh tế như công nghệ và phương pháp quản
lý, trong đó cho rằng tác động này làm tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra từ một
sự kết hợp nhất định của hai nhân tố sản xuất là vốn và lao động Tuy nhiên, nókhông hề ảnh hưởng tới các sản phẩm biên tế tương đối của các nhân tố sản xuấtriêng rẽ5 Với giả định này, hàm sản xuất có thể được viết như sau:
với A là tiến bộ về hiệu quả kinh tế như công nghệ, phương pháp quản lý, điều
hành (được gọi chung là tổng năng suất các nhân tố sản xuất)
Vậy, ba nguồn gốc của tăng trưởng tổng sản phẩm là sự gia tăng tổng năng
suất các nhân tố sản xuất (A), vốn (K) và lao động (L) theo thời gian t Lấy vi phân phương trình (2.5.2) theo thời gian t, ta có:
G GDP = G A + K G K + L G L (5)Các số liệu về tốc độ tăng GDP, vốn, lao động, tỉ trọng thặng dư và thù lao laođộng trong GDP có thể tìm thấy trong số liệu thống kê hàng năm về hệ thống tàikhoản quốc gia, do đó có thể tính được GA, các hệ số có thể xác định qua bảng
cân đối liên ngành (input-output table) của các yếu tố tố vốn và lao động trong tổng
giá trị tăng thêm (gross value added – GVA) Từ công thức (5), khi biết G GDP, K G K
và L G L có thể tính được đóng góp của công nghệ và quản lý G A hoặc ngược lại cóthể ước lượng tốc độ tăng trưởng của GDP
Như vậy để áp dụng quan hệ (5) cần ước lượng giá trị vốn (K-capital stock) từđầu tư thực tế cho sản xuất và tỷ lệ khấu hao từ các cuộc điều tra lập bảng cân đốiliên ngành (I/O) theo công thức tổng quát để tính giá trị vốn (K)
2.2 Một số phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.1 Phương pháp phân tổ:
5 Sản phẩm biên tế riêng rẽ của một nhân tố sản xuất là sự gia tăng lượng sản phẩm sản xuất ra khi nhập lượng của nhân tố sản xuất đó tăng lên một đơn vị, với điều kiện là nhập lượng của các nhân tố sản xuất khác không thay đổi.
Trang 39+ Khái niệm
Phân tổ trong thống kê là việc phân chia một hiện tượng kinh tế - xã hội nào
đó thành các tổ hoặc tiểu tổ có tính chất khác nhau trên cở sở căn cứ vào một hoặcmột số tiêu thức nhất định [24]
Phân tổ là phương pháp nghiên cứu, quản lý quan trọng Bởi lẽ hiện tượngnghiên cứu thường là các tổng thể kinh tế - xã hội rất phức tạp, bao gồm nhiều bộphận, nhiều loại hình cấu thành nên nếu không phân tổ một cách hợp lý thì khó cóthể nghiên cứu tốt Phân tổ giúp phân chia tổng thể phức tạp thành các loại hìnhkhác nhau, đây là cơ sở để dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu tính chất, đặc điểm,bản chất, quy luật của từng loại hình cũng như mối liên hệ giữa chúng Trên cơ sở
đó chúng ta có thể nắm bắt được bản chất, quy luật của cả tổng thể nghiên cứu cũngnhư đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp đối với từng loại hình
Trong nghiên cứu HQSXKD doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,phân tổ thống kê giúp giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, phân chia tổng thể doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
thành các loại hình khác nhau;
Thứ hai, nghiên cứu kết cấu về HQSXKD;
Thứ ba, biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức qua đó nghiên cứu HQSXKD
Trang 40doanh nghiệp FDI.
Tiêu thức phân tổ, số tổ và khoảng cách tổ được lựa chọn sao cho phù hợp vớimục đích, tính chất và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
a Phân tổ trong nghiên cứu HQSXKD doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương/vùng kinh tế
Phân tổ theo tiêu thức này giúp nghiên cứu HQSXKD doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài của từng tỉnh, thành, so sánh giữa chúng cũng như so vớiHQSXKD doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nền kinh tế Đây
là cơ sở để xác định ưu, nhược điểm, nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn vềHQSXKD doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của từng địa phương
Do có nhiều tỉnh thành phố có FDI (hiện nay Việt Nam có 63 tỉnh thành cóFDI) nên nếu mỗi địa phương là một tổ thì số tổ quá nhiều gây khó khăn trong việcnghiên cứu, để thuận tiện, tùy theo mục tiêu nghiên cứu cụ thể chúng ta có thể lựachọn một trong các phương án sau:
Phương án 1: Đối với các tỉnh, thành có tỷ trọng FDI lớn thì mỗi tỉnh, thành
phố là một tổ để tập trung nghiên cứu, còn các tỉnh thành phố khác gộp vào tổ “cácđịa phương khác” Thường thì đối với 10 tỉnh thành phố có tỷ trọng FDI lớn nhất,mỗi tỉnh hoặc thành phố được lập thành một tổ
Phương án 2: Phân theo vùng kinh tế để tập trung nghiên cứu HQSXKD của từng vùng cũng như tương quan so sánh HQSXKD giữa chúng và so với FDI của cả