1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình

94 360 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thúc Đẩy Xuất Khẩu Sản Phẩm Của Làng Nghề Xã Nam Cao - Kiến Xương - Thái Bình
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 735 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết này thể hiện ởvai trò của việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, ý nghĩa của việcthúc đẩy xuất khẩu sản phẩm truyền thống đối với việc duy trì nền văn hóadân tộc và

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

10 USD United states dollas (Đô la Mỹ)

11 WTO World Trade Organization

(Tổ chức Thương mại Thế giới)

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ BẢNG

HÌNH VẼ

Hình 2.1 Mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của làng nghề

Nam Cao Error: Reference source not found Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu vốn của các hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân

trong làng nghề xã Nam Cao giai đoạn 2006-2011 Error: Reference source not found

Hình 2.3 Tổng sản lượng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, Lào và

Campuchia của Làng nghề Nam Cao từ 2006-2011 Error: Reference source not found

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong lịch sử loài người, hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra từ rất sớm,

nó gắn liền với các cuộc hành trình khám phá thế giới của con người Có nghĩa

là thế giới ngày càng phát triển, tầm nhìn của loài người ngày càng được mởrộng, thì việc giao lưu nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng giữa các quốcgia, các vùng miền ngày càng trở nên phổ biến

Sau một thời gian đi ngược lại sự phát triển chung của xã hội, Đại hội VIcủa Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành một cột mốc đặc biệt quan trọng, từ

đó nền kinh tế Việt Nam đã được định hướng đi theo xu hướng chung của thếgiới, đó là xây dựng một nền kinh tế mở, nhiều thành phần, hay nói cách khác lànền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta đã thay đổi mạnh mẽ Góp phầnvào sự thay đổi trên ngoài các Doanh nghiệp thì phải kể đến vai trò của các làngnghề truyền thống Kết hợp giữa sức mạnh truyền thống hàng trăm năm với sựnăng động và sáng tạo trong lao động sản xuất theo định hướng mới, các làngnghề truyền thống của Việt Nam đã không ngừng khẳng định thương hiệu củamình ở trong nước và nhiều nơi trên thế giới Trong số những làng nghề đó, cóLàng nghề tơ đũi Nam Cao thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Ngày nay, sản phẩm tơ đũi của làng nghề Nam Cao chủ yếu để phục vụxuất khẩu sang thị trường Lào, Campuchia và các nước Tây Á Làng nghề NamCao có tiềm lực về con người; có bề dày truyền thống kết hợp với máy móc hiệnđại thay thế cho sản xuất thủ công trước kia, qua đó cho thấy tiềm năng xuất khẩucủa làng nghề là rất lớn Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của làng nghề còn nhiềuhạn chế dẫn đến việc khai thác những tiềm năng của làng nghề chưa tương xứng

Do vậy đòi hỏi phải có những giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu sản

Trang 5

phẩm tơ đũi lụa của làng nghề ngày càng trở nên cấp thiết.

sở vận dụng lý thuyết thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghê

Các vấn đề trong chương 1 đã hệ thống hóa những nội dung cơ bản vềthúc đẩy xuất khẩu của làng nghề bao gồm: khái niệm thúc đẩy xuất khẩu củalàng nghề, nội dung thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, các phươngthức thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, các nhân tố ảnh hưởng đếnthúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề và các chỉ tiêu đánh giá thúc đẩyxuất khẩu sản phẩm của làng nghề

Những đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống Việt Nam cũng được

đề cập đến như: quá trình hình thành và phát triển của làng nghề, khái niệm

và đặc điểm về xuất khẩu của làng nghề qua đó làm rõ thêm những nét riêngtrong hoạt động xuất khẩu của các làng nghề truyền thống

Ngoài ra chương 1 cũng chỉ rõ sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu sảnphẩm của các làng nghề truyền thống Việt Nam Sự cần thiết này thể hiện ởvai trò của việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, ý nghĩa của việcthúc đẩy xuất khẩu sản phẩm truyền thống đối với việc duy trì nền văn hóadân tộc và trước những yêu cầu đòi hỏi khách quan của thị trường quốc tế.Những nội dung trong chương 1 là cơ sở cần thiết cho việc nghiên cứu

và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xãNam Cao – huyện Kiến Xương – tỉnh Thái Bình

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA LÀNG NGHỀ XÃ NAM CAO – KIẾN XƯƠNG – THÁI

BÌNH GIAI ĐOẠN 2006-2011

Trong chương 2, luận văn đã trình bày về thực trạng thúc đẩy xuất khẩucủa làng nghề xã Nam Cao - huyện Kiến Xương – tỉnh Thái Bình trong giaiđoạn 2006-2011, qua việc phân tích các chỉ tiêu đánh giá thúc đẩy xuất khẩusản phẩm của làng nghề trong giai đoạn này, luận văn đã chỉ ra những ưuđiểm cũng như tồn tại và các nguyên nhân của nó trong hoạt động thúc đẩyxuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã Nam Cao

Luận văn cũng giới thiệu khái quát về làng nghề xã Nam Cao, qua đó đểbiết thêm những đặc điểm của làng nghề có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt độngthúc đẩy xuất khẩu của làng nghề

Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề xã Nam Cao cũng đượclàm rõ ở các nội dung về thị trường xuất khẩu, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu,các phương thức xuất khẩu và tổng kết kim ngạch xuất khẩu của làng nghềNam Cao giai đoạn 2006-2011 Mặt khác luận văn cũng chỉ ra những biệnpháp thúc đẩy xuất khẩu mà làng nghề đã áp dụng trong giai đoạn này

Dựa trên thực trạng và các chỉ tiêu đánh giá thúc đẩy xuất khẩu sản phẩmcủa làng nghề Nam Cao cho giai đoạn 2006-2011 như: giá trị tăng kim ngạchxuất khẩu, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu, số lượng thị trường thực mới hàngnăm, tốc độ tăng sản lượng xuất khẩu luận văn đã đưa ra được những đánh giáquan trọng về ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt độngthúc đẩy xuất khẩu của làng nghề xã Nam Cao giai doạn 2006-2011

Những nội dung được trình bày trong chương 2 là cơ sở thực tiễn choviệc đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làngnghề Nam Cao cho tới năm 2020

Trang 7

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA LÀNG NGHỀ XÃ NAM CAO – KIẾN XƯƠNG –THÁI BÌNH CHO ĐẾN NĂM 2020

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã phân tích ở các chương trước, chương

3 của luận văn tiến hành nghiên cứu, đưa ra những định hướng và mục tiêutrong thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề Nam Cao cho tới năm 2020.Bên cạnh những mục tiêu và định hướng là những đề xuất hệ thống giảipháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề Nam Cao trong thờigian tới Nhóm giải pháp được đi sâu theo hai góc độ là giải pháp từ phía làngnghề và các kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nước

Về phía làng nghề, các nhóm giải pháp lần lượt được đưa ra là nhóm giảipháp về Mraketing quốc tế, nhóm giải pháp về nguồn nhân lực và nhóm giảipháp trong hoạt động sản xuất của làng nghề

Đối với các cơ quan Nhà nước, luận văn cũng đưa ra những kiến nghịnhằm tạo dựng môi trường tốt hơn cho các làng nghề nói chung của Việt Namtrong hoạt động kinh doanh quốc tế, đồng thời đề xuất những giải pháp mangtính vĩ mô để tạo điều kiện tốt hơn cho làng nghề trong thúc đẩy xuất khẩunhư tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển du lịch trong nước, có nhiều chínhsách quan tâm đúng mực tới hoạt động sản xuất của các làng nghề truyềnthống của nước ta hiện nay

Như vậy, để đạt được những phương hướng và mục tiêu trong thúc đẩyxuất khẩu của làng nghề Nam Cao cho tới năm 2020, làng nghề cần phải thựchiện nghiêm túc các nội dung của thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời áp dụng linhhoạt những giải pháp đã đưa ra, cũng như vận dụng triệt để những điều kiệnthuân lợi mà các cơ quan Nhà nước đã tạo ra cho ngành sản xuất thủ công mỹnghệ truyền thống của Việt Nam

Trang 8

KẾT LUẬN

Với những chính sách thương mại thuận lợi, Đảng và Nhà nước đã tạođiều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cùng tham gia xuất khẩuhàng hóa, mang về một số lượng ngoại tệ lớn, đưa nền kinh tế Việt Nam xíchlại gần với những nền kinh tề phát triển trên toàn thế giới, từ đó mang đếnnhiều thay đổi tích cực về mặt xã hội

Vì vậy, một lần nữa khẳng định việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóakhông chỉ là tất yếu đối với các doanh nghiệp, mà còn là chiến lược đối vớimột Quốc gia trong thời kỳ hội nhập và đổi mới như nước ta

Làng nghề Nam Cao cũng như nhiều doanh nghiệp, làng nghề và địaphương khác đều đã nắm được xu hướng chung của nền kinh tế Đặc biệt đốivới Làng nghề Nam Cao, là một làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống,thì việc thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài càng trở nêncần thiết, không những góp phần bảo tồn và phát triển giá trị truyền thống

mà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động nôngnhàn với thu nhập ổn định, tăng thu nhập quốc dân, phát triển du lịch và hộinhập quốc tế

Trong giai đoạn nền kinh tế thế có nhiều biến động khôn lường thì việcđẩy mạnh xuất khẩu đối với các doanh nghiệp, làng nghề trong nước nóichung, và làng nghề Nam Cao nói riêng sẽ còn gặp nhiều khó khăn và tháchthức, đòi hỏi làng nghề phải nắm bắt sự vận động của nền kinh tế, xây dựngnhững kế hoạch ngắn hạn phù hợp với từng thay đổi đang diễn ra

Không chỉ có các nỗ lực từ phía các doanh nghiệp - làng nghề, tronggiai đoạn tới, Nhà nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng vàgiúp đỡ các doanh nghiệp – làng nghề trong hoạt động xuất khẩu của mình

Trang 9

NGUYÔN C¤NG THïY NINH

THóC §ÈY XUÊT KHÈU S¶N PHÈM CñA LµNG NGHÒ X· NAM CAO - HUYÖN KIÕN X¦¥NG - TØNH TH¸I B×NHChuyªn ngµnh: QU¶N TRÞ KINH DOANH QUèC TÕ

Ngêi híng dÉn khoa häc:

ts NGUYÔN ANH MINH

Hµ néi, n¨m 2011

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử loài người, hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra từ rất sớm,

nó gắn liền với các cuộc hành trình khám phá thế giới của con người Có nghĩa làthế giới ngày càng phát triển, tầm nhìn của loài người ngày càng được mở rộng,thì việc giao lưu nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng giữa các quốc gia, cácvùng miền ngày càng trở nên phổ biến

Sau một thời gian đi ngược lại sự phát triển chung của xã hội, Đại hội VI củaĐảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành một cột mốc đặc biệt quan trọng, từ đónền kinh tế Việt Nam đã được định hướng đi theo xu hướng chung của thế giới,

đó là xây dựng một nền kinh tế mở, nhiều thành phần, hay nói cách khác là nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta đã thay đổi mạnh mẽ Góp phầnvào sự thay đổi trên ngoài các doanh nghiệp thì phải kể đến vai trò của các làngnghề truyền thống Kết hợp giữa sức mạnh truyền thống hàng trăm năm với sựnăng động và sáng tạo trong lao động sản xuất theo định hướng mới, các làngnghề truyền thống của Việt Nam đã không ngừng khẳng định thương hiệu củamình ở trong nước và nhiều nơi trên thế giới Trong số những làng nghề đó, cóLàng nghề tơ đũi Nam Cao thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Cách huyện lỵ Kiến Xương không xa, Nam Cao nổi lên như một điểnhình về phát triển làng nghề Nam Cao là xã đất chật, người đông Có thể đó lànhững lý do để nhiều năm trước đây nghề nuôi tằm, kéo tơ và dệt đũi đã sớm

về gắn bó với đất này Người ta cho rằng nghề dệt đũi Nam Cao được hìnhthành từ gần 400 năm trước đây Lúc đầu vải đũi được dùng để may thành

Trang 11

quần áo tiêu thụ trong nước cho các nhu cầu của nhân dân và dùng trong các lễhội Sau này vải đũi đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới Đến thời kỳPháp thuộc, vải đũi Tuýt So đã được xuất khẩu sang Pháp với số lượng lớn.Đến những năm 80 của thế kỷ trước, đũi Nam Cao đã nổi đình nổi đám, mỗinăm tiêu thụ 4050 nghìn mét vuông Khi thị trường Đông Âu mất đi, đũi NamCao cũng ắng lại Song với sự biến chuyển trong định hướng phát triển kinh tếcủa đất nước, đũi Nam Cao đã nhanh hơn các sản phẩm khác, kịp thời chuyểnhướng sang thị trường Lào, Campuchia và các nước Tây Á Nghề dệt đũi lạiphát triển và còn có sức mạnh hơn xưa, vươn ra toàn xã Nam Cao, tới cả các

xã lân cận như Lê Lợi, Đình Phùng, Quốc Tuấn với các doanh nghiệp tiêu biểucủa nghề dệt đũi ở Nam Cao như Doanh nghiệp dệt nhuộm Đông Thành,Doanh nghiệp dệt Đại Hoà, Doanh nghiệp dệt An Liên, Doanh nghiệp dệtQuang Bình Đũi Nam Cao đã trở thành hàng độc nhất vô nhị trong làng dệtViệt Nam

Ngày nay, sản phẩm tơ đũi của làng nghề Nam Cao vẫn chủ yếu để phục

vụ xuất khẩu sang thị trường Lào, Campuchia và các nước Tây Á Làng nghề NamCao có tiềm lực về con người; có bề dày truyền thống kết hợp với máy móc hiệnđại thay thế cho sản xuất thủ công trước kia, qua đó cho thấy tiềm năng xuất khẩucủa làng nghề là rất lớn Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của làng nghề còn nhiềuhạn chế dẫn đến việc khai thác những tiềm năng của làng nghề chưa tương xứng

Do vậy đòi hỏi phải có những giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu sản phẩm

tơ đũi lụa của làng nghề ngày càng trở nên cấp thiết

Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nam Cao, tác giả đã lựa

chọn nghiên cứu đề tài luận văn là “Thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng

nghề xã Nam Cao - Kiến Xương - Thái Bình” với mong muốn những phát hiện

của mình trong đề tài này sẽ đóng góp một phần cho sự phát triển làng nghề tạiquê hương

Trang 12

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của đề tài này là đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩukhẩu sản phẩm của làng nghề xã Nam Cao - Kiến Xương - Thái Bình

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài này có 3 nhiệm vụ chính, đó là:

- Trình bày lý luận về thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, luận giải

sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề Việt Nam

- Phân tích thực trạng thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã NamCao – Kiến Xương – Thái Bình từ năm 2006 ước tính đến hết năm 2011, làm rõnhững ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong việc thúc đẩy xuấtkhẩu sản phẩm của làng nghề xã Nam Cao

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm củalàng nghề xã Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình cho đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là lý luận thúc đẩy xuất khẩu sản phẩmcủa làng nghề và thực tiễn thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã Namcao – Kiến Xương – Thái Bình (Ở đây làng nghề được hiểu là những thôn, làng

có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp đểsản xuất, kinh donh, mang lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm)

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu vấn đề thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xãNam Cao – Kiến Xương – Thái Bình dưới góc độ các doanh nghiệp tư nhân và

Trang 13

các hộ gia đình sản xuất của xã Nam Cao Thời gian nghiên cứu là giai đoạn2006-2011 và đề xuất giải pháp đến năm 2020

Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài này sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phân tích, thống kê,

so sánh, tổng hợp, đối chiếu và suy luận logic, dựa trên các số liệu về kết quả sảnxuất - kinh doanh - xuất khẩu do làng nghề xã Nam Cao - Kiến Xương - TháiBình cung cấp

4 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay chưa có luận văn nào nghiên cứu về đề tài “Thúc đẩy xuất khẩusản phẩm của làng nghề xã Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình” Tuy đây làmột làng nghề thủ công ở Thái Bình – một tỉnh mà sản xuất nông nghiệp và trình

độ lao động còn chưa cao, nhưng hoạt động xuất khẩu tại làng nghề Nam Cao đãđược thực hiện ngay từ khi làng nghề được hình thành Ngày nay cùng với sự hộinhập mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thì hoạt độngxuất khẩu càng được chú trọng hơn cả Tác giả hy vọng đề tài này sẽ thu đượcnhững thành công nhất định góp phần giúp cho hoạt động xuất khẩu sản phẩmcủa làng nghề xã Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình nói riêng, cũng như nhiềulàng nghề thủ công khác được hoàn thiện hơn

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài các phần: Mục lục, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục bảng hình, lời

mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm

3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghềChương 2 Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã

Trang 14

Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình giai đoạn 2006-2011Chương 3 Định hướng và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm củalàng nghề xã Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình cho đến năm 2020

Trang 15

1.1.1 Quá trình hình thành, khái niệm và đặc điểm của làng nghề

Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đã cho thấy làng

xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sốngnhân dân ở nông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những

lệ làng phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đếnngày nay

Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nôngnghiệp và sản xuất nông thôn Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã ViệtNam xuất hiện từ thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làng định canh đãhình thành, dựa trên cơ sở những công xã nông thôn Mỗi công xã gồm một sốgia đình sống quây quần trong một khu vực địa giới nhất định Đồng thời lànơi gắn bó các thành viên với nhau bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâmthức tín ngưỡng, lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quátrình sản xuất và đời sống sinh hoạt

Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nôngnghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kếtchặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theonghề nghiệp, tạo thành các phường hội: phường gốm, phường đúc đồng, phườngdệt vải từ đó càng nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề

Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nôngnghiệp, vừa làm nghề phụ Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề

Trang 16

mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ dầndần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Những làngnghề phát triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống tăng nhanh vàsống bằng nghề đó ngày càng nhiều.

Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống

và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa, văn minh dân tộc Quátrình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiều thủ công nghiệp ởnông thôn Lúc đầy sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ và lan ra

cả làng Trải qua một quá trình lâu dài của lịch sử lúc thịnh lúc suy, có nhữnglàng nghề được gìn giữ, có những làng nghề bị mai một hoặc mất hẳn và cónhững nghề mới ra đời Trong đo có những làng nghề đạt tới trình độ côngnghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao

Ngày nay, các làng nghề truyền thống tập trung hầu hết ở vùng châu thổsông Hồng như: Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình…Một số rải rác ởcác vùng cao và châu thổ miền Trung và miền Nam

Sau đây là một vài khái niệm và đặc điểm của làng nghề truyền thống:

• Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn, làng có mộthay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh danh độc lập.Thu nhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của

cả thôn, làng

• Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều ngànhnghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinhdoanh và mang lại thu nhập chủ yếu của làng nghề Những nghề thủ công củalàng nghề truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác, thường là quanhiều thế hệ Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đãtrở thành nghề nổi trội, một nghề cố truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủcông chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm vào sản xuất, có

Trang 17

quy trình công nghệ nhất đinh và sống chủ yếu bằng nghề đó, sản phẩm của họlàm ra có tính mỹ nghệ cao và trờ thành hàng hóa trên thị trường.

• Đặc điểm của làng nghề truyền thống:

- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống đạt từ 50% trở lên so vớitổng số hộ và lao động của làng Thông thường cơ cấu trong làng nghề truyềnthống bao gồm các doanh nghiệp tư nhân trong làng nghề và các hộ gia đìnhsản xuất

- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm

- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tó văn hóa và bảnsắc dân tộc Việt Nam

- Sản phẩm có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác

Hiện nay, có 12 nhóm sản phẩm truyền thống chính của các làng nghềViệt Nam, bao gồm: Mây tre đan, sản phẩm từ cói và lục bình, gốm sứ, điêukhắc gỗ, sơn mài, thêu ren, điêu khắc đá, dệt thủ công, giấy thủ công, tranhnghệ thuật, kim khí, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác

1.1.2 Xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

1.1.2.1 Khái niệm xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

Để đi tìm khái niệm về xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, trước tiên tacần làm rõ khái niệm về xuất khẩu hàng hóa nói chung

Hiện nay, khải niệm xuất khẩu cũng có rất nhiều cách hiểu và cách đánhgiá khác nhau, bởi vì cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, tư duycon người phát triển, việc đưa ra khái niệm cho một phạm trù có rất nhiềuquan điểm khác nhau phụ thuộc vào góc nhìn nhận vấn đề đó

Theo quan điểm Marketing, “ Xuất khẩu là hoạt động tiêu thụ hàng hoá,dịch vụ được sản xuất trong nước ra thị trường nước ngoài” Quan điểm này

Trang 18

đã chỉ rõ đối tượng của xuất khẩu là hàng hoá và dịch vụ nhưng chỉ giới hạnphạm vi của hoạt động tiêu thụ là ở trong nước mà thôi.

Các nhà quản trị kinh doanh quốc tế thì quan niệm rằng: “Xuất khẩu làhoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác”.Với quan điểm này, phạm vi bó hẹp của hoạt động xuất khẩu được phá vỡ.Hàng hoá và dịch vụ không bị giới hạn phải sản xuất trong nước như trên mà

có thể bao gồm hàng hoá, dịch vụ đã nhập khẩu từ nước khác (tái xuất)

Từ các cách tiếp cận nêu trên, ta có thể rút ra được một khái niệm chung

cho xuất khẩu Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh buôn bán trong đó có

sự di chuyển của hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác.

Bản chất của xuất khẩu là hoạt động dựa trên quan hệ hàng tiền có yếu tốquốc tế Xuất khẩu thường là hình thức đầu tiên của quá trình thâm nhập thịtrường quốc tế Phần lớn các doanh nghiệp đều bắt đầu hoạt động mở rộng thịtrường ra thế giới với tư cách là những nhà xuất khẩu rồi sau đó mới chuyểnsang các hình thức thâm nhập khác Xuất khẩu được coi là hình thức ít rủi ro

và chi phí thấp, được áp dụng phổ biến đối với các doanh nghiệp mới thâmnhập thị trường ở giai đoạn đầu

Từ khái niệm về xuất khẩu và bản chất vừa rút ra được, áp dụng vào với

làng nghề truyền thống, ta có thể rút ra kết luận: Xuất khẩu sản phẩm của làng nghề là hoạt động kinh doanh buôn bán của làng nghề đó, nhằm đưa sản phẩm truyền thống của mình ra thị trường quốc tế.

1.1.2.2 Đặc điểm của xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

Theo khái niệm về xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, ta thấy xuất khẩu

là một hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Chính yếu tốquốc tế đã mang đến cho hoạt động xuất khẩu sản phẩm của làng nghề vừa cónhững đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa nói chung, vừa có những đặc điểmriêng, cụ thể như sau:

Trang 19

● Những đặc điểm riêng: do đặc thù của các làng nghề truyền

thống với cơ cấu tổ chức có những điểm khác biệt so với các doanhnghiệp thông thường, vì thế hoạt động xuất khẩu của làng nghề có nhữngđặc điểm riêng như:

- Chủ thể tham gia vào xuất khẩu của làng nghề: Các doanh nghiệp tưnhân trong làng nghề sẽ là những đơn vị thực hiện công tác xuất khẩu sảnphẩm của làng nghề, dựa trên những đơn đặt hàng trực tiếp của doanh nghiệp

từ phía bạn hàng; hoặc dựa trên những đơn hàng được chỉ định từ phía cáchiệp hội hoặc ban quản lý của làng nghề

- Các hộ sản xuất trong làng nghề đóng vai trò là những người sản xuất,cung cấp sản phẩm cho các doanh nghiệp Các doanh nghiệp trong các làngnghề truyền thống cũng có chức năng sản xuất sản phẩm, tuy nhiên sản lượngchính chủ yếu là do các hộ sản xuất cung cấp Do đó các hộ sản xuất đóng vaitrò quan trọng trong việc kịp thời cung ứng nguồn hàng xuất khẩu cho cácdoanh nghiệp tư nhân Để tránh rủi ro trong việc không đảm bảo nguồn hàng,

Trang 20

sau khi nhận được đơn đặt hàng từ phía đối tác, các doanh nghiệp tư nhântrong làng nghề thường phải cân đối xem xét khả năng tự sản xuất sau đó kịpthời đặt hàng trở lại các hộ sản xuất nhằm thu mua đủ lượng hàng xuất khẩucần thiết.

- Sản phẩm của các làng nghề truyền thống chủ yếu là các hàng hóa thủcông mỹ nghệ chứa đựng nhiều tinh hoa văn hóa của mỗi dân tộc, vùng miền;vừa có thể sử dụng làm vật trang trí, vừa làm đẹp nhà cửa, văn phòng và cũng

có thể là những món quà lưu niệm trong các chuyến du lịch của du kháchquốc tế, vì vậy sản phẩm của các làng nghề thông thường được xuất khẩu theohai phương thức sau:

+ Xuất khẩu tại chỗ: Đáp ứng nhu cầu cho khách du lịch nước ngoàimuốn mua sản phẩm truyền thống của Việt Nam Với xu hướng phát triển

du lịch như ngày nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vàokim ngạch xuất khẩu hàng hóa truyền thống thủ công mỹ nghệ của ViệtNam hàng năm

+ Xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệptrong làng nghề bán sản phẩm cho đối tác nước ngoài bằng cách mang hàngtận nơi bằng các phương tiện vận tải khác nhau và chịu sự ràng buộc của một

số thủ tục xuất khẩu nhất định

1.2 THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA LÀNG NGHỀ

1.2.1 Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

Khái niệm: Dưới góc độ các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình

sản xuất trong làng nghề, thúc đẩy xuất khẩu là tổng hợp các biện pháp màlàng nghề có thể áp dụng để gia tăng khả năng, qui mô và hiệu quả xuấtkhẩu của mình

Bản chất của thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề là việc

làng nghề tìm mọi biện pháp để tăng kim ngạch xuất khẩu của mình

Trang 21

1.2.2 Nội dung thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

Trước khi thực hiện nhưng nội dung của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu,làng nghề cũng phải thực hiện các nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoánói chung như: Nghiên cứu thị trường nước ngoài; Lựa chọn thị trường xuấtkhẩu; Lựa chọn đối tác xuất khẩu; Lập phương án kinh doanh xuất khẩu; Đàmphán và ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng

Sau đó để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài, làngnghề cần thực hiện thêm một số công việc sau:

1.2.2.1 Đề xuất các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu

Sau khi hoàn tất nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, xác định mục tiêu, tìm

ra mặt hàng cho từng thị trường thì làng nghề sẽ nghiên cứu những biện pháp

để có thể thúc đẩy xuất khẩu một cách có hiệu quả Các biện pháp thúc đẩyxuất khẩu có thể chia ra làm 2 nhóm chính như sau:

 Nhóm các biện pháp tăng số lượng và kim ngạch xuất khẩu (Biện

Lựa chọn hình thức kinh doanh xuất khẩu phù hợp với làng nghề

Mỗi loại hình thức kinh doanh xuất khẩu lại có những ưu nhược điểmriêng Nhưng không có một phương thức nào đáp ứng được tất cả yêu cầu phùhợp với mọi điều kiện của làng nghề Vì thế việc lựa chọn hình thức xuất

Trang 22

khẩu, sáng tạo những hình thức mới hay phối hợp các hình thức xuất khẩu sẽ

là biện pháp hiệu quả để kinh doanh tốt trên những thị trường nước ngoàikhác nhau Từ việc thâm nhập đến mở rộng thì trường, nếu áp dụng nhữnghình thức kinh doanh xuất khẩu phù hợp sẽ làm gia tăng số lượng cũng nhưgiá trị xuất khẩu của làng nghề, đồng nghĩa với việc bài toán thúc đẩy xuấtkhẩu đã có hướng giải quyết tốt

Ổn định nguồn hàng xuất khẩu

Đối với làng nghề sản xuất kinh doanh xuất khẩu: Làng nghề thường tựsản xuất rồi tiến hành xuất khẩu hàng hóa của mình Hình thức xuất khẩu của

họ chính là bán buôn trực tiếp cho nhà nhập khẩu Do là doanh nghiệp sảnxuất nên tính chủ động trong việc cung cấp hàng hóa xuất khẩu cao hơn cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và do đó mục tiêu ổn định nguồn hàngxuất khẩu của làng nghề cũng dễ thực hiện

Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu

Nhằm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề ra thị trường nướcngoài, yếu tố tiên quyết chính là sản phẩm Sản phẩm của làng nghề có chấtlượng tốt, giá cả phải chăng, mẫu mã đẹp, tinh túy và chắt lọc các giá trị vănhóa lớn… chắc chắn sẽ có sức cạnh tranh rất lớn và thu hút sự chú ý củakhách hàng, kích thích tiêu dùng của khách hàng đem lại doanh thu lớn cholàng nghề Vì thế, làng nghề nên áp dụng các biện pháp để nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu bằng việc thay đổi công nghệ sản xuấtmới, bổ sung nhân lực tinh thông nghiêp vụ ngoại thương… để giảm nhữngchi phí thừa trong sản xuất Bên cạnh đó cần có những chiến lược phát triểnsản phẩm một cách đồng bộ những hướng sau:

 Thích nghi hoá sản phẩm

 Đa dạng hoá sản phẩm

 Chuyên môn hóa, cá biệt hóa sản phẩm

Trang 23

Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hoá xuất khẩu

Kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu có ý nghĩa rất lớn trong việcnâng cao hiệu quả hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của một làng nghề Đây làkhâu cuối cùng trước khi hàng hóa được xuất khẩu sang thị trường nướcngoài, là khâu loại trừ lần cuối những sản phẩm có khuyết tật để hạn chế đếnmức thấp nhất những rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng Công tác kiểm trachất lượng của làng nghề tốt sẽ đem lại uy tín cho làng nghề trong làm ăn vớinhững khách hàng, đặc biệt là những khách hàng khó tính Vì thế, việc kiểmtra chất lượng hàng hóa xuất khẩu cần được tiến hành nghiêm ngặt ở cả haicấp cơ sở và cửa khẩu Trong đó kiểm tra ở cấp cơ sở giữ vai trò quyết định.Qui trình kiểm tra nên bắt đầu từ khâu đầu vào

 Các nhóm biện pháp Marketing xuất khẩu (Biện pháp điều kiện)

Nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Thông tin luôn chiếm vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩuhàng hóa ra nước ngoài của làng nghề Để chất lượng thông tin về thị trường,sản phẩm được tốt, công tác nghiên cứu thị trường cần tiến hành bài bản Ápdụng các mô hình nghiên cứu như SWOT, năm lực lượng cạnh tranh củaMichel Porter… để nghiên cứu thị trường được tổng quan và đầy đủ

Xây dựng thương hiệu thương mại cho sản phẩm của làng nghề

Thương hiệu thương mại cho sản phẩm chính là điểm yếu của hầu hếtnhững hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay Thương hiệu ảnh hưởngtrực tiếp đến uy tín của sản phẩm, cũng như của làng nghề, là cách để đánhgiá vị thế của doanh nghiệp trên thị trường và sự ưu tiên của hàng hóa trongtâm trí khách hàng Thương hiệu xây dựng không chỉ là cái tên, mà nó cònbao gồm các bộ phận nhu biểu tượng, slogan, cách trình bày… để có thể cho

ra đời một thương hiệu đúng qui cách Các làng nghề nên quan tâm nhiều hơnđến biện pháp này, vì nó cũng chính là biện pháp hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩurất tốt và đạt hiệu quả lâu dài

Trang 24

Hoàn thiện kỹ năng định giá hàng hoá xuất khẩu

Nếu chất lượng sản phẩm tạo nên uy tín, thì giá cả lại tạo ra lực hấp dẫn

để kích thích tiêu dùng của khách hàng, qua đó làm tăng doanh thu, kimngạch xuất khẩu cho làng nghề Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu sẽ rất tốt nếunhư làng nghề định giá sản phẩm của mình ở mức cạnh tranh so với các đốithủ khách trên thị trường Việc định giá sản phẩm chính là bí quyết, kinhnghiệm của những nhà kinh doanh xuất khẩu Định giá sản phẩm cạnh tranh

sẽ giúp thâm nhập tốt thị trường mới và mở rộng hơn nữa về qui mô trên thịtrường hiện tại

Phát triển hệ thống phân phối

Một biện pháp nữa để tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của doanhnghiệp đó là tìm cách để tăng số lượng khách mua hàng Tức là, biện pháp

để mở rộng và phát triển kênh phân phối sản phẩm Phát triển đa dạng cáckênh phân phối, để tận dụng tốt cơ hội tiếp cận với khách hàng Tuy nhiêncũng cần tính đến chi phí để xây dựng kênh phải phù hợp với khả năng củatừng làng nghề

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu

Thực chất của hoạt động xúc tiến xuất khẩu là những kế hoạch địnhhướng dài hạn được xây dựng và áp dụng cùng với những phương tiện như:tiếp thị, quảng cáo, hội trợ triển lãm, khảo sát thị trường, thương mại điệntử… nhằm đảm bảo gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất, lưu thông và tiêu thụ, xuấtphát từ nhu cầu và lợi ích của người mua Hoạt động xúc tiến được thực hiệnthường xuyên sẽ đem về cho doanh nghiệp nhiều cơ hội để tăng cường thúcđẩy xuất khẩu hơn nữa

1.2.2.2 Lựa chọn biện pháp thúc đẩy xuất khẩu

Đối với mỗi loại mặt hàng, mỗi loại thị trường, làng nghề không chỉ sửdụng một biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu Vì mỗi biện pháp có những ưu

Trang 25

điểm và bạn chế nhất định Do đó, việc kết hợp linh hoạt các biện pháp sẽgiúp làng nghề thực hiện hoạt động thúc đẩy xuất khẩu được tốt hơn.

Để lựa chọn được biện pháp tối ưu, làng nghề có thể sử dụng phươngpháp so sánh giữa chi phí bỏ ra cho mỗi biện pháp với hiệu quả kinh tế ướctính thu được khi áp dụng biện pháp đó Biện pháp nào cho hiệu quả cao vớichi phí hợp lý sẽ được lựa chọn

1.2.2.3 Thực hiện các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu

Khi đã tìm ra được biện pháp phù hợp cho thúc đẩu xuất khẩu, làng nghề

sẽ tiến hành tổ chức thực hiện những biện pháp đó bằng cách huy động vàphân phối nguồn lực doanh nghiệp cho từng khâu Trong qua trình thực hiệnhoạt động thúc đẩy xuất khẩu phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sáttình hình để có những điều chỉnh kịp thời Sau khi kết thúc thời gian thực hiệnthúc đẩy xuất khẩu theo như mục tiêu đề ra, làng nghề tiến hành tổng kết vàtính toán các chỉ tiêu đạt được, so sánh với mục tiêu đề ra, từ đó, đưa ra kếhoạch thúc đẩy xuất khẩu cho kỳ tiếp theo

1.2.3 Các phương thức thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề

Để thúc đẩy xuất khẩu, làng nghề có thể thực hiện theo hai phương thức làthúc đẩy xuất khẩu theo chiều rộng và thúc đẩy xuất khẩu theo chiều sâu Trênthực thế, làng nghề không áp dụng riêng lẻ một trong hai phương thức này màthường áp dụng cả hai phương thức cùng một lúc nhằm đạt được kết quả tốt nhấttrong hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu

1.2.3.1 Thúc đẩy xuất khẩu theo chiều rộng

Thúc đẩy xuất khẩu theo chiều rộng là phương thức mà theo đó làngnghề muốn mở rộng thị trường xuất khẩu theo phạm vi địa lý, đa dạng hóasản phẩm để tăng thêm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm của mình

Phương thức này sẽ hữu ích với những làng nghề có những đặc điểm

Trang 26

- Bị cạnh tranh gay gắt bởi nhiều đối thủ và có nguy cơ mất đi thị trườngtruyền thống, khi đó làng nghề bắt buộc phải tìm cho mình những thị trườngmới

- Có đủ năng lực để thâm nhập vào thị trường mới, tức là khả năng về tàichính cũng như nhiều nhân tố khác có thể đảm bảo cho việc mở rộng thịtrường xuất khẩu sang những thị trường mới

- Gặp phải những trở ngại về chính trị - pháp luật - xã hội ở các thịtrường xuất khẩu hiện tại Những trở ngại này được coi là bất khả kháng, cáclàng nghề cần phải tính đến những rủi ro này trong hoạt động kinh doanhquốc tế Khi đó, để tránh “bỏ trứng vào cùng một giỏ” làng nghề cần tìm cáchxuất khẩu sản phẩm của mình sang những thị trường mới

1.2.3.2 Thúc đẩy xuất khẩu theo chiều sâu

Đây là phương thức được áp dụng khi làng nghề muốn tăng kim ngạchxuất khẩu của mình sang những thị trường đã thâm nhập được

Phương thức này phù hợp với những làng nghề có những đặc điểm sau:

- Sản phẩm của làng nghề đã có được vị trí vững mạnh tại quốc gia nhậpkhẩu, được nhiều người tiêu dùng chấp nhận, cùng với việc làng nghề đã nắmbắt được đầy đủ các thông tin về thị trường xuất khẩu này Khi đó làng nghề

sẽ có nhiều cơ hội để tăng kim ngạch xuất khẩu khi thúc đẩy xuất khẩu theochiều sâu

- Làng nghề đang chiếm ưu thế về thương hiệu, mẫu mã, giá cả…so vớicác đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên thị trường xuất khẩu Khi đó làng nghề cóthể nâng cao mức độ ảnh hưởng và chủ động chiếm lĩnh thị trường bằng việc

Trang 27

tăng cường xuất khẩu sản phẩm sang thị trường này.

- Trên thị trường xuất khẩu hiện tại, nhu cầu về sản phẩm lớn và ổn định

là một dấu hiệu thuận lợi, nó cho phép làng nghề có thể tiêu thụ số lượnghàng hóa lớn hơn nữa tại thị trường xuất khẩu này

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề

Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng củarất nhiều nhân tố Việc phân tích các nhân tố này sẽ làm rõ các ảnh hưởngđến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp theo chiều hướng thuậnlợi hay bất lợi Qua đó giúp doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội thuậnlợi, cũng như biết cách khắc phục những hạn chế do những nhân tố đó manglại nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc thúc đẩy xuất khẩu Sau đây là hainhóm nhân tố chính:

1.2.4.1 Các nhân tố bên ngoài làng nghề: Bao gồm các nhân tố của môi trường quốc tế và các nhân tố của môi trường trong nước:

Thứ nhất, các nhân tố của môi trường quốc tế gồm có:

 Biến động kinh tế thế giới

Những yếu tố như thị trường chứng khoán thế giới, giá xăng dầu, giá vàng,

tỷ giá, lãi suất…thay đổi kéo theo những hệ luỵ trên phạm vi toàn cầu Thươngmại quốc tế vì thế cũng bị ảnh hưởng theo Đây là những nhân tố có vai trò quantrọng tác động trực tiếp tới các yếu tố cấu thành thị trường như: cung cầu, giá cả,tiền tệ… Mọi sự thay đổi của những nhân tố trên sẽ gây ra những ảnh hượngthuận hay nghịch đến việc thúc đẩy xuất khẩu của mỗi làng nghề

Sự thay đổi của tỷ giá hối đoài cũng làm thay đổi tương quan tiền tệ giữacác quốc gia Nếu đồng nội tệ lên giá so với đồng ngoại tệ, thì hợp đồng xuấtkhẩu hàng hóa sẽ bị giảm giá trị một cách tương đối so với trước khi ký kết

Trang 28

Điều này ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện hợp đồng của các làng nghề; kéotheo những thương vụ xuất khẩu bị đổ bể, làm chậm quá trình thúc đẩy xuấtkhẩu của làng nghề đó.

 Sự khác biệt trong văn hoá

Hoạt động xuất khẩu gắn liền với sự đa dạng trong văn hóa kinh doanh.Mỗi một quốc gia tồn tại những nền văn hóa khác nhau bao gồm phong tụctạp quán, tôn giáo, lối sống, ngôn ngữ, thói quen tiêu dùng… Tất cả đều cóảnh hưởng sâu sắc đến quy mô, cơ cấu, nhu cầu thị trường Tức là nó tác độngtrực tiếp lên cầu từng mặt hàng và thị trường sản phẩm của làng nghề Do đó,công tác mở rộng, thúc đẩy xuất khẩu chịu sự chi phối rất lớn từ nhân tố này.Các làng nghề nếu không nghiên cứu và nắm rõ văn hóa của người tiêu dùngnước ngoài thì các sản phẩm sẽ rất khó thâm nhập và tồn tại được vì chínhvăn hóa sẽ tạo nên “rào chắn” cho sự thâm nhập này Nhưng nếu am hiểu vềnhững giá trị văn hóa, phong tục của những đối tác nước ngoài thì việc pháttriển sản phẩm trên cơ sở định hướng khách hàng, định hướng thị trường củadoanh nghiệp sẽ rất phát triển Đồng thời, các cơ hội làm ăn sẽ thuận lợi hơnrất nhiều Qua đó hoạt động xuất khẩu của làng nghề được thúc đẩy phát triển

 Sự phức tạp của yếu tố pháp luật

Hệ thống luật pháp quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thúc đẩyxuất khẩu của làng nghề Luật pháp sẽ quyết định và cho phép các lĩnh vựchoạt động và hình thức kinh doanh nào mà làng nghề có thể được phép tiếnhành xuất khẩu, hoặc tiến hành có hạn chế ở những quốc gia đó cũng như ởkhu vực thị trường đó

Hệ thống pháp luật ràng buộc 1 hợp đồng xuất khẩu hàng hoá rất phứctạp Bao gồm những hệ thống luật quốc tế như các công ước, hiệp định quốc

tế, tập quán quốc tế, hệ thống luật quốc gia của nước nhập khẩu và nước xuấtkhẩu… Điều đó làm cho những xung đốt pháp lý khó khăn trong việc giải

Trang 29

quyết Những hiểu nhầm hay sai phạm trong hợp đồng rất dễ xảy ra làm đổ vỡquan hệ hợp tác xuất phát từ sự thiếu hiểu biết Vì thế, nếu làng nghề am hiểu

về kiến thức luật pháp trong và ngoài nước sẽ không gặp phải những lúngtúng khi xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài Đồng thời điều đó giúp cho làngnghề tỉnh táo phát hiện những thương vụ tiềm ẩn rủi ro Chính vì vậy có thểkhẳng định được rằng trên cơ sở nắm vững hệ thống pháp luật của từng quốcgia và các hiệp định giữa các nước cho phép làng nghề tiến hành hoạt độngthúc đẩy xuất khẩu được thuận lợi hơn

Thứ hai, các nhân tố của môi trường trong nước gồm:

 Nền kinh tế quốc gia đang phát triển chứa đựng những thay đổi

bất ngờ.

Các yếu tố của nền kinh tế: lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, …biếnđộng cùng chiều hay ngược chiều so với thế giới cũng gây ra những ảnhhưởng thuận lợi hay bất lợi cho hoạt động thúc đẩy của các doanh nghiệptrong nước Cụ thể như:

•Lạm phát làm giảm sức tiêu dùng trong nước do giá cả hàng hoá lêncao Chi phí cho các nguyên liệu trong nước tăng, kéo theo giá thành sảnphẩm tăng, từ đó, tăng giá xuất khẩu Điều này khiến các làng nghề có thểmất đi những đơn hàng nếu như sự chênh lệch về giá so với đối thủ cạnh tranh

là qúa cao Điều này hạn chế việc thúc đẩy xuất khẩu của các làng nghề

•Lãi suất cho vay cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn cho xuấtkhẩu của làng nghề Thực hiện các hợp đồng xuất khẩu giá trị lớn cần mộtkhoản vốn đầu tư lớn mà không phải làng nghề nào cũng sắn có Nếu lãi suấtcho vay quá cao Rủi ro về thanh toán nợ của làng nghề sẽ tăng Rất nhiềulàng nghề không thể sẵn sàng chấp nhận Vì thế mà họ bở lỡ những cơ hộihấp dẫn Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu vì thế mà không thực hiện được

 Chính trị – Luật pháp của quốc gia:

•Chính trị mà ở đây là các chính sách khuyến khích xuất khẩu của chính

Trang 30

phủ và những chính sách trợ cấp xuất khẩu thể hiện mức độ quan tâm của Nhànước đến hoạt động xuất khẩu của các làng nghề Tuy nhiên, trong bối cảnhhội nhập toàn cầu, không phải ngành nào cũng được ưu tiên quan tâm Vì thếnhững làng nghề sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực được ưu đãi sẽgặp rất nhiều thuận lợi khi tiến hành thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa,dịch vụ củamình ra nước ngoài và ngược lại.

•Luật pháp về kinh tế thương mại như: Luật thuế quan, Luật hải quan,biểu thuế xuất nhập khẩu, … được ban hành để điều chỉnh các hoạt động xuấtnhập khẩu của doanh nghiệp Các làng nghề khi tham gia xuất khẩu nắm rõcác luật này thì việc xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu ra nước ngoài sẽ đượctiến hành nhanh chóng và không bị sai phạm

Thứ ba, các nhân tố của môi trường ngành: Môi trường ngành tiềm ẩn

những lực lượng cạnh tranh, tạo nên động lực cho các làng nghề thúc đẩy xuấtkhẩu hàng hóa, dịch vụ trong ngành ra thị trường nước ngoài

 Mức độ cạnh tranh của các làng nghề và doanh nghiệp trong

ngành: Mức độ cạnh tranh càng gay gắt cho thấy sự phát triển của ngành đó.

Số lượng các làng nghề, doanh nghiệp trong ngành thể hiện cường độ cạnhtranh Số lượng càng nhiều thì cường độ cạnh tranh càng mạnh Khi cạnhtranh trong nước đến thời điểm gay gắt thì các doanh nghiệp phát sinh nhucầu mở rộng thị trường ra nước ngoài Đó là động lực thúc đẩy xuất khẩu

 Mối liên kết giữa các nhà cung cấp với đơn vị xuất khẩu: Nhà cung

cấp đảm bảo yếu tố đầu vào cho làng nghề Bản thân nhà cung cấp cũng tạo rasức ép lên làng nghề trong vấn đề giá nguyên vật liệu, chất lượng, chủngloại… Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khẩu lên giá thành cho sản phẩm.Nếu như quan hệ giữa nhà cung cấp với làng nghề không bền chặt dễ dẫn đến

sự không ổn định trong sản xuất và ngược lại

1.2.4.2 Các nhân tố bên trong làng nghề

Trang 31

Sản phẩm của làng nghề

Sản phẩm là sự hiện thân rõ nét nhất về uy tín của làng nghề trong tâm tríkhách hàng Để xuất khẩu được ra nước ngoài, sản phẩm của làng nghề phảiđap ứng nhu cầu của người tiêu dùng quốc tế về chất lượng và giá cả Sảnphẩm phát triển lên cấp độ càng cao thì càng thoả mãn nhiều hơn những nhucầu của người tiêu dùng Các cấp độ đó bao gồm:

- Giá trị cốt lõi (giá trị sử dụng)

- Sản phẩm hiện thực : giá trị cốt lõi + thiết kế, bao bì, nhãn hiệu,…

- Sản phẩm hoàn thiện : sản phẩm hiện thực + giá trị gia tăng về dịch vụ

vi hơn

 Chính sách xúc tiến thương mại sẽ giúp hỗ trợ hoạt động xuất khẩu

của công ty trong việc tìm kiếm và phát triển thị trường Nếu hoạt động xúctiến thương mại được tổ chức một cách thường xuyên dưới nhiều hình thứckhác nhau như: hội trợ triển lãm, quảng cáo, thương mại điện tử… thì thôngtin về thị trường, khách hàng sẽ thu thập dễ dàng hơn, các cơ hội kinh doanhđược mở ra, làng nghề sẽ có thêm những đối tác mới trong làm ăn Qua đó,hoạt động xuất khẩu được thúc đẩy

 Chính sách huy động vốn: bao gồm kế hoạch vay vốn ngân hàng,

Trang 32

chính sách huy động vốn cổ phần… Những chính sách này được hoạchđịnh cụ thể trên cơ sở khả năng hiện có của doanh nghiệp sẽ góp phần giatăng vốn lưu động cho các thương vụ xuất khẩu của làng nghề Nhất là khilàng nghề đang tiến hành hoạt động thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nướcngoài Nguồn vốn của làng nghề càng dồi dào thì quy mô của việc thúc đẩyxuất khẩu càng lớn.

1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề

1.2.5.1 Giá trị tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm

Để phản ánh được bản chất của thúc đẩy xuất khẩu cần phải thấy được

sự gia tăng của kim ngạch xuất khẩu (KNXK) mặt hàng đó hàng năm Giá trịgia tăng KNXK là chỉ tiêu so sánh giữa 2 mốc thời gian giúp làng nghề đưa rađược kết luận KNXK đạt được có đáp ứng mục tiêu đặt ra không? Từ đó biếtđược hiệu quả hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề

Công thức tính giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm như sau:

In-1 : KNXK năm liền sau đó

- Nếu như I > 0 : KNXK của hàng hoá đó tăng so với năm trước, xuấtkhẩu đã được thúc đẩy

- Nếu như I < 0 : KNXK của hàng hoá đó giảm so với năm trước, hiệuquả hoạt động thúc đẩy xuất khẩu chưa cao

1.2.5.2 Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

Nếu như chỉ tiêu giá trị gia tăng KNXK hàng năm cho làng nghề cái nhìn

về hoạt động thúc đẩu xuất khẩu trong ngắn hạn thì chỉ tiêu tốc độ tăng kim

Trang 33

ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu phản ánh trong cả một giai đoạn phát triển củalàng nghề Nó phản ánh chiều sâu trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá củalàng nghề.

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân được tính theo công thứcdưới đây:

K =(n−1) 1 × 2 × ×

n

k k

k1, 2, , : Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu liên hoàn (được tính bằngkim ngạch xuất khẩu năm sau chia cho năm trước)

n: Số năm trong giai đoạn

- Nếu K> 1 thì có nghĩa là tiêu thụ hàng hoá trên thị trường tốt, làngnghề đáp ứng tốt nhu cầu thị trường hiện tại

- Nếu K <= 1 thì tức là tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của làng nghềđang chững lại hoặc có xu hướng giảm Nguyên nhân của việc này có thể là

do hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề chưa được triển khai tốt,khiến cho số lượng và giá trị xuất khẩu của làng nghề không tăng so với nămtrước

1.2.5.3 Tỷ trọng gia tăng thị phần trên thị trường xuất khẩu

Chỉ tiêu tỷ trọng gia tăng thị phần trên thị trường xuất khẩu không chỉgiúp làng nghề đánh giá hiệu quả hoạt động thúc đẩy xuất khẩu mà còn giúplàng nghề định vị được tình hình hiện tại của mình Từ đó, làng nghề có thể

đề ra các giải pháp thiết thực và chuẩn xác để đạt được mục tiêu kinh doanhcủa mình

Công thức tính hệ số tỷ trọng gia tăng thị phần trên thị trường xuấtkhẩu như sau:

Trang 34

T = (n−1) 1× 2 × ×

n

t t

t1, 2, , : Hệ số tăng tỷ trọng thị phần liên hoàn (được tính bằng thịphần năm sau chia cho thị phần năm trước)

n: Số năm trong giai đoạn

- Nếu T > 1 thì có nghĩa là hàng hoá xuất khẩu đã đáp ứng tốt nhu cầucủa thị trường hiện tại, và có chỗ đứng trên thị trường

- Nếu T <= 1 tức là tốc độ tăng thị phần trên thị trường xuất khẩu đangchững lại hoặc có xu hướng giảm Nguyên nhân của việc này có thể là donhững biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề chưa đem lại kết quả tốtkhiến cho số lượng và giá trị xuất khẩu của làng nghề không tăng so với nămtrước; hoặc tốc độ tăng của giá trị nhập khẩu của làng nghề không bằng tốc độtăng của tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường hiện tại

1.2.5.4 Số lượng thị trường xuất khẩu thực mới hàng năm

Đây là chỉ tiêu giúp doanh nghiệp thống kê được số lượng thị trườngxuất khẩu theo từng năm hoặc từng thời kỳ, trực tiếp đánh giá hoạt động thúcđẩy xuất khẩu theo chiều rộng của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tình bằngcông thức:

t = tm – tc

Trong đó:

t: Số thị trường xuất khẩu tăng thêm

tm: Số thị trường xuất khẩu hiện tại

tc: Số thị trường xuất khẩu năm trước

Trang 35

Khi t < 0, hoạt động mở rộng thị trường của doanh nghiệp là không tốt,

số thị trường mới mở nhỏ hơn số thị trường bị mất đi khiến cho phạm vi thịtrường xuất khẩu của doanh nghiệp bị thu hẹp so với năm trước

Khi t = 0, hoạt động mở rộng thị trường của DN không có tiến triển, sốthị trường mới bằng số thị trường bị mất đi nên phạm vi thị trường xuất khẩucủa doanh nghiệp không thay đổi

Khi t > 0, hoạt động mở rộng thị trường của DN tốt, số thị trường mới

mở nhỏ lớn hơn thị trường bị mất đi khiến cho phạm vi thị trường xuất khẩucủa doanh nghiệp ngày càng được mở rộng theo tiêu thức địa lý

Chỉ tiêu này có thể được tính toán cho mọi sản phẩm xuất khẩu củadoanh nghiệp để có cái nhìn tổng quan về thị trường của doanh nghiệp Hoặc

có thể tính chỉ tiêu này cho từng mặt hàng xuất khẩu nhằm đánh giá tiềm năngcủa từng loại mặt hàng Nhờ đó đề ra chính sách về sản phẩm xuất khẩu chocông ty

1.2.5.5 Tốc độ tăng số lượng mặt hàng xuất khẩu

Chỉ tiêu tốc độ tăng số lượng mặt hàng xuất khẩu phản ánh khả năngthúc đẩy xuất khẩu của làng nghề trên các hoạt động như Marketing, thiết kếkiểu dáng, mẫu mã sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của thị trường.Khi số lượng mặt hàng xuất khẩu tăng điều đó chứng tỏ hoạt động thúc đẩyxuất khẩu của làng nghề là có hiệu quả, và ngược lại

Công thức tính tốc độ tăng số lượng mặt hàng xuất khẩu như sau:

M =

n

m m

m1 + 2 + + n

(5)Trong đó:

M: Tốc độ tăng số lượng mặt hàng xuất khẩu bình quân

n

m m

m1, 2, , : Số lượng mặt hàng xuất khẩu tăng trong trong năm (đượctính bằng số lượng mặt hàng năm nay trừ đi số mặt hàng năm trước)

Trang 36

n: Số năm trong giai đoạn.

- Nếu M > 0 : Điều này chứng tỏ các mặt hàng của làng nghề đang được

ưa chuộng từ phía thị trường Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu đạt hiệu quả

- Nếu M <= 0 : Điều này chứng tỏ sản phẩm của làng nghề chưa thu hútđược sự chú ý, cũng như chưa phù hợp với thị hiếu của thị trường Dẫn đếnhiệu quả thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề kém hiệu quả

1.3 TẤM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

1.3.1 Vai trò của việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề truyền thống Việt Nam

Hoạt động xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề truyền thống Việt Nam

có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế nước nhà và sự phát triểncủa các làng nghề Nhận thức được vai trò của hoạt động xuất khẩu sẽ giúpchúng ta thấy rõ được tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩmcủa các làng nghề truyền thống Việt Nam

1.3.1.1 Tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Việc tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa thủ công mỹ nghệ của cáclàng nghề truyền thống trong những năm gần đây đã mang lại cho nước tanguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế quốcdân Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ có mức độ tăng trưởng khá cao trongnhững năm qua, bình quân khoảng 20%/năm, với kim ngạch xuất khẩu 300triệu USD vào năm 2004 và đạt hơn 750 triệu USD năm 2007, năm 2008 mặc

dù bị tác động ít nhiều của suy thoái kinh tế toàn cầu những kim ngạch xuấtkhẩu cũng đạt gần 1 tỷ USD, đến hết 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống Việt Nam đã đạt 1,5 tỷ USD.Đây là nguồn thu ngoại tệ lớn thực thu về cho đất nước từ nguồn nguyên liệu

Trang 37

rẻ tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lực lương lao động nhàn rỗi ở các vùng nôngthôn nước ta

Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiệnđầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công

mỹ nghệ

1.3.1.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng hiện đại hóa

Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lênmột bước về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việclàm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằngcác nguồn lợi thu được từ các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Vớimục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càngđược thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nộng bộ ngành nông nghiệp và các bộphận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn

Việc phát triển các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trongviệc góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thuhẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thunhập thấp sang ngành nghề có thu nhập cao hơn Ngay từ đầu khi nghề thủcông xuất hiện thì nền kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệpthuần nhất mà bên cạnh đó còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại vàdịch vụ cùng tồn tại phát triền

Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giátrị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp Do từng bước tiếp cậnvới nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên, người lao độngnhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghè phi nông nghiệp, đặc biệt

là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và ngoài

Trang 38

nước Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp, khu vực sản xuấtcông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên.

Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ởnông thôn mở rộng địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động Khác với sảnxuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòihỏi sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sảnphẩm Do đó dịch vụ ở nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đadạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động

Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt vớiquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa – hiện đại hóa Sự lan tỏa của làng nghề truyền thống đã mởrộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút rất nhiều lao động Cho đến nay, cơcấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ; 20-40%cho nông nghiệp

1.3.1.3 Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

Tác động của việc thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của cáclàng nghề truyền thống đến đời sống của người dân trong làng nghề được thểhiện ở rất nhiều mặt Trước hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu vớinhiều công đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thunhập ổn định, góp phần nâng cao thu nhập quốc dân Bên cạnh đó, tăng cườngxuất khẩu sản phẩm của mình còn giúp người dân trong các làng nghề có thêmnguồn thu nhập để mua sắm các vật phẩm tiêu dung thiết yếu, phụ vụ đời sống

và đáp ứng nhu cầu tiêu dung ngày một phong phú, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của người dân

Xét trên phương diện xã hội, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm đã kích thíchviệc phát triển các làng nghề truyền thống Hiện nay thống kê trong các làngnghề truyền thống bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định

Trang 39

cho 27 lao động thường xuyên và 8 đến 10 lao động thời vụ, mỗi hộ sản xuấtchuyên nghiệp tạp việc làm cho 3-5 lao động thường xuyên và 2 lao động thời

vụ Đặc biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút

200-250 lao động Bên cạnh đó, nhiều làng nghề không những thu hút lực lượnglao động lớn ở địa phương mà con tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địaphương khác

Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sựphát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liênquan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động Ngoàicác dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác như tíndụng ngân hàng…

Từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, cứ xuất khẩu 1 triệu USD hàng thủcông mỹ nghệ thì tạo được việc làm và thu nhập cho 3000-4000 lao động chủyếu là lao động tại các làng nghề ở nông thôn, trong đó có lao động nông nhàntại chỗ và các vùng lân cận Trong khi đó với ngành chế biến hạt điều, với kimngạch xuất khẩu 1 triệu USD chỉ thu hút được 400 lao động

Ngoài việc được coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho ngườilao động, việc tăng cường thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề còngóp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn

ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì ở đó người dân có thu nhập cao và mứcsống cao hơn so với những vùng thuần nông Nếu so sánh với mức thu nhậplao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động trong làng nghề cao hơnkhoảng 2-4 lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và diện tích sử dụng đấtthấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp Vì vậy thu nhập của các làng nghềtruyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ giađình và địa phương Nếu làng nghề ngày một phát triển ổn định, hoạt độngxuất khẩu được tăng cường thì sẽ mang lại lợi nhuận cao cho làng nghề đồng

Trang 40

thời nâng cao mức thu nhập và mức sống cho người dân.

Ngoài ra việc khôi phục và sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ của cáclàng nghề truyền thống còn kéo theo nhiều ngành nghề khác phát triển nhất làngành du lịch và dịch vụ có liên quan Sản xuất thủ công mỹ nghệ và du lịch làhai nhân tố có tác động hai chiều Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của cáclàng nghề thủ công luôn là một nét hấp dẫn rất quan trọng và ấn tượng đối vớikhách du lịch Các sản phẩm càng đa dạng phong phú càng có tác dụng thu hútmạnh mẽ khách tham quan, qua đó các dịch vụ về du lịch có cơ hội phát triển,đồng thời hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cũng được càng nước bạn biếtđến nhiều hơn, đây chính là biểu hiện của hình thức xuất khẩu tại chỗ Ngượclại, nếu du lịch phát triển, có nhiều du khách đến tham quan các làng nghề thìsản phẩm của làng nghề cũng đực biết đến nhiều hơn, được quảng bá nhiềuhơn, đó cũng là một hình thức khuếch trương giới thiệu sản phẩm của ViệtNam ra nước ngoài, từ đó ta có thể mở rộng quan hệ kinh doanh và có thể tăngkim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống

1.3.1.4 Thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề truyền thống là cơ sở

để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta

Thúc đẩy xuất khẩu nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ của các làngnghề truyền thống nói riêng có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế với cácnước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên thị trường quốc tế Xuất khẩuhàng thủ công mỹ nghệ và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy cácquỹ tín dụng đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặt khác chính các quan hệđối ngoại kể trên lại góp phần tạo tiền đề cho thúc đẩy xuất khẩu

Có thể nói xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyềnthống không chỉ có vai trò xúc tác hỗ trợ phát triển kinh tế mà nó còn cùng vớihoạt động nhập khẩu như là yếu tố bên trong trực tiếp tham gia vào việc giảiquyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như: Vốn, kỹ thuật, lao động, thịtrường tiêu thụ…Đối với nước ta, hướng mạnh về xuất khẩu là một trong

Ngày đăng: 09/09/2014, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (chủ biên) (2005), Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Khoa học và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhKinh tế quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học và xã hội
Năm: 2005
2. Nguyễn Thị Hường (chủ biên) (2001), Giáo trình Kinh doanh quốc tế, Tập 1, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh doanh quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Hường (chủ biên)
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2001
3. Nguyễn Thị Hường (chủ biên) (2003), Giáo trình Kinh doanh quốc tế, Tập 2, NXB lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh doanh quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Hường (chủ biên)
Nhà XB: NXB lao động – xã hội
Năm: 2003
4. Nguyễn Thị Hường và Tạ Lợi (chủ biên) (2007), Giáo trình Nghiệp vụ ngoại thương lý thuyết và thực hành, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụngoại thương lý thuyết và thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Hường và Tạ Lợi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2007
6. Nguyễn Cao Văn (chủ biên) (1997), Giáo trình Marketing quốc tế, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing quốc tế
Tác giả: Nguyễn Cao Văn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
7. Trần Minh Đạo (chủ biên) (2008), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing căn bản
Tác giả: Trần Minh Đạo (chủ biên)
Nhà XB: NXBĐại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
8. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2006), Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2006, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2006
Tác giả: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2006
9. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2007), Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2007, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2007
Tác giả: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2007
10. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2008), Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2008, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2008
Tác giả: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2008
11. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2009), Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2009, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2009
Tác giả: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2009
12. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2010), Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2010, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu xuất khẩu Việt nam 2010
Tác giả: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2010
15. Các website:http://langnghevietnam.com http://doanhnhan360.com.vn http://thaibinh.org.vn Link
13. Thời báo kinh tế Sài Gòn số 11 ngày 08/03/2006; số 33 ngày 09/08/2006; số 50 ngày 06/12/2007; số 06 ngày 31/01/2008; số 11 ngày 07/03/2009; số 32 ngày 04/10/2009; số 56 ngày 15/12/2010 và số 29 ngày 26/07/2011 Khác
14. Ủy ban nhân dân xã Nam Cao - Báo cáo tổng hợp hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2006 đến năm 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của làng nghề Nam Cao - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Hình 2.1 Mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của làng nghề Nam Cao (Trang 48)
Bảng 2.2 cho biết nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong làng nghề. Về quy mô, doanh nghiệp Đại Hòa là doanh nghiệp tư nhân lớn nhất trong làng nghề, tiếp đến lần lượt là các doanh nghiệp Quang Bình, doanh nghiệp Đông Thành và Doanh nghiệp Liên An - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Bảng 2.2 cho biết nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong làng nghề. Về quy mô, doanh nghiệp Đại Hòa là doanh nghiệp tư nhân lớn nhất trong làng nghề, tiếp đến lần lượt là các doanh nghiệp Quang Bình, doanh nghiệp Đông Thành và Doanh nghiệp Liên An (Trang 52)
Hình 2.3: Tổng sản lượng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, Lào và Campuchia của Làng nghề Nam Cao từ 2006-2011 - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Hình 2.3 Tổng sản lượng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, Lào và Campuchia của Làng nghề Nam Cao từ 2006-2011 (Trang 57)
Bảng 2.3: Sản lượng hàng hóa xuất khẩu trên từng thị trường của Làng nghề Nam Cao giai đoạn 2006-2011 - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Bảng 2.3 Sản lượng hàng hóa xuất khẩu trên từng thị trường của Làng nghề Nam Cao giai đoạn 2006-2011 (Trang 58)
Bảng 2.6 Giá trị tăng kim ngạch xuất khẩu trên các thị trường nước ngoài của làng nghề Nam Cao giai đoạn 2006-2011 - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Bảng 2.6 Giá trị tăng kim ngạch xuất khẩu trên các thị trường nước ngoài của làng nghề Nam Cao giai đoạn 2006-2011 (Trang 67)
Bảng 2.8  Số lượng thị trường xuất khẩu tăng thêm hàng năm  của làng nghề Nam Cao - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Bảng 2.8 Số lượng thị trường xuất khẩu tăng thêm hàng năm của làng nghề Nam Cao (Trang 70)
Bảng 2.9  Tốc độ tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu của làng nghề xã Nam Cao giai đoạn 2006-2011 - thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình
Bảng 2.9 Tốc độ tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu của làng nghề xã Nam Cao giai đoạn 2006-2011 (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w