CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1 Khái quát về Tổng công ty bảo hiểm BIDV Tổng Công ty bảo hiểm BIDV BIC ra đời t
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 4
1.1 Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 4
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ 4
1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 5
1.1.3 Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 7
1.2 Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 20
1.2.1 Khái niệm hiệu quả đầu tư của DNBHPNT 20
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của DNBHPNT 21
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của DNBHPNT 22
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 22
1.3.2 Các nhân tố khách quan 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM .28
2.1 Khái quát về Tổng công ty bảo hiểm BIDV 28
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Tổng công ty Bảo hiểm BIDV 28
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của Tổng công ty bảo hiểm BIDV .32
2.2 Thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV 37
2.2.1 Hoạt động đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm BIDV 37
2.2.2 Thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm BIDV 50
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư của Tổng công ty bảo
Trang 22.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 69
3.1 Định hướng hoạt động đầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm BIDV 69
3.1.1 Cơ hội và thách thức đối với Tổng công ty Bảo hiểm BIDV 69
3.1.2 Định hướng hoạt động đầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm BIDV 71
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm BIDV .75
3.2.1 Tăng nguồn vốn đầu tư 75
3.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và đào tạo nâng cao trình độ cán bộ 80
3.2.3 Đa dạng hóa danh mục đầu tư 82
3.2.4 Hạn chế rủi ro trong hoạt động đầu tư 82
3.3 Kiến nghị 84
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 84
3.3.2 Kiến nghị với Nhà nước 85
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 3BIC : Tổng công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và Phát triển
Việt NamBIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
DNBHPNT : Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
TTBQ : Tăng trưởng bình quân
DPNV : Dự phòng nghiệp vụ
UTĐT : Ủy thác đầu tư
CTCP : Công ty cổ phần
Trang 4Bảng 1.1: Doanh nghiệp bảo hiểm tại thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2010 25
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu tại BIC (2006 – 2010) 32
Bảng 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nhóm sản phẩm 34
Bảng 2.3: Chi phí hoạt động kinh doanh tại BIC (2006 – 2010) 36
Bảng 2.4: Nguồn vốn đầu tư tại BIC (2006 – 2010) 42
Bảng 2.5: Tình hình quỹ DPNV tại BIC (2006 - 2010) 43
Bảng 2.6: Danh mục đầu tư tài chính tại BIC theo đối tượng đầu tư (2006-2010) .46
Bảng 2.7: Danh mục đầu tư tài chính tại BIC theo thời hạn đầu tư (2006-2010) .48
Bảng 2.8: Chi tiết danh mục đầu tư tài chính tại BIC theo thời hạn đầu tư (2006 - 2010) 49
Bảng 2.9: Kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư của các DNBHPNT (2006 - 2010) .50
Bảng 2.10: Kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư tại BIC (2006 - 2010) 51
Bảng 2.11: Hiệu suất sử dụng vốn tại BIC (2006 - 2010) 52
Bảng 2.12: Cơ cấu doanh thu hoạt động đầu tư tại BIC (2006 – 2010) 53
Bảng 2.13: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư theo từng danh mục đầu tư 54
Bảng2.14: Lợi nhuận của các DNBHPNT và BIC (2006 – 2010) 56
Bảng 2.15: Tỷ suất lợi nhuận tại các DNBHPNT và BIC (2006 - 2010) 57
Bảng 2.16: Hiệu quả đầu tư của Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (2006 - 2010) 59
Bảng 2.17: Hiệu quả đầu tư của Tổng CTCP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (2006 -2010) .60
Bảng 2.18: Hiệu quả đầu tư của Tổng CTCP Bảo Minh (2006 – 2010) 61
Bảng 3.1: Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn tại BIC (2006 – 2010) 75
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tăng trưởng phí bảo hiểm tại BIC (2006 – 2010) 34
Trang 5Biểu đồ 2.3: Chi phí hoạt động kinh doanh tại BIC (2006 – 2010) 36 Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận hoạt động đầu tư & Hoạt động kinh doanh bảo hiểm 56
Trang 6MỞ ĐẦU
Thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm Phi nhân thọnói riêng đạt tốc độ tăng trưởng cao và có vai trò rất quan trọng trong sự phát triểncủa thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư vốn từ vốn chủ sở hữu và cácquỹ “nhàn rỗi” được hình thành trong quá trình kinh doanh Tuy nhiên, hiệu quảkinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt thấp, hầu hết hoạt động kinh doanhchính của các doanh nghiệp bảo hiểm không hiệu quả, lợi nhuận chủ yếu từ hoạtđộng đầu tư tài chính
Sau 05 năm hoạt động, hoạt động đầu tư vẫn là hoạt động chính mang lại lợinhuận cho Tổng công ty Bảo hiểm BIDV Tuy nhiên, trong cơ cấu danh mục đầu tưcủa Tổng công ty Bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam vẫn đang tậptrung chủ yếu vào đầu tư tiền gửi, cơ cấu danh mục đầu tư chưa linh hoạt với sựthay đổi của thị trường nên so với các DNBHPNT khác, tỷ suất sinh lời/Vốn Đầu tưcủa Tổng công ty Bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam thấp Trong
bối cảnh đó, đề tài “Nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu.
Trong luận văn sử dụng một số phương pháp: phương pháp duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích thống kê,phương pháp so sánh để tiến hành nghiên cứu, làm rõ hơn các cơ sở khoa học vàthực tiễn của đề tài
Kết cấu luận văn được chia làm 3 chương ngoài lời mở đầu và kết luận:
Chương 1: Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Những vấn đề lý luận cơ bản
-Chương 2: Thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
PHI NHÂN THỌ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Hoạt động kinh doanh của DNBHPNT là DNBHPNT chấp nhận rủi ro mà bêntham gia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời chấp nhận trả tiền bảo hiểm hoặcbồi thường cho bên tham gia khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Đổi lạiDNBHPNT sẽ thu được phí bảo hiểm để hình thành quỹ dự trữ, bồi thường, trangtrải các khoản chi khác có liên quan và có lãi
Hoạt động kinh doanh của DNBHPNT bao gồm: kinh doanh bảo hiểm gốc,kinh doanh tái bảo hiểm, giám định tổn thất, quản lý quỹ và đầu tư
Hoạt động đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanhcủa bất kỳ một DNBHPNT nào Xuất phát từ đặc thù hoạt động kinh doanh củaDNBHPNT với nguồn vốn đầu tư chủ yếu từ Vốn chủ sở hữu và Quỹ dự phòngnghiệp vụ nên hoạt động đầu tư phải tuân thủ theo nguyên tắc an toàn, nguyên tắcsinh lời, nguyên tắc đảm bảo thanh toán thường xuyên
Trong phần này, tác giả đã trình bày cụ thể nguồn vốn đầu tư và các hình thứcđầu tư chủ yếu của DNBHPNT như đầu tư tiền gửi, chứng khoán, bất động sản, gópvốn liên doanh và các rủi ro đối với từng loại hình đầu tư
1.2 Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Trên cơ sở nguồn vốn sử dụng đầu tư và nguyên tắc đầu tư tại các DNBHPNT,khái niệm về hiệu quả đầu tư của DNBHPNT đã được đưa ra: Hiệu quả là một chỉtiêu tổng hợp, được nhìn nhận trên nhiều khía cạnh Nhưng là một tổ chức hạch toánkinh doanh trên thị trường, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn để đầu tưtrong doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chính là hiệu suất sinh lời của đồng vốn.Đồng thời, lợi ích của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng không được đingược lại lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của doanh nghiệp phải gắn liền với lợi ích
xã hội
Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động đầu tư củadoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Nhưng suy cho cùng, mọi sự đầu tư đều có
Trang 8một mục đích là tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy, tác giả đã đưa ra 4 chỉ tiêu để đánhgiá hiệu quả đầu tư của DNBHPNT, đó là:
- Tỷ suất lợi nhuận đầu tư
- Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên vốn chủ sở hữu
- Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên tổng tài sản
- Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận đầu tư tài chính
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của DNBHPNT
Hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBHPNT chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.Tuy nhiên, trong phần này tác giả đã lựa chọn phân tích các nhân tố chính ảnhhưởng đến hiệu quả đầu tư của DNBHPNT, trong đó có các nhân tố chủ quan như:quy mô vốn đầu tư, quan điểm đầu tư, trình độ cán bộ, tổ chức hoạt động đầu tư,quản trị rủi ro Các nhân tố khách quan như: cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảohiểm, sự phát triển của thị trường chứng khoán, môi trường pháp lý
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TẠI TỔNG CÔNG
TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Tổng công ty bảo hiểm BIDV
Tổng Công ty bảo hiểm BIDV (BIC) ra đời trên cơ sở chiến lược thành lậpTập đoàn tài chính mang thương hiệu BIDV thông qua việc BIDV mua lại phần vốngóp của Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế QBE (Australia) trong Liên doanh Bảo hiểmViệt Úc (là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, được thành lập và hoạt động tạiViệt Nam từ năm 1999) và chính thức đi vào hoạt động với tên gọi mới (BIC) kể từngày 01/01/2006
Ngoài phần giới thiệu quá trình hình thành, phát triển Tổng công ty bảo hiểmBIDV và mô hình tổ chức hiện nay, tác giả cũng đã đưa ra và đánh giá kết quả hoạtđộng sau 05 năm giai đoạn 2006 - 2010 của Tổng công ty bảo hiểm BIDV trên một
số khía cạnh như: Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, quỹ dự phòng nghiệp vụ, tổngdoanh thu, lợi nhuận
2.2 Thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV
Trang 9Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của DNBHPNT đã đề cậptrong chương I, trong phần này tác giả tập trung phân tích thực trạng hiệu quả đầu
tư tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV và so sánh kết quả đạt được của các chỉ tiêu nàygiữa Tổng công ty Bảo hiểm BIDV với các DNBHPNT trên thị trường bảo hiểmViệt Nam dựa trên các số liệu được tham khảo tại báo cáo tài chính của Tổng công
ty Bảo hiểm BIDV và báo cáo tổng kết của Cục quản giám sát và quản lý bảo hiểmcác năm 2006 - 2010
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư của Tổng công ty bảo hiểm BIDV giai đoạn 2006 - 2010
Sau khi phân tích về thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểmBIDV, những đánh giá, nhận xét về thực trạng hiệu quả đầu tư này tại Tổng công tybảo hiểm BIDV đã được luận giải trong luận văn, theo đó hoạt động đầu tư tại Tổngcông ty bảo hiểm BIDV đã đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất: Hoạt động đầu tư là hoạt động chủ yếu và duy nhất tạo ra lợi nhuận
cho Tổng công ty bảo hiểm BIDV trong suốt 5 năm qua Lợi nhuận tạo ra từ hoạtđộng đầu tư giúp Tổng công ty bảo hiểm BIDV bù lỗ được những khoản lỗ từ hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm và ổn định hoạt động kinh doanh, bảo tồn được vốn chủ
sở hữu
Thứ hai: Phòng Đầu tư đã được thành lập và hoạt động ổn định: Trong những
năm qua Tổng công ty bảo hiểm BIDV luôn có sự sàng lọc, tìm kiếm những nhân
sự có trình độ để bổ sung cho Phòng Đầu tư Bên cạnh đó Công ty bảo hiểm BIDVcũng đã xây dựng chức năng, nhiệm vụ của phòng Đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi
và chủ động trong hoạt động đầu tư của Công ty Tổng công ty Bảo hiểm BIDV đãban hành quy trình triển khai, lựa chọn, đánh giá trong hoạt động đầu tư Phươngthức đầu tư cũng ngày càng đa dạng, đầu tư dài hạn mang tính chiến lược, góp vốnliên doanh liên kết với các công ty, góp vốn và trực tiếp điều hành các công ty …ngày càng tăng lên
Thứ ba: Quy mô hoạt động đầu tư ngày càng mở rộng: Tổng vốn đầu tư bình
quân của Công ty bảo hiểm BIDV không ngừng trong 05 năm với tốc độ tăng bình
Trang 10quân đạt 88%, tương ứng với việc tăng vốn đầu tư thì doanh thu từ hoạt động đầu tưqua các năm cũng không ngừng tăng (tăng lần lượt qua 5 năm 2006, 2007, 2008,
2209, 2010 là 20 tỷ đồng, 40,5 tỷ đồng, 71 tỷ đồng, 141 tỷ đồng, 252 tỷ đồng) Vớiviệc tăng trưởng nhanh làm tăng quỹ dự phòng phí và làm tăng quy mô vốn đầu tư
Thứ tư: Đảm bảo khả năng thanh toán tốt (hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn
hạn và khả năng thanh toán nhanh luôn lớn hơn 1): Nguyên tắc hoạt động đầu tưcủa DNBHPNT là đảm bảo an toàn nên mặc dù tập trung nguồn lực cho hoạt độngđầu tư nhưng Tổng công ty bảo hiểm BIDV vẫn luôn đảm bảo khả năng thanh toán.Với việc đảm bảo khả năng thanh toán giúp Tổng công ty bảo hiểm BIDV luôn đảmbảo thực hiện tốt nghĩa vụ thanh toán đối với khách hàng, đảm bảo quyền lợi cũngnhư tạo sự uy tín cho Tổng công ty
Thứ năm: Hoạt động đầu tư đã giúp Tổng công ty phân tán rủi ro và quảng bá
thương hiệu: Với việc thành lập liên doanh bảo hiểm Lào - Việt (LVI), Liên doanhbảo hiểm Campuchia - Việt nam (CVI), một mặt giúp Tổng công ty bảo hiểm BIDVphân tán rủi ro trong hoạt động bảo hiểm, mặt khác góp phần quảng bá hình ảnh vàthương hiệu của Tổng công ty bảo hiểm BIDV trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
và trong khu vực Là đơn vị có mạng lưới phủ kín 3 nước Đông Dương
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động đầu tư tại Tổng công ty bảohiểm BIDV còn tồn tại những hạn chế sau:
Thứ nhất: Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm BIDV luôn
thấp hơn mức chung so với các DNBHPNT và các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thểnhư Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo hiểm dầu khí Do lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đemlại đang còn thấp nên nếu xem xét chỉ tiêu Lợi nhuận đầu tư/Vốn chủ sở hữu chúng
ta cũng dễ dàng nhận thấy tỷ suất này tại Tổng công ty Bảo hiểm BIDV đang thấphơn mức chung của các DNBHPNT, điều đó có nghĩa một đồng vốn của Tổng công
ty Bảo hiểm BIDV tham gia vào hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thấp hơnmức chung của các DNBHPNT
Thứ hai: Lợi nhuận hoạt động đầu tư không ổn định thể hiện ở số liệu nếu như
những năm 2006, 2007 Tổng công ty Bảo hiểm BIDV có lãi và có tốc độ tăng
Trang 11trưởng cao thì sang đến năm 2008 Tổng công ty thua lỗ lớn trong hoạt động đầu tư.Nhưng sang năm 2009, Tổng công ty Bảo hiểm BIDV lại đạt được mức lợi nhuậncao nhất và tiếp đến năm 2010 mặc dù hoạt động Tổng công ty Bảo hiểm BIDV vẫn
có lãi hoạt động đầu tư nhưng tốc độ tăng lại giảm số với năm 2009
Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hiệu quả đầu tư tại Tổng công tybảo hiểm BIDV:
Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất: Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì dự phòng
nghiệp vụ là nguồn đầu tư lớn và quan trọng thứ hai sau nguồn vốn chủ (với nhữngcông ty bảo hiểm có quy mô doanh thu lớn và đã có thời gian hoạt động lâu dài thìnguồn dự phòng nghiệp vụ còn lớn hơn cả vốn chủ sở hữu) Quy mô doanh thu bảohiểm gốc của Tổng công ty bảo hiểm BIDV còn nhỏ làm ảnh hưởng đến quy môhoạt động đầu tư (nguồn vốn đầu tư)
Thứ hai: Mặc dù đội ngũ cán bộ đầu tư có năng lực, trình độ, được đào tạo bài
bản, tuy nhiên hầu hết các cán bộ đầu tư còn trẻ, hạn chế về kinh nghiệm, chưa cótính quyết đoán vì vậy trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng thì mặt hạn chế này đãbộc lộ rõ nét
Thứ ba: Với cơ cấu tổ chức hoạt động đầu tư thông qua Ban đầu tư như hiện
nay có những ưu điểm nhất định nhưng về cơ bản nó làm giảm tính chủ động tronghoạt động đầu tư và nguồn nhân lực cho hoạt động đầu tư mỏng, trình độ, kinhnghiệm đầu tư hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đầu tư
Thứ tư: Tổng công ty bảo hiểm BIDV đã thành lập Tổ phân tích và dự báo tình
hình kinh tế vĩ mô nói chung và môi trường hoạt động đầu tư nói riêng nhằm hỗ trợcho hoạt động đầu tư Tuy nhiên công tác dự báo, phân tích và chất lượng của cácbáo cáo đánh giá, phân tích và dự đoán chưa cao, chưa hỗ trợ nhiều đối với hoạtđộng đầu tư
Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm tăng nhanh chóng trong thời
gian qua đã làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực bảo hiểm
Trang 12Thứ hai: Hiệu quả hoạt động đầu tư của các DNBHPNT tại thị trường Việt Nam
nói chung cũng như tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV phụ thuộc lớn vào sự biến độngcủa thị trường tài chính
Thứ ba: Các quy định pháp luật liên quan tới hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm còn một số điểm chưa hoàn thiện
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.1 Định hướng hoạt động đầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm BIDV
Tác giả đã phân tích S.W.O.T đối với Tổng công ty Bảo hiểm BIDV trong giaiđoạn hiện nay và định hướng hoạt động đầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm BIDV.Theo đó, hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh củaTổng công ty bảo hiểm BIDV và hoạt động đầu tư phải theo đinh hướng: đảm bảomục tiêu an toàn vốn, nâng cao tỷ suất lợi nhuận hoạt động đầu tư là một biện pháphữu hiệu để nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy hoạt động đầu tư không chỉ lànâng cao khả năng sinh lời của đồng vốn mà còn phải đảm bảo khả năng thanh toánthường xuyên
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm BIDV
Đây là nội dung chính của Chương 3, để nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV, có 4 giải pháp chính như sau:
3.2.1 Tăng nguồn vốn đầu tư
Thứ nhất: Đẩy mạnh hoạt động khai thác bảo hiểm gốc để tạo quỹ dự phòng nghiệp vụ lớn: Trong các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn từ quỹ dự phòng nghiệp vụ
bảo hiểm luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của Doanh nghiệp bảohiểm Để tăng quỹ dự phòng nghiệp vụ, doanh nghiệp bảo hiểm cần đẩy mạnh tăng
doanh thu hoạt động bảo hiểm gốc
Thứ hai: Trích lập dự phòng nghiệp vụ ở mức an toàn, thông lệ: Để Tổng công
ty luôn đủ khả năng tài chính đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng, đồng
Trang 13thời để thực hiện các mục tiêu về dự phòng nghiệp vụ và vốn đầu tư cho nền kinh tếnhư chiến lược phát triển của Tổng công ty đã đề ra, đòi hỏi việc trích lập dự phòngnghiệp vụ sao cho phải đủ về mặt kỹ thuật, đúng với các quy định chế độ tài chính
và phù hợp với thông lệ quốc tế
Thứ ba: Quản lý hiệu quả và tối ưu hóa dòng tiền: Đối với hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, dòng tiền vào lớn nhất là doanh thu phí bảo hiểm và dòng tiền ralớn nhất là chi phí bồi thường Hai dòng tiền vào và ra này ở mỗi một doanh nghiệpbảo hiểm, tuỳ theo đặc điểm của Công ty (đặc điểm về sản phẩm, thị trường khaithác…) là rất khác nhau và 2 dòng tiền này thường có độ lệch về thời gian vì vậyviệc phân tích yếu tố mùa đối với 2 dòng tiền này có ý nghĩa rất lớn đối với cácquyết định đầu tư trong ngắn hạn tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV
3.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và đào tạo nâng cao trình độ cán bộ
Theo mức độ chuyên môn hoá, tập trung hoá hoạt động đầu tư, Tổng công tybảo hiểm BIDV có thể lựa chọn áp dụng một trong các mô hình tổ chức sau:
Một là, phòng/ban đầu tư trực thuộc công ty bảo hiểm
Hai là, thành lập một tổ chức đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay
quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần chi phối
Ngoài ra, đội ngũ nhận sự tại Ban đầu tư - Tổng công ty Bảo hiểm BIDV chủyếu là cán bộ trẻ, được đào tạo bài bản Tuy nhiên, kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạtđộng đầu tư còn hạn chế Do đó, Tổng công ty bảo hiểm BIDV phải tạo điều kiện
để các cán bộ trẻ có cơ hội được tham dự nhiều khóa đào tạo hơn nữa để nâng caokiến thức chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp
3.2.3 Đa dạng hóa danh mục đầu tư
Hoạt động đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm BIDV đã có sự tăng trưởng cả
về quy mô vốn đầu tư và danh mục đầu tư Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của Tổng công ty vẫn đang chủ yếu là tiền gửi tại các tổ chức tín dụng Vì vậy, Tổng công ty cần phải tiến hành đa dạng hóa danh mục đầu tư, đẩy mạnh hoạt động đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư bất động sản để nâng cao hiệu quả đầu tư
3.2.4 Hạn chế rủi ro trong hoạt động đầu tư
Trang 14Thực tế, trong những năm gần đây, lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính củacác DNBHPNT nói chung và Tổng công ty Bảo hiểm BIDV đến có biến động mạnh
do sự biến động của thị trường tài chính Từ đó có thể thấy khả năng quản trị rủi rotrong hoạt động đầu tư này còn rất hạn chế Bên cạnh sự giám sát chặt chẽ của phápluật, Tổng công ty bảo hiểm BIDV cũng cần không ngừng nâng cao chất lượng hoạtđộng quản lý rủi ro đối với hoạt động đầu tư, đặc biệt là khâu thẩm định đầu tư
3.3 KIẾN NGHỊ
Để các giải pháp trên có thể thực hiện được, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị với Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và kiến nghị với Nhà nước 3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Thứ nhất: Đề nghị BIDV tiếp tục chỉ đạo sát sao các Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và phát triển Việt Nam phối hợp với Tổng công ty Bảo hiểm BIDV trongviệc tiếp cận các khách hàng vay vốn, cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhằm thúc đẩyhoạt động kinh doanh bảo hiểm
Thứ hai: Đề nghị BIDV hỗ trợ Tổng công ty Bảo hiểm BIDV hơn nữa trong
việc tiếp cận các dự án đầu tư xây dựng Bất động sản
3.3.2 Kiến nghị với Nhà nước
Thứ nhất: Xây dựng chính sách phát triển ngành bảo hiểm
Thứ hai: Nhà nước cần tạo điều kiện để thúc đẩy thị trường tài chính phát triển Thứ ba: Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách khuyến
khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 15KẾT LUẬN
Những nội dung chính được luận giải trong luận văn “Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” như sau:
1 Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư của DNBHPNT.Trên cơ sở đó, tập trung nghiên cứu hiệu quả đầu tư của DNBHPNT và các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư
2 Giới thiệu khái quát về Tổng công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam và Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư tại Tổng công tyBảo hiểm BIDV trong 05 năm gần đây Thông qua phân tích, một số thành quả đạtđược và những hạn chế cần khắc phục đối với hiệu quả hoạt động đầu tư của Tổngcông ty Bảo hiểm BIDV đã được làm rõ
3 Trên cơ sở những quy định cũng như định hướng hoạt động đầu tư và phântích thực trạng hoạt động đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư vàphát triển Việt Nam, có 04 nhóm giải pháp chính được đưa ra để nâng cao hiệu quảđầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Đồngthời, đưa ra những kiến nghị đối với Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, đốivới Nhà nước
Qua nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư tại DNBHPNT cũngnhư phân tích thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm BIDV, tác giả
đã hoàn thành đề tài: “Nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” Với sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy côtrong khoa Tài chính Ngân hàng và đặc biệt là sự hướng dẫn của PGS.TS Lưu ThịHương, luận văn đã được hoàn thành và về cơ bản đã giải quyết được những yêucầu và mục tiêu đặt ra
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và thị trườngbảo hiểm Phi nhân thọ nói riêng đã có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển củathị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư vốn và các quỹ nhàn rỗi được hìnhthành trong quá trình kinh doanh Tính đến hết năm 2010, toàn thị trường bảo hiểmViệt Nam đã có 52 doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó có 29 doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ Tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010 đạt 17.052 tỷđồng (tăng 24% so với năm 2009), tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảohiểm phi nhân thọ đạt 28%/năm giai đoạn 2006 - 2010 Cơ cấu tỷ trong doanh thudịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh từ 1,42% năm 2006 lên 2,3% năm
2009 Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã huy động đầu tư trở lại nền kinh
tế 19.084 tỷ đồng vào năm 2010 so với 5.143 tỷ đồng năm 2006
Tuy đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng hiệu quả của các doanh nghiệp bảohiểm đạt thấp, hầu hết hoạt động kinh doanh chính của các doanh nghiệp bảo hiểmkhông hiệu quả, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động đầu tư tài chính Nguyên nhân chủyếu do các Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang phải cạnh tranh rất gay gắt.Hình thức cạnh tranh chủ yếu bằng cách hạ phí, mở rộng các điều kiện bảo hiểm,làm cho rủi ro tăng cao, chi phí bồi thường bảo hiểm lớn…
Tại Tổng công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tronggiai đoạn 2006 - 2010, doanh thu và tổng tài sản đạt tốc độ tăng trưởng bình quânlần lượt là 84% và 68% Doanh thu tăng dẫn đến số vốn nhàn rỗi mà Tổng công tybảo hiểm tạm thời sở hữu cũng ngày một tăng Đây chính là nguồn vốn quan trọng
để Tổng công ty bảo hiểm có thể sử dụng đầu tư trở lại nền kinh tế để sinh lợi Trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô đang dần ổn định, cơ sở pháp lý cho hoạtđộng đầu tư đối với doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng hoàn thiện, thị trường chứngkhoán và thị trường bất động sản đang ngày càng sôi động như hiện nay, cơ hội đầu
tư vốn để tăng lợi nhuận cho Tổng công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển
Trang 17Việt Nam là rất lớn Nếu hoạt động đầu tư càng được chú trọng, lợi nhuận mang lạicàng nhiều thì Tổng công ty càng có điều kiện để giảm phí, tăng cường công nghệ,nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng tham gia bảo hiểm Qua đó uytín, hình ảnh và khả năng cạnh tranh của Tổng công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam càng được tăng cường
Mặc dù sau 05 năm hoạt động, hoạt động đầu tư vẫn là hoạt động chính manglại lợi nhuận cho Tổng công ty Bảo hiểm BIDV Tuy nhiên, trong cơ cấu danh mụcđầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam vẫnđang tập trung chủ yếu vào đầu tư tiền gửi, cơ cấu danh mục đầu tư chưa linh hoạtvới sự thay đổi của thị trường nên so với các DNBHPNT khác trên thị trường, hiệuquả đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
thấp Trong bối cảnh đó, đề tài “Nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
-Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả đầu tư của Công ty bảohiểm phi nhân thọ
-Phân tích thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểm Ngân hàngĐầu tư và phát triển Việt Nam trong thời gian qua
-Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng công ty Bảo hiểmNgân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Hiệu quả đầu tư của Công ty Bảo hiểmphi nhân thọ
-Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả đầu tư của Tổng công ty Bảo hiểm Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cácphương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn: phương pháp hệthống, phân tích hoạt động kinh tế, chọn mẫu, tổng hợp và thống kê…
Trang 185 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả đầu tư của Công tybảo hiểm phi nhân thọ
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảo hiểmNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảohiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
6 Tên đề tài và kết cấu của luận văn
- Đề tài luận văn: “Nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”
- Kết cấu: Ngoài lời mở đầu, kết luận cùng với danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được trình bày theo 3 chương như sau:
Chương 1: Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
-Những vấn đề lý luận cơ bản Chương 2: Thực trạng hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảo hiểm
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng Công ty Bảo
hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 1 HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức
và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác củapháp luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đíchsinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhuận rủi ro của bên mua bảo hiểm,trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểmcho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho bên mua bảo hiểm khi có các sự kiện bảohiểm xảy ra
Thực chất hoạt động kinh doanh của DNBHPNT là DNHBHPNT chấp nhậnrủi ro mà bên tham gia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời chấp nhận trả tiềnbảo hiểm hoặc bồi thường cho bên tham gia khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Đổilại DNBHPNT sẽ thu được phí bảo hiểm để hình thành quỹ dự trữ, bồi thường,trang trải các khoản chi khác có liên quan và có lãi
DNBHPNT cũng giống như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thịtrường, muốn thực hiện được các mục tiêu đề ra và kinh doanh có hiệu quả đòi hỏiphải tổ chức bộ máy hợp lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thường xuyên phải
xử lý các mối quan hệ phát sinh, vận dụng các công nghệ và phương pháp điều hànhdoanh nghiệp để tăng tính cạnh tranh và thích ứng được trong mọi điều kiện thayđổi Tuy nhiên, do đặc điểm kinh doanh của ngành nên hoạt động kinh doanh củaDNHBHPNT có những quy tắc riêng, bởi vì nó có những đặc điểm không giốngnhững ngành sản xuất kinh doanh khác Những đặc điểm nổi bật là:
Thứ nhất, sản phẩm bảo hiểm là những sản phẩm vô hình, dễ bắt chước, chất
lượng và mẫu mã sản phẩm khác hàng chưa thể biết được khi lựa chọn Việc xác
Trang 20định giá cả sản phẩm thường phải tiến hành theo chu trình ngược, vì khoản chi lớnnhất cho một sản phẩm bảo hiểm thường là chi bồi thường; nhưng khoản chi này lạichưa thể xác định chính xác khi định phí bảo hiểm.
Thứ hai, luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
DNBHPNT phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từngnghiệp vụ đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm, bao gồm:
Dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường, dự phòng bồi thường chocác giao động lớn Các dự phòng nghiệp vụ này là nguồn vốn để đầu tư sinh lời đốivới DNBHPNT
Thứ ba, Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ có vốn pháp định lớn,
không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng có khả năng tổ chức kinh doanh bảo hiểm.Với vai trò ổn định đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanhnghiệp vì vậy vốn pháp định đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm là rất lớn Việcquy định vốn điều lệ lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm là do đặc thù kinhdoanh bảo hiểm - kinh doanh rủi ro
Thứ tư, phải tuân thủ các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có
liên quan
Vấn đề an toàn tài chính cho hàng triệu người luôn phải được đặt lên hàngđầu, cho nên việc kiểm tra và giám sát của Nhà nước trong hoạt động này là rất chặtchẽ Các DNBHPNT phải tuân thủ quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, các quyđịnh khác của pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kýkết hoặc tham gia
1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động trong khuôn khổ phápluật quy định Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm gồm:
1.1.2.1 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đíchsinh lời Ở đây, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm
Trang 21trên cơ sở người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho người bảo hiểm (doanhnghiệp bảo hiểm), doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho những tổn thất thuộcphạm vi bảo hiểm cho người thụ hưởng.
Kinh doanh bảo hiểm phải đảm bảo nguyên tắc có tính chất quy luật là “sốđông bù số ít” Theo quy luật đó, doanh nghiệp phải thu hút nhiều người tham giavào một nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể
1.1.2.2 Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm
Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của kinh doanh bảo hiểm chuyển mộtphần (hoặc toàn bộ) rủi ro đã nhấp nhận cho doanh nghiệp bảo hiểm khác; ngượclại, nhận bảo hiểm một phần hay toàn bộ rủi ro mà doanh nghiệp khác đã chấp nhận.Thông qua hoạt động chuyển tái và nhận tái, doanh nghiệp bảo hiểm vừa ổnđịnh kinh doanh vừa thu lợi nhận vừa phát triển kinh tế với các nước…
1.1.2.4 Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong chu trình hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm
Sau khi nhận được thông báo của người được bảo hiểm về tai nạn rủi ro xảy
ra, giấy yêu cầu giám định và các giấy tờ khác có liên quan, doanh nghiệp bảo hiểmphải cử giám định viên đến hiện trường cùng các thành viên liên quan để xác địnhtính chất, nguyên nhận, mức độ thiệt hại Điều quan trọng của công tác giám định làxác định nguyên nhân rủi ro có thuộc phạm vi bảo hiểm không, tổn thất thực tế làbảo nhiêu…để làm căn cứ bồi thường
Trang 221.1.2.5 Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường yêu cầu người thứ ba bồi hoàn…
Doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ phải giám định tổn thất thuộc phạm vi bảohiểm của mình mà còn có thể làm đại lý giám định tổn thất cho doanh nghiệp khác.Căn cứ biên bản giám định, đối chiếu với hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệpxem xét giải quyết bồi thường theo các nguyên tắc quy định Giải quyết bồi thườngphải nhanh chóng, kịp thời đúng thủ tục nhằm giúp người bị hại nhanh chóng khắcphục hậu quả của rủi ro tai nạn bất ngờ
1.1.2.6 Quản lý quỹ và đầu tư
Một trong các mục đích kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận, do đó quản lý quỹbảo hiểm và đầu tư vốn (tức nguồn quỹ bảo hiểm thu được do người tham gia bảohiểm đóng phí) là hết sức quan trọng Quản lý quỹ tức quản lý thu chi đúng chế độ.Thu phải thu đúng, thu đủ, triệt để khai thác các nguồn thu; chi đúng chế độ, kịpthời, tiết kiệm nhất là chi bồi thường, chi quản lý…Nguồn quỹ thu được chưa chiđến phải đem đầu tư sinh lời Là hoạt định kinh doanh doanh nghiệp bảo hiểm tìmthị trường đầu tư vừa sinh lời cao, vừa đảm bảo không mất vốn
1.1.3 Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.3.1 Vai trò hoạt động đầu tư tại doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm là hoạt động dựa theo nguyên tắc số đông bù số ít, với đặc thù riêngcủa hoạt động kinh doanh bảo hiểm là “sự đảo ngược của chu kỳ sản xuất kinhdoanh” Việc tiêu thụ sản phẩm dựa trên quy trình: Phí bảo hiểm - tiền bán sảnphẩm bảo hiểm thu trước, còn cam kết bồi thường, trả tiền bảo hiểm - giá trị sửdụng của sản phẩm chỉ được thực hiện sau khi mua sản phẩm một khoảng thời giannhất định nào đó Như vậy, từ phí bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm có trongtay một quỹ tài chính rất lớn Nhưng quỹ này sẽ không được sử dụng để bồi thường,chi trả hết ngay, nên doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng lượng “tiền nhàn rỗi”này để đầu tư Chính lượng “tiền nhàn rỗi” từ quỹ dự phòng nghiệp vụ là nguồn đầu
tư có vai trò rất lớn không những đối với doanh nghiệp bảo hiểm mà còn đối vớitoàn bộ nền kinh tế
Trang 23- Đối với doanh nghiệp bảo hiểm
Đầu tư có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động kinh doanh của bất kỳmột doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nào Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọkhông chỉ có nhiệm vụ quản lý thu chi quỹ tài chính bảo hiểm, mà còn phải pháttriển quỹ tài chính này Hoạt động đầu tư cơ hiệu quả chính là phát triển quỹ tàichính cho Doanh nghiệp bảo hiểm Nhìn chung, hoạt động đầu tư đối với doanhnghiệp bảo hiểm có những vai trò cơ bản sau:
+ Hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của công tybảo hiểm Tỷ suất lợi nhuận đầu tư cao sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
có điều kiện giảm phí bảo hiểm, từ đó dành khách hàng từ các đối thủ cạnh tranh Đốivới thị trường bảo hiểm mới và đang trong giai đoạn phát triển như Việt Nam hiệnnay, cạnh tranh về phí đang là công cụ hiệu quả nhất và được sử dụng rộng rãi nhất.+ Hoạt động đầu tư chi phối chiến lược thiết kế và bán sản phẩm của Doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thông qua việc định giá các sản phẩm bảo hiểm, mởrộng phạm vi trách nhiệm hay tăng quyền lợi cho khách hàng
+ Hoạt động đầu tư giúp các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ bù đắp sựmất giá của đồng tiền, bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát
+ Hoạt động đầu tư đóng góp vào sự tăng trưởng thu nhập và lợi nhuận củaDoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, từ đó giúp mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng
cổ tức cho các cổ đông, tăng quỹ khen thưởng và phúc lợi cho người lao động…+ Hoạt động đầu tư còn góp phần quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp bảohiểm thông qua việc góp vốn thành lập doanh nghiệp, đầu tư vào các dự án lớn, các
dự án bất động sản…đây là một trong những chiến lược quan trọng trong việc tạodựng hình ảnh, mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng lĩnh vực đầu tư
- Đối với xã hội
Vai trò hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đối với xãhội được thể hiện rõ nét nhất thông qua việc huy động vốn cho nền kinh tế quốc dân Bảo hiểm thực chất là hoạt động dịch vụ tài chính và các doanh nghiệp bảohiểm thực chất là các tổ chức trung gian tài chính Cùng với các trung gian tài chính
Trang 24khác như ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán,…, doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ sử dụng “tiền nhàn rỗi” đầu tư cho nền kinh tế được coi là một kênhcung cấp vốn quan trọng và có một số ưu điểm so với các trung gian tài chính khác(như huy động được những khoản tiền nhỏ từ dân chúng dưới hình thức phí bảohiểm) Là một trung gian tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm thu hút, cung ứng vốn,góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy sự luân chuyển, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn trong nền kinh tế Các lĩnh vực đầu tư của Doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ rất đa dạng như mua cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư bất động sản,…
Hoạt động đầu tư còn có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các ngành,các lĩnh vực trong nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, gópphần ổn định xã hội, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, tăng tích lũy cho nền kinh tếquốc dân
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, đối với doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ thì hoạt động đầu tư là không thể thiếu được bên cạnh hoạt động kinhdoanh bảo hiểm Hoạt động đầu tư vừa có ý nghĩa huy động vốn tài trợ cho sự pháttriển kinh tế - xã hội, vừa giúp các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tồn tại vàphát triển
1.1.3.2 Vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Vốn để đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ nói riêng được hình thành từ những nguồn sau:
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp bảo hiểm thu tiền phí bảo hiểm từkhách hàng trước, sau đó mới dùng tiền này để chi trả bồi thường khi có sự kiện bảohiểm xảy ra Như vậy, lẽ ra họ có thể không cần tiền “vốn” trước hoặc cần nhưngrất ít để mua sắm “nguyên, vật liệu”, “nhà xưởng”…để sản xuất kinh doanh Tuynhiên, trong thực tế, pháp luật lại quy định vốn pháp định cho các doanh nghiệp bảohiểm phí nhân thọ là tương đối lớn Ở Việt Nam hiện nay, luật bảo hiểm quy địnhvốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là 300 tỷ đồng (Theo Nghịđịnh số 46/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 quy định về chế độ tài chính đốivới doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm)
Trang 25Sở dĩ Nhà nước yêu cầu vốn pháp định của các doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ cao như vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm.Giống như các tổ chức trung gian tài chính khác, khi doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ làm ăn không có hiệu quả, không còn đủ tiền để trả cho khách hàng, Nhànước sẽ lấy tiền từ vốn điều lệ của doanh nghiệp để giải quyết cho họ.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thường phải ký quỹ một phần vốn điều
lệ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật (ở Việt Nam hiện nay tiền ký quỹbằng 2% vốn pháp định), phần còn lại họ có thể đem đầu tư để sinh lời Trongdoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, nguồn vốn đầu tư này chiếm tỷ trọng chưaphải là lớn nhất nhưng cũng khá quan trọng Nó là vốn tự có của doanh nghiệp nênkhông chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảohiểm đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao
- Quỹ dự trữ bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng như các trung gian tài chính khác
có chức năng quan trọng lưu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việcthu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và đầu tư nguồn phí đó một cách cóhiệu quả Nhưng trong quá trình hoạt động kinh doanh, bản thân Doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ cũng có thể gặp phải những rủi ro, ảnh hưởng đến khả năngthanh toán của doanh nghiệp và suy cho cùng là ảnh hưởng đến quyền lợi của ngườitham gia bảo hiểm Chính vì vậy để quản lý doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ vàđảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, Nhà nước yêu cầu Doanh nghiệpbảo hiểm phi nhân thọ phải trích lập các quỹ dự trữ bắt buộc Ở Việt Nam, luật quyđịnh các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải trích 5% lợi nhuận sau thuế hàngnăm để lập quỹ dự trữ bắt buộc Mức tối đa của quỹ dự trự bắt buộc bằng 10% vốnđiều lệ của Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ luôn phải duy trì được khả năng thanh toán của mình Ngoài quỹ dự trữ bắtbuộc theo yêu cầu của pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có thể tựthành lập quỹ dự trữ tự nguyện nhằm tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp,
Trang 26được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và phải được ghi trong điều lệ hoạtđộng của doanh nghiệp.
Các quỹ dự trữ bắt buộc và tự nguyện là một nguồn vốn đầu tư chiếm tỷ trọngnhỏ, nhưng cũng góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ
- Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng
Cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ được phân phối cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức, trích lập các quỹnhư quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…phần còn lại chưa sửdụng sẽ bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp
- Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
Các quỹ dự phòng nghiệp vụ là một đặt thù của hoạt động kinh doanh bảohiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả,bồi thường cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Các quỹ dự phòngnghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
+ Dự phòng phí chưa được hưởng, được sử dụng để bồi thường cho tráchnhiệm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong nămtiếp theo;
+ Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết, được sử dụng để bồithường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm bảo hiểm chưa khiếu nạihoặc đã khiếu nại nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết;
+ Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất, được sử dụng để bồithường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng phí bảohiểm giữ lại trong năm tài chính sau khi đã trích lập dự phòng phí chưa được hưởng
và dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ để chi trả tiền bồithường đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm
Cuối năm tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải trích lập cácquỹ dự phòng nghiệp vụ từ quỹ tài chính bảo hiểm cho từng nghiệp vụ bảo hiểm vàcho phần trách nhiệm còn lại của hợp đồng bảo hiểm Trong năm tài chính tiếp theo,
Trang 27các quỹ dự phòng nghiệp vụ thường không phải sử dụng để chi trả, bồi thường hếtngay Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có thể lấy chính từ tiền phí thutrong năm để chi trả, bồi thường cho phần trách nhiệm phát sinh từ những hợp đồngđược ký từ năm trước Do vậy, sẽ có một phần quỹ dự phòng nghiệp vụ là “nhànrỗi” có thể đem đi đầu tư để kiếm lời Tùy theo quy định của từng nước mà việc xácđịnh bao nhiêu trong số các quỹ dự phòng nghiệp vụ được coi là “nhàn rỗi” đểdoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được đem đi đầu tư Tại Việt Nam, theo nghịđịnh của Chính phủ số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007, nguồn vốn nhàn rỗi từ dựphòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm là tổng dự phòng nghiệp vụbảo hiểm trừ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm dùng để bồi thường bảohiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo hiểmthường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ Khoản tiền dùng để bồi thườngbảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phinhân thọ không thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tạicác tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam.
Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ được thực hiện trực tiếp bởi doanh nghiệp bảo hiểm hoặc thôngqua uỷ thác đầu tư và chỉ được đầu tư tại Việt Nam
Trong các nguồn vốn đầu tư trên, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụbảo hiểm luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ và việc đầu tư nguồn vốn này chịu sự kiểm soát chặt chẽ củapháp luật
1.1.3.3 Các nguyên tắc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ nói riêng đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc an toàn
Nguyên tắc này được đặt ra nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong đầu tư, bảo toànnguồn vốn sử dụng Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm cũng giống nhưbất kỳ hoạt động đầu tư nào, luôn đứng trước những rủi ro sau:
Trang 28+ Rủi ro lãi suất: Rủi ro này xuất phát từ chỗ giá trị của các khoản đầu tư
có lãi suất cố định chịu sự biến động khi lãi suất trên thị trường thay đổi và tỷsuất thu hồi thực (tức là lãi suất đã điều chỉnh theo lạm phát) có thể biến đổi mộtcách tương tự
+ Rủi ro tín dụng: Rủi ro này xảy ra khi bên vay vốn của doanh nghiệp bảohiểm bị phá sản hay tái cơ cấu tổ chức, khiến họ không thể trả lại tiền đầu tư theonhư cam kết
+ Rủi ro thị trường: Rủi ro này xuất phát từ sự thay đổi của thị trường thuộclĩnh vực mà các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư
+ Rủi ro tỷ giá: Tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ luôn thay đổi làmcho giá trị của các khoản đầu tư không định giá bằng đồng ngoại tệ sẽ thay đổi theo.Việc đảm bảo nguyên tắc đầu tư vốn an toàn là rất quan trọng đối với doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, nó đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện các cam kếtvới khách hàng trong các hợp đồng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Nguyên tắc an toàncủa các khoản mục đầu tư được pháp luật thể chế bằng việc quy định danh mục đầu
tư với những lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp, quy định tỷ trọng vốn đầu tư trongtừng danh mục Ngoài ra nguyên tắc này yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm phải
đa dạng hoá danh mục đầu tư
- Nguyên tắc sinh lời
Hoạt động đầu tư phải đảm bảo tạo ra lợi nhuận Lợi nhuận rất cần thiết đểđảm bảo cho DNBH tăng cường sức mạnh tài chính, thực hiện các chiến lược củadoanh nghiệp như: Giảm phí, mở rộng phạm vi bảo hiểm, tăng khả năng cạnhtranh…Do đó người quản lý quỹ đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm cần phải đầu tưvào các lĩnh vực đem lại mức lợi nhuận hợp lý, đồng thời đảm bảo nguyên tắc antoàn Bởi vì theo nguyên lý đầu tư: khi rủi ro đầu tư càng cao, tỷ suất lợi nhuận đầu
tư cũng càng cao và ngược lại
- Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên
Việc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo có tính thanh khoản hợp
lý Doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải thanh toán tiền cho người được bảo hiểm bất
Trang 29kỳ lúc nào khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Do đó, các lĩnh vực đầu tư phải phù hợpvới từng loại quỹ - đầu tư dài hạn hay ngắn hạn Tính thanh khoản của các khoảnmục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm được pháp luật thể chế bằng việc quy địnhdanh mục đầu tư với những tỷ lệ nhất định.
Trong thực tế, việc đồng thời thực hiện các nguyên tắc trên đối với doanhnghiệp bảo hiểm là một vấn đề rất phức tạp và mâu thuẫn với nhau Khi doanhnghiệp bảo hiểm thực hiện nguyên tắc an toàn, khả năng sinh lời của khoản đầu tư
bị giảm xuống Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến nguyên tắc sinh lời, rủi ro đầu tư sẽtăng lên, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm Ngoài ra,các nguyên tắc đầu tư cần được áp dụng linh hoạt tùy thuộc vốn đầu tư được hìnhthành từ nguồn nào So với hoạt động đầu tư từ các nguồn vốn tự có (như vốn điềulệ), hoạt động đầu tư từ các nguồn vốn nợ (như các quỹ dự phòng nghiệp vụ) phảituân thủ các nguyên tắc trên là hết sức nghiêm ngặt Bởi vì đây không phải là tiềncủa doanh nghiệp bảo hiểm, mà là các ‘khoản nợ” của doanh nghiệp bảo hiểm đốivới khách hàng
1.1.3.4 Các hình thức đầu tư tại doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được thực hiệndưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, đầu tưchứng khoán, đầu tư bất động sản…Mỗi hình thức đầu tư có những ưu nhược điểmkhác nhau, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần phải lựa chọn hình thức đầu tưsao cho phù hợp, đảm bảo các nguyên tắc đầu tư, đảm bảo khả năng thanh toán chongười tham gia bảo hiểm
- Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có thể mở các tài khoản thanh toán vàcác tài khoản tiền gửi ở các tổ chức tín dụng để hưởng lãi suất Đây là loại hình đầu
tư đơn giản, có mức độ an toàn vốn cao Theo Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày27/03/2011 của Chính phủ, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng không bị hạn chế Nhàđầu tư có thể xác định được tương đối chính xác các khoản thu nhập sẽ có trongtương lai Ở Việt Nam, khi thị trường vốn chưa phát triển, các Doanh nghiệp Bảohiểm phi nhân thọ vẫn chủ yếu lựa chọn hình thức đầu tư này
Trang 30Ở các nước phát triển, hình thức đầu tư này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổngnguồn vốn đầu tư, bởi vì hiệu quả đầu tư tiền gửi mang lại không cao bằng các hìnhthức đầu tư khác Đây chỉ là hình thức giữ tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ trong lúc tìm các hình thức đầu tư hiệu quả khác Khi thị trườngvốn phát triển, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chuyển một phần đáng kể vốn
từ hình thức tiền gửi kỳ hạn sang đầu tư chứng khoán để tăng hiệu quả hoạt độngđầu tư
Hình thức đầu tư tiền gửi chịu ảnh hưởng rất lớn của lạm phát, sự biến đổi củalãi suất Lãi suất tiền gửi tại các tổ chức tín dụng thường không cao so với các loạihình đầu tư khác, do đó hiệu quả đầu tư đối với kênh đầu tư này là không cao Tuynhiên, với hình thức đầu tư này, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đảm bảo đượctính an toàn và thanh khoản
- Đầu tư chứng khoán
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các thị trường chứng khoán trongnhững năm qua, việc đầu tư vào thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ ngày một gia tăng Đầu tư vào chứng khoán không chỉ đảm bảotính thanh khoản, vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ, mà còn cho phép các doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ hoạt độngkinh doanh
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có thể mua các loại chứng khoán mớiphát hành qua việc chào bán công khai hoặc phát hành riêng lẻ hoặc các loại chứngkhoán đã phát hành thông qua sở giao dịch chứng khoán và qua thị trường OTC.Chứng khoán mà doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đầu tư bao gồm: tráiphiếu chính phủ, cổ phiếu, trái phiếu công ty
Nhìn chung, trong danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trên thếgiới, trái phiếu luôn chiếm tỷ trọng lớn vì có những ưu thế sau:
+ Có được khoản thu nhập thường xuyên, ổn định Người nắm giữ tráiphiếu có thể thu nhập từ lãi trái phiếu và khoản chênh lệch giá từ việc bán tráiphiếu trước hạn
Trang 31Lãi suất của trái phiếu thường được ấn định ngay từ đầu và cố định trong suốtvòng đời của trái phiếu nên có thể coi trái phiếu là một loại đầu tư có thu nhập cốđịnh Đặc điểm này tạo điều kiện cho nhà đầu tư có thể tính được dòng thu nhập dựkiến trong tương lai Hơn nữa, lãi suất này thường cao hơn lãi suất tiền gửi ngânhàng cùng kỳ hạn, đặc biệt đối với trái phiếu công ty Người nắm giữ trái phiếu cóthể bán trái phiếu trước khi đến thời hạn thanh toán nhằm hưởng chênh lệch giá.Khả năng chuyển đổi của trái phiếu trước ngày đáo hạn cũng đảm bảo cho khảnăng huy động vốn dài hạn của người phát hành và thu hồi vốn nhanh chóng củangười mua Trong trường hợp cần thiết, công ty bảo hiểm có thể bán trái phiếunhanh chóng để thực hiện các nghĩa vụ đối với khách hàng Tuy nhiên, để thực hiệnđược việc chuyển nhượng trái phiếu dễ dàng, nhanh chóng đòi hỏi phải có thịtrường chứng khoán phát triển.
+ Trái phiếu có độ an toàn cao: Trái phiếu trên thị trường do chính phủ hoặccác tập đoàn lớn hoặc các công ty có uy tín phát hành Do vậy, việc thanh toán gốc
và lãi trái phiếu thường được bảo đảm khá chắc chắn Nếu người phát hành tráiphiếu không thể thanh toán đúng hạn, người nắm giữ trái phiếu có quyền khiếu nạitrên số tài sản của người phát hành và trong trường hợp các công ty bị phá sản thìtrái phiếu lại được ưu tiên thanh toán trước cổ phiếu
Hơn nữa, đối với mục tiêu mua và lưu giữ trái phiếu thì việc biến động giá tráiphiếu không ảnh hưởng đến dòng thu nhập từ lãi trái phiếu và số vốn thu hồi Đặcđiểm này rất phù hợp với các công ty đầu tư bằng nguồn vốn dài hạn
Với những ưu điểm trên, trong những năm gần đây, đầu tư vào trái phiếuthường chiếm tỷ trọng khá lớn trong danh mục đầu tư của các công ty bảo hiểm.Tuy nhiên khi đầu tư vào trái phiếu, các nhà đầu tư phải chịu những rủi ro sau:
- Rủi ro về giá: Giá trái phiếu thường biến động và chịu tác động lớn của lãi
suất trên thị trường Do tỷ lệ lãi vay đã được ấn định trước còn lãi suất lại thườngxuyên thay đổi nên sẽ ảnh hưởng đến giá trái phiếu Trong trường hợp công ty đầu
tư trái phiếu bằng nguồn vốn ngắn hạn thì lãi suất tăng sẽ làm giá trái phiếu giảm,khi đó nhà đầu tư khó có thể thu hồi được vốn và thu được lợi nhuận trong thời gianngắn Rủi ro này thường có ảnh hưởng lớn đến các loại trái phiếu có kỳ hạn dài
Trang 32- Rủi ro vỡ nợ: Còn được gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà nhà phát hành trái
phiếu không có khả năng thanh toán các khoản gốc và lãi đúng kỳ hạn khi họ gặpkhó khăn về tài chính Các nhà phát hành trái phiếu có tiềm năng tài chính mạnh ít
có khả năng vỡ nợ trái phiếu hơn các nhà phát hành có tiềm năng tài chính yếu, và
vì thế ít rủi ro hơn và có thể đưa ra mức thu nhập thấp hơn trái phiếu phát hành bởicác nhà phát hành có khả năng tài chính yếu Trài phiếu an toàn nhất là trái phiếuchính phủ vì chính phủ luôn có thể tăng thuế hoặc thậm chí in tiền để thanh toán cáckhoản nợ
Các nhà đầu tư cần thận trọng tìm hiểu tình hình tài chính, từ đó dự đoán khảnăng thanh toán của người phát hành trước khi quyết định mua trái phiếu
- Rủi ro lạm phát: Trái phiếu không có khả năng chống lại tác động của lạm phát.
Khi lạm phát tăng cao làm cho thu nhập thực từ trái phiếu sau giảm thậm chí âm
- Rủi ro về điều khoản được quyền mua lại: Một số loại trái phiếu có điều
khoản được quyền mua lại, trong đó quy định người phát hành trái phiếu có quyềnbuộc những người nắm giữ trái phiếu phải bán lại trái phiếu cho người phát hành ởmột thời điểm trước ngày đáo hạn Điều khoản này xác định khi nào một trái phiếu
có thể được mua lại và giá mà nhà đầu tư có thể nhận được nếu trái phiếu được mualại Điều khoản được quyền mua lại làm tăng rủi ro với các nhà đầu tư vì các nhàđầu tư có thể bị buộc phải nhượng lại trái phiếu ở một thời điểm không thích hợp
Vì rủi ro này, trái phiếu với điều khoản được quyền mua lại thường có lãi suất caohơn so với các trái phiếu tương đương không có điều khoản này
+ Khi đầu tư cổ phiếu, trong trường hợp công ty làm ăn có lãi, nhà đầu tư cóthể thu được lợi nhuận dưới dạng cổ tức, và lãi càng lớn thì cổ tức càng được chianhiều, từ đó tăng thu nhập cho nhà đầu tư Ngoài ra người giữ cổ phiếu nhận đượcthu nhập từ cổ phiếu thông qua việc chênh lệch giá khi bán cổ phiếu
Ngoài ra, khả năng chuyển nhượng của cổ phiếu cho phép nhà đầu tư có thểbán một phần hoặc toàn bộ số cổ phần mình sở hữu khi cần thiết để đáp ứng nhucầu về vốn tại một thời điểm nhất định Tuy nhiên để thực hiện được điều này cũngđòi hỏi phải có một thị trường chứng khoán phát triển
Trang 33Bên cạnh những ưu thế trên, việc đầu tư cổ phiếu cũng có một số bất lợi sau:
Thứ nhất, chi phí để thu nhập thông tin khi tiến hành đầu tư cao ảnh hưởng
đến lợi nhuận đầu tư Trước khi mua cổ phiếu của một công ty nào đó, nhà đầu tưthường phải tìm hiểu tình hình hoạt động đặc biệt là tình hình tài chính của công ty
đó Các chi phí này thường lớn, đặc biệt đối với các công ty nhỏ hoặc những công
ty mới thành lập
Thứ hai, sự không ổn định từ nguồn thu nhập từ cổ phiếu Do cổ tức được
hưởng phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty phát hành và chính sách chia
cổ tức của công ty Trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi hoặc ban quản trịcông ty quyết định giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tăng vốn thì nhà đầu tư sẽ khôngđược nhận cổ tức Do vậy, nhà đầu tư khó dự đoán được chính xác nguồn thu nhập
dự kiến trong tương lai
Thứ ba, người giữ cổ phiếu có quyền ưu tiên thấp hơn người giữ trái phiếu đối
với các tài sản của công ty trong trường hợp phá sản Người giữ cổ phiếu sẽ chỉ đượctrả tiền nếu quỹ còn lại sau khi thanh toán cho người giữ trái phiếu và các chủ nợ khác
Thứ tư, sự biến động bất thường của giá cổ phiếu do tác động của rất nhiều
yếu tố khác nhau làm nhà đầu tư không thể dự đoán được Giá cổ phiếu thường có
xu hướng biến động nhiều hơn trái phiếu vì cổ phiếu không có ngày đáo hạn vàkhông có giá trị đáo hạn Điều này làm cho kinh doanh cổ phiếu được xếp vào mộttrong những lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, không phù hợp với các nhà đầu tư cần mộtlợi suất chắc chắn
Vì mức độ rủi ro cao và đặc điểm dòng tiền không đều của cổ phiếu nên cácdoanh nghiệp bảo hiểm bị pháp luật hạn chế về tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu Tại Điều
14 Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2011 của Chính phủ quy định việc mua
cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệpkhác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
- Đầu tư bất động sản
Đầu tư vào bất động sản cũng là một lĩnh vực quan trọng trong danh mục đầu
tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ bởi vì:
Trang 34+ Duy trì sự ổn định giá trị, việc đầu tư vào bất đống sản gần như không chịutác động của yếu tố lạm phát.
+ Đa dạng hóa đầu tư cho doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thông qua việcđầu tư vào nhiều bất động sản khác nhau như văn phòng, khách sạn, nhà ở, cửa hàng…+ Phát huy tác dụng khuếch trương, quảng cáo, nâng cao hình ảnh của công tybằng việc sở hữu những tòa nhà đảm bảo đẹp, to lớn và chất lượng
+ Cung cấp nơi làm việc thuận lợi cho khách hàng, từ đó thắt chặt thêm mốiquan hệ với khách hàng
Chính vì những đặc điểm trên mà hiện nay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ đang đẩy mạnh hoạt động đầu tư vào thị trường bất động sản
Tuy nhiên dòng thu nhập nhận được từ đầu tư bất động sản thường khó dự đoántrước vì giá trị bất động sản có thể dao động đáng kể qua thời gian cũng việc xác địnhnhu cầu thuê và sử dụng tương đối khó Sự biến động giá cả bất động sản chịu tácđộng của nhiều yếu tố khách quan khác nhau và rất khó lường Do đó đầu tư vào lĩnhvực bất động sản có rủi ro tương đối cao so với các hình thức đầu tư khác
Một đặc điểm nữa là bất động sản là một loại tài sản có tính lỏng thấp.Việc chuyển nhượng bất động sản thường đòi hỏi những thủ tục phức tạp, thờigian lâu, đặc biệt khi thị trường bất động sản chưa phát triển như ở Việt Namnay Điều 14 Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2011 của Chính phủ quyđịnh việc kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dựphòng nghiệp vụ bảo hiểm
Trang 35Một điểm nữa là hiệu quả của việc góp vốn liên doanh cũng phụ thuộc rất lớnvào đối tác cùng tham gia liên doanh, đặc biệt là bên góp vốn chi phối.
Nhìn chung, dựa trên các quy định của pháp luật về lĩnh vực và hạn mức đầu
tư, căn cứ vào điều kiện thực tế về môi trường đầu tư cũng như đặc điểm nguồn vốnđầu tư, chiến lược phát triển riêng của công ty, mỗi công ty bảo hiểm có thể lựachọn cho mình một danh mục đầu tư thích hợp với các hình thức đầu tư đa dạng
Để thuận tiện cho công tác quản lý đầu tư, có thể chia các hình thức đầu tưcủa công ty bảo hiểm thành 2 loại là đầu tư tài sản thực (đầu tư bất động sản, liêndoanh) và đầu tư tài chính
1.2 Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
1.2.1 Khái niệm hiệu quả đầu tư của DNBHPNT
Hiệu quả là một chỉ tiêu tổng hợp, được nhìn nhận trên nhiều khía cạnh.Nhưng là một tổ chức hạch toán kinh doanh trên thị trường, hiệu quả của việc sửdụng các nguồn vốn để đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chính làhiệu suất sinh lời của đồng vốn Đồng thời, lợi ích của doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ cũng không được đi ngược lại lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của doanhnghiệp phải gắn liền với lợi ích xã hội
Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động đầu tư củadoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Nhưng suy cho cùng, mọi sự đầu tư đều cómột mục đích là tối đa hóa lợi nhuận Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải tínhtoán sao cho một đồng vốn bỏ ra phải thu được nhiều lợi nhuận nhất
Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ làrất đặc biệt, chủ yếu hình thành từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ Việc đầu tư cácnguồn vốn này phải bảo đảm cho phù hợp với đặc điểm của từng loại quỹ dự phòngnghiệp vụ Các hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường có thời hạn bảo hiểm ngắn
từ một năm trở xuống Do đó, các quỹ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ chủ yếu được đầu tư vào các danh mục có thời hạn ngắn và tínhthanh khoản cao như trái phiếu, gửi tiền ngân hàng, cho vay Ngoài ra, để thấy đượclĩnh vực đầu tư nào là có lợi hơn cả, việc đánh giá hiệu quả của từng danh mục đầu
tư là cần thiết
Trang 361.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của DNBHPNT
1.2.2.1 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư
Hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn để đầu tư chính là hiệu suất sinh lờicủa đồng vốn, tức là một đồng vốn bỏ ra tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêunày càng cao, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn hoạt động đầu tư tài chính của doanhnghiệp trong kỳ càng lớn
Doanh nghiệp bảo hiểm cũng là một tổ chức hạch toán kinh doanh trên thịtrường nên doanh nghiệp phải tính toán sao cho một đồng vốn đầu tư bỏ ra phải thuđược nhiều lợi nhuận nhất Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đầu tư là chỉ tiêu quan trọngphản ánh nội dung này
Tỷ suất lợi
nhuận đầu tư =
Lợi nhuận sau thuế từ đầu tư tài chính
Tổng tài sản tài chính
1.2.2.2 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của chủ sở hữu tham gia vào hoạt độngkinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận hoạt động đầu tư trong kỳ tính toán
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên
1.2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản của doanh nghiệp thì tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư trong kỳ tính toán
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư
trên tổng tài sản =
Lợi nhuận sau thuếTổng tài sản bình quân trong kỳ
Trong đó:
Trang 37Tổng tài sản bình quân trong kỳ = (Tổng tài sản đầu kỳ + cuối kỳ)/2
Chỉ tiêu này rất có ý nghĩa đối với nhà quản trị DNBHPNT khi đánh giá hiệuquả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mình so với các doanh nghiệp cùng ngành
và thuộc các ngành nghề khác
1.2.2.4 Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận đầu tư tài chính
Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính quacác năm của DNBH
Tỷ lệ tăng trưởng lợi
Lợi nhuận ĐTTC kỳ báo cáo
- 1 x 100 (%)Lợi nhuận ĐTTC kỳ liền trước
Ngoài các chỉ tiêu cơ bản trên, DNBHPNT có thể sử dụng một số chỉ tiêu đểđánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư như: Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ lệhoàn vốn nội bộ (IRR) và Thời gian hoàn vốn
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của DNBHPNT
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Quy mô vốn đầu tư
Quy mô vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có ảnh hưởng đến quy mô và
cơ cấu danh mục đầu tư Cụ thể:
- Các DNBHPNT lớn, tức là có vốn đầu tư lớn, sẽ có phạm vi lựa chọn đầu tưrộng hơn, có khả năng đầu tư vào nhiều danh mục khác nhau, đa dạng hóa danhmục tốt hơn, đặc biệt với một số lĩnh vực yêu cầu vốn đầu tư lớn như trái phiếuchính phủ, bất động sản…
- Bên cạnh đó, mức độ thanh khoản của các tài sản tài chính sẽ phụ thuộc vàoquy mô đầu tư vào tài sản của DNBHPNT so với quy mô của toàn thị trường Vớicùng một tài sản đầu tư, đối với một DNBHPNT nhỏ, tài sản đầu tư đó có giá trịnhỏ, khi cần họ có thể bán ngay ra thị trường mà không lo làm rối loạn thị trường,đảm bảo tính thanh khoản tốt Trong khi đó, với một DNBHPNT lớn nắm giữ mộtgiá trị lớn tài sản đầu tư đó, khi cần bán hết ra thị trường có thể làm tăng đột biếncung và làm tài sản đầu tư bị giảm giá, tính thanh khoản không được đảm bảo
1.3.1.2 Quan điểm đầu tư
Trang 38Hoạt động đầu tư của DNBHPNT chịu tác động của nhiều nhân tố, nhưng suycho cùng, quyết định đầu tư vào đâu, giá trị đầu tư bao nhiêu… là do người chịutrách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư quyết định trong khuôn khổ pháp luật chophép Nếu người quản lý đầu tư là người thận trọng, họ thiên về lựa chọn danh mụcđầu tư có mức độ rủi ro thấp Ngược lại, nếu người quản lý đầu tư là người mạohiểm, họ có thể lựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi ro cao để tìm kiếm
tỷ suất sinh lời hấp dẫn
Thực tế cho thấy quan điểm quản lý đầu tư ở các thị trường bảo hiểm khácnhau là khác nhau Do cùng chịu một sức ép từ thị trường, các chính sách đầu tưnhìn chung có xu hướng tương tự nhau giữa các DNBHPNT hoạt động trên cùngmột thị trường Bên cạnh đó, các quan điểm đầu tư cũng không tách biệt với bốicảnh, quy mô và mức độ phát triển của thị trường vốn Các khu vực tài chính tự do,năng động hơn sẽ tạo ra các tập quán quản lý đầu tư linh hoạt và ít thận trọng hơn
1.3.1.3 Trình độ cán bộ thực hiện đầu tư
Đây cũng là một trong số những yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng quyếtđịnh hiệu quả đầu tư của công ty Nhìn chung, hoạt động đầu tư của DNBHPNTđược thực hiện trong rất nhiều lĩnh vực, rất đa dạng và chịu nhiều rủi ro Do đó, cán
bộ thực hiện đầu tư phải có trình độ chuyên môn, được đào tạo chuyên sâu và cókinh nghiệm thì mới có thể tối đa hóa hiệu quả danh mục đầu tư của DNBHPNTtrên cơ sở lựa chọn những phương án đầu tư có độ rủi ro và mức lợi nhuận hợp lý
1.3.1.4 Tổ chức hoạt động đầu tư
Việc lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động đầu tư dựa trên nhiều nhân tố nhưquy mô công ty bảo hiểm, tính chất nghiệp vụ bảo hiểm, quy định của pháp luật…Theo mức độ chuyên môn hoá, tập trung hoá hoạt động đầu tư, các công ty bảohiểm có thể lựa chọn áp dụng một trong các mô hình tổ chức sau:
- Một là, phòng/ban đầu tư trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm
Mô hình tổ chức này tiết kiệm chi phí quản lý, chuyển dịch cơ cấu đầu tư rấtlinh hoạt, quy trình ra quyết định đầu tư nhanh chóng và đơn giản, hoạt động đầu tưphản ánh khá chính xác quan điểm đầu tư của Ban lãnh đạo công ty
Tuy nhiên, với mô hình này bộ máy quản lý DNBHPNT phải đồng thời quản lý
Trang 39cả 2 mảng hoạt động lớn là kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư nên nguồn nhânlực cho hoạt động đầu tư mỏng, trình độ, kinh nghiệm và khả năng tìm kiếm cơ hộiđầu tư hạn chế Điều này ảnh hưởng tới cả hiệu quả hoạt động đầu tư và hoạt độngkinh doanh bảo hiểm Vì vậy, mô hình tổ chức này chỉ phù hợp với các DNBH cóquy mô vốn đầu tư nhỏ hoặc mới thành lập, hoạt động đầu tư còn tương đối đơn giản.
- Hai là, thành lập một tổ chức đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu
tư hay quỹ đầu tư do doanh nghiệp bảo hiểm sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần
chi phối
Mặc dù việc thành lập một tổ chức đầu tư độc lập sẽ làm tăng chi phí quản
lý nhưng mô hình tổ chức này giúp các công ty bảo hiểm tập trung các nguồn lựccủa mình, tạo sự minh bạch và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đầu
tư Mô hình tổ chức này phù hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm có quy mô lớn
và phát triển
1.3.1.5 Quản trị rủi ro
Vốn chủ sở hữu của một DNBHPNT ít bị hạn chế hơn so với đầu tư từ vốnnhàn rỗi của quỹ dự phòng nghiệp vụ và tài trợ cho việc phát triển kinh doanh lâudài nên thường được ưu tiên sử dụng để đầu tư vào các tài sản có khả năng thu lợinhuận cao, đảm bảo giá trị của vốn chủ sở hữu tăng lên theo thời gian hay ít nhấtcũng theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh doanh
Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó các DNBHPNT cũng phải quan tâm tới rủi
ro thanh khoản của các tài sản đầu tư mà doanh nghiệp nắm giữ vì vốn chủ sở hữu
là chỗ dựa cuối cùng của các DNBHPNT để giải quyết cho những tổn thất lớn cóthể phải bồi thường trong tương lai Vì vậy, DNBHPNT phải đầu tư một khoảnđáng kể vào những tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo chi trả cho cáckhoản bồi thường này
Việc đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu và từ nguồn vốn nhàn rỗi của quỹ dựphòng nghiệp vụ không hoàn toàn độc lập với nhau nhưng thực tế một DNBHPNT
có tỷ lệ vốn chủ sở hữu/quỹ dự phòng nghiệp vụ lớn thì những người quản lý doanhnghiệp càng ít lo ngại có rủi ro và có chính sách đầu tư ít thận trọng hơn so với các
Trang 401.3.2.1 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm
Ở Việt Nam, tính đến hết năm 2010, toàn thị trường đã có 52 doanh nghiệpbảo hiểm, gồm:
Bảng 1.1: Doanh nghiệp bảo hiểm tại thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2010
Việc tăng nhanh số lượng các DNBH trong khi trình độ nghiệp vụ, khả năngquản lý rủi ro còn rất hạn chế dẫn đến một số doanh nghiệp chú trọng mục tiêu nângthị phần, coi nhẹ mục tiêu hiệu quả và phát triển bền vững, dẫn đến cạnh tranh bằngcác phương thức phi kỹ thuật (hạ phí, tăng chi phí, mở rộng điều kiện điềukhoản…) Ngoài ra, thị trường bảo hiểm mở cửa theo cam kết gia nhập WTO đã tạo
cơ hội lớn cho các DNBHPNT nước ngoài tham gia thị trường Lực lượng này đã vàđang là yếu tố cạnh tranh không nhỏ do họ có trình độ chuyên môn và công nghệvượt trội