1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà thành

107 1,5K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước sức ép cạnh tranh cả trong và ngoài nước ngày cànglớn, sau 7 năm hoạt động cùng với sự phát triển và kinh nghiệm, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành đã rấ

Trang 1

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGÔ VIỆT HẠNH

Trang 2

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động của Ngân hàng thương mại 3

1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 5

1.2 CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng 10

1.2.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng 12

1.2.3 Sự cần thiết phát triển cho vay tiêu dùng 14

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cho vay tiêu dùng 20

1.2.5 Quản lý rủi ro cho vay tiêu dùng 30

1.3 KINH NGHIỆM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 31

1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại các nước 31

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

Trang 3

HÀ THÀNH 37

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ THÀNH 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành 37

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh 37

2.2 THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ THÀNH 43

2.2.1 Sơ lược về thực trạng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 43

2.2.2 Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành 46

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ THÀNH 55

2.3.1 Những kết quả đạt được 55

2.3.2 Những hạn chế 62

2.3.3 Nguyên nhân 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG ĐÀU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ THÀNH 79

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG ĐÀU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ THÀNH 79

Trang 4

3.1.3 Định hướng cơ bản của BIDV Chi nhánh Hà Thành trong cho vay

tiêu dùng 81

3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG ĐÀU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ THÀNH 82

3.2.1 Xác định thị trường, phát triển khách hàng phù hợp với định hướng hoạt động của Chi nhánh 82

3.2.2 Phát triển sản phẩm hiện có, tiếp tục nghiên cứu đa dạng hoá các sản phẩm cho vay tiêu dùng 84

3.2.3 Phát triển hoạt động Marketing, đa dạng kênh phân phối 88

3.2.4 Tăng trưởng cho vay tiêu dùng gắn với đảm bảo an toàn cho vay 90

3.2.5 Một số giải pháp khác 92

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 95

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 95

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 97

3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) 98 KẾT LUẬN 100 NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

NHTM Ngân hàng thương mại

CVTD Cho vay tiêu dùng

SX-KD Sản xuất – Kinh doanh

CBCNV Cán bộ Công nhân viên

Trang 6

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh Chi nhánh Hà Thành (2008-2010) 39

Bảng 2.2 Quy mô cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh 51

Bảng 2.3: Cho vay tiêu dùng theo mục đích vay 51

Bảng 2.4: Doanh số và Dư nợ cho vay tiêu dùng (2008 - 2010) 60

Bảng 2.5 Tình hình nợ quá hạn 61

HÌNH VẼ Hình 1.1: NHTM là trung gian tài chính 3

SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Hà Thành 38

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bên cạnh những cơ hội và lợi thế có thể phát huy các Ngân hàng thương mạiViệt Nam cũng chịu không ít các thách thức đặc biệt là áp lực cạnh tranh của cáctập đoàn doanh nghiệp và tập đoàn tài chính xuyên quốc gia, chính vì vậy để có thểtận dụng tối đa các cơ hội, hạn chế thách thức đòi hỏi các ngân hàng thương mạiViệt Nam phải có những giải pháp thích hợp để có thể thích ứng với tiến trình tự dohoá, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, mở rộng và pháttriển dịch vụ ngân hàng tiên tiến, đảm bảo an toàn hiệu quả hoạt động kinh doanhnhằm không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mạiViệt Nam trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước

Nhận thức được môi trường cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng trongthời kỳ mới, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành đượcthành lập năm 2003 là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Namvới phương hướng và nhiệm vụ được giao là đơn vị đi tiên phong trong vai trò Ngânhàng bán lẻ hiện đại Trước sức ép cạnh tranh cả trong và ngoài nước ngày cànglớn, sau 7 năm hoạt động cùng với sự phát triển và kinh nghiệm, Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành đã rất chú trọng đầu tư đổi mới côngnghệ, nghiên cứu đưa ra sản phẩm mới nhằm đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ nâng

cơ cấu tỷ trọng thu dịch vụ ngân hàng theo chuẩn mực của các ngân hàng hiện đạitrên thế giới Tuy nhiên trong quá trình hoạt động việc phát triển hoạt động các dịch

vụ chưa được khai thác tối đa các tiềm năng, các sản phẩm dịch vụ cung cấp chưa

đa dạng và phát triển chưa đồng đều đặc biệt là sản phẩm cho vay mang lại doanhthu và lợi nhuận lớn cho chi nhánh Một trong những mục tiêu theo đuổi nhằm đadạng hoá sản phẩm ngân hàng là sản phẩm cho vay tiêu dùng đã được Chi nhánhtriển khai từ năm 2004 nhưng chưa được chú trọng Cùng với sự phát triển qua thờigian cũng như việc nắm bắt kịp thời các nhu cầu xuất phát từ khách hàng, sản phẩmcho vay này đang dần dần được củng cố và mở rộng

Với thực tế như vậy, là một cán bộ công tác trực tiếp tại bộ phận Quan hệkhách hàng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thànhmột học viên cao học chuyên ngành: Kinh tế - Tài chinh - Ngân hàng của Học viện

Trang 8

Tài chính, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng

tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành” để hoàn

thành luận văn thạc sỹ kinh tế của mình

2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý thuyết và thực tiễn hoạt động chovay của ngân hàng thương mại Luận văn đã phân tích vai trò, sự cần thiết của pháttriển cho vay tiêu dùng và thực tiễn phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành thời gian qua để thấy được nhữngnhân tố tích cực và kìm hãm sự phát triển Từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển,nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam -Chi nhánh Hà Thành trong thời gian tới

3 Phương pháp nghiên cứu:

Vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, logic trong kháiquát tổng quan và luận giải vấn đề kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh vàvận dụng các bảng biểu, sơ đồ phân tích

4 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận Luận văn gồm 03 Chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của

Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát

triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành.

Trang 9

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động của Ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nềnkinh tế Hệ thống ngân hàng hiện nay được chia làm 2 bộ phận chính: Ngân hàngTrung ương (NHTW) và các ngân hàng trung gian Bộ phận lớn nhất trong nhómcác Ngân hàng trung gian là hệ thống Ngân hàng thương mại (Commercial bankingsystem) Với chức năng trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại (NHTM) làmột thiết chế kinh doanh chuyên việc đưa những người cho vay và đi vay gặpnhau Nói cách khác, các NHTM là trung gian tài chính vì nó chuyển hoá nhữngkhoản tiền tiết kiệm, tài sản chưa sử dụng của một số bộ phận nhân dân này đến taynhững bộ phận nhân dân khác đang cần vay để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng

Hình 1.1 : NHTM là trung gian tài chính

(Nguồn: Tiền và hoạt động NH của Lê Vinh Danh – NXBCT Quốc Gia – Hà nội 1996)

NHTM là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đềugửi tiền tại ngân hàng NHTM đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội Thu

Tiền tiết kiệm

TS chưa sử dụng

- Sản xuất kinh doanh thiếu vốn

- Chính quyền, người nước ngoài thiếu tiền

Trả lãi

Tiền gửi

Cho vay

Trang 10

nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Ngân hàng

là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và mộtphần đối với Nhà nước Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chứccung cấp cho vay để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhàmáy, mua sắm trang thiết bị Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toáncho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻcho vay hay tài khoản điện tử Khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tàichính, họ thường đến các ngân hàng để nhận được lời tư vấn Các khoản cho vaycủa ngân hàng cho Chính phủ (thông qua mua các chứng khoán của Chính phủ) lànguồn tài chính quan trọng để đầu tư chứng khoán

NHTM là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất, thựchiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là một kênh quantrọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm bảo đảm cho nền kinh tế vậnđộng nhịp nhàng và hữu hiệu

1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại.

Sự ra đời của các NHTM đã đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của nềnkinh tế NHTM thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau Ngân hàng tạolập nguồn vốn của mình từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới các hìnhthức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi phát séc Theo thời gian,hoạt động huy động vốn của NHTM cũng phong phú hơn như có thêm hình thứcvay vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước bằng cách chủ động pháthành kỳ phiếu hay trái phiếu ngân hàng Ngoài ra, NHTM còn được vay vốn từ cácNHTM khác, vay nước ngoài, vay Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái cấpvốn và tái chiết khấu

Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng vốn đó để chovay, đầu tư và thực hiện hoạt động ngân quỹ Hoạt động ngân quỹ của ngân hàng lànhằm bảo đảm khả năng chi trả hoặc thanh toán thường xuyên cho khách hàng.Thông qua việc đầu tư trở lại cho nền kinh tế, ngân hàng sẽ hỗ trợ cho nhu cầu chitiêu hàng hoá, dịch vụ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật làm tăng năng suất laođộng, nâng cao mức sống xã hội Nghiệp vụ sử dụng vốn, cho vay là hoạt động chủyếu và cũng là nguồn mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng Bên cạnh đó, đầu

tư cũng là hoạt động mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, theo đó, ngân hàng sẽ sử

Trang 11

dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào các chứng khoán mà ngân hàng lựa chọn.Các hình thức cho vay và đầu tư hết sức đa dạng, tuỳ theo các tiêu thức mà người taphân chia chúng thành nhiều loại khác nhau

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động thanh toán quangân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng Đây là hoạt động đang dần chiếm tỷtrọng lớn trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng Ở các nước phát triển, hầu hết cáchoạt động thanh toán, chi trả của công chúng đều được thực hiện qua hệ thống ngânhàng Các hoạt động thanh toán dùng tiền mặt chỉ phục vụ cho những nhu cầu muasắm với giá trị nhỏ Hình thức thanh toán qua ngân hàng vừa là nhu cầu, vừa làthách thức cho các quốc gia đang phát triển đang, trong quá trình hội nhập với nềnkinh tế thế giới

Trong các hoạt động cơ bản kể trên của NHTM thì hoạt động cho vay đóng vaitrò chủ chốt, thể hiện khả năng của các ngân hàng trong việc tìm kiếm lợi nhuận

1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm, phân loại

Cho vay ngân hàng là quan hệ cho vay bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng,một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức và

cá nhân trong xã hội

Hoạt động cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế vì nó chính lànguồn hỗ trợ cho yêu cầu phát triển, đáp ứng vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạtkịp thời, khắc phục nhược điểm của các hình thức cho vay khác trong lịch sử Cho vay là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Lãi suất thuđược từ cho vay sẽ dùng để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dữ trữ, chi phí kinhdoanh, chi phí quản lý, chi phí thuế và các khoản chi phí khác Với vai trò quantrọng như vậy, NHTM đã có nhiều hình thức cho vay khác nhau để đáp ứng nhu cầucủa các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất

Có nhiều cách phân loại cho vay khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng

và mục tiêu quản lý của ngân hàng Sau đây là một số cách phân loại:

a Theo thời gian: gồm 2 loại:

 Cho vay ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống

 Cho vay trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm

 Cho vay dài hạn: Trên 5 năm

Trang 12

Thời hạn cho vay thường được xác định cụ thể và ghi trong hợp đồng cho vay,

là thời hạn trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản cho vay Việcphân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng vì thời gian liên quan mật thiết đếntính an toàn và sinh lợi của cho vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng

b Theo hình thức gồm:

Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàngtương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sởhữu một thương phiếu chưa đến hạn Phần thu nhập của ngân hàng được tính toándựa trên lãi suất chiết khấu và thời hạn của thương phiếu Vì vậy về bản chất nghiệp

vụ thì chiết khấu là hoạt động cho vay

Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phảihoàn trả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định và một kế hoạch nhất định

Bảo lãnh: là việc cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng củamình Mặc dù chưa phải cho vay khách hàng bằng tiền ngay nhưng vì khách hàng

sử dụng uy tín của ngân hàng nên ngân hàng cũng tiến hành thẩm định hồ sơ củakhách hàng như một món vay trong đó xác định mức tối đa mà ngân hàng chấpnhận bảo lãnh cho khách hàng là bao nhiêu

Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuêtheo những thoả thuận nhất định Thông thường trong đó thường quy định rõ thờigian thuê là bao nhiêu, số tiền thuê trả hàng tháng là bao nhiêu và sau thời gian thuêkhách hàng có mua lại tài sản đó hay không Các ngân hàng trên thực tế không trựctiếp thực hiện việc cho thuê tài sản mà thường là nghiệp vụ của các công ty cho thuêtài chính Hợp đồng cho thuê tài sản thường được ký dài hạn tương tự như khoảncho vay trung và dài hạn mà tổ chức tài chính cung cấp cho khách hàng

c Theo tài sản bảo đảm:

Tài sản đảm bảo ở đây được coi như là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợthứ nhất không được đảm bảo chắc chắn gồm 2 loại:

 Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là việc cho vay không có tài sản thếchấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, mà việc cho vay chỉdựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thựctrong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, ngân hàng có thể cấp cho vay dựa vào

uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung

Trang 13

 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảođảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ

ba Khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải cóbảo đảm

d Theo mức độ rủi ro

Các ngân hàng khác nhau, ở các quốc gia khác nhau, cho vay cũng được phânchia theo mức độ rủi ro khác nhau Theo thông lệ quốc tế, các khoản cho vay sẽđược sẽ được chia thành 5 loại tuỳ theo mức độ rủi ro

 Nợ bình thường: là các khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có đủ khảnăng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn

 Nợ đặc biệt lưu ý: là các khoản nợ được tổ chức cho vay đánh giá là có khảnăng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng bị suy giảm khả năngtrả nợ

 Nợ dưới tiêu chuẩn: là các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khảnăng thu hồi nợ gốc và lãi đến hạn khi các khoản nợ này đáo hạn Các khoản nợ nàyđược các TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

 Nợ nghi ngờ: là các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổnthất cao

 Nợ coi như mất: gồm các khoản nợ được các TCTD đánh giá là không cònkhả năng thu hồi

Việc phân loại các nhóm nợ này cũng rất linh hoạt và phụ thuộc vào đánh giácủa các tổ chức cho vay vào mức độ rủi ro của khoản vay Một khoản vay nếu đượcđánh giá tốt hơn có thể được chuyển và xếp hạng cho vay ở nhóm có mức độ rủi rothấp hơn đồng thời TCTD cũng có thể xếp hạng một khoản cho vay đang ở nhómhạng rủi ro thấp hơn xuống nhóm hạng cho vay rủi ro cao hơn nếu TCTD đó đánhgiá và có đầy đủ cơ sở cho việc xếp hạng rủi ro khoản vay đó ở mức độ cao hơn.Các khoản nợ nghi ngờ hoàn toàn không phải là các khoản nợ xấu Việc phânloại và tách ra nợ nghi ngờ nhằm phản ánh mức độ rủi ro hơn của những khoản nợnày so với các khoản nợ tổn thất

Phân loại nợ theo tiêu thức này là cơ sở để ngân hàng có thể chủ động đánhgiá được mức độ rủi ro của danh mục cho vay của mình từ đó có những chính sáchquản trị điều hành hoạt động cho vay thích hợp

Trang 14

Ở Việt Nam hiện nay, các tiêu chuẩn để phân mức rủi ro và phân loại nợ đãđược điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế Phương thức phân loại nợ mới nhấthiện nay của Việt Nam được thể hiện và thống nhất trong quyết định số493/2005/QĐ-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày22/04/2005.

e Theo ngành kinh tế

Hoạt động cho vay cũng có thể được phân chia theo ngành nghề kinh tế nhưXây dựng, Nông nghiệp, Thương mại, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương mại vàdịch vụ

Trong hoạt động cho vay, một trong những nội dung cực kỳ quan trọngchính là quản lý được rủi ro cho vay Việc thống kê dư nợ cho vay theo tiêu thứcngành nghề có ý nghĩa giúp ngân hàng kiểm soát được danh mục cho vay theongành nghề, từ đó có những điều chỉnh danh mục cho vay theo ngành nghề thíchhợp, phù hợp với định hướng hoạt động của ngân hàng và xu hướng phát triểncủa nền kinh tế

f Theo phương pháp hoàn trả: gồm 2 loại:

 Cho vay có thời hạn cụ thể: là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả

nợ cụ thể theo hợp đồng Cho vay có thời hạn bao gồm: cho vay chỉ có một kỳ hạntrả nợ (phi trả góp), cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể (trả góp), cho vay hoàntrả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể

 Cho vay không có thời hạn cụ thể: là loại cho vay mà ngân hàng cóthể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báotrước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng

g Theo đối tượng khách hàng:

Phân loại cho vay theo đối tượng khách hàng là cách phân loại đang được cácngân hàng sử dụng hiện nay Việc phân loại theo hình thức này tạo điều kiện chocác Ngân hàng tìm được đối tượng khách hàng phù hợp với ngân hàng mình và xâydựng chính sách marketing, chính sách khách hàng sao cho hiệu quả nhất Ngânhàng phân đối tượng khách hàng thành hai loại: khách hàng là doanh nghiệp, các tổchức khác và khách hàng là cá nhân

 Cho vay Doanh nghiệp: là các khoản cho vay để đáp ứng nhu cầuthiếu hụt về vốn của các doanh nghiệp và tổ chức trong quá trình sản xuất kinh

Trang 15

1.1.2.2 Các quy định trong cho vay của Ngân hàng thương mại

Các Ngân hàng thương mại khi cho vay đối với khách hàng đều phải tuân thủđúng các quy định trong cho vay như sau:

a Nguyên tắc cho vay:

Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồngtín dụng

b Điều kiện cho vay:

Có đủ năng lực pháp lý

Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

Có Dự án đầu tư/ phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệuquả; Dự án đầu tư/ phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với các quy địnhpháp luật

Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ vàhướng dẫn của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

c Bảo đảm tiền vay: Bảo đảm tiền vay là việc Tổ chức tín dụng áp dụng các

biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi đượckhoản nợ đã cho khách hàng vay

Các biện pháp:

Bảo đảm bằng tài sản:

Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay

Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay

Bảo đảm không bằng tài sản:

Trang 16

Tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản (tín chấp)

Điều kiện của tài sản bảo đảm :

Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý của kháchhàng vay, bên bảo lãnh

Tài sản được phép giao dịch: Tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấmmua, bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và cácgiao dịch khác

Tài sản không có tranh chấp: Tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữuhoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay, bên bảo lãnh tại thời điểm ký kếtHợp đồng bảo đảm

Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay, bênbảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay

1.1.2.3 Quy trình cho vay của Ngân hàng thương mại

Quy trình cho vay là trình tự tổ chức thực hiện các nội dung cơ bản của kỹthuật nghiệp vụ cho vay của ngân hàng từ khi phát sinh đến khi kết thúc một mónvay Việc áp dụng quy trình cho vay tốt sẽ giúp ngân hàng thực hiện được mộtkhoản vay có chất lượng và đạt hiệu quả như mong muốn

Quy trình cho vay gồm các bước như sau:

- Hướng dẫn khách hàng về điều kiện cho vay và lập hồ sơ vay vốn

- Điều tra, thu thập, tổng hợp các thông tin về khách hàng và phương án vay vốn

- Phân tích thẩm định khách hàng và phương án vay vốn

- Quyết định cho vay

- Kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản bảo đảm (hồ sơ tàisản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh)

- Phát tiền vay

- Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay

- Thu hồi nợ và gia hạn nợ

- Xử lý rủi ro xảy ra

- Thanh lý hợp đồng cho vay

1.2 CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng (CVTD) là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi

Trang 17

tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là một nguồn tàichính quan trọng giúp cho những người này trang trải về nhà ở, đồ dùng, gia đình

và xe cộ Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng cóthể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng

Ngoài những đặc điểm vốn có của cho vay ngân hàng nói chung thì cho vaytiêu dùng có một số đặc điểm riêng khác của nó:

Đối tượng vay: là cá nhân và các hộ gia đình.

Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình, không

xuất phát từ mục đích kinh doanh Do đó phụ thuộc vào nhu cầu của từng kháchhàng và chu kỳ kinh tế của họ

Quy mô của mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn:

Khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, đối với những hàng hoá thông thườngthì giá cả của nó không quá cao, còn đối với những loại hàng hoá có giá trị lớn nhưbất động sản (nhà cửa), động sản (ô tô) thì khách hàng cũng đã tích luỹ từ trước vàngân hàng chỉ cho vay bổ sung phần thiếu hụt vì vậy so với các món vay kinh doanhthì những món vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ hơn rất nhiều

Tuỳ vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội dẫn đến số lượng những khoảnvay tiêu dùng là lớn hay nhỏ Khi nền kinh tế phát triển thu nhập của người dân có

xu hướng gia tăng, nhu cầu tiêu dùng của họ cũng tăng theo và họ đã tìm đến ngânhàng để thoả mãn ngay các nhu cầu hiện tại và ngược lại khi nền kinh tế suy yếu,người dân có xu hướng tiết kiệm hơn tiêu dùng nên họ sẽ hạn chế tìm kiếm cáckhoản vay từ ngân hàng

Lãi suất của khoản vay ít co dãn:

Lãi suất CVTD thường được cố định, không linh hoạt như các khoản vay kinhdoanh khác Thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn làlãi suất mà họ phải chịu vì: một mặt, đối với người tiêu dùng, giá trị (lợi ích) đượcthoả mãn lớn hơn rất nhiều chi phí bỏ ra để thoả mãn những lợi ích đó, mặt kháckhoản vay nhỏ và được trả trong nhiều kỳ nên tiền lãi phải trả thường thay đổikhông nhiều

Các khoản CVTD có chi phí cao:

Nếu xét về số lượng thì CVTD gồm rất nhiều những món vay nhỏ mặc dù nếutính tổng dư nợ thì chỉ bằng một vài khoản vay lớn tuy nhiên ngân hàng vẫn phải

Trang 18

thực hiện đầy đủ đúng quy trình cho từng món vay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, tìm hiểuthông tin về khách hàng, thẩm định khách hàng mà không được phép bỏ sót mộtkhâu nào, những điều này làm mất rất nhiều thời gian và việc thực hiện một khoảnvay rất tốn kém, chiếm một khoản mục chi phí lớn của ngân hàng và lãi suất cho vaytiêu dùng thường cao hơn các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.

Các khoản CVTD có độ rủi ro cao

Về cơ bản thì hoạt động cho vay là hoạt động rủi ro nhất trong hoạt độngngân hàng tuy nhiên, loại hình cho vay tiêu dùng còn rủi ro hơn so với cho vay phục

vụ hoạt động sản xuất kinh doanh

- Rủi ro khách quan: suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, bệnh tật gây ranhững biến động lớn trong thu nhập của khách hàng Ngoài ra, CVTD có tính nhạycảm theo chu kỳ Nó tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế phát triển và giảm đi khi nềnkinh tế suy thoái, lạm phát giá cả tăng cao, tình trạng thất nghiệp tăng khiến ngườidân hạn chế vay mượn ngân hàng

- Rủi ro chủ quan: tình trạng công việc như mức thu nhập, trình độ học vấnảnh hưởng đến tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng, chất lượngcác thông tin tài chính của khách hàng không cao, nguồn trả nợ của người đi vay cóthể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm của

họ Ngoài ra, rủi ro về mặt đạo đức của người vay khi không có thiện chí trong việctrả nợ, đặc biệt là các khoản CVTD tín chấp không có tài sản đảm bảo

1.2.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng

CVTD được các ngân hàng nghiên cứu đưa ra nhiều hình thức cho vay khácnhau để một mặt thu hút khách hàng tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng lên, hai

là đem lại hiệu quả cho vay cao nhất Cho nên có rất nhiều tiêu thức phân loạiCVTD:

a Căn cứ vào mục đích vay

Cho vay tiêu dùng cư trú (residential morage loan) : đó là

các khoản cho vay phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cánhân, hộ gia đình Những khoản cho vay này thường có thời gian cho vay dài, quy

mô khoản vay lớn… khoản cho vay dài nên ổn định, và thu nhập cao Thường thìcác ngân hàng ưa chuộng cấp loại cho vay này hơn CVTD không cư trú

Cho vay tiêu dùng không cư trú (nonresidential morage

Trang 19

loan): đó là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm

phương tiện, đồ dùng, du lịch, học tập hoặc giải trí… đây chủ yếu là những khoảncho vay nhỏ lẻ, thời gian cho vay ngắn, nên lãi suất thường cao Những khoản vaynày không thường xuyên, rủi ro cao, các ngân hàng không ưa chuộng cho vay loạinày

b Căn cứ vào phương thức hoàn trả khoản vay

Phương thức trả nợ hợp lý sẽ đem lại sự hài lòng cho người đi vay đồng thờiđem lại hiệu quả cho khoản cho vay được cấp Ta có thể chia CVTD thành ba loại:

CVTD trả góp (Installment consumer loan): đó là khoản CVTD mà hình

thức trả nợ là hàng kỳ hạn nhất định người đi vay trả cho ngân hàng một khoản nợ(trong đó bao gồm cả gốc lẫn lãi) theo sự thoả thuận trong hợp đồng Phương thứcnày thường áp dụng cho khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ người đivay không đáp ứng hoàn trả ngay khoản nợ

Thông thường đối với hình thức cấp cho vay này ngân hàng thường chú ý đếnmột số vấn đề sau:

- Loại tài sản ngân hàng tài trợ: Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốthơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiếu đối với khách hàngtrong tương lai Nếu tài sản khách hàng mua về có giá trị sử dụng lâu dài, và hữu íchthì khách hàng sẽ nhiệt tình hơn trong việc trả nợ Cho nên khi lựa chọn loại tài sản

để tài trợ khách hàng, ngân hàng thường lựa chọn loại đem lại giá trị hữu ích lâu dài

- Số tiền khách hàng trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu kháchhàng trả trước một phần giá trị tài sản khi mua sắm - số tiền này gọi là số tiền trảtrước (hay gọi là vốn tự có của khách hàng), phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay Sốtiền trả trước đủ lớn nhằm một mặt người đi vay họ ý thức được họ sở hữu tài sảnnày, một mặt giảm độ rủi ro xuống cho ngân hàng, tuỳ vào loại tài sản tài trợ màngân hàng yêu cầu khách hàng trả trước phần trăm giá trị tài sản

- Chi phí tài trợ: là số tiền người đi vay phải trả cho ngân hàng khi nhận

số tiền cho vay của ngân hàng Chính là lãi suất vay và các chi phí phát sinh khác

- Điều khoản thanh toán: trước khi cấp cho vay ngân hàng thường phảithoả thuận với khách hàng số tiền khách hàng phải trả định kỳ, thời hạn cho vaykhông quá dài, phương pháp tính lãi, cách thức phân bổ lãi theo thời gian, nếukhách hàng trả nợ trước hạn ngân hàng sẽ xử lý thế nào…

CVTD phi trả góp (Noninstallment consumer loan): theo phương thức

này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn

Trang 20

Thường thì các khoản CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trịnhỏ với thời gian không dài.

CVTD tuần hoàn (Revoloving consumer credit): ngân hàng cấp cho

khách hàng một thẻ cho vay hoặc séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãnglai Với hình thức này ngân hàng cho khách hàng thực hiện vay và trả nợ nhiều kỳmột cách tuần hoàn, theo một hạn mức nhất định căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thunhập kiếm được từng kỳ của khách hàng

c Căn cứ vào nguồn gốc hoàn trả khoản vay

NHTM không chỉ gặp khách hàng trực tiếp để cho vay mà ngân hàng có thểthông qua một trung gian để thực hiện cấp cho vay, miễn là khoản cho vay an toàn

CVTD gián tiếp (Indrect consumer loan): ngân hàng thực hiện mua

các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụcho người tiêu dùng

Hình thức cho vay này giúp ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay, màkhông tốn nhiều công sức và chi phí khi cho vay trực tiếp Đồng thời qua đó ngânhàng có thể tiếp cận một số khách hàng mới không phải do ngân hàng mình khaithác ra Nhưng ngân hàng không thể kiểm soát được khoản cho vay mình cấp vìkhông phải là người trực tiếp cấp khoản cho vay, có thể gây bất lợi cho ngân hàngkhi người bán hàng thực hiện bán chịu mà không suy xét rõ ràng độ an toàn củakhách hàng, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cho vay Cho nên khi thực hiện cấp theohình thức cho vay này ngân hàng thường phải yêu cầu một phần trách nhiệm củabên bán hàng một phần khi cho khách hàng nợ, để giảm độ rủi ro xuống

CVTD trực tiếp (Direct consumer loan): Ngân hàng tham gia trực

tiếp vào cho vay và thu nợ Với hình thức này ngân hàng tận dụng được năng lựcchuyên môn của cán bộ cho vay trong công tác thẩm định khách hàng, nên độ antoàn cao hơn cấp cho vay gián tiếp vì cán bộ cho vay được đào tạo chuyên sâu đểthẩm định năng lực khách hàng, độ an toàn của khách hàng khi cho vay Ngân hàngthường ưa chuộng hình thức cho vay này hơn

1.2.3 Sự cần thiết phát triển cho vay tiêu dùng

Trong xu hướng vận động, phát triển và mở cửa hội nhập hiện nay tại ViệtNam, bên cạnh với sự ra đời của một loạt các ngân hàng thương mại cổ phần là sựtham gia của các “đại gia” trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trên thế giới khiến sự

Trang 21

cạnh tranh nhằm xác định và chiếm giữ phân đoạn thị trường giữa các ngân hàngdiễn ra hết sức sôi động Xác định các nguồn thu từ hoạt động cho vay sẽ ngày càng

bị hạn chế và gặp nhiều khó khăn, trong khi đó thị trường ngân hàng bán lẻ mới chỉchiếm từ 6-12% trong tổng doanh thu của các ngân hàng Việt Nam (tỷ lệ này tại cácnước phát triển là khoảng 50%) sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ nhằm thoả mãnđầy đủ nhất nhu cầu ngày càng lớn của trên 80 triệu dân Việt về sản phẩm, dịch vụngân hàng

Thị trường ngân hàng bán lẻ ngày càng phát triển cả về quy mô và đa dạng vềsản phẩm, nhiều sản phẩm dịch vụ mới ra đời với nhiều tiện ích trong cho vay vàphi cho vay như các loại hình thẻ cho vay, ghi nợ, mua hàng, dịch vụ thấu chi tàikhoản, cho vay mua nhà trả góp, xe hơi, cho vay đi du học, … So với khoảng 3000sản phẩm dịch vụ bán lẻ tại thị trường nước ngoài thì số lượng các sản phẩm dịch

vụ bán lẻ hiện đang cung ứng trên thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất khiêm tốn,đây chính là một thách thức, khó khăn đồng thời là một cơ hội cho các NHTM nóichung và BIDV nói riêng trong quá trình phát triển, giới thiệu và cung ứng các sảnphẩm tới khách hàng Việc đa dạng hóa sản phẩm bán lẻ là một trong những biệnpháp chính yếu tạo thuận lợi cho việc triển khai sản phẩm ra thị trường Với từngnhu cầu, đối tượng khách hàng có các sản phẩm phù hợp cũng như các sản phẩmphái sinh, các sản phẩm bán chéo giữa các bộ phận trong ngân hàng Chẳng hạn vớisản phẩm thẻ nội địa khách hàng có thẻ rút tiền mặt, thanh toán hàng hoá, dịch vụ,vấn tin tài khoản, chuyển khoản, sử dụng nhiều sản phẩm như cho vay qua dịch vụthấu chi, bảo hiểm và đặc biệt là gửi tiền qua máy ATM là biện pháp khuyến khích,giữ chân và mời gọi khách hàng sử dụng, gia tăng sử dụng sản phẩm dịch vụ củangân hàng Với danh mục sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng hiện tại của hệ thốngngân hàng, các ngân hàng nhận thấy cần tăng nguồn chi phí vào công tác nghiêncứu, phát triển và đa dạng hóa các dòng sản phẩm, dịch vụ của mình, xây dựng vàcủng cố, chuyên nghiệp hóa bộ phận nghiên cứu phát triển các sản phẩm dịch vụ đểtập trung nghiên cứu đưa ra được các sản phẩm hiện đại, có nhiều tiện ích đáp ứngđược nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

Trước thực trạng cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, các NHTMcũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào đều phải tập trungnguồn lực để hoàn thiện và đa dạng hoá các sản phẩm của mình nhằm thu hút khách

Trang 22

hàng Sản phẩm cho vay tiêu dùng được đưa ra không chỉ đem lại lợi ích cho cácNHTM, cho khách hàng mà còn có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng vàphát triển Thực tế cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới chỉ số tiêu dùng được coi làdấu hiệu chủ chốt của tăng trưởng kinh tế trong trung hạn Mức tiêu dùng phản ánh

kỳ vọng về thu nhập tương lai của dân cư Nó là động lực là cầu chi trả về hàng hoá,dịch vụ cho sản xuất kinh doanh Ngay cả các nhu cầu tiêu dùng về ôtô, nhà ở, đồgia dụng, thậm chí mỹ phẩm cũng liên quan mật thiết với nhau không thể tách rờithu nhập kỳ vọng và đó là động lực của sản xuất Vì vậy cho vay tiêu dùng từ lâuđược coi là một phần quan trọng của ngân hàng bán lẻ (phần quan trọng nhất).Thậm chí theo Pete Drugger cho vay tiêu dùng là cứu cánh của Ngân hàng thươngmại từ thập niên 70, khi mà cho vay doanh nghiệp bị cạnh tranh khốc liệt bởi cáccông ty tài chính, các quỹ đầu tư và thị trường chứng khoán Khảo sát của tập đoàn

tư vấn BCG cũng cho thấy mặc dù cho vay tiêu dùng chỉ chiếm 30-35%/tổng dư nợnhưng tạo ra trên 60% lợi nhuận của các NHTM hàng đầu Châu Á Lý do rất đơngiản, cạnh tranh khốc liệt đã khiến cho vay doanh nghiệp có mức sinh lời ngày cànggiảm, trái lại cho vay tiêu dùng đang có tốc độ tăng mạnh mẽ Đối với dân cư, đặcbiệt là thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, họ không thể đợi đến khi già mới tiết kiệm

đủ tiền để mua nhà, mua ô tô và các đồ dùng gia đình khác Cho vay tiêu dùng giúp

họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những

gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc Do vậy, các ngân hàng cần quantâm và chú trọng mở rộng cung cấp và phát triển sản phẩm dịch vụ này

Phát triển cho vay tiêu dùng là quá trình tăng trưởng hoạt động cho vay trên

cả hai phương diện định lượng (Doanh số, dư nợ, sản phẩm, cơ cấu cho vay vàkhách hàng cho vay) và định tính (chất lượng cho vay, uy tín, danh tiếng) qua đó

bổ sung và làm tăng lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay và đảm bảo mức

• Phát triển cho vay tiêu dùng là động lực thúc đẩy các sản phẩm cho vay

Trang 23

khác và các sản phẩm dịch vụ khác trong ngân hàng thương mại đặc biệt là lĩnh vựcthanh toán và huy động vốn.

• Hiện nay các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng tỷ lệ thu nhập từ cáchoạt động dịch vụ trên tất cả các hoạt động thanh toán, huy động vốn và cho vayđặc biệt tập trung vào sản phẩm cho vay tiêu dùng vì đây vẫn là mảng dịch vụ giữvai trò cốt lõi trong quá trình phát triển ngân hàng và cho vay tiêu dùng cũng làphương tiện tốt nhất để hỗ trợ các dịch vụ khác của ngân hàng

• Đối với các ngân hàng mới thành lập hay chi nhánh ngân hàng mới thànhlập hay thâm nhập vào một địa bản mới, sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn.nhưng cho vay vẫn giữ vai trò cốt lõi trong quá trình phát triển ngân hàng và chovay tiêu dùng ngày nay phát huy được tối đa trong việc khai thác các dịch vụ đikhác kèm của ngân hàng Theo thống kê thì đến 90% số khách hàng đang sử dụngdịch vụ ngân hàng đều ít nhiều liên quan tới hoạt động cho vay tiêu dùng và ngượclại 100% số khách hàng có quan hệ cho vay với ngân hàng thì đều sử dụng thêm cácdịch vụ mà ngân hàng cung cấp Cùng với sự phát triển mạng lưới và đổi mới côngnghệ các ngân hàng đều tiến tới chiến lược phát triển các dịch vụ mới hiện đại Pháttriển cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng đóng vai trò to lớn góp phần quyếtđịnh sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của ngân hàng đó trên địa bàn

Như vậy, phát triển CVTD được hiểu là sự tăng trưởng hoạt động cho vay về

cả chiều rộng và chiều sâu Yêu cầu của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranhquyết liệt trong hoạt động tài chính cho vay hiện nay buộc các ngân hàng phải xemxét phát triển sản phẩm cho vay này một cách thận trọng và hiệu quả Phát triển chovay tiêu dùng hiện nay không chỉ tập trung vào tăng trưởng quy mô cho vay, quảntrị và điều hành cho vay an toàn, hiệu quả sinh lời cao nhất mà còn hướng tới pháttriển khách hàng, tập trung vào nâng cao chất lượng cấp cho vay, đa dạng các sảnphẩm cho vay phù hợp với các nhu cầu và các đối tượng khác nhau Một nền kháchhàng tốt, hoạt động thường xuyên, có uy tín và có hiệu quả chính là cơ sở tốt cho sựtăng trưởng về quy mô và là điều kiện tiên quyết cho việc đảm bảo an toàn hoạtđộng cho vay cho ngân hàng Muốn vậy, ngân hàng phải có sự đầu tư thích đángcho công tác khách hàng Ngân hàng phải xác định được đối tượng hướng tới từ đó

có chính sách thu hút thích hợp Việc nâng cao chất lượng dịch vụ cấp cho vay hay

đa dạng các sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tối đa nhu cầu của khách hàng phục

Trang 24

vụ là cần thiết Cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng càng thúc đẩy các ngânhàng không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, phát triển sản phẩm hiện có Nhiềungân hàng đã đưa ra cam kết cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng cho khách hàng vớithủ tục đơn giản và nhanh chóng Những khoản vay tiêu dùng hiện nay chỉ mất tối

đa 3-5 ngày để hoàn tất đầy đủ các thủ tục cấp cho vay cho khách hàng Các thủ tục

về cho vay tiêu dùng hiện nay đều được đơn giản hoá tối đa và được niêm yết côngkhai về trình tự và thời gian thực hiện Các ngân hàng đều có những đầu tư thíchđáng cho công nghệ hiện đại và đưa vào áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượngnhằm sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tốt nhất Sản phẩm cho vaytiêu dùng ngày nay rất phổ biến và là xu thế phát triển tất yếu của mô hình ngânhàng bán lẻ hiện đại theo đó ngoài hợp đồng cho vay cam kết thì tuỳ vào loại sảnphẩm dịch vụ khác nhau những người dùng khác nhau sẽ có những đối xử khácnhau phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng, hoặc ngân hàng sẽ đưa thêm các dịch

vụ gia tăng vào sản phẩm cho vay của mình, phát triển cho vay gắn liền với pháttriển các dịch vụ gia tăng khác

CVTD có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối vớicác chủ thể tham gia nói riêng

1.2.3.1 Đối với sự phát triển của nền kinh tế

Ngoài những chức năng vai trò chung của cho vay ngân hàng, CVTD còn cóvai trò quan trọng trong việc kích cầu từ đó tạo yếu tố kích thích sản xuất phát triểngóp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ biện chứng không tách rời nhau đặc biệttrong nền kinh tế thị trường hiện nay Quá trình tuần hoàn từ sản xuất tới tiêu dùng

là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, sự tiến bộ xã hội Các doanhnghiệp sản xuất hàng hoá tư liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng phải đáp ứng nhucầu xã hội, hàng hoá đó phải có khả năng tiêu thụ, từ đó doanh nghiệp có doanh thu

và lợi nhuận, tạo điều kiện tái sản xuất giản đơn và mở rộng, tăng năng lực sản xuấtcủa doanh nghiệp trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo Nhiều doanh nghiệp làmđược như vậy làm tăng sức sản xuất của cả nền kinh tế Người tiêu dùng tạo ra cầucác sản phẩm hàng hoá của nhà sản xuất Xuất phát từ những nhu cầu tiêu dùng của

cá nhân hay hộ gia đình, các nhà sản xuất có cơ sở đưa ra các quyết định sản xuấtkinh doanh và tiêu thụ hàng hoá

Trang 25

Cầu về một sản phẩm hàng hoá dịch vụ nào đó là nhu cầu có khả năng thanhtoán hàng hoá dịch vụ đó Trong thực tế nhu cầu của con người là vô hạn nhưng khảnăng thanh toán chi trả lại hữu hạn Có thể trong thời điểm hiện tại họ chưa có khảnăng thanh toán nhưng đến một thời điểm trong tương lai họ sẽ có đủ điều kiện chitrả cho sản phẩm dịch vụ họ có nhu cầu CVTD sẽ giúp họ tiêu dùng ở hiện tại vàthanh toán trong tương lai, góp phần tăng sức mua của nền kinh tế, thúc đẩy nềnkinh tế phát triển.

CVTD có hiệu quả đảm bảo cho an sinh xã hội Đây là hệ quả gián tiếp củavai trò kích cầu, kích thích sản xuất, phát triển nền kinh tế của CVTD Sản xuất pháttriển, người lao động có điều kiện nâng cao thu nhập, các nhu cầu của cá nhân, hộgia đình ngày càng được thoả mãn tốt hơn bằng cách sử dụng hàng hoá dịch vụtrước khi có đủ thu nhập trang trải toàn bộ chi phí Qua đó kinh tế tăng trưởng,nguồn thu ngân sách Nhà nước được tăng cường, năng lực sản xuất ngày càng cao,chính phủ sẽ chủ động và thực hiện tốt hơn việc giải quyết công ăn việc làm, tăngthu nhập và phúc lợi xã hội cho người lao động, góp phần làm giảm tệ nạn xã hội

Do vậy, CVTD một khi đóng góp vai trò vào việc kích cầu tiêu dùng một cáchtrực tiếp, kích cầu đầu tư một cách gián tiếp cũng tức là góp phần làm tăng sức sảnxuất của nền kinh tế, làm xã hội ngày càng giàu mạnh

1.2.3.2 Đối với Ngân hàng thương mại

CVTD giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khảnăng huy động các loại tiền gửi từ dân cư cho ngân hàng Đối tượng khách hàngtrong CVTD là rất rộng, từ các cá nhân cho tới hộ gia đình nên khi CVTD được mởrộng, ngân hàng càng có điều kiện tiếp xúc quan hệ nhiều hơn tới các đối tượngkhách hàng khác nhau Tăng thêm được một khách hàng đồng nghĩa với tăng thêmlợi nhuận tiềm năng trong tương lai Có thể nói, huy động vốn là hoạt động đầu vàocủa ngân hàng, tạo ra khả năng tài chính tài trợ cho hoạt động đầu ra của ngân hàngnhư cho vay, đầu tư Để mở rộng quy mô hoạt động, tăng doanh thu thì tất yếu vốncủa ngân hàng phải tăng

Bên cạnh đó, CVTD tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hoá hoạt động kinhdoanh từ đó tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro Một nguyên tắc trong hoạt động ngânhàng đó là tránh bỏ trứng vào một giỏ Nếu không đa dạng hoá, khi rủi ro xảy ra

Trang 26

ngân hàng rất khó chống đỡ, dẫn tới phá sản, cả hệ thống bị ảnh hưởng vì hoạt độngngân hàng mang tính hệ thống rất cao.

1.2.3.3 Đối với khách hàng

Như trên đã nói, CVTD là một phương thức hữu hiệu để giải quyết những nhucầu cấp bách về vốn cho các cá nhân và hộ gia đình Thông thường thu nhập của cánhân và hộ gia đình có tính chất ổn định, thường xuyên nhưng trong cuộc sống cóthể phát sinh những sự việc ngoài dự kiến, kèm theo đó là nhu cầu về nguồn tàichính để phục vụ nhu cầu đó Chủ thể cung cấp nguồn tài chính này chính là cácđịnh chế tài chính trong đó NHTM đóng vai trò quan trọng nhất Công cụ để ngânhàng tài trợ cho các hoạt động này là thông qua CVTD

CVTD là phương thức góp phần cải thiện mức sống của người tiêu dùng khi

họ chưa có đầy đủ khả năng thanh toán ở thời điểm hiện tại Có một thực tế hiểnnhiên là của cải con người được tích luỹ theo thời gian, do vậy người ta chỉ có thểmua sắm những vật dụng, phương tiện sinh hoạt có giá trị cao khi đã lớn tuổi Tuynhiên tầng lớp thanh niên là những người có nhu cầu mua sắm cao nhưng chưa cótích luỹ nhiều Do vậy CVTD là phương thức hữu hiệu để giải quyết vấn đề này, kếthợp khéo léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu với yếu tố thời gian

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cho vay tiêu dùng

1.2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển cho vay tiêu dùng

a Các chỉ tiêu định tính

Sự phát triển cho vay tiêu dùng của một ngân hàng được xem xét, đánh giáqua một số chỉ tiêu định tính:

Chỉ tiêu phân tán rủi ro:

Đánh giá danh mục cho vay, thể hiện mức độ tập trung cho vay cho từngngành, từng khách hàng Yêu cầu quản trị rủi ro cho vay là phải phân tán rủi ro,tránh đầu tư tập trung, đồng thời phải có dự báo tình hình hoạt động các ngành lĩnhvực để có các quy định cho vay phù hợp Thông lệ quy định dư nợ tối đa đối vớimột khách hàng không quá 15% vốn tự có, ngoài ra có thể quy định mức dư nợ đốivới một nhóm khách hàng có liên quan nhau không quá 50% vốn tự có

Số lượng và chất lượng các sản phẩm cho vay

Sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các tổ chức tài chính cho vay và ngân hàng đã

Trang 27

thúc đẩy các tổ chức này nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới nhằm tạo ra sựkhác biệt hoặc lợi thế trong cạnh tranh Phát triển cho vay cũng dựa rất nhiều vào sốlượng và chất lượng các sản phẩm cho vay mà ngân hàng đó cung cấp Là một dịch

vụ truyền thống lâu đời của hệ thống ngân hàng nên các sản phẩm cho vay thường ít

có sự khác biệt và dễ bị bắt chước Một trong những biện pháp mà ngân hàngthường dùng hiện nay là cá biệt hóa từng hợp đồng cho vay theo đó cùng một sảnphẩm dịch vụ nhưng những người dùng khác nhau phù hợp với nhu cầu của từngđối tượng Như sản phẩm cho vay mua ôtô thì đối với doanh nghiệp là đầu tư nângcao năng lực sản xuất nhưng với cá nhân là tiêu dùng, hoặc ngân hàng sẽ cung cấpcác dịch vụ gia tăng vào sản phẩm cho vay của mình như cho vay vốn lưu động đểtrả lương cho nhân viên thì kèm theo đó là dịch vụ trả lương qua thẻ ATM cho từngcán bộ, hoặc đối với vay vốn lưu động các doanh nghiệp thì sẽ đi kèm theo dịch vụbảo lãnh, thanh toán

Quy mô và tổ chức bộ máy cho vay, trình độ nghiệp vụ

Hoạt động cho vay phát triển đồng nghĩa với ngân hàng có một đội ngũ cán bộ

có trình độ, chuyên nghiệp và nhiệt tình Hơn nữa, ngân hàng luôn phải duy trì vàphát triển một đội ngũ cán bộ đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàngkhi hoạt động cho vay được mở rộng Hoạt động cho vay phát triển đến một mứcnào đó sẽ dẫn tới sự phân công chuyên môn hóa và sự ra đời của các bộ phận hỗ trợcho vay đánh dấu mức độ chuyên môn hóa của hoạt động này

Chỉ tiêu về điều hành và quy chuẩn của quy trình cho vay

Trong điều hành hoạt động cho vay phải đảm bảo sự phân công rõ ràng về tráchnhiệm và quyền hạn, có quy trình kiểm tra giám sát hiệu quả, có đầy đủ con người và

tổ chức hợp lý Có cảnh báo rủi ro cho vay, độc lập đánh giá rủi ro cho vay

b Các chỉ tiêu định lượng

Chỉ tiêu đo lường quy mô cho vay

- Dư nợ cho vay: cho biết tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiệncòn cho vay bao nhiêu Đây là một chỉ tiêu thống kê thời điểm, vì vậy trong nhiềutrường hợp để so sánh và đánh giá mức độ phát triển cho vay giữa các thời kỳ khácnhau Chỉ tiêu dư nợ cho vay bình quân thường được sử dụng và nó mang nhiều ýnghĩa phân tích hơn

- Doanh số cho vay: là tổng số tiền ngân hàng cho vay ra trong một thời kỳ nhất

Trang 28

định không kể món cho vay đó đã thu hồi về hay chưa Đây là con số mang tính thời

kỳ thường theo tháng, quý hoặc năm phản ánh một cách khái quát nhất về hoạt độngcho vay trong năm tài chính Nếu trong năm doanh số cho vay của ngân hàng lớn, đạt

tỷ lệ cao và cao hơn so với năm trước có nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàngđang được mở rộng Cũng như vậy, doanh số CVTD là tổng số tiền ngân hàng chocác khách hàng là cá nhân và hộ gia đình vay với mục đích tiêu dùng tính trong mộtthời kỳ nhất định Chỉ tiêu này gồm hai chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối

Chỉ tiêu này càng lớn phản ánh sự tăng trưởng cho vay tiêu dùng nhanh Tuynhiên sự tăng trưởng này phải phù hợp với tình hình cho vay của ngân hàng trongtừng thời kỳ

- Doanh số thu nợ: Doanh số thu nợ cũng được tính trong một thời kỳ nhấtđịnh thường là một năm tài chính Nó phản ánh lượng vốn thực tế mà khách hàngtrả nợ cho ngân hàng và được tính theo phương pháp cộng dồn Doanh số thu nợphụ thuộc vào kỳ hạn trả nợ, gồm hai chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối

- Quy mô khách hàng cho vay: Cũng giống như các hoạt động dịch vụ khác,việc có một cơ sở khách hàng tốt và phát triển ổn định cũng thể hiện sự phát triểncủa hoạt động dịch vụ đó Đối với hoạt động cho vay, quy mô khách hàng thườngđược đo lường theo chỉ tiêu khách hàng cho vay cá nhân và khách hàng cho vaydoanh nghiệp Thông thường quy mô khách hàng cho vay doanh nghiệp có sự tăngtrưởng chậm nhưng ổn định trong khi đó, quy mô khách hàng cho vay cá nhânthường phải có một tốc độ tăng trưởng cao

- Thị phần cho vay tiêu dùng: Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng hiện chiếm lĩnhbao nhiêu thị phần cho vay tiêu dùng trong tổng số Dư nợ cho vay tiêu dùng của cácngân hàng trên một khu vực địa lý (tỉnh, thành phố, cả nước ) Mở rộng cho vaytiêu dùng khiến thị phần cho vay tiêu dùng của ngân hàng tăng lên bao nhiêu Việctính toán chỉ tiêu này tương đối phức tạp vì cần sự tổng hợp số liệu của tất cả cácngân hàng Tuy nhiên, việc so sánh tương đối giữa các ngân hàng với nhau phảnánh được sự mở rộng của cho vay tiêu dùng của từng ngân hàng

Chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay

Hoạt động cho vay của một ngân hàng phát triển không chỉ dựa trên sự pháttriển về quy mô mà bên cạnh đó ngân hàng cần phát triển chất lượng và hiệu quả

Trang 29

hoạt động cho vay qua từng thời kỳ Đây là một yếu tố quan trọng đối với mọi ngânhàng vì phản ánh mức độ rủi ro mà ngân hàng sẽ phải đối mặt khi tập trung pháttriển cho vay Thông thường vào giai đoạn mới thành lập các ngân hàng đều tậptrung phát triển mạnh về mặt quy mô cho vay, tuy nhiên sau một giai đoạn pháttriển, khi mà quy mô cho vay, dư nợ và số lượng khách hàng đã đạt mức độ nhấtđịnh thì các ngân hàng sẽ chú trọng phát triển về chất lượng và hiệu quả hoạt độngcho vay của mình.

- Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu:

Nợ quá hạn: là khoản nợ có nợ gốc, lãi đến hạn (toàn bộ hoặc một phần)không được thực hiện một cách đầy đủ, hoặc không được ngân hàng chấp thuận cơcấu lại nợ (bao gồm điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ)

Hiện nay trên thế giới, tỷ lệ nợ quá hạn được đánh giá là tốt nếu dưới 5% ỞViệt Nam, theo quy định của Thông tư số 49/2004/TT-BTC ngày 03/06/2004 của

Bộ Tài Chính hướng dẫn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của Tổ chức cho vayNhà nước, tỷ lệ nợ quá hạn được khuyến cáo ở dưới mức 5%

Nợ xấu bao gồm các khoản nợ có mức độ rủi ro cao, là các khoản cho vayđược đánh giá có khả năng tổn thất một phần hoặc toàn bộ Nợ xấu bao gồm cả nợquá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu trong tổng dư nợ của một ngân hàng sẽ phản ánh

cơ bản chất lượng hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng tạingân hàng và cho biết hiệu quả và rủi ro của việc phát triển quy mô cho vay

Để xác định chính xác mức độ của nợ quá hạn và nợ xấu, bên cạnh các chỉ tiêu

về tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu đơn thuần, ngoài ra còn có một số chỉ tiêu khác bổsung cho quá trình đánh giá:

+ Tăng giảm tỷ lệ nợ quá hạn/nợ khó đòi

Tăng giảm Dư nợ quá hạn cuối kỳ Dư nợ quá hạn đầu kỳ

tỷ lệ nợ = - *100% - - *100% quá hạn Tổng Dư nợ cuối kỳ Tổng Dư nợ đầu kỳ

+ Tỷ lệ nợ quá hạn ròng

Tỷ lệ nợ Dư nợ quá hạn cuối kỳ - Dư Quỹ DPRR cuối kỳ

quá hạn = - *100%

Trang 30

ròng Tổng Dư nợ cuối kỳ - Dư Quỹ DPRR cuối kỳ

Vòng quay vốn cho vay: là chỉ tiêu phản ánh mức độ quay vòng vốn của Ngân hàng.

Doanh số thu nợ trong kỳVòng quay vốn cho vay = -

Tổng dư nợ bình quân trong kỳ

Vòng quay vốn cho vay ngày càng lớn, ngân hàng càng đẩy nhanh được hiệuquả sử dụng vốn Đối với chỉ tiêu này, thông thường ngân hàng quan tâm tới chỉtiêu quay vòng vốn ngắn hạn

Doanh số thu nợ trong kỳ

Vòng quay vốn TD ngắn hạn =

Tổng dư nợ bình quân trong kỳ

Vòng quay vốn cho vay ngắn hạn được sử dụng nhiều hơn vì:

+ Trong cơ cấu tổng dư nợ của ngân hàng thương mại thì cho vay ngắn hạnchiếm một tỷ lệ lớn

+ Chỉ có những khoản cho vay ngắn hạn mới có thể quay vòng ngay, đối vớicác khoản cho vay trung dài hạn có tốc độ quay vòng thấp

+ Hiện nay để phán ánh chính xác hơn, người ta đã phân loại cho vay ngắnhạn theo thời gian còn lại thực tế của hợp đồng cho vay Theo cách này nếu mộtkhoản cho vay trung dài hạn hiện tại nếu có thời hạn còn lại ngắn hơn 12 thángcũng sẽ tính là khoản cho vay ngắn hạn và cũng được lấy để tính vào chỉ tiêu quayvòng vốn ngắn hạn

+ Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro:

Tỷ lệ trích lập dự Dự phòng rủi ro cho vay

phòng rủi ro = - *100%

cho vay Tổng dư nợ

Hoạt động cho vay ngân hàng luôn đi kèm những rủi ro như mất vốn, khôngthu được tiền lãi vay Để đảm bảo ổn định hoạt động khi các rủi ro xảy ra, các ngânhàng đã sử dụng biện pháp dự phòng rủi ro bằng việc trích lập các quỹ để bù đắp

Trang 31

khi có tổn thất xảy ra Thông thường, dự phòng rủi ro phải trích được tính toán theo

tỷ lệ phần trăm nhất định trên cơ sở các khoản nợ được xác định có tính rủi ro Theo

đó các khoản nợ được phân chia thành những nhóm nợ có tính rủi ro ở các cấp độkhác nhau Tương ứng với mỗi nhóm nợ, ngân hàng xác lập một tỷ lệ trích dựphòng Các khoản nợ càng rủi ro thì tỷ lệ trích dự phòng càng cao

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN thì từnăm 2005 thì dư nợ cho vay được chia thành 5 nhóm và việc trích lập theo đúngtính chất các khoản nợ, dù khoản nợ chưa đến hạn nhưng có dấu hiệu rủi ro cũngphải trích lập Việc trích lập được căn cứ vào nhiều yếu tố của khoản dư nợ trong

đó có tình hình hoạt động và tài sản đảm bảo của khoản vay

Việc phân loại và trích lập dự phòng rủi ro dựa trên việc phân nhóm và tính tỷ

lệ trích lập dự phòng tương ứng đã phần nào ảnh hưởng được chất lượng cho vay vàkhả năng bù đắp các tổn thất có thể xảy ra

1.2.4.2 Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cho vay tiêu dùng

Mọi sự vật hiện tượng đều phải đặt trong mối quan hệ hữu cơ qua lại với các

sự vật hiện tượng khác trong quá trình nghiên cứu, phân tích để tìm ra bản chất của

sự vật hiện tượng đó Do vậy, khi đánh giá sự phát triển hoạt động cho vay tiêudùng chúng ta phải giải quyết những vấn đề gì Trước tiên phải đánh giá được cácnhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động này, phạm vi ảnh hưởng từ đó pháthuy những nhân tố thuận lợi và hạn chế những hạn chế

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cho vay gồm hai nhân tố: khách quan

Trang 32

tới hiệu quả món vay và ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng Trên thực tế, nguồntrả nợ cho ngân hàng trong cho vay tiêu dùng là vấn đề rất quan trọng Đa số thunhập thường xuyên trong tương lai của khách hàng là nguồn trả nợ chính, kháchhàng có thu nhập càng cao thì việc trả nợ định kỳ càng ít ảnh hưởng tới các chỉ tiêukhác, đặc biệt là các chi tiêu thường xuyên của khách hàng, ít ảnh hưởng tới tìnhhình tài chính của họ, do đó khoản vay càng an toàn

Môi trường kinh tế

Hoạt động của các ngân hàng được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khácnhau của nền kinh tế Vì vậy sự ổn định hay bất ổn, sự tăng trưởng nhanh hay chậmcủa nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ tới hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt làhoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng Khi nền kinh tế ở giaiđoạn hưng thịnh, mức sống của người dân được nâng cao, nhu cầu thoả mãn tiêudùng sẽ cao hơn, đồng thời họ yên tâm về mức thu nhập trong tương lai ít thay đổidẫn đến nhu cầu về vốn vay tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình tăng lên, hoạtđộng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng có cơ hội phát triển mạnh Ngược lại, khinền kinh tế ở tình trạng trì trệ, có nhiều biến động khó lường, thu nhập của ngườitiêu dùng bị ảnh hưởng, nhu cầu chi tiêu theo đó cũng giảm theo làm cho nhu cầutiêu dùng của người dân chỉ ở mức đủ ăn đủ dùng, do đó lĩnh vực cho vay tiêu dùngcủa ngân hàng không phát triển

Môi trường xã hội

Các yếu tố xã hội như niềm tin tưởng lẫn nhau, tình hình an ninh trật tự và antoàn xã hội, trình độ dân trí…ảnh hưởng trực tiếp tới các chủ thể chính tham gia vàoquan hệ cho vay ngân hàng là ngân hàng và khách hàng Nếu một nơi nào đó anninh trật tự không bảo đảm gây tâm lý không yên tâm cho các nhà đầu tư, các nhàđầu tư sẽ không đầu tư vào những nơi như vậy Đối với các cá nhân và hộ gia đình,

họ cũng không yên tâm vào tương lai, nên nhu cầu tiết kiệm tăng lên để dự phòng chotương lai khiến nhu cầu tiêu dùng ở hiện tại giảm sút, ảnh hưởng tới việc mở rộngcho vay của ngân hàng Ngược lại, nơi có trật tự an ninh tốt, ít các tệ nạn xã hộikhuyến khích các chủ đầu tư mở rộng quy mô hoạt động, các cá nhân và hộ gia đìnhtăng nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu ở hiện tại.Như vậy, nhu cầu vay vốn tăng lên và cho vay tiêu dùng có cơ hội phát triển

Bên cạnh đó, thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí ảnh hưởng không nhỏ tới

Trang 33

cho vay tiêu dùng của ngân hàng Ở Việt Nam, người dân có thói quen tiết kiệmdành dụm để mua sắm trong tương lai, sau đó mới nghĩ đến việc hưởng thụ Bởi vậy

họ không có tư tưởng vay để sống sung túc trong cảnh nợ nần Yếu tố thu nhậpcũng có tác động trực tiếp tới nhu cầu vay tiêu dùng Những người có thu nhập caothường có thói quen mua sắm hưởng thụ cao hơn

Môi trường pháp lý

Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng cũng phải tuân theo các quy địnhcủa nhà nước, luật dân sự, luật các tổ chức cho vay và các quy định khác của phápluật Những quy định pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, kịp thời và có nhiều

kẽ hở sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong các hoạt động cho vay nói chung và hoạtđộng cho vay tiêu dùng nói riêng, tạo ra các khó khăn cho hoạt động của các doanhnghiệp Từ đó gián tiếp làm cho nền kinh tế kém phát triển, thu nhập của dân cư giảmsút tác động đến quy mô và hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay tiêu dùng

Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

Các chính sách của Nhà nước như khuyến khích đầu tư trong nước, thu hútđầu tư nước ngoài nếu thực hiện hiệu quả sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phầngiảm thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động Thêm vào đó các chính sáchthuế thu nhập, chính sách ưu đãi với các hộ nghèo vay vốn, cho vay tín chấp với hộnông dân, chương trình phát triển kinh tế vùng sâu vùng xa… sẽ dần rút ngắnkhoảng cách giàu nghèo, tạo điều kiện nâng cao mặt bằng dân trí Những yếu tố nàytrước mắt cũng như lâu dài đều ảnh hưởng đến mức cầu cho vay tiêu dùng

b Các nhân tố chủ quan:

Sự phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại chủ yếu

do chính nội lực của ngân hàng quyết định Các nhân tố chủ quan này bao gồmchính sách cho vay, chất lượng cán bộ, cơ sở vật chất của ngân hàng

Chính sách cho vay của ngân hàng:

Chính sách cho vay nói chung và chính sách cho vay tiêu dùng nói riêng đềuphản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng đồng thời là hướng dẫn chung cho việcthực thi và phát triển cho vay Chính sách cho vay thường được xây dựng và xácđịnh cho một khoảng thời gian nhất định Tùy theo từng thời kỳ mà ngân hàng cóchính sách phát triển cho vay phù hợp với thực tế Trong những giai đoạn nhất định,việc phát triển cho vay tiêu dùng có thể phát triển theo chiều rộng và chiều sâu

Trang 34

Thông thường trong thời gian đầu mới thành lập ngân hàng để tập trung phát triểnmạnh về quy mô cho vay, đến một giai đoạn phát triển khi mà quy mô cho vay, dư

nợ và số lượng khách hàng đạt tới một mức độ nhất định thì các ngân hàng sẽ chútrọng phát triển về chất lượng và hiệu quả cho vay của mình

Quy mô và cơ cấu vốn của ngân hàng:

Vốn của ngân hàng trước hết là vốn tự có, nguồn vốn này tuy chỉ chiếm tỷtrọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại đóng vai trò quan trọng vì đó

là cơ sở thu hút các nguồn vốn khác và là khởi đầu tạo uy tín cho ngân hàng Theoquy định, ngân hàng không được phép cho một khách hàng vay vượt quá 15% vốn tự

có nên khi ngân hàng có vốn tự có lớn thì khả năng mở rộng cho vay là rất cao Vớivốn tự có lớn ngân hàng sẽ có điều kiện trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệhiện đại, ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn, thu hút nhiều khách hàng, thẩm địnhkhách hàng và dự án đầu tư chính xác hơn Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng

có thể mở rộng hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng

Cơ cấu tài sản của ngân hàng cũng tác động không nhỏ tới hoạt động cho vay

Sự chênh lệch về kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản khiến cho ngân hàng đối mặt vớirủi ro lãi suất cao và do vậy ngân hàng thường phải điều chỉnh tài sản của mình để

có thể khớp tương đối với kỳ hạn của nguồn vốn Việc này dẫn tới trong nhiềutrường hợp ngân hàng sẽ ưu tiên phát triển cho vay ngắn hạn hoặc chỉ phát triển chovay trung dài hạn

Quy trình cho vay:

Sự tôn trọng và kết hợp nhịp nhàng các bước trong quy trình cho vay nóichung và quy trình cho vay tiêu dùng nói riêng tạo điều kiện cho ngân hàng pháthiện kịp thời các khuyết điểm, nắm chắc diễn biến khoản vay để có biện pháp canthiệp kịp thời, ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra Một hệ thống các thủ tục và kỹ thuậtđược xây dựng khoa học, hợp lý và được thực hiện nghiêm chỉnh là yếu tố quyếtđịnh chất lượng cũng như mở rộng cho vay của ngân hàng

Chất lượng cán bộ cho vay:

Nhân tố con người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng nóichung và cho vay tiêu dùng nói riêng Hoạt động cho vay là một nghiệp vụ phức tạptrong ngân hàng và phụ thuộc nhiều vào cán bộ cho vay trực tiếp, họ thường làngười quyết định trong quá trình thẩm định ra quyết định cho vay hoặc từ chối

Trang 35

khách hàng Vì vậy đội ngũ cán bộ cho vay cần phải có một trình độ nghiệp vụchuyên môn vững vàng đồng thời phải có sự linh hoạt trong cách xử lý và cuối cùng

là phải trung thực Tuy nhiên trong bộ máy cho vay, cán bộ cho vay không phải làngười duy nhất tạo nên sự thành công mà còn có sự hỗ trợ cho vay Đó là thành viêncủa các bộ phận liên quan như: chuyên viên quản trị tín dụng, chuyên viên kế toán,các giao dịch viên, kiểm soát viên Những chuyên viên này cũng phải cần có nghiệp

vụ chuyên môn tốt, nhanh nhẹn và chắc chắn đảm bảo sự phát triển cho vay an toàn.Trong điều kiện Việt nam hiện nay, nguồn nhân lực đáp ứng đủ các yêu cầucủa hoạt động cho vay đang ngày một khan hiếm và các ngân hàng đang phải cạnhtranh quyết liệt trên thị trường để thu hút được những cán bộ tốt cho bộ máy củamình Bên cạnh đó, các ngân hàng phải có chính sách nhân sự tốt để giữ được cáccán bộ giỏi

Năng lực công nghệ:

Trong hoạt động cho vay, công nghệ thông tin không chỉ giúp ngân hàng quản

lý một cơ sở dữ liệu khách hàng to lớn với đầy đủ các chi tiết như tư cách phápnhân, lịch sử hoạt động tại ngân hàng, hạn mức cho vay tại ngân hàng và tại cácngân hàng khác cho đến các thông tin chi tiết khác Các thông tin này được cácphần mềm chuyên dụng quản lý một cách hệ thống, khoa học giúp cho các cán bộcho vay, hay lãnh đạo ngân hàng có thể truy xuất thông tin một cách dễ dàng vànhanh chóng

Năng lực công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô cho vay mà ngân hàng cóthể phát triển Khi mà năng lực công nghệ của ngân hàng còn yếu hoặc còn mangtính thủ công cao thì việc mở rộng cho vay nói chung và cho vay nói riêng là rấtkhó khăn và rủi ro do ngân hàng không đảm bảo được việc kiểm soát một khốilượng thông tin khổng lồ

Thông tin cho vay:

Trong hoạt động cho vay ngân hàng chủ yếu dựa vào thông tin, thông tin cóchính xác hay không phụ thuộc vào chất lượng thông tin có được Đặc biệt đối vớicho vay tiêu dùng các thông tin về khách hàng như khả năng tài chính, thu nhậphiện tại, khả năng trả nợ rất quan trọng, do vậy ngân hàng phải thu thập thông tinchính xác mới hỗ trợ cho quá trình xét duyệt khoản vay đảm bảo hiệu quả Hiện naymột trong các kênh cung cấp thông tin quan trọng cho ngân hàng về khách hàng vay

là Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC) Đây là

Trang 36

đơn vị đầu mối duy nhất có thể cung cấp thông tin tổng hợp khá chính xác về kháchhàng vay tuy nhiên thông tin mà CIC đưa ra thường rất chậm.

Các rào cản cho vay đối với khách hàng và khả năng xử lý linh hoạt củangân hàng:

Hiện nay, nghiệp vụ cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt nam vẫn cònnặng về vấn để thủ tục, liên quan đến nhiều giấy tờ là rào cản khiến nhiều kháchhàng ngần ngại khi tiếp cận các khoản cho vay

1.2.5 Quản lý rủi ro cho vay tiêu dùng

Xuất phát từ chính những đặc điểm của mình, CVTD có độ rủi ro và chi phícao, vì vậy quản lý rủi ro cho vay tiêu dùng là điều rất cần thiết

Để quản lý rủi ro CVTD, cần thực hiện các biện pháp sau:

Thực hiện phân tách chức năng bán hàng, chức năng thẩm định, quản lý rủi

ro và chức năng quản lý nợ trong hoạt động cho vay cho khách hàng Theo đó bộphận quan hệ khách hàng sẽ chịu trách nhiệm tiếp xúc, tiếp nhận các yêu cầu củakhách hàng, cung cấp thông tin cho bộ phận quản lý rủi ro, đồng thời kiểm tra, giámsát quá trình thực hiện các cam kết của khách hàng cùng với bộ phận quản lý rủi rotín dụng Như vậy, quá trình đánh giá rủi ro mới được thực hiện một cách tổng thể,liên tục trước, trong và sau khi cho vay, nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụngđặc biệt là trong CVTD

Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý của bộ phận quan

hệ khách hàng, quản lý rủi ro và quản lý nợ Sự rạch ròi trong phân định tráchnhiệm sẽ đảm bảo tính công bằng trong đánh giá chất lượng công việc, là điều kiện

để quá trình xử lý các dấu hiệu rủi ro được nhanh chóng, hiệu quả và kịp thời

Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý rủi ro có kinh nghiệm, có kiến thức và khảnăng nhanh nhạy khi xem xét, đánh giá các đề xuất cho vay Ngân hàng có thể xâydựng một hệ tiêu chuẩn đối với cán bộ quản lý rủi ro như trình độ chuyên môn, kinhnghiệm thực tế, có thời gian trải qua công tác tại bộ phận quan hệ khách hàng…

Bảo đảm tiền vay: Bảo đảm tiền vay là các công ty bảo hiểm sẽ trả thay phầntiền nợ ngân hàng của khách hàng khi khách hàng bị rủi ro, tai nạn làm mất khảnăng thanh toán Với tiện ích này, ngân hàng sẽ không còn băn khoăn, lo lắng vềkhoản nợ phải thu khi khách hàng bị tai nạn, rủi ro Đây là xu hướng mới của cácngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay và cũng là lĩnh vực hoạt động rộng

Trang 37

lớn cho các công ty bảo hiểm phi nhân thọ Loại hình này đặc biệt dễ thực hiện vớicác đối tượng khách hàng cá nhân vay tiêu dùng Trong thời gian vừa qua, hầu hếtcác ngân hàng đã thực hiện cho vay khuyến mãi bảo hiểm tiền vay hoặc cho vaykèm theo chính sách mua bảo hiểm tiền vay đối với khách hàng vay vốn…

Yếu tố con người: Để quản lý rủi ro trong cho vay thì yếu tố con người là hếtsức quan trọng Điều này đòi hỏi các cán bộ cho vay luôn phải thực hiện đúng quytrình, nghiệp vụ, nâng cao năng lực, khả năng xem xét, thẩm định cũng như quản lýrủi ro của khoản vay, đạo đức nghề nghiệp trong sáng…

1.3 KINH NGHIỆM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại các nước

1.3.1.1 Tình hình cho vay tiêu dùng tại Mỹ

Từ sau Đại chiến thế giới lần thứ II, các ngân hàng Mỹ đã liên tục phát triển

và trở thành một trong những tổ chức cấp cho vay chính trong lĩnh vực cho vay tiêudùng Theo những nghiên cứu gần đây, CVTD là một trong những khoản mục tàisản mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho các ngân hàng Tại ngân hàng Citibank, thunhập từ hoạt động CVTD chiếm 44% tổng thu nhập

Tại Mỹ, các khoản CVTD thường chiếm từ 30%-40% tổng dư nợ của hệ thốngngân hàng, cá biệt có trường hợp lên tới 60% Các ngân hàng đã và đang tập trungmột tỷ lệ nguồn vốn hoạt động của mình vào lĩnh vực này (đặc biệt là hình thức chovay theo thẻ tín dụng, cho vay bất động sản với dân cư, cho vay tiêu dùng (trả góp)thông qua mạng lưới các đại lý, chi nhánh trên toàn thế giới

Các tổ chức nhận tiền gửi ở Mỹ và hầu hết các nước công nghiệp phát triểnkhác thường phân loại CVTD theo mục đích hoặc phương thức hoàn trả khoản vay,nhưng phổ biến là kết hợp cả hai tiêu thức trên Trên cơ sở đó, họ chia CVTD thành

ba loại chính: cho vay mua nhà thế chấp, cho vay không có thế chấp (bao gồm chovay trả góp, cho vay trả một lần) và cho vay theo thẻ tín dụng

Mỹ là quốc gia có trình độ công nghệ bậc nhất thế giới, do đó, rất nhiều ngânhàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn thường xuyên sử dụng hệ thống máy tính điện

tử để thực hiện các giao dịch tự động nhằm giảm bớt thời gian chờ đợi của kháchhàng Khi tiến hành xét duyệt khoản vay, họ quan tâm đến bốn vấn đề cơ bản gồm

Trang 38

mức thu nhập, số dư tài khoản tiền gửi, hệ số đảo nợ, tình hình việc làm và nơi cưtrú của khách hàng Tuy nhiên để đánh giá chính xác chất lượng cho vay, các ngânhàng Mỹ đã đưa ra hệ thống tính điểm bao gồm nhiều tiêu thức khác nhau, mỗi tiêuthức ứng với từng mức điểm khác nhau Nếu khách hàng không có hồ sơ cho vayhoặc có chất lượng cho vay thấp, ngân hàng yêu cầu phải có người bảo lãnh để hoàntrả khoản vay

Bên cạnh đó các ngân hàng Mỹ gặp không ít những khó khăn, trở ngại trongCVTD Việc đánh giá thu nhập, thẩm định các thông tin cá nhân, hộ gia đình tươngđối khó khăn so với các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp Mặt khác, khả năng tài chínhcủa họ thường hạn chế dẫn đến rủi ro không được thanh toán lớn gấp nhiều lần sovới các khoản vay sản xuất kinh doanh Trong trường hợp đó ngân hàng có thể phátmại tài sản thế chấp để thu hồi vốn hoặc yêu cầu người bảo lãnh đứng ra thực hiệnnghĩa vụ trả nợ

Tuy có những thuận lợi và khó khăn nhất định, song phải thừa nhận rằng chovay tiêu dùng ở Mỹ đã góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển đưa nền kinh

tế của quốc gia này trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới Đa số người dân Mỹđến ngân hàng vay tiền mua nhà ở với thời gian hợp đồng từ 10 năm đến 30 năm,mua xe ôtô, đồ dùng gia đình với thời hạn hợp đồng 3-5 năm Đây là việc cho vayrất bình thường, phổ biến, đã diễn ra nhiều năm ở Mỹ và chính những khoản CVTDnày là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhưng trongkhoảng 10 năm trở lại đây việc cho vay tiêu dùng của Mỹ có phần lỏng lẻo, thiếu cácbiện pháp phòng ngừa rủi ro Nhiều ngân hàng, công ty tài chính cho vay mua nhàdưới chuẩn, cho vay cả các khách hàng không có khả năng tài chính Đặc biệt các tổchức tài chính còn tập trung chính các hợp đồng cho vay kém chất lượng này làm tàisản đảm bảo để phát hành trái phiếu (chứng khoán hóa) ra thị trường tài chính Mỹ vàthế giới với sự quảng cáo, đánh bóng của các tổ chức PR và công ty giám định hệ sốtín nhiệm (CRA) Khi giá bất động sản giảm đại bộ phận các hợp đồng cho vay bảođảm cho các trái phiếu trở thành nợ xấu Các trái phiếu phát hành mất giá và ngườinắm giữ trái phiếu bị thua lỗ, thậm chí ngân hàng mất khả năng thanh toán

Có thể nói, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trước đây (năm 2008) bắtnguồn từ khủng hoảng tài chính Mỹ Song nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khủnghoảng tài chính Mỹ lại là do hoạt động cho vay tiêu dùng (mua nhà ở) không kiểm

Trang 39

soát như đã đề cập ở trên Phải chăng đây là bài học chung cho tất cả các nước trênthế giới, trong đó có Việt nam.

1.3.1.2 Tình hình cho vay tiêu dùng tại Trung Quốc

Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách mở cửa kinh tế

Từ một đất nước nghèo nàn lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi cuộc kháng chiến chốngNhật và nội chiến trước đây, Trung Quốc đã vươn lên trở thành một trong nhữngnền kinh tế có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với tốc độ trung bình 8%/năm

Sự tăng trưởng mạnh mẽ đó phần lớn nhờ vào đường lối, chính sách đúng đắn củaChính phủ Trung Quốc trong việc cải cách mở cửa nhất là đẩy mạnh thu hút đầu tưnước ngoài, chú trọng xuất khẩu, cải tổ một cách toàn diện nền kinh tế nông nghiệp-nông thôn

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997-1998 không gây ảnh hưởng lớntới nền kinh tế Trung Quốc Tốc độ tăng trưởng năm 1998 giảm xuống còn 7%,nhưng đến thời kỳ 1992-2002 mức tăng trưởng được giữ vững từ 7%-8%/năm.Với dân số 1,34 tỷ người, 68% dân số nằm trong độ tuổi lao động TrungQuốc hiện là nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ Năm 2007, GDP cả nước đạt 7043 tỷUSD và GDP bình quân đầu người là 5300USD Việc chính thức gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) đã tác động hết sức tích cực tới nền kinh tế TrungQuốc, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2006, 2007 tăng trên 11% là tốc độ tăngcao nhất thế giới Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 1221 tỷ USD đứng thứ 4 thếgiới và xuất khẩu tăng gần 20%, đầu tư nước ngoài tăng gần 25% Trung Quốc trởthành quốc gia đứng hàng thứ tư về thương mại quốc tế, dẫn đầu thế giới về thu hútvốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, nhu cầu nhà ở, mua sắm tiêu dùng tăng mạnh, đặcbiệt thị trường ôtô có điều kiện phát triến sau khi Trung Quốc dỡ bỏ hàng rào thuếquan phù hợp với tiêu chuẩn hiện hành của WTO Về mặt kỹ thuật công nghệ xử lý

số liệu đã được ứng dụng rộng rãi, có thể hỗ trợ cho việc thiết lập và quản lý hệthống báo cáo cho vay quốc gia

Tuy có lợi thế về kinh tế và dân cư như vậy nhưng cho vay tiêu dùng là “mảnhđất” chưa được khai phá mạnh mẽ ở Trung Quốc, hoạt động của hệ thống ngânhàng còn hạn chế, chưa chuyên nghiệp, người dân chưa thực sự hiểu rõ và quenthuộc với nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính

CVTD bắt đầu xuất hiện tại Trung Quốc vào giữa những năm 80 và phát triển

Trang 40

mạnh mẽ từ năm 1998 đến nay Chính phủ tăng cường khuyến khích hoạt động nàythông qua chính sách tài chính chủ động và chính sách tiền tệ nới lỏng NHTWTrung Quốc ban hành 18 văn bản hướng dẫn chỉ đạo, tạo hành lang pháp lý đầy đủ,chặt chẽ cho các NHTM triển khai thực hiện Kết quả là cuối năm 1997, các khoảnCVTD đạt 17,2 tỷ nhân dân tệ (tức 2,07 tỷ USD).

Thực tế các khoản CVTD ngày càng được sử dụng nhiều để mua nhà ở, đất ở,xuất phát từ nhu cầu nhà ở của hàng triệu cá nhân, hộ gia đình, các khoản cho vaymua nhà trả chậm thường chiếm tới trên 90% tổng dư nợ cho vay, đạt tốc độ tăngtrưởng khoảng 30%/năm, trong đó khuyến khích các hộ gia đình có mức thu nhậptrung bình và thu nhập thấp Các khoản cho vay với học sinh, sinh viên cũng chiếm

tỷ lệ khá lớn, năm 2001, khoảng 4,03 tỉ nhân dân tệ đã được cấp cho hơn một nghìnsinh viên tốt nghiệp Kế đến là cho vay mua ôtô và cho vay tiêu dùng khác

Tuy nhiên cho CVTD ở Trung Quốc còn gặp không ít những khó khăn trở ngại

Thứ nhất, thu nhập của dân cư chưa ổn định, làm giảm kỳ vọng của họ vàothu nhập trong tương lai, tác động tiêu cực đến cho vay tiêu dùng

Thứ hai, chưa thiết lập được hệ thống thông tin cho vay cá nhân, hệ thốngđánh giá tài khoản, đăng ký tài sản, nguồn thu nhập

Thứ ba, hệ thống bảo hiểm thương mại chưa tham gia vào lĩnh vực CVTD

Thứ tư, các chính sách, quy định liên quan đến CVTD chưa được hoàn thiện

Ví dụ, những quy định hiện hành về bảo lãnh chưa có đủ các điều khoản liên quanđến CVTD, gây ảnh hưởng cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn cách thức bảolãnh Sự phát triển chậm chạp của thị trường bất động sản thứ cấp, việc bán quyềntài sản đối với những ngôi nhà đã được dùng làm tài sản thế chấp gặp nhiều khókhăn, thuế và phí đăng ký quá cao đã phần nào hạn chế nhu cầu tiêu dùng của ngườidân

Thứ năm, cấu trúc tài sản của ngân hàng chưa hợp lý, thời hạn của các khoảnvay mua nhà thường trên 10 năm, thậm chí 30 năm, trong khi nguồn vốn huy độngchủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn nhỏ

Ngoài tình hình cho vay tiêu dùng ở Mỹ và Trung Quốc nêu trên hầu hết cácnước phát triển cho vay tiêu dùng là nghiệp vụ chiếm thị phần lớn, đem lại lợinhuận nhiều nhất cho các ngân hàng và tổ chức cho vay khác

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngày đăng: 09/09/2014, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : NHTM là trung gian tài chính - luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà thành
Hình 1.1 NHTM là trung gian tài chính (Trang 11)
Sơ đồ 1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Hà Thành - luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà thành
Sơ đồ 1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Hà Thành (Trang 46)
Bảng 2.3: Cho vay tiêu dùng theo mục đích vay - luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà thành
Bảng 2.3 Cho vay tiêu dùng theo mục đích vay (Trang 59)
Bảng 2.4: Doanh số và Dư nợ cho vay tiêu dùng (2008 - 2010) - luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà thành
Bảng 2.4 Doanh số và Dư nợ cho vay tiêu dùng (2008 - 2010) (Trang 68)
Bảng 2.5. Tình hình nợ quá hạn - luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà thành
Bảng 2.5. Tình hình nợ quá hạn (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w