1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt

112 1,6K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Trường học Bệnh viện Châm cứu trung ương
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, định nghĩa này vẫn được sử dụng rộng rãi trongcác nghiên cứu như sau: “Bại não là một nhóm các rối loạn của hệ thần kinhtrung ương gây nên bởi tổn thương não không tiến triể

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bại não là thuật ngữ chỉ một nhóm những rối loạn của hệ thần kinhtrung ương do tổn thương não không tiến triển gây ra Bại não gây nên đatàn tật về vận động, trí tuệ, giác quan và hành vi, thường xảy ra trong thời

kỳ phát triển thai nhi, trước, trong, sau khi sinh cho đến năm tuổi Các rốiloạn về vận động gây trở ngại nhiều nhất cho trẻ trong sinh hoạt tối thiểuhàng ngày Trẻ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Do đó, phục hồichức năng vận động (PHCN) cho trẻ là vấn đề hết sức cần thiết

Trên thế giới, theo thống kê mới nhất năm 2002 cho thấy bại não chiếm

tỷ lệ 1,8 - 2,5/1000 trẻ sơ sinh sống [6], [30], [40] Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ bại não

ở trẻ dưới 8 tuổi là 3,6/1000 trẻ sơ sinh sống [58], và hàng năm có khoảng500.000 trẻ mắc bại não, chiếm tỷ lệ 0,2% tổng số trẻ [30] Ở Việt Nam,chưa có số liệu điều tra quốc gia về tỷ lệ hiện mắc bại não, nhưng theo thống

kê trên thì có khoảng 125.000 - 150.000 trẻ em Việt Nam mắc bệnh này Việc phục hồi chức năng vận động cho trẻ còn gặp rất nhiều khó khăn Yhọc hiện đại (YHHĐ) và Y học cổ truyền (YHCT) đều tìm các phương pháp điềutrị với hiệu quả tối ưu cho trẻ bại não Tuy nhiên, việc phối hợp điều trị của Y học

cổ truyền (YHCT) tỏ ra có vai trò tích cực và mang lại kết quả khả quan

Trong những năm gần đây, số lượng trẻ bại não đến điều trị tại Bệnhviện Châm cứu trung ương (BVCCTW) ngày càng tăng Theo số liệu thống

kê năm 1998, tại khoa Nhi, điều trị 394 trẻ mắc bại não (chiếm 25,7% tổng

số bệnh nhi), đến năm 2002 con số này tăng gần gấp 3 lần 912 trẻ ( chiếm47,3% tổng số bệnh nhi) [21], đến năm 2011 chiếm 74,61% tổng số bệnhnhi Trong đó, bệnh nhi thể co cứng chiếm tỷ lệ cao nhất (60 - 70% tổng sốtrẻ bại não) [6]

Trang 2

Từ trước đến nay, YHCT cũng có các nghiên cứu về phương pháp khôngdùng thuốc PHCN cho trẻ bại não Các phương pháp đã sử dụng như: xoa bópbấm huyệt, hào châm, điện châm, điện mãng châm, thủy châm, … Điện châm làphương pháp kích thích huyệt bằng một dòng điện nhất định để phòng bệnh vàchữa bệnh, bằng cách sử dụng một máy điện tử tạo xung điện ở tần số thấp Thủychâm (hay còn gọi là tiêm thuốc vào huyệt) là một phương pháp chữa bệnh dùngbiện pháp của YHHĐ phối hợp với phương pháp chữa bệnh châm kim củaYHCT, thông qua chính tác dụng của thuốc và tác dụng của châm cứu, duy trìthời gian kích thích lên huyệt vị nhằm nâng cao hiệu quả điều trị [13] Trong cácphương pháp phục hồi vận động không thể không nói tới các liệu pháp vậnđộng, xoa bóp đặc biệt đối với phục hồi cho trẻ bại não YHCT không có cácphương tiện vận động như YHHĐ, nhưng bàn tay người thầy thuốc với các độngtác xoa bóp, vận động đã góp phần đáng kể thúc đẩy PHCN cho bệnh nhân Trên thực tế, phục hồi vận động cho trẻ bại não phối hợp điện châm, thủychâm và xoa bóp bấm huyệt đang được áp dụng tại khoa Nhi BVCCTW, có manglại hiệu quả, nhưng chưa có đánh giá tổng kết.

Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả phục hồivận động cho trẻ, giúp trẻ sớm hòa nhập với gia đình và xã hội, chúng tôi tiến

hành đề tài: “Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại

não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt”

Với hai mục tiêu:

1. Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm.

2. So sánh kết quả điều trị của nhóm điều trị bằng điện châm, thủy châm và nhóm điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1.1 Trên thế giới

Tại các nước phát triển: số liệu rất phong phú và đa dạng

- Stanley nghiên cứu tại Ôxtrâylia cho biết tỷ lệ bại não là 2,1 - 2,7/1000trẻ đẻ sống, trong đó tỷ lệ nam/nữ là 2,23 [28]

- Anh là nơi có nhiều nghiên cứu dịch tễ học bại não nhất và tỷ lệ cũngrất khác nhau giữa các nghiên cứu từ 0,8 - 4,16/1000 người từ 0 - 20 tuổi,trong đó bại não mắc phải chiếm 10 - 13% [50]

- Tại Đan Mạch, tỷ lệ bại não trên trẻ đẻ sống là 1,4 -2,6/1000 không tínhbại não mắc phải [53]

- Tại Hoa kỳ, tỷ lệ bại não là 2,1 - 2,4/1000 trẻ từ 0 -10 tuổi, tỷ lệnam/nữ là 1,5 [44]

Tỷ lệ bại não được chấp nhận chung tại các nước phát triển là 2,02,5/1000 trẻ đẻ sống trong đó khoảng 10 – 15% là bại não mắc phải [49]

Tại các nước đang phát triển:

- Tỷ lệ bại não tại vùng Kashmir, Ấn Độ là 1,46/1000 trẻ đẻ dưới 14 tuổi [53]

- Tại Thổ Nhĩ Kỳ, số trẻ bại não chiếm khoảng 7% tổng số trẻ mắc cácrối loạn thần kinh và tỷ lệ bại não là 5,6/1000 trẻ 0 - 5 tuổi [47]

- Tỷ lệ bại não tại Trung Quốc là 1,6/1000 trẻ 7 tuổi [40]

1.1.2 Tại Việt Nam

- Tỷ lệ trẻ bại não được điều trị tại khoa hoặc các trung tâm phục hồichức năng tuyến tỉnh và trung ương rất cao từ 30 - 74% (Trần Thị Thu Hà,2002; Nguyễn Hồng Phúc, (2001) [3])

Trang 4

- Hoàng Trung Thông (2001) nghiên cứu tình hình trẻ bại não tại tỉnhKhánh Hòa cho thấy tỷ lệ hiện mắc bại não tại đây là 0,6/1000 dân [19].

- Nguyễn Thị Minh Thủy (2001) nghiên cứu tình hình trẻ bại não tại tỉnh

Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc bại não tại đây là 1,5/1000 dân [22]

- Tỷ lệ nam/nữ mắc bại não trung bình là 1,05 - 1,5 tương đương tỷ số1,2 tại Ả-rập-xê-út [3]

1.2 QUAN NIỆM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ BẠI NÃO

1.2.1 Định nghĩa bại não

Định nghĩa bại não được viện Bệnh lý thần kinh quốc gia Hoa Kỳ đưa

ra năm 1985 Cho đến nay, định nghĩa này vẫn được sử dụng rộng rãi trongcác nghiên cứu như sau: “Bại não là một nhóm các rối loạn của hệ thần kinhtrung ương gây nên bởi tổn thương não không tiến triển ảnh hưởng vào giaiđoạn trước sinh, trong khi sinh, và sau sinh cho đến 5 tuổi với các biến thiênbao gồm rối loạn vận động, tinh thần, giác quan và hành vi” [8] Định nghĩacũng được dùng để chẩn đoán xác định bại não trong nghiên cứu này

1.2.2 Phân loại bại não

Hiện nay đã có một số phân loại bại não như sau:

- Phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới về bại não (1992): chương 6 – Mãhóa từ G80 đấn G83

- Phân loại Quốc tế thuộc về nhóm khiếm khuyết, giảm khả năng và tàntật của Tổ chức Y tế Thế giới (1980) đang được triển khai áp dụng rộng rãitrong chương trình phục hồi chức năng cộng đồng

- Phân loại Quốc tế thuộc về chức năng, giảm khả năng và sức khỏe của

Tổ chức Y tế Thế giới năm 2001 đang được triển khai áp dụng

Stanley (2000) đã đưa ra phân loại về bại não dựa vào một số yếu tốnhư: lâm sàng, định khu tổn thương, mức độ khiếm khuyết và yếu tố bệnh

Trang 5

nguyên, cơ chế bệnh sinh và các vấn đề đi kèm Phân loại này được nhiềuchuyên gia bại não trên thế giới và Việt Nam áp dụng [53].

- Theo thể lâm sàng: thể co cứng, múa vờn, thất điều, mềm nhẽo và phối hợp

- Theo khu trú tổn thương: liệt tứ chi, nửa người, hai chân

- Theo nguyên nhân: trước khi sinh, trong khi sinh, sau khi sinh, không

rõ nguyên nhân

- Theo mức độ khiếm khuyết: nhẹ, vừa, nặng, rất nặng

1.2.3 Phân loại theo định khu tổn thương

Phân loại theo định khu tổn thương [53]:

- Liệt tứ chi: cả 4 chi đều tổn thương nhưng 2 tay hoặc 2 chân nặng hơnđồng nghĩa với liệt cứng tứ chi hay liệt nửa người hai bên

- Liệt hai chi: Liệt tứ chi nhưng liệt hai tay nhẹ hơn hoặc liệt hai chânnặng hơn

- Liệt nửa người: Nửa người bị liệt nhưng tay thường nặng hơn chân,nửa người phải hay gặp hơn nửa người trái

1.2.4 Phân loại theo mức độ khiếm khuyết về vận động

Theo Platt (1998), bại não có thể chia ra 4 mức độ [53]:

- Mức độ nhẹ: trẻ bị bại não nhưng vẫn đáp ứng được các nhu cầu hàngngày, di chuyển không cần sự trợ giúp và vẫn có khả năng tới trường

- Mức độ vừa: trẻ bại não thiếu khả năng tự chăm sóc và di chuyển,thường có khiếm khuyết về tiếng nói; trẻ bại não loại này cần phải được phụchồi cả về vận động lẫn ngôn ngữ

- Mức độ nặng: trẻ thiếu khả năng tự di chuyển, tiếng nói kém, cần đượcphục hồi đặc biệt

Trang 6

- Mức độ rất nặng: trẻ không tự di chuyển được, rối loạn toàn bộ cácchức năng khác ở mức độ nặng, trẻ cần được phục hồi và chăm sóc đặc biệt.

1.2.5 Nguyên nhân bại não

Nguyên nhân bại não [25]:

1 2 5 1 Nguyên nhân thời kỳ bào thai

Nguyên nhân trước sinh chiếm khoảng 15%

- Dị tật ống thần kinh, cấu trúc bán cầu đại não, não bé, não nước: 10 - 15%

- Biến chứng thai sản (nhiễm độc thai, rau tiền đạo, suy dinh dưỡng bào thai)

- Bất thường nhiễm sắc thể, 20% là Down, 1 - 6% liên quan đến nhiễmsắc thể X dễ gẫy, không xác định được bất thường nhiễm sắc thể nào: 4 - 5%

1 2 5 2 Nguyên nhân thời kỳ chu sinh

Nguyên nhân trong khi sinh chiếm khoảng 40-60%

- Đẻ non tháng (xuất huyết nội sọ, thiếu oxy não) 5 - 15% trẻ đẻ non, cânnặng 1500g có nguy cơ bị bại não hoặc trẻ sinh đôi mà có một trẻ đã bị chết

- Tai biến sản khoa (đẻ ngạt, sang chấn sọ não) chiếm 15 - 20% tổng số trẻbại não sống Tỷ lệ mắc bệnh bại não cao ở trẻ đẻ ngạt có chỉ số Apgar 0 - 3điểm, ngạt trên 10 phút

Trang 7

- Nhiễm khuẩn thần kinh (viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết,nhiễm Herpes).

- Rối loạn chuyển hóa: tăng bilirubin máu, giảm đường máu

1 2 5 3 Nguyên nhân thời kỳ sơ sinh, nhũ nhi

Nhóm nhuyên nhân sau sinh chiếm khoảng 30 - 45%

- Sang chấn sọ não, tai biến mạch máu não, bệnh não mắc phải, tổnthương não do thiếu máu - thiếu oxy não

- Nhiễm khuẩn thần kinh, ngộ độc, rối loạn chuyển hóa (bệnh Reye)

- Không rõ nguyên nhân

1.2.6 Bệnh sinh

Bộ não của trẻ có thể bị tổn thương ngay từ thời kỳ bào thai

Bảng 1.1 Sự hình thành não, các giai đoạn não bị tổn thương [25]

Tháng bào thai Tổ chức có thể bị tổn

3 tháng đầu Cấu trúc hệ thống thần kinh

Ống thần kinh, sinh sản

tế bào thần kinh, di cư

tế bào thần kinh

3 tháng giữa Tế bào thần kinh đệm ít đuôi Tổ chức não trắng

3 tháng cuối Tế bào thần kinh Não xám, vỏ não, thể

trai, tế bào nhân xám

Bại não thể liệt co cứng là do tổn thương vỏ não tủy sống

Liệt co cứng nửa người có thể do tổn thương động mạch não giữa Trênhình ảnh chụp cắt lớp điện toán cho thấy tổ chức bị thiếu máu và bị hoại tử.Thường liệt co cứng nửa người bên phải gấp đôi liệt nửa người bên trái

Trang 8

Một vài trẻ bại não liệt nửa người có teo quanh não thất, dự đoán là cóbất thường ở chất trắng.

Bại não liệt tứ chi có thể do teo não trắng lan tỏa, có nhiều nang trongnão, não úng thủy, teo vỏ não

Một số trường hợp bại não có liên quan đến sự phát triển não ở mức độ

vi thể Bệnh thiếu men của ty lạp thể

Trong 30 năm gần đây, các nhà thần kinh học kết luận: Chất trắng của nãoxung quanh não thất đóng vai trò quan trọng trong rối loạn vận động bẩm sinh Trẻ đẻ non tháng dễ bị rối loạn đông máu gây xuất huyết, dẫn đến hoại

tử chất trắng xung quanh não thất rồi dần dần nang hóa và teo não Siêu âmqua thóp giúp nhận biết ổ nhồi máu, ổ xuất huyết, đó là vùng tăng âm (tăng tỷtrọng), vùng giảm âm (giảm tỷ trọng) tức là tổ chức não bị hoại tử và sau nàyphát triển thành nang nước Đôi khi khối tăng âm giảm nhanh không biếnthành khối giảm âm Hình ảnh giảm âm quanh não thất có tiên lượng xấu, saunày sẽ bị rối loạn chức năng vận động

1.2.7 Biểu hiện lâm sàng các thể bệnh

* Thể co cứng: là thể hay gặp nhất, theo Nguyễn Thị Minh Thủy (2001)

chiếm 73% [22]; theo Trần Thị Thu Hà chiếm 62,6% [4];theo Merlin.J.Mercham(Hoa Kỳ) chiếm khoảng 62,8% [43]

- Thể này được đặc trưng bởi sự tăng trương lực cơ, tăng phản xạ gânxương và dấu hiệu đa động gân gót, kèm theo dấu hiệu Babinski

- Bất thường về kiểm soát vận động chủ động tại các chi, yếu cơ và mấtvận động khi thực hiện động tác: bàn tay luôn nắm chặt, bàn chân duỗi chéocứng đơ

- Phản xạ sơ đẳng như phản xạ trương lực cơ cổ không cân xứng giữ lâu

Trang 9

Các vận động tế nhị ít dần, đặc biệt trẻ không cử động từng khớp riêngbiệt được (khó gập cổ tay hay gập gối được).

- 40% trẻ liệt nửa người bên phải nhiều hơn liệt nửa người bên trái Yếutay mặt nhiều hơn yếu chân

- 20% có liệt cứng tứ chi Khởi đầu giảm trương lực cơ, sau chuyểnthành tăng trương lực cơ Hai chi trên gấp lại, hai chi dưới thì bắt chéo

- 5 - 10% có liệt hai chi (thể này gặp nhiều ở trẻ đẻ non) Hai chi dướiliệt nhiều hơn hai chi trên Trương lực cơ hai chi giảm

Trẻ có biểu hiện chậm trưởng thành của hệ thần kinh với sự có mặt củaphản xạ nguyên thủy và tồn tại sau 6 tháng tuổi [8] Trẻ thường có chậm pháttriển tinh thần ở các mức độ khác nhau Sự tăng trương lực cơ ngày càng tiếntriển dần Ở một số trẻ, tăng trương lực cơ biểu hiện bằng co cứng xuất hiệnsớm; một số trẻ giai đoạn đầu thường biểu hiện giảm trương lực cơ, đặc biệt ởnhóm cơ kiểm soát đầu, cổ [26] Mức độ tăng trương lực cơ thay đổi từ nhẹđến nặng tùy theo mức độ tổn thương não và không đồng đều ở các nhóm cơ.Theo Bobarth (1980) và Dietz (1981), các mẫu vận động bất thường haygặp ở trẻ bại não co cứng là gập chi trên và duỗi chi dưới ” [29] Các dấu hiệukhác như: Co rút cơ, biến dạng xương khớp hay gặp ở trẻ bại não co cứng dokhông có khả năng duy trì hoạt động chủ động trong một thời gian dài [2]

*Thể múa vờn: Thể này theo Nguyễn Thị Minh Thủy chiếm 7,8%; theo

Trần Thị Thu Hà chiếm 21,3 %; theo Merlin J Mecham có khoảng 11,7% trẻbại não thuộc thể múa vờn, thường là do tổn thương hệ ngoại tháp [7], [43]

Ở thể múa vờn hay gặp những dấu hiệu lâm sàng như rối loạn trương lực

cơ, có mặt của các vận động không tùy ý, kiểm soát đầu cổ kém, liệt tứ chi:lúc cứng đờ, lúc mềm, phản xạ gân xương bình thường; mồm há liên tục, chảynhiều dớt dãi, trẻ có thể điếc ở tần số cao

Trang 10

*Thể thất điều: Theo Nguyễn Thị Minh Thủy chiếm 2,6%; theo Trần

Thị Thu Hà chiếm 1,3%; theo Merlin J Mecham chiếm 4,9% [43] Thể rốiloạn điều phối thường gặp ở những tổn thương tại tiểu não Các dấu hiệu lâmsàng hay gặp là: giảm trương lực cơ toàn thân, rối loạn hoặc mất điều phốivận động tùy ý, phản xạ gân xương bình thường và còn tồn tại các phản xạnguyên thủy

*Thể mềm nhẽo: Thể này hiếm gặp, theo Trần Thị Thu Hà chiếm 0,9%

[3]; theo St Louis chiếm khoảng 1% Các dấu hiệu lâm sàng của thể này là:giảm hoặc mất trương lực cơ, phản xạ gân xương có thể gặp bình thường hoặctăng Tuy nhiên, một số thầy thuốc lâm sàng cho rằng thể nhẽo không thuộcthể nào của bại não, nhưng nó sẽ là dấu hiệu của trạng thái mà sau đó sẽchuyển thành bại não, thường sẽ chuyển thành thể co cứng hoặc thể rối loạnđiều phối

*Thể phối hợp: Thể này theo Nguyễn Thị Minh Thủy chiếm 14% [22];

trong nghiên cứu của St Louis thể phối hợp đã được xác định chiếm 12% [43]

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi nghiên cứu kỹ đến một thể bệnh: trẻbại não thể co cứng

1.2.8 Chẩn đoán bại não

1.2.8.1 Chẩn đoán xác định

* Dựa vào định nghĩa bại não của Viện bệnh lý thần kinh quốc gia Hoa

Kỳ năm 1985 [25], bao gồm hai tiêu chuẩn:

- Rối loạn vận động do tổn thương hệ thần kinh trung ương nhưng khôngphải là hậu quả của một bệnh tiến triển

Trang 11

- Rối loạn vận động xảy ra trong giai đoạn từ khi sinh đến khi sinh nhậtlần thứ năm.

* Bệnh nhi được chẩn đoán là bại não liệt vận động thể co cứng gồm 3tiêu chuẩn:

- Tuổi khởi phát dưới 5 tuổi

- Rối loạn về chức năng hệ thần kinh trung ương:

+ Trương lực cơ luôn tăng ở các mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng.+ Tăng phản xạ: tăng phản xạ gân xương, có thể xuất hiện dấu hiệu runggiật gân gót (Clonus)

+ Xuất hiện một hay nhiều phản xạ nguyên thủy: phản xạ duỗi chéo,…+ Dấu hiệu tổn thương bó tháp: dấu hiệu Babinski, Hoffman

+ Bất thường về kiểm soát vận động có chủ ý các cơ chân tay, thân mình.Mẫu vận động bất thường như mẫu vận động đồng tác, chuyển động khối

- Sự phát triển trí tuệ: bình thường hoặc chậm phát triển

1.2.8.2 Chẩn đoán phân biệt

* Bệnh thần kinh cơ

- Bẩm sinh: Bệnh nhược cơ, bệnh dây thần kinh giảm chất myelin, teo cơ

do loạn dưỡng tủy sống

- Bệnh sau khi sinh: bệnh dây thần kinh có tính chất gia đình, nhược cơnặng, teo cơ do loạn dưỡng tủy

* Bệnh thoái hóa

- Liệt cứng có tính chất gia đình, múa vờn Huntington

- Thất điều Friedreich và thoái hóa tiểu não

Trang 12

* Bệnh rối loạn chuyển hóa

- Bệnh chất dự trữ Lysosom, bệnh rối loạn chuyển hóa men Pyruvat(trong ty lạp thể), bệnh Wilson

- Bệnh đái ra acid amin

* Bệnh khuyết tật xương khớp

* Rối loạn vận động không tự chủ: Tíc (máy giật cơ), múa vờn Syndeham,

rung giật cơ mắt

* Bệnh do tủy sống: Dị tật não, tủy sống.

1.3 BỆNH BẠI NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

Trong bệnh học của YHCT Phương Đông không thấy đề cập đến bệnhdanh của bại não như YHHĐ Dùng phương pháp đối chiếu so sánh bệnhcảnh lâm sàng, bại não được mô tả gần giống nhóm bệnh gồm năm chứng

“mềm” và năm chứng “chậm”, theo YHCT là “ngũ nhuyễn”, “ngũ trì”, cũngcòn gọi là “nhược chứng”, hay “nhuyễn chứng” Bệnh phần nhiều là chứng

“thận khí hư nhược” [18]

Theo lý luận của YHCT, khi trẻ đẻ thiếu tháng thì “tiên thiên thai bẩmbất túc, nguyên khí bị hư yếu” Khi trẻ đẻ khó, quá trình đẻ quá dài gây ngạt,thì nguyên khí bị tổn thương [18], [22], [24]

Sách Y tông kim giám, mục “Âu Khoa Tâm Pháp” viết: “Chứng ngũ trì

ở trẻ em nguyên nhân phần nhiều do khí huyết của cha mẹ hư yếu, tiên thiênsút kém, đến nỗi sinh ra gân xương mềm yếu, đi lại khó khăn, răng mọcchậm, ngồi không vững… chủ yếu đều do thận khí không đầy đủ”

Chứng trẻ em thận khí hư nhược trong quá trình biến hóa và phát triểnbệnh cơ mười phần phức tạp bởi vì thận là gốc của tiên thiên, là cội nguồnsinh trưởng và phát dục; thận khí hư yếu, thì nguồn hóa sinh ra thận tinh bất

Trang 13

túc, dẫn đến cơ năng tạng phủ ở toàn thân phát sinh bệnh biến Do thận chứatinh, tinh sinh tủy, tủy ở trong xương tư dưỡng các khớp Khi thận khí hư yếu,không còn nguồn sinh hóa cho cốt tủy, làm cho chất xương ở trẻ em mềm yếuhoặc lưng gối không mạnh, chân mềm rũ không đi đứng được Thận hư thìnão tủy bất túc, làm xuất hiện các chứng kém trí khôn, tư duy đần độn…Thận là gốc của tiên thiên, là cơ sở của hậu thiên Tỳ là gốc của hậuthiên Trẻ bại não là do “tiên thiên bất túc”, thường dẫn đến “hậu thiên bấthòa” Đó là do thận khí hư yếu, hỏa của mệnh môn bất túc, không có khảnăng làm ấm tỳ dương, tỳ không vận hóa được thủy cốc và bổ sung tinh chothận dẫn đến tỳ thận đều hư Ngoài ra, do dinh dưỡng kém, cũng làm cho tinhhuyết kém vì không có nguồn hóa sinh tân dịch Điều này góp phần làm chobệnh trầm trọng thêm, gây phát dục chậm, tinh thần chậm chạp.

Mặt khác, thận sinh ra huyết, huyết lại được tàng trữ ở can Do đó, khithận tinh hư tổn dẫn đến can huyết bất túc và ngược lại Ngoài ra, can chủ cânnên trên lâm sàng thấy trẻ không đi được, chân tay co cứng, co vặn, răngnghiến chặt, ở nhiều trẻ có các cơn động kinh

Hải Thượng Lãn Ông (1724 - 1791) trong tác phẩm “Y Tông Tâm Lĩnh”[18], đã phân tích nguyên nhân và cơ chế của bệnh như sau: năm chứng mềm

“ngũ nhuyễn” là do thai yếu duối Có trẻ vì tinh cha huyết mẹ suy kém màsinh ra Có trẻ vì huyết người mẹ đã lạnh lại cố dùng thuốc bổ vào mà có thai,người mẹ bệnh đa đàm, hoặc nhiều tuổi mà có con, hoặc sinh thiếu tháng,hoặc uống thuốc phá thai, thai không phá mà chân khí bị hại nên sinh ra conyếu đuối, không chịu đựng được nóng lạnh, chứ ít hay bị lục dâm xâm phạm

mà gây ra chứng ngũ mềm Chứng này theo mô tả của Hải Thượng bao gồmcác triệu chứng: “Đầu cổ mềm yếu nghẹo, không ngẩng lên được; môi mềm

Trang 14

xệ, nhai kém; tay mềm rũ không cầm nắm giơ lên được; chân mềm yếu khôngđứng được; người mềm, cơ nhục mềm nhẽo, gầy róc”.

Theo Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông năm chứng “chậm” là chậm biếtđứng, chậm biết đi, chậm mọc tóc, chậm mọc răng, chậm biết nói… Cáchchữa nên bổ ích ngũ tạng, bổ dưỡng khí huyết Chậm biết đứng, biết đi, chậmmọc răng thì bổ thận khí là chủ yếu, kiêm bổ khí huyết Chậm mọc tóc thì bổhuyết làm chủ; chậm biết nói thì dưỡng tâm ích khí làm chủ [18]

Như vậy, nguyên nhân của các chứng liệt trong bại não có thể là “tiênthiên bất túc”, có thể là do những nguyên nhân hậu sinh, có thể là nội nhân, cóthể là ngoại nhân…

Theo Trung Y nhi khoa [], chứng ngũ trì, ngũ nhuyễn cơ bản bệnh dochính khí hư, tà thực:

+ Chính khí hư: ngũ tạng bất túc, khí huyết hư nhược, cốt tủy không đầy đủ.+ Tà thực: đàm ứ chủ trệ tâm kinh, tâm não thần minh mất chủ

Biện chứng tạng phủ được chia làm 3 thể:

* Thể can thận hư tổn: thể này gặp nhiều trong thoái hóa não, não phát triển

không bình thường, bệnh nhiễm sắc thể, hoặc tổn thương não khi sinh Biểuhiện: trẻ cổ gáy cứng, tứ chân tay cử động chậm, khi đứng chân co rút, bướckhông thẳng, mặt, mắt co kéo, nói không rõ, lưỡi đỏ, mạch vi sác

+ Pháp điều trị: Bổ thận sinh tủy, dưỡng can cường cân

+ Phương dược: Bài thuốc “Lục vị địa hoàng hoàn gia vị”

* Thể tâm tỳ lưỡng hư: nguyên nhân thường do bệnh lâu ngày cơ thể suy

nhược, hoặc bệnh chuyển hóa, di chứng viêm não Biểu hiện: chậm nói, chậmphát triển trí tuệ, tứ chi mềm yếu, miệng chảy nước dãi, tóc mọc chậm, cơnhục yếu, biếng ăn

Trang 15

+ Pháp điều trị: Kiện tỳ dưỡng tâm, bổ ích khí huyết.

+ Phương dược: Bài thuốc “Điều nguyên tán”

* Đàm ứ trở trệ: Gặp nhiều trong di chứng nhiễm độc não, khuyết tật bẩm

sinh, tổn thương não sau chấn thương Biểu hiện: trẻ câm điếc, phản ứngchậm, ý thức lơ mơ, không tự làm chủ

+ Pháp điều trị: Trừ đàm khai khiếu, hoạt huyết thông lạc

+ Phương dược: Bài thuốc “Thông khiếu hoạt huyết thang” phối hợp “Nhịtrần thang”

Theo Y học cổ truyền, người ta thường xếp trẻ bại não thể co cứng thuộcthể can thận hư tổn []

1.4 ĐIỀU TRỊ CHO TRẺ BẠI NÃO CÓ RỐI LOẠN VẬN ĐỘNG

1.4.1 Mục đích điều trị

- Mục đích chủ yếu cho trẻ bại não là nhằm tạo dựng chức năng vậnđộng cho trẻ càng sớm càng tốt Đây cũng là mục đích hàng đầu của việc điềutrị cho trẻ bại não

- Mục đích điều trị thứ hai là hạn chế tối đa những khuyết tật về vận động

1.4.2 Nguyên tắc điều trị

- Dựa trên cơ chế bệnh sinh: ngày nay, người ta đã dựa trên những điểmmấu chốt của cơ chế bệnh sinh để nghiên cứu ra những phương pháp PHCN nhưsau:

+ Nguyên tắc điều trị sớm để giúp trẻ dễ dàng tạo dựng phản xạ chỉnh thể+ Nguyên tắc kích thích các vùng chưa tổn thương, ức chế các vùngbệnh lý

Trang 16

- Nguyên tắc điều trị theo triệu chứng: được đề xuất dựa trên những biến đổithứ phát của cơ, khớp, dây chằng

Các phương pháp điều trị đều dựa trên các dạng rối loạn vận động thường

là theo thể lâm sàng, mức độ nặng nhẹ của bệnh nhằm tăng cường vận động, ứcchế và phá vỡ các phản xạ bệnh lý, điều chỉnh khả năng thăng bằng…

1.4.3 Các phương pháp điều trị bại não bằng YHHĐ

Không thể điều trị khỏi bại não, chỉ có thể giúp, cải thiện chức năng vậnđộng để giúp trẻ thích nghi với điều kiện sống

1.4.3.1 Điều trị ngoại khoa

- Kích thích tủy sống: Barolat và cộng sự (1988); Hugenhltz và cộng sự,(1988) dùng điện kích thích tủy sống qua các điện cực đặt trên màng cứng [45]

- Cắt thần kinh tủy sống có chọn lọc: phẫu thuật để làm giảm co cứng,tiếp theo cắt bỏ cung đốt sống, dùng điện kích thích rễ thần kinh gây nên phảnứng trong điện cơ; điều trị vật lý hàng ngày hoặc một tuần ba lần trong vàituần sau khi mổ là tốt nhất và theo một số tác giả sẽ cho một kết quả tối ưu;còn thông thường là yếu sau khi mổ; ngoài ra, chỉ có tác dụng đối với điều trịliệt hai chi dưới và kết quả thường không có giá trị lâu dài; các yếu tố nguy cơ

và giá trị của phẫu thuật này chưa được xác định rõ (Coliliani, 1991;Montgomery, 1992) [12], [32], [34]

- Người ta còn tiến hành các phẫu thuật kéo dài hoặc chuyển gân, phẫuthuật mổ cố định khớp cổ tay bị liệt biến dạng [9], [17], [38]

Nói chung, các loại phẫu thuật thường được chỉ định khi trẻ bại não bị cocứng các khớp nặng nề ảnh hưởng đến vận động Mục đích kéo dài các gân và

cơ quá ngắn, các phẫu thuật viên cần phải xác định được chính xác cơ nào bịngắn, nếu xác định nhầm nhóm cơ sẽ gây ra hậu quả tồi tệ hơn

Trang 17

Hiện nay, người ta còn tiến hành nghiên cứu một số phẫu thuật để điều trịcho trẻ bại não như phẫu thuật đặt điện cực lâu dài kích thích tiểu não và vùngđồi thị chỉ huy cảm giác bản thể Người ta hy vọng nhờ phẫu thuật này sẽ giảmđược co cứng các cơ, mặt khác kích thích được chức năng vận động Một số tácgiả cho kết quả tốt, số khác chưa đạt được kết quả như mong muốn [46].

Như vậy, điều trị bằng phương pháp phẫu thuật mới chỉ được chỉ địnhđiều trị cho trẻ bại não ở các giai đoạn muộn khi đã có co cứng và co vặn cáckhớp Còn ở các giai đoạn sớm, khi trẻ còn quá nhỏ thì không thích hợp Phẫuthuật không có tác dụng kích thích phát triển vận động, giúp trẻ phát triển mộtcách tự nhiên theo các bậc thang phát triển của hệ thần kinh trung ương Hơnnữa, phẫu thuật chỉ được tiến hành tại các cơ sở điều trị hiện đại với nhữngchi phí mà không phải gia đình trẻ bại não nào cũng có khả năng điều trị

1.4.3.2 Điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa hay còn gọi là điều trị bảo tồn là phương pháp được sửdụng phổ biến nhất hiện nay trong điều trị cho trẻ bại não Điều trị nội khoabao gồm: điều trị bằng thuốc và các phương pháp phục hồi chức năng

a, Điều trị bằng thuốc: Thuốc thường được dùng trong điều trị liệt cho

trẻ bại não như một phương pháp điều trị triệu chứng

- Thuốc phong bế thần kinh tại chỗ: Thuốc được sử dụng gần đây nhất làBotulinum toxin A [10], [23], [52], [55] Thuốc có tác dụng làm giảm trươnglực cơ nên có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế đến mức tối thiểu hình thành co rútkhi xương phát triển Loại can thiệp này thường được sử dụng trong điềuchỉnh co rút gập khớp khuỷu, co rút khép ngón cái, dáng đi trên đầu ngónchân hoặc dáng đi cà nhắc [41] Tại Việt Nam, gần đây đã có một số nghiêncứu bước đầu sử dụng Botulinum toxin A để điều trị co cứng cơ cho trẻ bạinão có hiệu quả đáng kể [10], [23]

Trang 18

- Tiêm Baclofen trong ống sống: Baclofen, một dẫn xuất của acidGamma Aminobutyric được đưa vào cơ thể thông qua một bơm được cấydưới da, có tác dụng trên bệnh nhân tăng trương lực cơ toàn thân gây hạn chếthực hiện chức năng Những bệnh nhân được chỉ tiêm Baclofen có thể đượcchia làm hai nhóm Nhóm thứ nhất là những bệnh nhân đi lại được nhưngdáng đi xấu do trương lực cơ tăng hoặc những bệnh nhân cơ bị yếu Nhómthứ hai gồm những bệnh nhân tăng trương lực cơ toàn thân làm ảnh hưởngđến các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày [33].

- Ngoài ra, còn có một số thuốc uống khác cũng được làm để làm giảm

co cứng như: Baclofen, Dantrozen sodium, Chlordiazepoxide và Diazepam

b, Các phương pháp phục hồi chức năng:

Điều trị phục hồi vận động cho trẻ bại não hiện nay đã chuyển từ hệ thốngcác biện pháp điều trị riêng rẽ sang những chương trình can thiệp rộng rãi trong

đó kết hợp nhiều biện pháp như: Vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, chỉnh hình vàdụng cụ thích nghi với các phương pháp giáo dục và phát triển trẻ

* Cách chăm sóc trẻ: bao gồm: cách bế ẵm trẻ, đặt tư thế đúng, chăm

sóc hàng ngày bao gồm tắm rửa, mặc quần áo, cho ăn Tư thế đúng của trẻ làyếu tố quan trọng hàng đầu vì giúp trẻ thực hiện chức năng tốt hơn và hạn chếcác cử động bất thường

* Vật lý trị liệu: Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm trong phục hồi

chức năng vận động cho trẻ bại não Vật lý trị liệu có tác dụng phòng các biếnchứng thứ phát về thần kinh - cơ, cải thiện nâng cao vận động…Mục tiêu cơbản của điều trị vật lý trị liệu là giảm tối thiểu khiếm khuyết, giảm tàn tật, vàtăng cường chức năng ở mức tốt nhất Các biện pháp điều trị vật lý trị liệu baogồm: ánh sáng trị liệu, điện trị liệu, vận động trị liệu, dụng cụ trợ giúp vàchỉnh hình, kéo giãn và xoa bóp

Trang 19

- Xoa bóp: Là thao tác bằng tay tác dụng thư giãn cơ, tạo thuận cho vận

động dễ dàng hơn và người bệnh cũng cảm thấy dễ chịu hơn Đối với trẻ bạinão, mọi buổi tập đều có thể bắt đầu bằng xoa bóp [16]

- Vận động trị liệu:

Đây là phương pháp đóng vai trò trong tạo dựng chức năng vận độngcho trẻ bại não Có nhiều phương pháp vận động để phục hồi chức năng chotrẻ bại não liệt vận động: tập theo tầm vận động thụ động, tập tích cực chủđộng, tập theo phương pháp Bobath… Trong đó, các kỹ thuật tạo thuận vậnđộng là hệ thống các bài tập tạo thuận dựa trên các mốc phát triển về vậnđộng thô: kiểm soát đầu, cổ; lẫy, ngồi; bò; đứng; đi; chạy đang được áp dụngtại một số trung tâm PHCN Tuy nhiên, trẻ nhiều khi cũng phải đủ lớn, đặcbiệt là không có rối loạn về tâm trí để hiểu và để có thể phối hợp với thầythuốc trong các bài tập luyện, đặc biệt là trong các bài tập vận động tinh tế;phương pháp này đòi hỏi phải có những trung tâm chuyên PHCN và cũng đòihỏi những dụng cụ đặc chế

- Ánh sáng và thủy trị liệu:

Tia hồng ngoại và tử ngoại

Thủy trị liệu bao gồm: bồn nước xoáy, bể bơi…Đối với trẻ bại não, dotrẻ có những vận động tư thế bất thường và do trẻ yếu nên trong hầu hết cáctrường hợp, tập vận động trong nước sẽ giúp trẻ bại não thực hiện được vậnđộng chức năng dễ dàng hơn [11], [15]

- Điện trị liệu: Kích thích điện là một biện pháp được sử dụng để làm tăng

sức mạnh của cơ Ngoài ra, nó có thể dùng để tăng cường chức năng, đạt đượchoặc duy trì tầm vận động của khớp, tạo thuận kiểm soát cơ chủ động và/hoặclàm giảm co cứng Dòng điện điều trị hay dùng là dòng điện một chiều (dòngGanvanic) hoặc dòng điện xung [35]

Trang 20

- Hoạt động trị liệu: Mục tiêu của hoạt động trị liệu là giúp trẻ độc lập tối đa

trong sinh hoạt cũng như trong cuộc sống Các kỹ thuật cơ bản gồm:

- Huấn luyện khả năng sử dụng 2 tay: kỹ năng cầm nắm đồ vật, kỹ năngvới cầm

- Huấn luyện khả năng sinh hoạt hàng ngày: kỹ năng ăn uống, mặc quần

áo, đi giầy dép, kỹ năng vệ sinh cá nhân, tắm rửa, đánh răng rửa mặt

* Dụng cụ trợ giúp và chỉnh hình:

- Dụng cụ trợ giúp: ghế ngồi bại não, khung và xe tập đi, xe lăn…

- Dụng cụ chỉnh hình: nẹp dưới gối, trên gối; áo cột sống; nẹp bàn tay;đai nâng cổ…

Có thể nói trên thế giới hiện nay có rất nhiều phương pháp để điều trị liệtvận động cho trẻ bại não Hầu hết các phương pháp này đều tác động đến trẻbại não theo những hướng riêng biệt: để phòng bệnh, kích thích phát triển hệthống thần kinh - cơ, hoặc là để phát triển vận động, hoặc là để khắc phụcnhững khuyết tật về vận động do các biến chứng thứ phát của quá trình tổnthương não gây ra Các phương pháp này nói chung là rất đắt tiền, hiệu quảđiều trị mới chỉ dừng lại ở từng giai đoạn phát triển, từng triệu chứng, chứkhông có tác dụng liên tục, tổng hợp; trong khi đó điều trị liệt cho trẻ bại nãođòi hỏi một phương pháp vừa có thể áp dụng được liên tục lâu dài, vừa kíchthích phát triển vận động, lại vừa điều chỉnh các rối loạn vận động, khắc phụcđược các biến chứng thứ phát của cơ - xương - khớp Thực tế là các trung tâmPHCN ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được hết nhu cầu về điều trị của trẻ

1.5 ĐIỀU TRỊ BẠI NÃO BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN

Trang 21

1.5.1 Tình hình điều trị bại não bằng phương pháp không dùng thuốc trên thế giới

Ở Trung Quốc (1993), Zhou X.J, Chen J.T, Chen T, Trường đại học yZhenjiang đã nghiên cứu tác dụng của châm cứu kết hợp với bấm huyệt và luyệntập điều trị cho 75 trẻ bại não Sau từ 10 đến 20 lần châm, nhóm trẻ nghiên cứu

đã có những cải thiện tích cực về khả năng vận động lẫn tâm trí [61]

Wei Yuxiang, Lu Shenglu và Wang Xingwu đã nghiên cứu châm xuyênhuyệt Tứ thần thông đến Bách hội kết hợp với một số huyệt khác để điều trịliệt vận động cho trẻ bại não Nghiên cứu được tiến hành trên 100 trẻ bại não,chia làm 2 nhóm Kết quả khỏi và đỡ: nhóm điều trị bằng châm cứu là 84%,nhóm chứng điều trị bằng uống Cerebrolysin là 48% (p< 0,05) [56]

Stockert K (1998) đã nghiên cứu tác dụng điều trị của châm cứu và kíchthích điện trong điều trị cho trẻ bại não Tác giả đã sử dụng một số các huyệt

và một số các cơ xác định trong nghiên cứu và cho rằng việc sử dụng thườngxuyên điện châm trong điều trị cho trẻ bại não là rất có ý nghĩa [54]

Zang NX, Liu GZ, Sun KX, Hao JD (2007) đã nghiên cứu tác dụng củađầu châm và thể châm kết hợp tập phục hồi chức năng cho 40 trẻ chia làm hainhóm Sau 6 tháng điều trị, nhóm nghiên cứu điều trị bằng châm cứu và tậpphục hồi chức năng cải thiện 85,71%, nhóm chứng điều trị bằng tập phục hồichức năng cải thiện 63,16% (p<0,05) [60]

Năm 2008, tác giả Ji YH và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng của đầuchâm và vận động trị liệu cho trẻ bại não thể co cứng Nghiên cứu tiến hànhtrên 80 trẻ chia làm hai nhóm Nhóm nghiên cứu gồm 40 trẻ được điều trịbằng châm cứu huyệt Bách hội, Tứ thần thông và một số huyệt khác kết hợpvới vận động trị liệu; nhóm nghiên cứu điều trị bằng vận động trị liệu Kếtquả cho thấy, nhóm nghiên cứu cải thiện đến 92,5%, nhóm chứng là 72,5%,khác biệt hai nhóm có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Tác giả kết luận kết hợp

Trang 22

châm cứu và vận động trị liệu góp phần cải thiện hạn chế về chức năng vậnđộng của trẻ bại não thể co cứng [37]

Năm 2009, Yu HB, Liu YF, Wu LX tiến hành điều trị cho trẻ bại nãobằng châm cứu và liệu pháp âm nhạc chia làm hai nhóm, mỗi nhóm 30 trẻ bạinão, nhóm nghiên cứu điều trị bằng châm cứu và liệu pháp âm nhạc, nhómchứng điều trị bằng châm cứu Sau 12 tuần điều trị (3 ngày/1 tuần), chức năngvận động cải thiện ở cả hai nhóm, nhóm nghiên cứu cải thiện hơn các độngtác bò, quỳ, đứng và đi (p<0,01) [59]

Duccan B và các cộng sự (2012) nghiên cứu đánh giá tác dụng của phụchồi chức năng tích cực kết hợp và không kết hợp châm cứu trên 75 trẻ bại nãothể co cứng Với thời gian điều trị 28 tuần, tác giả đưa ra kết luận nên tậpphục hồi chức năng tích cực sớm cho trẻ, kết hợp châm cứu có cải thiện xuhướng co cứng của trẻ tuy nhiên kết quả chưa được rõ ràng [31]

Châm cứu cũng được ứng dụng để điều trị cho trẻ bại não tại nhiều nướckhác như Pháp, Hoa kỳ… như một phương pháp điều trị hỗ trợ và dự phòng

1.7.2 Tại Việt Nam

Châm cứu là một trong các phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh cổnhất của Y học cổ truyền Nhiều thầy thuốc châm cứu giỏi như An Kỳ Sinh,Cao Lỗ thời Thục An Dương Vương, Châu Canh, Tuệ Tĩnh, Nguyễn ĐạiNăng, Hải Thượng Lãn Ông hoặc Vũ Bình Phủ (Nam Dương Bình) trong cáctác phẩm như “Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca”, “Nam Dược Thần Hiệu”, “YTông Tâm Lĩnh”, “Y Thư Lược Sao” đều có nói về kinh nghiệm chữa bệnhbằng châm cứu trong điều trị các chứng nuy (liệt, tê, bại, teo cơ… ) Tuy vậy,các y văn cổ cho thấy bại não chủ yếu được chữa bằng thuốc bắc, thuốc namđơn thuần, sau kết hợp với châm cứu và xoa bóp đã cải thiện được một phầncác chức năng bị rối loạn [22] Một số các đề tài nghiên cứu trước đây tậptrung vào nghiên cứu chữa di chứng liệt ở trẻ em do viêm não, viêm màng

Trang 23

não, hay do bại liệt, tức là chữa bại não ở giai đoạn sau sinh, hay theo Y học

cổ truyền là do ôn bệnh

Thừa kế và phát huy vốn quý của cha ông, kết hợp YHCT với YHHĐ, từnăm 1960 đến nay Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã hướng dẫn kỹ thuật dùng kimdài, to châm trên huyệt đạo (mãng châm) và dùng dòng điện kích thích (điệnchâm) trong điều trị các chứng liệt nói chung và đặc biệt là trong điều trị liệttrẻ em do bại não nói riêng tại bệnh viện Châm cứu trung ương [20]

Theo Nguyễn Thị Lina, Phan Chí Hiếu (2001), nghiên cứu lâm sàng có sosánh, sắp xếp ngẫu nhiên 88 bệnh nhi bại não trong 30 ngày đã cho thấy phươngpháp cuộn da vùng lưng phối hợp với bấm huyệt Thận du - Mệnh môn (trên cơ

sở điều trị vật lý trị liệu hàng ngày) cải thiện được tình trạng yếu cổ, yếu lưng,đồng thời cũng cải thiện được tình trạng yếu liệt chi trẻ bại não [14]

Bùi Thị Thanh Thúy (2003) nghiên cứu tác dụng của điện mãng châmđiều trị cho 50 trẻ bại não Sau 60 ngày điều trị, kết quả có 100% trẻ bại não

có sự dịch chuyển độ liệt Đối với vận động thô: kết quả điều trị đạt loại tốt là58%, loại khá là 42% [21]

1.6 THANG ĐO LƯỜNG CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ GROSS MOTOR FUNCTION MEASURE

1.6.1 Nguồn gốc và giá trị

GMFM (Gross Motor Function Measure) là một trong những thang điểmđánh giá chức năng vận động thô cho trẻ bại não rất chính xác và hiệu quả,mang tính khách quan cao, được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Tại ViệtNam, việc lượng giá khả năng vận động thô của trẻ bại não tại các khoa, cáctrung tâm PHCN mang tính chủ quan nhiều hơn Chính vì vậy, dẫn đến sựkhông thống nhất về tiêu chuẩn đánh giá về vận động cho trẻ bại não của cácnhà PHCN Nhi khoa Hiện tại, mới có một nghiên cứu áp dụng thang điểm

Trang 24

GMFM vào đánh giá khả năng vận động thô của trẻ bại não của Vũ DuyChinh (2005) [1].

GMFM bắt đầu nghiên cứu áp dụng đánh giá chức năng vận động thôcho trẻ có tổn thương não từ năm 1990 gồm 85 mục, thông qua các nghiêncứu của mình Russell đã chỉ ra rằng GMFM đóng một vai trò quan trọng đốivới các bác sỹ lâm sàng Nhi, các kỹ thuật viên PHCN, các nhà nghiên cứu vềNhi khoa Sau hai lần cải tiến và điều chỉnh để phù hợp trong đánh giá chứcnăng cho trẻ bại não, Russell đã đưa ra thang điểm đánh giá gồm 66 mục, còngọi GMFM-66 [48]

Đây là một công cụ có hiệu quả để mô tả, đánh giá mức độ hiện tại củatrẻ về chức năng vận động thô, từ đó đề ra mục tiêu điều trị, đồng thời cũngdùng để giải thích và đánh giá sự tiến bộ của trẻ bại não sau một thời gianđiều trị và PHCN

1.5.2 Phương pháp đánh giá theo GMFM:

- Khả năng vận động thô của trẻ được đánh giá trên 5 lĩnh vực (phụ lục 2):

1 Nằm và lẫy: gồm 4 mục

2 Ngồi: gồm 15 mục

3 Bò và quỳ: gồm 10 mục

4 Đứng: gồm 13 mục

5 Đi, chạy, nhảy: gồm 24 mục

- Cách cho điểm từng mục như sau (mỗi mục là một động tác):

0= Trẻ không thể khởi đầu một hoạt động

1= Trẻ có thể khởi đầu một hoạt động và thực hiện được <10% hoạt động 2= Trẻ có thể thực hiện một phần hoạt động (10 đến dưới 100% hoạt động)

Trang 25

3= Trẻ có thể thực hiện hoàn toàn một hoạt động (100% hoạt động).

- Cách tính điểm:

Cho điểm từng mục, sau đó cộng tổng điểm của các tiết mục trong từngmốc vận động rồi chia cho điểm số tối đa của lĩnh vực đó để tìm ra tỉ lệ % củatừng lĩnh vực:

Tỷ lệ % của lĩnh vực = ∑điểm của trẻ trong lĩnh vực/tổng điểm của lĩnh vực x 100 %

* Ưu điểm của GMFM: Đây là phương pháp lượng giá rất chi tiết, cụ thể

và mang tính khách quan cao để đánh giá chức năng vận động thô của trẻ bạinão Bảng đo lường trên đã được áp dụng trên nhiều nước và tỏ ra rất hữu íchkhi so sánh kết quả các nghiên cứu khác nhau

* Hạn chế của GMFM: GMFM chỉ đánh giá riêng về chức năng vận

động thô và khi đánh giá phải lượng giá đầy đủ các mục, nếu không sẽ bỏ sótcác mục trẻ có thể làm được Người đánh giá phải là bác sỹ, kỹ thuật viênPHCN được hướng dẫn sử dụng bảng GMFM

1.7 TRẮC NGHIỆM DENVER II TRONG ĐÁNH GIÁ TRẺ BẠI NÃO 1.7.1 Nội dung trắc nghiệm Denver II

Trắc nghiệm Denver II là một trong những trắc nghiệm sàng lọc đượcdùng để đánh giá sự phát triển tâm lý - vận động của trẻ từ 1- 72 tháng tuổi Đây là công cụ được nhiều tác giả trên thế giới và Việt Nam sử dụng trongcác lĩnh vực Nhi khoa và PHCN Dùng trắc nghiệm Denver để sàng lọc, đánhgiá trẻ bại não cho thấy được sự khiếm khuyết và mức độ phát triển của trẻ vềcác lĩnh vực:

Trang 26

1.7.2 Đánh giá kết quả trắc nghiệm Denver II ở trẻ bại não trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kết quả lượng giá của tất cảcác trẻ bại não theo Test Denver II để đánh giá và phân loại mức phát triển cánhân - xã hội, mức phát triển vận động thô của trẻ khi vào viện

Trang 27

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Máy điện châm M7 do Bệnh viện Châm cứu Trung ương sản xuất

- Thuốc thủy châm: Vitamin B1, Vitamin B12, Novocain 3%

- Kim châm cứu: kim từ thép không rỉ do Việt Nam sản xuất, có độ dài

từ 6cm đến 8cm, đường kính 0,2 đến 1mm

- Bông vô khuẩn, cồn 700, panh inox, khay inox

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bao gồm các bệnh nhi dưới 6 tuổi không phân biệt giới được chẩn đoánbại não thể co cứng được khám và điều trị nội trú tại Khoa Nhi Bệnh việnChâm cứu Trung ương trong thời gian từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 7 năm

2012 đáp ứng tiêu chuẩn chọn và phân loại bệnh nhân nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

*Lựa chọn theo Y học hiện đại:

- Bệnh nhi được chẩn đoán xác định là bại não theo định nghĩa bại não củaviện bệnh lý thần kinh quốc gia Hoa Kỳ năm 1985 [8], bao gồm hai tiêu chuẩn:

+ Rối loạn vận động do tổn thương hệ thần kinh trung ương nhưngkhông phải là hậu quả của một bệnh tiến triển

+ Rối loạn vận động xảy ra trong giai đoạn từ khi sinh đến khi sinhnhật lần thứ năm

- Bệnh nhi được chẩn đoán là bại não liệt vận động thể co cứng gồm 3tiêu chuẩn:

1 Tuổi khởi phát dưới 5 tuổi, tuổi từ 1 - 6 tuổi

2 Rối loạn về chức năng hệ thần kinh trung ương:

- Trương lực cơ luôn tăng ở các mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng

Trang 28

- Tăng phản xạ: tăng phản xạ gân xương, có thể xuất hiện dấu hiệu runggiật gân gót (Clonus).

- Xuất hiện một hay nhiều phản xạ nguyên thủy: phản xạ duỗi chéo,…

- Dấu hiệu tổn thương bó tháp: dấu hiệu Babinski, Hoffman

- Bất thường về kiểm soát vận động có chủ ý các cơ chân tay, thân mình.Mẫu vận động bất thường như mẫu vận động đồng tác, chuyển động khối

3 Sự phát triển trí tuệ: bình thường hoặc chậm phát triển

- Phân độ co cứng của trẻ theo thang điểm Asworth cải tiến [27], [57],(phụ lục 5): độ 1, độ 1+, độ 2

- Không có bệnh viêm nhiễm mạn tính khác

- Có sự đồng ý hợp tác của gia đình trẻ, tự nguyện tham gia vào quá trìnhnghiên cứu

*Lựa chọn theo Y học cổ truyền:

Bệnh nhi được khám theo tứ chẩn và bát cương của Y học cổ truyền,được xác định mắc chứng ngũ trì, ngũ nhuyễn thể can thận hư tổn với cáctriệu chứng sau: răng mọc chậm, ngồi không vững, chân tay co cứng, co vặn,

cổ gáy cứng, chân tay cử động chậm, khi đứng chân co rút, bước không thẳng,nói không rõ, phát dục chậm, tinh thần chậm chạp, lưỡi đỏ, mạch vi sác

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Bệnh nhi bại não nhưng ở các thể khác (thể múa vờn, thất điều, mềmnhẽo, thể phối hợp) hoặc bệnh nhi không phân biệt được thể hoặc không xếpđược vào nhóm nào

- Bệnh nhi động kinh (dựa vào lâm sàng và điện não)

- Bệnh nhi có liệt vận động do các nguyên nhân khác như:

+ Bệnh thần kinh - cơ, bệnh thoái hóa thần kinh

+ Bệnh rối loạn chuyển hóa

Trang 29

+ Bệnh khuyết tật xương khớp, bệnh do tủy sống, não khác: dị tật tủysống, u não.

- Bệnh nhi dưới 1 tuổi và trên 6 tuổi

- Bệnh nhi phân độ co cứng theo thang điểm Asworth cải tiến độ 3, độ 4

- Bệnh nhi tự bỏ hoặc không có điều kiện tham gia điều trị trong quátrình nghiên cứu

- Bệnh nhi quá yếu, không thích hợp với việc điều trị bằng điện châm,thủy châm, bệnh nhi thể tâm tỳ lưỡng hư, đàm ứ trở trệ

- Không được sự đồng ý của cha, mẹ bệnh nhi tham gia vào nghiên cứu

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng mở, sosánh trước và sau điều trị, so sánh giữa hai nhóm

- Cỡ mẫu nghiên cứu: Lấy toàn bộ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn và loạitrừ (như mục 2.2), vì lý do hạn chế thời gian tiến hành đề tài nên chúng tôi lấy

cỡ mẫu nhỏ để thực hiện: lấy 60 bệnh nhân sau đó chia làm hai nhóm (nhóm I

và nhóm II) theo phương pháp ghép cặp theo tuổi, mức độ bệnh, mức độ cocứng cơ để đảm bảo sự tương đồng giữa hai nhóm

Nhóm I (30 bệnh nhân): được điều trị bằng điện châm, thủy châm phối

hợp với xoa bóp bấm huyệt trong thời gian 4 tuần

Nhóm II (30 bệnh nhân): được điều trị bằng điện châm và thủy châm

trong thời gian 4 tuần

2.3.2 Quy trình nghiên cứu

2.3.2.1 Tuyển chọn bệnh nhân và chia nhóm

- Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán xác định là bại não thể co cứngbằng YHHĐ, đáp ứng các tiêu chuẩn chọn bệnh nhân của nhóm nghiên cứu(như mục 2.2)

Trang 30

- Các bệnh nhân đều được hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng và cận lâmsàng một cách hệ thống theo một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất.

- Bệnh nhân cả hai nhóm nghiên cứu đều được làm các cận lâm sàng:công thức máu, điện não trong quá trình điều trị, điện cơ trước và sau điều trị.Các cận lâm sàng đều được làm tại BVCCTW

Phân nhóm:

- Chọn các bệnh nhân thỏa mãn các yêu cầu của đối tượng nghiên cứu(gồm 60 bệnh nhân)

- Sau đó phân ngẫu nhiên các bệnh nhân đã chọn thành hai nhóm

+ Nhóm I (gồm 30 bệnh nhân): điện châm, thủy châm kết hợp với xoa

bóp bấm huyệt

+ Nhóm II (gồm 30 bệnh nhân): điện châm và thủy châm theo phác đồ

nghiên cứu (như nhóm I)

2.3.2.2 Cách điều trị

Nhóm I: Điện châm, thủy châm kết hợp với xoa bóp bấm huyệt.

*Phác đồ điện châm:

- Công thức huyệt: theo công thức của Giáo sư Nguyễn Tài Thu [20]

- Vị trí và cách xác định huyệt theo phụ lục 3: tùy theo tư thế sấp hay ngửa cócông thức huyệt như sau:

* Tư thế nằm ngửa:

- Châm tả: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Bát tà, Giải khê

- Châm bổ: Huyết hải, Dương lăng tuyền

* Tư thế nằm sấp:

- Châm tả: Phong trì, Giáp tích C7-D3, Giáp tích L2-S1, Kiên ngung, Ngoại quan, Hợp cốc, Trật biên, Ủy trung, Thừa sơn, Côn lôn

- Châm bổ: Túc tam lý, Tam âm giao

Trang 31

- Kỹ thuật điện châm: mắc máy điện châm sau khi châm

+ Tần số kích thích: Châm bổ: từ 1 - 3 Hz (khoảng 60 - 180 xung/phút)

Châm tả: từ 4 – 6 Hz (khoảng 240-360 xung/phút).+ Cường độ kích thích: từ 2μA - 50μA (ở ngưỡng bệnh nhân chịu đựng được).+ Điện châm ngày một lần vào buổi sáng, thời gian 30 phút

+ Liệu trình điện châm: 4 tuần, các ngày trong tuần trừ các ngày thứbảy, chủ nhật hàng tuần

*Phác đồ thủy châm:

- Công thức huyệt:

+ Khúc trì: là huyệt hợp của kinh dương minh đại trường, là nơi dươngkhí tạp trung nhiều và mạnh Huyệt có công dụng thanh nhiệt, khu phong,điều hòa khí huyết, chuyên trị bệnh thuộc kinh lạc Kinh nghiệm hiện naydùng để chữa di chứng liệt chi trên

+ Túc tam lý: có công dụng điều lý tỳ vị, điều trung khí, sơ phong hóathấp, thông điều kinh lạc, bổ chính khu tà Kinh nghiệm hiện nay dùng đểchữa di chứng liệt chi dưới, ngoài ra còn có tác dụng bồi bổ nguyên khí của

cơ thể giúp phòng bệnh và nâng cao thể lực

- Kỹ thuật thủy châm:

+ Thuốc thủy châm: Vitamin B1 100mg x 1 ống

Trang 32

Vitamin B12 1000μg x 1 ống

Novocain 3% x 1/2 ống

Test mũi đầu trước thủy châm+ Thủy châm 0,5ml vào huyệt Khúc trì, sâu 0,5 - 1cm

+ Thủy châm 0,5ml vào huyệt Túc Tam Lý, sâu 0,5 - 1cm

+ Liệu trình: 4 tuần, thủy châm ngày một lần buổi sáng, các ngày trongtuần trừ các ngày thứ bảy, chủ nhật

*Thủ thuật xoa bóp:

- Tiến hành các thủ thuật xoa bóp bấm huyệt sau khi điện châm và thủy châmnhư sau:

+ Xoa: Dùng gốc bàn tay hoặc ô mô út xoa tròn trên da bệnh nhi

+ Xát: Dùng gốc bàn tay hoặc ô mô út di chuyển trên da bệnh nhi theo hướng thẳng.+ Day: Dùng gốc bàn tay hoặc ô mô út hoặc đầu ngón cái day vòngtròn da bệnh nhi di chuyển theo tay người làm Day các huyệt Giáp tích C7-D10, L2- S1

+ Bóp: Bàn tay hơi khum vào ngón cái một bên và 4 ngón còn kia kẹpmột bên vùng chỉ cần làm vào giữa, vừa bóp và kéo da, cơ bệnh nhi lên

+ Vê: Dùng ngón cái và ngón trỏ kẹp lấy ngón tay hoặc ngón chânbệnh nhi, hai ngón tay vận động ngược chiều nhau theo hướng thẳng

Trang 33

+ Vận động: Dùng cho các khớp của chi bên liệt: Một tay cố định trênkhớp cần vận động càng gần vị trí của khớp càng tốt Chỉ làm khi cơ quanhkhớp đã được làm mềm nhờ các động tác trên.

Các động tác trên thực hiện trên các chi liệt

+ Bấm huyệt: Dùng đầu ngón tay cái hoặc ngón trỏ, bấm vào da cơbệnh nhi, ngón tay nghiêng 450 so với vạt da Bấm các huyệt Giáp tích C4 -C7, D2 - D10, L2- S1

- Thời gian XBBH: 15 phút/lần

- Liệu trình điều trị: Ngày 1 lần buổi sáng trong 4 tuần, làm các ngàytrong tuần trừ các ngày thứ bảy, chủ nhật

Nhóm II:

Điều trị bằng điện châm và thủy châm theo phác đồ nghiên cứu như nhóm I

2.3.2.3 Theo dõi và đánh giá

- Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu được theo dõi và ghi chép theo một mẫubệnh án nghiên cứu được xây dựng thống nhất (phụ lục 1)

- Các bệnh nhân được điều trị nội trú và được theo dõi đầy đủ, chặt chẽdiễn biến bệnh hàng ngày cũng như được kiểm soát sự tuân thủ điều trị trongsuốt thời gian nghiên cứu

- Bệnh nhân nghiên cứu đều được theo dõi và đánh giá đầy đủ các chỉ tiêunghiên cứu tại các thời điểm:

+ Triệu chứng lâm sàng được theo dõi, đánh giá tại 2 thời điểm:

• Trước điều trị (T0)

• Sau điều trị 4 tuần (T4)

- Sơ đồ quy trình nghiên cứu được trình bày ở trang 38

Trang 34

2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá và theo dõi

Các chỉ tiêu chung:

- Đặc điểm về: tuổi, giới

- Đặc điểm liên quan đến bệnh lý: Nguyên nhân mắc bệnh, vị trí liệt

Các chỉ tiêu lâm sàng:

* Phân loại mức phát triển vận động(PTVĐ) thô và mức phát triển

cá nhân – xã hội (CNXH) của trẻ khi vào viện theo trắc nghiệm Denver:

Để phân loại mức phát triển của trẻ chúng tôi quy định như sau: Sử dụngkết quả đánh giá trắc nghiệm Denver biết được tuổi phát triển của trẻ ở lĩnhvực vận động thô và cá nhân - xã hội, chúng tôi tính tỷ lệ phần trăm tuổi pháttriển của trẻ trong lĩnh vực này so với tuổi thực để thấy được mức phát triển

1) Phát triển bình thường: Mức phát triển tương đương 100 - 80%

2) Chậm phát triển mức độ nhẹ: Mức phát triển tương đương 79 - 50%3) Chậm phát triển mức độ vừa: Mức phát triển tương đương 49 - 20%4) Chậm phát triển mức độ nặng: Mức phát triển tương đương < 20%

* Phân độ mức co cứng cơ theo thang điểm Asworth cải tiến: trong

phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chọn hai cơ là cơ nhị đầu cánh tay và cơ tứ dầuđùi, là hai cơ tiêu biểu cho vận động tay và chân (khi bị liệt hai cơ này thườngtổn thương nặng nhất) để đánh giá mức độ co cứng cơ của bệnh nhi

Trang 35

Bảng 2.1 Thang điểm ASHWORTH cải tiến [27], [57]

0 Không tăng trương lực cơ

1 Tăng nhẹ trương lực cơ, biểu hiện bằng động tác nắm và buông thả hay có sựkháng trở tối thiểu ở cuối tầm vận động khi gập hay duỗi đoạn chi

1+ Tăng nhẹ trương lực cơ, biểu hiện bằng động tác nắm, có sự kháng trở tốithiểu từ giữa đến cuối tầm vận động

2 Tăng trương lực cơ rõ rệt trong toàn bộ tầm vận động, nhưng vận động thụđộng khớp còn dễ dàng

3 Tăng trương lực cơ rất nhiều, vận động thụ động khó khăn

4 Phần chi tổn thương bị cứng đờ ở tư thế gập hay duỗi

- Cách theo dõi: các bệnh nhi được đánh giá tại hai thời điểm T0 và T4 trongquá trình nghiên cứu, phân độ co cứng cho trẻ với 3 mức: độ 1, độ 1+ và độ 2

Để tiện cho việc đánh giá, chúng tôi quy ước:

- Cách cho điểm từng mục như sau:

0: Không thể khởi đầu một hoạt động

1: Khởi đầu một hoạt động (thực hiện < 10%)

2: Thực hiện được một phần (thực hiện được từ 10% đến < 100% hoạtđộng)

3: Thực hiện được hoàn toàn một hoạt động

- Cách tính điểm:

Trang 36

Cho điểm từng mục, sau đó cộng tổng điểm của các mục trong từngmốc vận động rồi chia cho điểm số tối đa của lĩnh vực đó để tìm ra tỷ lệ %của từng lĩnh vực:

Bảng 2.2 Tóm tắt kết quả cho điểm

TT MỤC CHO ĐIỂM TÍNH TOÁN CÁC MỤC CHO ĐIỂM (Chỉ dẫn bằng dấu đánh v)MỤC TIÊU VÙNG

Đánh giá về hiệu quả điều trị chung:

* Theo thang điểm GMFM:

Trang 37

- So sánh mức điểm GMFM chênh trung bình giữa hai nhóm sau điều trị:

điểm chênh trung bình tổng, điểm chênh trung bình tại các mốc vận động

- Để phân loại mức độ tiến bộ về vận động thô theo điểm số GMFM (%) sau

điều trị hai nhóm chúng tôi dựa vào chênh lệch giữa GMFM sau và GMFMtrước (GMFM sau - GMFM trước = Chênh lệch) và quy định như sau:

* Theo thang điểm Asworth cải tiến:

- Đánh giá dịch chuyển độ co cứng của hai nhóm trẻ sau điều trị: so sánh tỷ lệ

Trang 38

- Các bệnh nhân được điều trị bằng điện châm, thủy châm và xoa bóptheo đúng phác đồ nghiên cứu Trong thời gian nghiên cứu bệnh nhân khôngđược dùng các phương pháp khác để điều trị.

- Các số liệu được xử lý khách quan và trung thực

Với p>0,05 sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Với p<0,05 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

2.3.7 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu được sự đồng ý của hội đồng khoa học, phòng Quản

lý sau đại học Trường đại học Y Hà Nội, Khoa Nhi BVCCTW và KhoaYHCT trường Đại học Y Hà Nội

- Đối tượng và bố, mẹ đối tượng được giải thích rõ ràng về mục đích,quyền lợi và nghĩa vụ tham gia vào nghiên cứu

- Chỉ nghiên cứu đối tượng tự nguyện tham gia và được sự đồng ý củagia đình đối tượng tham gia nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu có quyền rútkhỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào Kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho bệnh nhân,

Trang 39

nhằm mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho con người, ngoài ra khôngnhằm mục đích nào khác.

Trẻ bại não thể co cứng

(n = 60)

Nhóm I (n = 30)

Nhóm II (n = 30)

Trước điều trị (T0)(LS + CLS)

So sánh kết quả điều trị

Trước điều trị (T0)

(LS + CLS)

Sau điều trị (T4)(LS + CLS)

Trang 40

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi giữa hai nhóm

Nhóm tuổi (tháng)

Nhóm I (1)

Nhóm II (2)

Ngày đăng: 08/09/2014, 19:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Trần Trọng Hải (1995) "Lượng giá sự phát triển tâm thần vận động của trẻ em" , Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng, Nhà xuất bản Hà nội, tr.65-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng giá sự phát triển tâm thần vận động củatrẻ em
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà nội
8. Trần Trọng Hải (1995), "Phục hồi chức năng cho trẻ bại não", Vật lý trị liệu phục hồi chức năng, Nhà xuất bản Y học Hà nội, tr. 634-647 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng cho trẻ bại não
Tác giả: Trần Trọng Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà nội
Năm: 1995
9. Nguyễn Công Hoàng (2008), “Điều trị phẫu thuật liệt cứng chi dưới ở trẻ bại não từ 5 tuổi”, Hội nghị thường niên lần thứ XV- Hội Chấn thương Chỉnh hình TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị phẫu thuật liệt cứng chi dưới ở trẻbại não từ 5 tuổi”
Tác giả: Nguyễn Công Hoàng
Năm: 2008
10. Nguyễn Thy Hùng (2010), “Nhận xét về 10 trường hợp co cứng cơ trong bại não điều trị bằng Toxin Botilinum”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 14, phụ bản của số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về 10 trường hợp co cứng cơtrong bại não điều trị bằng Toxin Botilinum”, "Tạp chí Y học TP. Hồ ChíMinh
Tác giả: Nguyễn Thy Hùng
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Hương (1995), "Thủy trị liệu", Vật lý trị liệu Phục hồi chức năng, Nhà xuất bản Y học, tr. 217-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy trị liệu
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1995
12. Trần Anh Kiệt (1995), "Điều trị phục hồi chức năng sau phẫu thuật kéo dài gân gót ở trẻ bại não", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học- Tổng Hội Y dược học Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, tr. 53- 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị phục hồi chức năng sau phẫu thuật kéodài gân gót ở trẻ bại não
Tác giả: Trần Anh Kiệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1995
13. Nguyễn Nhược Kim, Trần Quang Đạt (2008), Châm cứu và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, Nhà xuất bản Y học, tr.10-15, 298 – 314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu và các phươngpháp chữa bệnh không dùng thuốc
Tác giả: Nguyễn Nhược Kim, Trần Quang Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
14. Nguyễn Thị Lina, Phan Chí Hiếu (2001), “Phục hồi một số di chứng vận động trẻ bại não bằng 2 phương pháp Cuộn da cột sống và bấm huyệt Thận du - Mệnh môn”, Bộ môn Châm cứu khoa Y học cổ truyền, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi một số di chứng vậnđộng trẻ bại não bằng 2 phương pháp Cuộn da cột sống và bấm huyệt Thậndu - Mệnh môn”, "Bộ môn Châm cứu khoa Y học cổ truyền
Tác giả: Nguyễn Thị Lina, Phan Chí Hiếu
Năm: 2001
16. Nguyễn Xuân Nghiên (1995), "Xoa bóp trị liệu", Vật lý trị liệu Phục hồi chức năng, Nhà xuất bản Y học, tr. 190-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoa bóp trị liệu
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1995
17. Lê Nghi Thành Nhân, Nguyễn Tiến Bình, Nguyễn Văn Nhân (2009),“Một số nhận xét vể phẫu thuật Green nhằm phục hồi động tác duỗi cổ tay ở bệnh nhân bại não”, Tạp chí Y học thực hành số 3, tập 1, tr. 24-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét vể phẫu thuật Green nhằm phục hồi động tác duỗi cổtay ở bệnh nhân bại não”, "Tạp chí Y học thực hành số 3
Tác giả: Lê Nghi Thành Nhân, Nguyễn Tiến Bình, Nguyễn Văn Nhân
Năm: 2009
18. Nguyễn Văn Thang (2001), Khái yếu tác phẩm Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông, Nhà xuất bản Y học, tr. 357- 358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái yếu tác phẩm Hải Thượng Y TôngTâm Lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông
Tác giả: Nguyễn Văn Thang
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
19. Hoàng Trung Thông (2001), “Tình hình trẻ em bại não tỉnh Khánh Hòa”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học- Hội Phục hồi chức năng Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, tr. 277-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình trẻ em bại não tỉnh KhánhHòa”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học- Hội Phục hồi chức năngViệt Nam
Tác giả: Hoàng Trung Thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
20. Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy (1997), Châm cứu sau Đại học, Nhà xuất bản Y học, tr 246- 205, 145- 8, 117- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu sau Đại học
Tác giả: Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy
Nhà XB: Nhà xuấtbản Y học
Năm: 1997
21. Bùi Thị Thanh Thúy (2003), Nghiên cứu tác dụng của mãng điện châm điều trị liệt vận động ở trẻ bại não do một số nguyên nhân trong khi sinh, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường đại học Y Hà Nội, tr. 3-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng của mãng điện châmđiều trị liệt vận động ở trẻ bại não do một số nguyên nhân trong khi sinh
Tác giả: Bùi Thị Thanh Thúy
Năm: 2003
22. Nguyễn Thị Minh Thủy (2001), "Kết quả bước đầu điều tra dịch tễ bại não tại tỉnh Hà Tây", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học- Hội phục Hồi chức năng Việt Nam, số 7, Nhà xuất bản Y học, tr. 292- 303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu điều tra dịch tễ bạinão tại tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
23. Trương Tấn Trung và cộng sự (2008), “Điều trị co cứng cơ ở trẻ em bại não với Botilinum Toxin típ A”, Hội nghị thường niên lần thứ XV- Hội Chấn thương Chỉnh hình Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị co cứng cơ ở trẻ embại não với Botilinum Toxin típ A
Tác giả: Trương Tấn Trung và cộng sự
Năm: 2008
24. Trường Đại học Y Hà Nội, Khoa Y học cổ truyền (2006), Nhi khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, tr. 16 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhi khoa Yhọc cổ truyền
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội, Khoa Y học cổ truyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
26. Alberman E. (1984), "World Health Organization Initiatives", The epidemiology of the Cerebral Palsies, Clinics in Developmental Medicine No.87. Lodon: Spastic International Medical Pulications,pp.32-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Health Organization Initiatives
Tác giả: Alberman E
Năm: 1984
27. Akmer Mutlu, Ayse Livanelioglu, Mintaze Kerem Gunel (2008),“Reliability of Ashworth and Modified Ashworth Scales in Children with Spastic Cerebral Palsy”, BMC Musculoskelet Disdord, 9: 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reliability of Ashworth and Modified Ashworth Scales in Children withSpastic Cerebral Palsy”, "BMC Musculoskelet Disdord
Tác giả: Akmer Mutlu, Ayse Livanelioglu, Mintaze Kerem Gunel
Năm: 2008
28. Blair E, Stanley F,J (1982), " An epidemiological study of cerebral palsy in Westem Australia, 1956-1975. III: Post natal etiology", Developmental Medicine and Child Neurology, 24.pp.575-585 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An epidemiological study of cerebralpalsy in Westem Australia, 1956-1975. III: Post natal etiology
Tác giả: Blair E, Stanley F,J
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sự hình thành não, các giai đoạn não bị tổn thương [25] - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 1.1. Sự hình thành não, các giai đoạn não bị tổn thương [25] (Trang 7)
Bảng 2.2. Tóm tắt kết quả cho điểm - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 2.2. Tóm tắt kết quả cho điểm (Trang 36)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nghiên cứu - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo vị trí liệt giữa hai nhóm. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo vị trí liệt giữa hai nhóm (Trang 42)
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo mức độ phát triển vận động thô theo Test Denver II giữa hai nhóm. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo mức độ phát triển vận động thô theo Test Denver II giữa hai nhóm (Trang 42)
Bảng 3.5. Mức phát triển vận động thô và mức phát triển cá nhân-xã hội giữa hai nhóm. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.5. Mức phát triển vận động thô và mức phát triển cá nhân-xã hội giữa hai nhóm (Trang 45)
Bảng 3.7. Mức điểm GMFM tại mốc lấy trước điều trị. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.7. Mức điểm GMFM tại mốc lấy trước điều trị (Trang 46)
Bảng 3.8. Mức điểm GMFM tại mốc ngồi trước điều trị. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.8. Mức điểm GMFM tại mốc ngồi trước điều trị (Trang 47)
Bảng 3.9. Mức điểm GMFM tại mốc bò - quỳ trước điều trị Nhóm - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.9. Mức điểm GMFM tại mốc bò - quỳ trước điều trị Nhóm (Trang 48)
Bảng 3.10. Mức điểm GMFM tại mốc đứng trước điều trị. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.10. Mức điểm GMFM tại mốc đứng trước điều trị (Trang 48)
Bảng 3.11. Mức điểm GMFM tại mốc đi - nhảy trước điều trị Nhóm - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.11. Mức điểm GMFM tại mốc đi - nhảy trước điều trị Nhóm (Trang 49)
Bảng 3.13. Mức điểm GMFM của hai nhóm tại mốc lẫy sau điều trị Nhóm - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.13. Mức điểm GMFM của hai nhóm tại mốc lẫy sau điều trị Nhóm (Trang 51)
Bảng 3.14. Mức điểm GMFM của 2 nhóm tại mốc ngồi sau điều trị. - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.14. Mức điểm GMFM của 2 nhóm tại mốc ngồi sau điều trị (Trang 52)
Bảng 3.17. Mức điểm GMFM của 2 nhóm tại mốc đi – nhảy sau điều trị Nhóm - đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng bằng điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt
Bảng 3.17. Mức điểm GMFM của 2 nhóm tại mốc đi – nhảy sau điều trị Nhóm (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w