Ở phụ nữ nồng độ testosterone cao bất thường có liên quan đến tăngnguy cơ mắc các bệnh tim mạch, ung thư vú, tăng triglycerid, tăng nguy cơ đềkháng với insulin[54], và xuất hiện các đặc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2Hà Nội – 2013LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu khoa học em đã nhận được rấtnhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Nguyễn Thị Thanh
Hương – giảng viên bộ môn Sinh lý trường Đại Học Y Hà Nội, là người cô đãnhiệt tình hướng dẫn, động viên và đóng góp nhiều ý kiến quý giá để emhoàn thành tốt luận văn này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu nhà trường Đại Học Y Hà Nội
Bộ môn Sinh Lí trường Đại Học Y Hà Nội
Tập thể các y bác sỹ, y tá, kĩ thuật viên các khoa lâm sàng và cận lâmsàng bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Đại Học Y Hà Nội
Đã cho phép, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn sau cùng em muốn gửi lời biết ơn tới bố mẹ, anh và em
trai đã luôn sát cánh bên em, động viên, hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất và tiếpcho em có đủ niềm tin và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn Cuối cùng emxin gửi lời cảm tới các bạn bè, anh chị đã dành tình cảm chân thành và sựgiúp đỡ quí báu nhất
Hà Nội, ngày tháng năm
Nguyễn Hoa Hồng
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACTH: Adrenocorticotropic hormone.
AR: Androgen receptor
BMI: Body Mass Index
DHEA: Dehydroepiandrosterone
DHEAS: Dehydroepiandrosterone sulfate .
DHT: Dihydrotestosterone
ECLIA: Electrochemiluminescence Immuno Assay
EIA: Enzym Immino Assay
LH: Luteinizing hormone
PCOS: Polycystic Ovary Syndrome
RIA: Radio Immuno Assay
SHBG: Sex Hormon Binding Globulin
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Estrogen và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe sinh sản và các bệnh mạntính (ung thư vú, rối loạn nội tiết, các bệnh tim mạch) đã được chú trọngnghiên cứu rất nhiều trên nữ giới Ngược lại có rất ít nghiên cứu đánh giá vềvai trò của androgen nói chung và testosterone nói riêng tới sức khỏe phụ nữ
Testosterone là một hormone quan trọng nhất thuộc nhóm androgen lưuhành trong máu ở cả nam và nữ Ở phụ nữ, testosterone được sản xuất 25% ở
vỏ thượng thận, 25% ở buồng trứng, và 50% được sản xuất từ quá trìnhchuyển hóa ngoại vi của androstenedion [19][52]
Ở phụ nữ nồng độ testosterone cao bất thường có liên quan đến tăngnguy cơ mắc các bệnh tim mạch, ung thư vú, tăng triglycerid, tăng nguy cơ đềkháng với insulin[54], và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát nhưgiọng trầm, tăng khối lượng cơ bắp, rậm lông, mụn trứng cá, hói đầu [48].Ngược lại nồng độ testosteorone giảm bất thường có liên quan tới một số hộichứng lo âu, trầm cảm, ám ảnh sợ [24], giảm khối lượng cơ, giảm ham muốntình dục, giảm nhạy cảm và tăng nguy cơ loãng xương, gãy xương đặc biệtsau mãn kinh [54]
Nồng độ testosterone có liên quan tới một số bệnh mạn tính, dùng đểđịnh hướng và chẩn đoán bệnh Hội y học sinh sản Mỹ (ASMR) và Hội sinhsản người và phôi học Châu âu(ESHRE) nhóm họp tại Rotterdam (Hà Lan) đãchỉ ra rằng định lượng nồng độ testosterone là một trong ba tiêu chuẩn để
Trang 5chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang [21], nguy nhân phổ biến gây vôsinh ở nữ giới Bên cạnh đó, nồng độ testosterone tăng cũng đang được nghingờ là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến ung thư vú do gắn cách cạnh tranh vớiSHBG hoặc được chuyển hóa thành estrogen [35] Tương tự như vậy,nồngđộtestosterone có thể liên quan với tăng nguy cơ kháng insulin và bệnh đáitháo đường [25][54].
Một số nghiên cứu đã đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độtestosterone như: tuổi (giảm dần theo tuổi), chu kì kinh nguyệt (tăng cao nhấtvào thời kì trước rụng trứng), BMI, chu kì ngày đêm, hút thuốc, lối sống và sửdụng thuốc tránh thai [32][40][42]
Đặc biệt Randolph và cộng sự còn chỉ ra rằng nồng độ testosterone vàcác sản phẩm chuyển hóa của testosterone là rất khác nhau giữa các chủng tộc[42] Nồng độ testosterone ở phụ nữ Trung Quốc (68,67 ng/dl) cao hơn người
da trắng (42,49 ng/dl)và thấp nhất ở người da đen (37,92ng/dl) [30][55]
Do vậy, để có thể ứng dụng trong chuẩn đoán và điều trị, mỗi nước cầnxác định nồng độ testosteorone toàn phần trong huyết thanh trên nữ giới ở cácnhóm tuổi khác nhau Cho tới nay, ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào tậptrung giải quyết vấn đề này, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu:
1 Xây dựng giá trị tham chiếu của testosterone ở nữ giới Hà Nội và Hà
Nam tuổi từ 13 đến 80.
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến testosteron ở nữ giớiHà Nội
và Hà Nam tuổi từ 13 đến 80.
Trang 71.1 Nguồn gốc, bản chất hóa học, quá trình tổng hợp testosterone ở nữ:
1.1.1 Nguồn gốc:
Ở phụ nữ khỏe mạnh testosterone được sản xuất từ 3 nguồn chính: sảnxuất trực tiếp từ buồng trứng,vỏ thượng thận, và được chuyển hóa từ chất tiềnthân androstenedion ở cơ quan đích[19][52]
Hình 1.1 cho thấy: khoảng 20-25% testosterone được sản xuất từ vỏbuồng trứng, một số ít được sản xuất từ tế bào đệm.Khoảng 20-25% được sảnxuất ở lớp lưới của tuyến vỏ thượng thận.Chủ yếu 50% được sản xuất từ quátrình chuyển hóa chất tiền thân androstenedion ở có quan đích: da, lớp mỡdưới da ( hình 1.1)
Hình 1.1: Nguồn gốc Testosterone [19].
Trang 8Dưới tác dụng của các enzym tổng hợp nên pregnenolone, qua 1 chuỗicác phản ứng tổng hợp nên androstenedione.Dưới tác dụng của 17ketoreductase, androstenedion chuyển thành testosterone.
Từ testosterone và androstenedione tổng hợp nên estradiol nhờ enzymaromatase
Ở tế bào đích, dưới tác dụng của 5α reductase, testosterone đượcchuyển thành dihydrotestosterone có tác dụng mạnh hơn (hình 1.3)
Trang 9Hình 1.3:Quá trình tổng hợp testosterone [27]
1.2.Chuyển hóa của testosterone:
Sau khi được tổng hợp, phần lớn testosterone được liên kết chặt chẽ vớiglobulin gắn hormon sinh dục (SHBG) và liên kết lỏng lẻo với với albuminhuyết tương, và lưu hành trạng thái này trong vài phút tới vài giờ [1][37] Cònlại một lượng nhỏ(1-3%) testosterone ở dạng tự do
Testosterone ở dạng tự do và liên kết lỏng lẻo với albumin khi đến cơquan đích sẽ chuyển thành chất có tác dụng mạnh hơn là dihydrotestosterone(DHT) và gây ra các tác dụng sinh lí [1][37] (hình 1.4)
Như vậy trong máu ngoại vi testosterone tồn tại dưới ba dạng: liên kếtchặt với SHBG,liên kết lỏng lẻo albumin, và dạng tự do.Trong đó chỉ cótestosterone dạng tự do và liên kết lỏng lẻo với albumin là có thể gây ra cáctác dụng sinh lí
Trang 1035- 40%
60 - 65%
Tổng Testosterone 20-80 ng/dl
Tự do Liên kết Albumin Liên kết SHBG
Hình 1.4: Chuyển hóa của testosterone [37].
1.3.Thoái hóa và bài tiết testosterone ở nữ:
Các hormon sinh dục nam được thoái hóa chủ yếu tại gan, thànhandrosteron, etiocholanolon, và một phần nhỏ thành epiandrosterone.Các sảnphẩm này liên hợp với acid glucuronic và acid sulfuric tại gan và đào thải rangoài qua phân, và nước tiểu [3]
1.4.Cơ chế tác dụng của testosterone:
Testoterone tác dụng theo hai cơ chế: tác dụng trực tiếp lên androgenreceptor và tác dụng gián tiếp sau khi chuyển đổi thành estradiol nhờ enzymacromatase và sau đó hoạt hóa estrogen receptor [5]
Trang 11Chỉ có testosterone ở dạng tự do và liên kết lỏng lẻo với albumin mới
có tác dụng tại cơ quan đích.Khi tới cơ quan đích testosterone được chuyểnthành chất có tác dụng mạnh hơn dihydrotestosterone(DHT) nhờ enzym 5 αreductase và gây tác dụng sinh lí
Khi tới tế bào đích,vì testoterone có bản chất steroid nên hòa tan tronglớp lipid và khuếch tán dễ dàng qua màng tế bào vào bào tương.Trong bàotương testosterone gắn với androgen receptor tạo phức hợp hormon-receptor
và được vận chuyển vào trong nhân tế bào.Tại nhân tế bào phức hợp receptor sẽ gắn bào vị trí đặc hiệu tạo mARN.Sau đó mARN khuếch tán rabào tương thúc đẩy quá trình dịch mã tạo protein và tạo ra các tác dụng sinh líkhác nhau [4] (hình 1.5)
hormon-Hình 1.5:Cơ chế tác dụng của testosterone [4].
1.5.Chức năng sinh lí của testosteron ở nữ:
Trang 12Chức năng sinh lí của testosterone ở phụ nữ được biết đến chưanhiều,tuy nhiên trong những năm gần đây thế giới đã có nhiều nghiên cứu vềvai trò và tầm quan trọng của testosterone ở nữ giới như:
1.5.1.Trong thời kì mang thai:
Khi mang thai ngoài lượng nhỏ testosterone được sản xuất từ mẹ Nếu
mẹ mang thai con trai thì đến tuần thứ 7 tinh hoàn của thai nhi sẽ bài tiếtlượng lớn testosterone.Vai trò của testosterone trong trường hợp này là kíchthích phát triển đường sinh dục theo kiểu nam, ức chế sự hình thành cơ quansinh dục nữ [4] Dựa vào nồng độ testosterone của mẹ trong nửa đầu của thai
kì có thể giúp chẩn đoán được giới tính của thai nhi [34]
Nếu lượng testosterone được bài tiết quá nhiều trong thời kì có thai thìkìm hãm sự phát triển của thai trong buồng tử cung.Hậu quả con sinh ra cócân nặng và chiều dài nhỏ hơn bình thường: ở tuần 17 nếu testosterone tăng25-75% con sinh ra có cân nặng giảm 160gram, nếu tăng ở tuần thứ 33 consinh ra có cân nặng giảm 115gram [38]
1.5.2.Trong thời kì trưởng thành:
1.5.2.1.Hoạt động tình dục và chức năng sinh sản:
Testosterone ở nữ giới tuy với nồng độ rất nhỏ nhưng đóng vai trò quantrọng để duy trì hoạt động tình dục và ham muốn tình dục.Gần đây còn cónhiều tranh cãi về vai trò của testosterone và DHEA trong ảnh hưởng hìnhthành nang trứng chín và kích thích gây rụng trứng [41]
Thiếu hụt testosterone sẽ gây suy giảm chức năng tình dục,teo âmđạo,ngứa,viêm và đau âm hộ,làm giảm ham muốn tình dục [38][49][54]
Như vậy testosterone giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúcgia đình
1.5.2.2.Tác dụng lên sự phân bố lông:
Trang 13Testosterone có tác dụng lên sự phát triển của lông, tuy tác dụng nàykhông thật sự rõ ràng như ở nam giới nhưng khi cường androgen thì tác dụngnày được thể hiện rất rõ ràng: rậm lông, hói đầu [48][55].
1.5.2.3.Tác dụng lên da:
Testosterone có tác dụng bảo vệ da,cải thiện bề mặt da,duy trì collagen,chống mỏng da và tăng cường hoạt động của tuyến bã nhờn,tăng khả năngmiễn dịch ở da [19][33]
1.5.2.4.Tác dụng lên sản xuất hồng cầu:
Testosterone có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu [4][19], tuy nhiênnồng độ testosterone ở nữ giới thấp, chỉ bằng 1/15 so với nam giới nên tácdụng này không thật sự rõ ràng
1.5.2.5.Tác dụng lên chuyển hóa protein và cơ:
Ở nam giới hormon testosterone đóng vai trò quan trọng là phát triểnmạnh khối cơ sau dậy thì và phát triển protein ở một số cơ quan khác:da,thanh quản,dây thanh làm giọng nói trầm hơn Testosterone được một sốvận động viên sử dụng để tăng sức mạnh cơ, tăng thành tích thi đấu, và ởngười già nó được sử dụng như một hormon làm “cải lão hoàn đồng”[4]
Tuy nhiên ở nữ giới testosterone không có tác dụng tăng mạnh quátrình đồng hóa protein như nam giới,mà chỉ có tác dụng tăng nhẹ khối lượng
cơ thể , và khối cơ [52].Điều đó có thể là do nồng độ testosterone ở nữ chỉbằng 1/15 nồng độ testosterone ở nam nên vai trò tăng quá trình đồng hóaprotein không mạnh
1.5.2.5.Tác dụng lên xương:
Ở nữ giới bên cạnh estrogen có tác dụng mạnh lên sự phát triển củaxương thì testosterone cũng đóng vai trò khá quan trọng,đặc biệt ở phụ nữmãn kinh Testoterone thúc đẩy sự phát triển của xương, khoáng hóaxương,tăng tái tạo xương [23],ức chế hủy cốt bào,tăng khối lượng xương,dày
Trang 14vỏ xương.Vì vậy testosterone được dùng phối hợp với estrogen để tăng mật
độ xương ở phụ nữ loãng xương tuổi mãn kinh [13]
Testoterone ở nữ giới tác động lên xương thông qua hai cơ chế: tácdụng trực tiếp và gián tiếp:
Tác dụng trực tiếp của testoterone thông qua thụ thể androgen receptor(AR).AR có ở trong tế bào sụn,mô đệm,nguyên bào xương,tế bào xương, hủycốt bào, trong đó tác dụng của testosterone chủ yếu kích thích hoạt động tạocốt bào nhờ enzym ngoại bào alkaline phosphatase: tổng hợp lên khungprotein của xương [39],và tác dụng lên tế bào sụn ở đầu xương.Như vậytestoterone làm tăng hình thành xương, kích thích xương phát triển theo chiềudài [5]
Tác dụng gián tiếp của testosterone lên xương thông qua receptor củaestrogen sau khi testosterone chuyển thành estradiol nhờ enzymaromatase.Estrogen làm giảm tính nhạy cảm của hủy cốt bào với các cytokin:IL-1,IL-6,yếu tố hoại tử mô,do đó ức chế hình thành hủy cốt bào [44].Ngoài
ra estrogen kích thích sản sinh,biệt hóa của tạo cốt bào.Bên cạnh đótestosterone tác dụng gián tiếp làm tăng nồng độ canxi thông qua cơ chế điềuhòa tái hấp thu canxi ở ruột và thận [39],tăng tiết hormon tăng trưởng GH ởtuyến yên trong thời kì dậy thì [31],ức chế hormon tuyến cận giáp giảm quátrình hủy cốt bào [5]
1.5.2.6.Tác dụng lên não,tâm thần kinh:
Testosterone đóng vai trò quan trọng đối với não và các hoạt động tâmthần Testosterone có tác dụng duy trì trạng thái tâm lí bình thường, và cảithiện trí nhớ [18],tạo niềm đam mê trong cuộc sống [48].Nếu nồng độtestosterone thấp sẽ ảnh hưởng tới các hoạt động tâm thần: lo âu, trầm cảm,
ám ảnh sợ,giảm nhạy cảm [24][54]
Trang 15Như vậy nồng độ testosterone thích hợp đóng vai trò quan trọng tronghoạt động tâm thần, trí nhớ, tăng khả năng và năng lực làm việc.
1.5.2.7.Tác dụng trên tim mạch:
Nghiên cứu tác dụng có lợi hay có hại của testosteorne trên tim mạch ởphụ nữ còn nhiều ý kiến trái ngược nhau.Một số nghiên cứu cho thấytestosterone có tác dụng bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch[19][14],giãnmạch vành giảm các triệu chứng của đau thắt ngực [18], là một liệu pháp hứahẹn để nâng cao cải thiện tình trạng làm việc của tim trong bệnh suytim[11].Mặt khác có nghiên cứu lại cho rằng mức độ cao tesosterone sẽ làmgia tăng các nguy cơ mắc bệnh tim mạch [12][54]
Cho nên cần có nhiều nghiên cứu để đánh giá được hết vai trò, ảnhhưởng của testosterone lên hệ tim mạch
1.6.Sự thay đổi trong điều kiện sinh lí:
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nồng độ testosterone luôn thay đổi theotuổi, nhịp điệu ngày đêm,chu kì kinh nguyệt
Testosterone giảm dần theo tuổi [36]:khi phụ nữ từ 40 tuổi trở ra thìnồng độ testosterone giảm 50% so với phụ nữ 20 tuổi [48].Phụ nữ từ nhómtuổi 18-24 có nồng độ testosterone toàn phần cao nhất trong các nhóm tuổi:1,55 nmol/l, và thấp nhất ở độ tuổi mãn kinh 0,55 nmol/l [45]
Nồng độ testosterone thay đổi theo nhịp điệu ngày đêm, cao nhất vàobuổi sáng lúc 9h với nồng độ testosterone trong nước bọt là 16,2 pg/ml, thấpnhất lúc 21giờ: với nồng độ testosterone trong nước bọt là 14,1pg/ml, sau đótăng dần trở lại từ lúc 23 giờ [18][24]
Ngoài ra testosterone thay đổi theo chu kì kinh nguyệt: nồng độtestosterone huyết thanh tăng cao nhất ở giữa chu kì kinh nguyệt,lúctrước khirụng trứng [18][48]
Trang 161.7.Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ testosterone toàn phần:
Testosterone chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau,các yếu tố đó cóthể làm tăng hay giảm nồng độc testosterone, là các yếu tố có thể thay đổiđược và không thể thay đổi được
1.7.1 Các yếu tố về chủng tộc:
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các chủng tộc khác nhau có nồng
độ testosterone và các sản phẩm chuyển hóa của testosterone khác nhau, đặctrưng cho từng dân tộc, tôn giáo [42].Những người dân da trắng có nồng độtestosterone toàn phần trong huyết thanh: 42,49 ng/dl, cao hơn so với ngườidân da đen với nồng độ TT trong huyết thanh 37,92ng/ml [30] Trong khi đónhững phụ nữ Trung Quốc có nồng độ testosterone toàn phần trong huyếtthanh cao hơn: 68,67 ng/dl Như vậy giữa các chủng tộc, vùng miền khácnhau thì nồng độ testosterone có sự khác biệt rất rõ, và cần phải xây dựngnồng độ testosterone đặc trưng cho từng quốc gia, khu vực
1.7.2 Các yếu tố về hình thái:
Các đặc điểm hình thái có mối liên quan khá chặt chẽ với nồng độtestosterone trong huyết thanh.Quan sát thấy những người phụ nữ có cân nặngcao thì thường tăng nồng độ testosterone toàn phần [40].Đặc biệt chỉ số khốicủa cơ thể có liên quan chặt chẽ với nồng độ testosterone,với BMI >30 kg/m2
thì nồng độ testosterone toàn phần trong huyết tương: 50-70 pg/ml- cao hơn
so với những người có BMI < 22 kg/m2 [32][40].Ngoài ra chỉ số khối, phầntrăm lượng mỡ trong cơ thể và vòng eo tăng làm tăng nồng độ testosteronetoàn phần [40], cụ thể là nếu vòng eo >89cm thì nồng độ testosterone tănggấp 25% so với những người có vòng eo <74cm [40]
1.7.3 Các yếu tố về lối sống:
Tập quán ăn uống có ảnh hưởng một phần không nhỏ tới nồng độtestosteron Nếu ăn ít chất xơ thì giảm androgen, tăng SHBG và ngược lại
Trang 17[7].Và có những nghiên cứu cho rằng số lượng protein, lipid, carbonhydrat ănvào không có mối liên quan tới nồng độ testosterone [40].Uống rượu làm tăngnồng độ DHEA, DHEAS [32],nhưng không ảnh hưởng tới các androgen kháctrong đó có cả testosterone [32][40] Uống café có tác dụng làm tăng hoặcgiảm nồng độ testosterone trong huyết thanh, điều này phụ thuộc vào lượngcafé uống mỗi ngày: nếu uống lượng nhỏ, vừa phải thì café có tác dụng tăngnồng độ testosterone huyết thanh, tuy nhiên nếu uống lượng lớn >800mg thìlại có tác dụng làm giảm nồng độ testosterone [6] Hút thuốc lại ảnh hưởng rấtlớn tới testosterone và các hormon chuyển hóa khác của testosterone, cụ thểlà:những người hút thuốc lá > 25 điếu thuốc/ ngày sẽ tăng nồng độtestosterone lên 44% so với những người không hút thuốc lá trong cùng nhómtuổi [32] Tập thể dục thể thao làm tăng nhẹ nồng độ testosterone,nhưng mốitương quan này không chặt chẽ với nhau [40] Như vậy ảnh hưởng của lốisống, thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống có vai trò khá quan trọng tớinồng độ testosterone Tuy nhiên các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào tớiphụ nữ Việt Nam thì chưa có nghiên cứu, vậy nên cần phải có nghiên cứuđánh giá vai trò và tác dụng của các yếu tố đó trên quần thể người Việt Nam.
1.7.4 Các yếu tố liên quan tới sử dụng thuốc
Việc sử dụng một số các hormon hay các thuốc giảm đau ảnh hưởngđánh kể tới nồng độ testosterone toàn phần.Trong những thập kỉ qua việc lạmdụng các thuốc giảm đau nhóm opiat đang gia tăng đáng kể và chính việc sửdụng nhiều, lâu dài các loại thuốc nhóm này đã làm giảm nồng độ cácandrogen,sản xuất không đủ và gây ra các biểu hiện thiếu hụt androgen, ảnhhưởng tới chất lượng cuộc sống [46].Bên cạnh đó sử dụng các thuốc tránhthai có estrogen và liệu pháp estrogen thay thế đơn thuần có nồng độtestosterone thấp hơn đáng kể những phụ nữ không dùng các nhóm thuốc này[20] Tỉ lệ sử dụng thuốc tránh thai ở Việt Nam chỉ có 10% và thấp hơn so với
Trang 18các nước Châu Âu (Pháp 44%, Đức 24%), Châu Úc, và một số nước trongkhu vực Châu Á như Thái Lan 37% [53] Chính vì thế cần có nghiên cứuđánh giá sự ảnh hưởng của thuốc tránh thai tới nồng độ testosterone toàn phần
ở người Việt Nam
1.8.Testosterone và một số bệnh lí có liên quan:
Tăng hay giảm nồng độ testosterone có liên quan tới một số bệnh, trong
đó có những bệnh mà sự tăng nồng độ testosterone là một trong những tiêuchuẩn chẩn đoán bệnh như hội chứng buồng trứng đa nang
Tăng testosterone là một trong các yếu tố nguy cơ gia tăng các bệnh về:tim mạch [54], ung thư vú[35][54],tăng triglycerid rối loạn mỡ máu [54],tăngnguy cơ đề kháng insulin gây tình trạng đái tháo đường typ 2 [25][54] Tăngtestosterone gây lên tình trạng tăng khối cơ, rậm lông, hói đầu[48].Nguyênnhân dẫn đến cường androgen bao gồm rất nhiều nguyên nhân khác nhau: tạibuồng trứng (hội chứng buồng trứng đa nang,u buồng trứng), tại tuyến vỏthượng thận (tăng sản thượng thận,hội chứng Cushing), suy giáp [52]
….Chính vì thế xác định nồng độ testosterone có thể là tiêu chuẩn để chẩnđoán một số bệnh như tăng sản thượng thận, hội chứng buồng trứng đa nang[21].Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nghiên cứu xác định nồng độ bình thườngtestosterone toàn phần trong huyết thanh, đặc biệt ở các nhóm tuổi khác nhaunên đó là một hạn chế cho việc chẩn đoán một số bệnh nội tiết
Ngược lại giảm testosterone cũng liên quan nhiều tới chức năng, hoạtđộng của các cơ quan Các liên quan đó bao gồm: giảm ham muốn tình dục,giảm nhạy cảm,giảm khối lượng cơ,lo âu trầm cảm [54],tăng nguy cơ loãngxương [43],giảm tỉ lệ thành công thụ tinh trong ống nghiệm [41] và giảm chấtlượng cuộc sống.Nguyên nhân giảm testosterone gồm nhiều nhóm nguyênnhân: tuổi già, tại buồng trứng (cắt buồng trứng, suy giảm chức năng buồngtrứng),suy tuyến thượng thận,suy tuyến yên,mắc các bệnh mãn tính,sử dụng
Trang 19các liệu pháp estrogen thay thế[20][52],lạm dụng các thuốc giảm đau họ opiat[46].
Như vậy tăng hay giảm nồng độ testosterone có liên quan tới một sốbệnh lí mà hiện nay trên thế giới đang nghiên cứu để làm rõ, nâng cao côngtác chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân Chính vì những nguyên nhân trên màViệt Nam cần sớm xây dựng giá trị tham chiếu testosterone ở nữ giới ở cáclứa tuổi khác nhau để sớm phát hiện và điều trị một số bệnh có liên quan tới
sự thay đổi của hormon này, theo kịp sự phát triển y học trên thế giới
1.9.Ứng dụng hormon testosterone trong lâm sàng:
Hiện nay đang có rất nhiều nghiên cứu đánh giá và thử nghiệm vai tròcủa testosterone trong thực hành lâm sàng, một trong số đó đã cho kết quảđáng kể
Trong điều trị loãng xương ở phụ nữ mãn kinh hiện nay đang có xuhướng kết hợp estrogen và testosteron để làm tăng hiệu quả điều trị,bảo tồn vàxây dựng lại các sụn xương[48][51]
Trong thuốc tránh thai kết hợp estrogen với testosterone làm tăng nănglượng và chất lượng sống, tăng ham muốn tình dục, tăng khoái cảm [13][48]
Điều trị bổ sung androgen cho những bệnh nhân có phản ứng buồngtrứng thấp [22] Testosterone có khả năng kích thích gây rụng trứng, vàtestosterone còn làm tăng tỉ lệ thành công thụ tinh trong ống nghiệm [26]
Trong điều trị rong kinh,rong huyết nếu điều trịphối hợp vớitestosterone sẽ đem lại nhiều kết quả khả quan, góp phần nâng cao thể trạng
và giúp cho chuyển hóa tốt [1]
Như vậy tuy nồng độ testosterone ở nữ giới rất thấp, chỉ bằng 1/15 sovới nam giới nhưng lại có ứng dụng quan trọng trong y học, có thể mở ranhiều phương hướng điều trị mới, đồng thời kết hợp, nâng cao hiệu quả điềutrị của các phương pháp truyền thống
Trang 201.10.Điều hòa bài tiết testosterone ở nữ:
Testosterone ở nữ giới được bài tiết ở buồng trứng và vỏ thượng thậndưới tác dụng kích thích của ACTH và LH ở tuyến yên
Corticod điều hòa ngược âm tính lên tuyến yên sản xuất ACTH,ACTH
có tác dụng kích thích vỏ thượng thận tăng sản xuất DHEA, DHEAS vàtestosterone Estrogen và một phần nhỏ progesterone, testosterone điều hòangược âm tính lên tuyến yên sản xuất LH,LH có tác dụng kích thích vỏ buồngtrứng sản xuất androstenedion và testosterone[19 ] (hình 1.6)
Hình 1.6: Cơ chế điều hòa testosterone [19]
1.11.Các phương pháp định lượng nồng độ testosterone:
Hầu hết các hormon có mặt trong máu với một lượng rất nhỏ được tínhbằng nanogram/ml máu(10-9g) hoặc picogram/ml máu(10-12g).Do vậy nhìnchung khó có thể dùng các kĩ thuật định lượng hóa học thông thường để địnhlượng nồng độ hormon trong máu
Trang 21Từ 30 năm nay người ta đã sử dụng một kĩ thuật có độ nhạy và độ đặcđặc hiệu cao để định lượng hormon, tiền horon hoặc các dẫn xuất của chúng,
đó là phương pháp miễn dịch phóng xạ cạnh tranh (Radio Immuno RIA).Ngoài ra người ta còn dùng phương pháp miễn dịch enzym (EnzymImmino Assay-EIA) để định lượng hormon hoặc dùng các phương pháp khácnhư đo độ thanh thải của hormon, đo mức chế tiết hormon [4]
Assay-Năm 1997 người ta còn sử dụng phương pháp miễn dịch điện hóa phátquang (Electrochemiluminescence Immuno Assay- ECLIA) để định lượnghormon do hãng Boehringer Mannheim giới thiệu[10]
Hiện nayba phương pháp hay dùng để định lượng hormon là phươngpháp RIA,EIA,ECLIA
1.11.1.Phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA):
1.11.1.2.Bước tiến hành:
- Tạo kháng thể đặc hiệu cao với hormon cần định lượng bằng cáchtiêm hormon tinh khiết cho một số loài động vật (thỏ, chuột )
- Các bước tiến hành:
Trang 22Hình 1.7: Bước tiến hành của phương pháp RIA[29]
Lưu ý: điều kiện của phương pháp: kháng thể không đủ để gắn vớihormon,mục đích để tạo ra tình trạng gắn cạnh tranh giữa hormon có trongdịch cần định lượng với hormon chẩn gắn phóng xạ
- Sau đó đo hormon gắn phóng xạ-kháng thể bằng máy đếm phóng xạ
- So sánh phức hợp hormon phóng xạ gắn kháng thể đếm được ở trênvới đường cong chuẩn để tính lượng hormon trong mẫu cần định lượng
1.11.1.3 Ưu điểm, nhược điểm:
Ưu điểm:Có thể định lượng với số lượng lớn cùng một lúc, nhanh vàchính xác
Nhược điểm: đồng vị phóng xạ bị phân rã nên thời gian sử dụng hạnchế, sử dụng chất phóng xạ nên cần được thiết kể đảm bảo an toàn khi sử dụng
Trang 231.11.2.Phương pháp miễn dịch enzym(EIA):
1.11.2.1.Nguyên tắc chung:
Dựa vào nguyên tắc dùng hai kháng thể đơn dòng “kẹp” vào hai đầucủa chất thử (hormon).Một trong hai kháng thể được đánh dấu bằngenzym.Nếu gọi chất thử là Ag, kháng thể không đánh dấu là Aco, kháng thểđánh dấu là Ac*, ta có:
-Gắn enzym vào kháng thể đặc hiệu tạo ra kháng thể đánh dấu
-Kháng thể đặc hiệu được cố định trên bề mặt rắn
-Mẫu hormon cần định lượng được thêm vào ống nghiệm đã có sẵnkháng thể đặc hiệu Các phân tử hormon sẽ gắn với các kháng thể cố định
-Kháng thể đánh dấu được thêm vào hỗn hợp phản ứng sẽ gắn vớikháng nguyên đã gắn với kháng thể cố định, tạo nên phức hợp đánh dấu
‘sandwich” “ Kháng thể - Hormon - kháng thể đánh dấu”
-Tách phức hợp đánh dấu “Kháng thể - Hormon – Kháng thể đánh dấu”
ra khỏi phần dịch còn lại bằng cách rửa loại bỏ các phần tử không gắn
-Cho chất nền không màu vào phức hợp “ Kháng thể - Hormon –Kháng thể đánh dấu” Dưới tác dụng của enzym gắn trên kháng thể đánh dấu,chất nền từ không màu chuyển sang có màu
-Sau khi chất màu chuyển màu kết thúc,đo nồng độ của chất nền cómàu bằng máy đo phổ hấp phụ.Cường độ của màu trên phổ hấp phụ tỉ lệ vớinồng độ hormon cần định lượng
Trang 24-So sánh lượng phức hợp đánh dấu từ mẫu chưa biết với đường cong chuẩn
từ mẫu đã biết trước để tính lượng hormon trong mẫu cần định lượng [17]
Hình 1.8: Bước tiến hành của phương pháp EIA [17].
1.11.2.3.Ưu điểm, nhược điểm:
Ưu điểm: Phương pháp này có độ nhạy cao, tiến hành được trên nhiềumẫu thử và không phải tiếp xúc với các chất phóng xạ
Nhược điểm: giá thành cao
1.11.3.Phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA):
1.11.3.1.Nguyên tắc chung:
Dựa vào nguyên lý cạnh tranh, sử dụng kháng thể đơn dòng đặc hiệukháng trực tiếp testosterone [16]
1.11.3.2.Bước tiến hành:
Trang 25-Trộn mẫu cần định lượng với hỗn hợp gồm kháng thể đặc hiệu gắn biotin
và kháng thể gắn Rutenium là chất đánh dấu điện hóa phát quang.Testosterone gắnđồng thời với 2 kháng thể tạo nên phức hợp miễn dịch tương ứng
-Thêm vi phân tử phủ streptavidin vào hỗn hợp,nhờ tương tác giữabiotin và streptavidin nên phức hợp miễn dịch sẽ gắn vào các vi phân tử này
-Hỗn hợp phản ứng được đưa vào ô đếm, các vi phân tử gắn phức hợpmiễn dịch được từ trường hút lên bề mặt của điện cực
-Gắn điện thế cho điện cực Sau đó phản ứng hóa học xảy ra gây rahiện tượng phát quang, ánh sáng phát ra được đo bằng bộ nhân quang
-So sánh kế quả đo được với đường cong chuẩn, từ đó biết nồng độtestosterone trong mẫu thử
Hình 1.9: Bước tiến hành của phương pháp ECLIA [28].
1.11.3.3.Ưu điểm, nhược điểm:
Ưu điểm: Phương pháp này có ưu điểm là thời gian tiến hành ngắn(18 phút), làm được trên nhiều mẫu cùng lúc, độ nhạy và độ chính xác cao
Nhược điểm: giá thành cao
CHƯƠNG 2
Kháng thể đặc hiệu gắn biotin
Kháng thể gắn Ru
Trang 26ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn lựa:
Nữ giới khỏe mạnh, lứa tuổi 13-80
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ:
-Kinh nguyệt không đều: số chu kì kinh < 8 lần trong năm, 1 chu kì hành kinh <26 ngày hoặc >35 ngày
-Mắc một số bệnh: suy giáp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn mỡ máu,hộichứng Cushing,tăng sản thượng thận,bệnh tim mạch, cao huyết áp, ung thư
-Buồng trứng đa nang
-Cắt buồng trứng
-Rối loạn chức năng gan
2.2.Địa điểm nghiên cứu:
-Thành thị: quận Đống Đa,thành phố Hà Nội
-Nông thôn:huyện Kim Bảng,tỉnh Hà Nam
2.3.Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang: là nghiên cứu tại một thời điểm
Mục đích của nghiên cứu là mô tả phân bố nồng độ testosterone ở nữ giới tuổi từ 13-80, và các yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ testosterone
Trang 272.3.2 Cách lấy mẫu:
Chọn ngẫu nhiên 4 phường trong quận Đống Đa.Mỗi phường chọnngẫu nhiên 3 cụm,mỗi cụm chọn ngẫu nhiên 4 tổ.Lập danh sách toàn bộ số nữgiới trong độ tuổi nghiên cứu làm khung chọn mẫu.Khung chọn mẫu được sắpxếp ngẫu nhiên theo nhóm tuổi và chọn ngẫu nhiên với khoảng cách là 4 kể từngười đầu danh sách
Chọn ngẫu nhiên tương tự cho xã nông thôn ở huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam
2.3.3 Cỡ mẫu
Dựa vào kết quả testosterone huyết thanh toàn phần trong các lứa tuổicủa các nghiên cứu trước [45],nồng độ testosterone toàn phần cho các nhómtuổi ở bang miền Đông Nam của Australia như sau:
Với sai số 5% ta tính cỡ mẫu cho mỗi 1 lớp tuổi (1 lớp tuổi tươngđương 10 năm theo cách phân chia lớp tuổi của WHO), dựa vào công thức:
n=1,962× s2(x ± ε)2
x: giá trị trung bình từ nghiên cứu trước
ε: Mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (chọn ε= 0,2)
Trang 28Thay vào công thức trên ta có cỡ mẫu cho từng nhóm tuổi:
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là 206 người
2.3.4.Qui trình nghiên cứu:
Các đối tượng đều được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi sàng lọc, sau đóđược các bác sỹ khám lâm sàng để thỏa mãn tiêu chuẩn loại trừ của nghiêncứu, sau đó các đối tượng được mời lấy máu làm xét nghiệm và các chỉ sốnghiên cứu khác tại bệnh viện Bạch Mai
Lập danh sách lấy mẫu, chọn ngẫu nhiênPhỏng vẫn,khám lâm sàng,sàng lọc đối tượng nghiên cứu
Đối tượng loại trừ Danh sách đối tượng khỏe mạnh n=266
Lấy máu xét nghiệm và chỉ số nghiên cứu
Xử lý mẫu máu, lưu trữ dữ liệu
Phân tích mẫu máu
Trang 29Hình 1.10: Qui trình nghiên cứu
2.4.Các chỉ số nghiên cứu và phương pháp đo:
-Chiều cao: đo bằngthước đo nhân trắc
-Cân nặng: đo bằng cânđiện tử
-BMI:tính theo công thứcKaup:BMI=P/h2.
-Hút thuốc.
-Uống rượu
-Uống café
-Chế độ luyện tậpthể dục thể thao
-Mẫu phân tích: huyết thanh đối tượng nghiên cứu
-Kít thuốc thử testosterone của hãng Roche:gồm một bộ 3 lọ
+Lọ M (nắp trắng),6,5ml:có vi hạt phủ streptavidin 0,72 mg/ml, chấtbảo quản
+Lọ R1(nắp xám),8ml:kháng thể đơn dòng kháng testosterone gắnbiotin 55ng/ml, đệm phosphat 40mmol/L,pH 7.0,chất bảo quản
Trang 30+Lọ R2 (nắp đen), 8ml:dẫn xuất của testosterone được gắn với phứchợp ruthenium 3ng/ml: kháng nguyên tự do ANS/Norgestrel, đệm phosphat40mmol/L,pH 7.0,chất bảo quản.
-Bước tiến hành:
+Máu được lấy trong ngày từ 8h đến 17h.Máu toàn phần chứa trongống nghiệm không có chất chống đông, để đông tự nhiên và li tâm trong 30phút sau khi lấy mẫu để tách huyết thanh.Mẫu huyết thanh của từng đối tượngđược chia và các Eppendort (khoảng) 150μl, bảo quản nhiệt độ -80oC cho tớikhi xét nghiệm
+Định lượng nồng độ testosterone huyết thanh bằng phương pháp điệnhóa phát quang (ECLIA) trên máy Elecsys 2010, máy đo phổ ánh sáng phát ra
từ mẫu thử một cách tự động,so sánh kết quả với đường cong chuẩn đãbiết.Do đó biết nồng độ testosterone trong mẫu huyết thanh
2.4.3.Dụng cụ và phương pháp đo các chỉ số nhân trắc:
-Dụng cụ: cân điện tử, thước đo nhân trắc có chia vạch tới milimet.-Cân nặng (kg): đối tượng nghiên cứu bỏ giầy dép,đồ dùng cá nhân, chỉmặc quần áo mỏng khi cân, đọc số cân ở tư thế mắt nhìn vuông góc với mặtkính đồng hồ
-Chiều cao đứng (cm): đối tượng đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, hai gótchân chạm gót, bàn chân mở một góc 60 độ, hai tay buông thẳng và úp vàomặt ngoài đùi.Khi đo đối tượng chạm gót,mông, lưng,chẩm vào thước.Lấy số
đo từ gót chân tới đỉnh đầu
-Chỉ số BMI:là chỉ số khối của cơ thể, được viết tắt từ body massindex.BMI được tính bằng công thức của Kaup: BMI= P/h2, trong đó: P là cânnặng (kg), h: là chiều cao( mét)
2.5.Xử lí thống kê các số liệu nghiên cứu:
Các số liệu được nhập và xử lí bằng máy tính bằng phần mềm SPSS 16.0