Để góp phần phát hiện và đánh giá tỷ lệ tiền ĐTĐ và các yếu tố nguy cơ, từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm ngăn chặn tiền ĐTĐ tiến triểnthành bệnh ĐTĐ và hạn chế các biến chứng củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRỊNH NGỌC CẢNH
NHận xét tỷ lệ tiền đái tháo đờng
và các yếu tố nguy cơ tại khoa khám bệnh
theo yêu cầu bệnh viện bạch mai
Chuyờn ngành: Nội khoa
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGS-TS Đỗ Trung Quân Người thầy đã tận tình hướng dẫn, dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
GPS-TS Nguyễn Khoa Diệu Vân Người thầy đã ân cần dạy dỗ, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội
Bộ môn Nội Trường Đại học Y Hà Nội
Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Y Hà Nội
Ban Giám đốc, phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bạch Mai
Khoa Nội tiết - Đái tháo đường, khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai.
Ban Giám đốc Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hoá.
Khoa Khám bệnh - Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hoá.
Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện luận văn này.
Cuối cùng với tất cả lòng biết ơn và kính trọng của mình, tôi xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc tới: Bố mẹ, vợ con, người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội,16 tháng 9 năm 2012
Tác giả Trịnh Ngọc Cảnh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội,16 tháng 9 năm 2012
Tác giả Trịnh Ngọc Cảnh
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiền đái tháo đường là tình trạng đường máu cao hơn mức bình thườngnhưng chưa đủ đến mức chẩn đoán ĐTĐ khi làm xét nghiệm đường máu lúcđói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose Tiền ĐTĐ bao gồm: Rối loạn dungnạp glucose (Impaired Glucose Tolerance - IGT) và Rối loạn glucose máu lúcđói (Impaired Fasting Glucose - IFG) [10]
Trên thế giới đã có nhiều thống kê về tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ và tình trạngtiền ĐTĐ
Tại Hoa Kỳ, số liệu theo National Diabetes Fact Sheet ,2011[55]
- Có tổng số 25,8 triệu người mắc ĐTĐ, chiếm 8,3% dân số
- Đã được chẩn đoán 18,8 triệu người
- Chưa được chẩn đoán là 7 triệu người
- Tiền ĐTĐ là 79 triệu người, chiếm 25,4% dân số
- Năm 2010, phát hiện mắc mới là 1,9 triệu người trên 20 tuổi
Ở Singapore, theo NHS 2004, có tới 12 % dân số ở tuổi từ 18 đến 69 bịtiền ĐTĐ [56]
Ở Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu được thông báo về tình trạngtiền ĐTĐ Tuy nhiên, theo ước tính có khoảng 12% dân số đang ở trong giaiđoạn tiền ĐTĐ và hầu hết với nhóm này việc tiến triển thành ĐTĐ sẽ diễn ratrong vòng 10 năm tiếp theo 50% trong số đó sẽ có nguy cơ về tim mạchhoặc đột quỵ [2]
Trong giai đoạn tiền ĐTĐ, nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể đã bắtđầu bị tổn thương Những người tiền ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm sẽtiến triển thành bệnh ĐTĐ, dẫn đến việc điều trị rất tốn kém và có nguy cơ
Trang 5gây nhiều biến chứng nặng nề như: những biến chứng ở mắt, suy thận, taibiến mạch máu não, thiếu máu cơ tim, tăng huyết áp, các biến chứng thầnkinh, vết thương lâu lành, loét bàn chân và cắt cụt chi [2]
Tiền ĐTĐ có thể phòng chống tiến triển thành ĐTĐ thực sự bằng cáchthay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng và có thể dự phòng bằng thuốc Chính vìvậy việc nghiên cứu về tiền ĐTĐ và phát hiện các yếu tố nguy cơ tiền ĐTĐ làrất quan trọng
Để góp phần phát hiện và đánh giá tỷ lệ tiền ĐTĐ và các yếu tố nguy cơ,
từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm ngăn chặn tiền ĐTĐ tiến triểnthành bệnh ĐTĐ và hạn chế các biến chứng của bệnh, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: " Nhận xét tỷ lệ tiền Đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ tại khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu - Bệnh viện Bạch Mai" Thực hiện đề
tài này chúng tôi nhằm các mục tiêu sau:
1 Nhận xét tỷ lệ tiền Đái tháo đường tại khoa Khám chữa bệnh theo
yêu - Bệnh viện Bạch Mai.
2 Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ ở người tiền Đái tháo đường.
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1.1 Lịch sử bệnh Đái tháo đường
Đái tháo đường đã được biết đến từ lâu với nhiều tên gọi khác nhau [2], [37]
- Năm 200, một thầy thuốc Trung Quốc là Tchang Chou King đã mô tả ĐTĐ
là "Bệnh của sự khát", trong khi quan sát một bệnh nhân ĐTĐ có thể uốngmỗi ngày tới 10 lít nước và đái ra một lượng nước tương đương
- Năm 1867 Buchardat là người đầu tiên đưa ra danh từ "ĐTĐ gầy" và "ĐTĐmập" để phân biệt hai thể bệnh chính của ĐTĐ
- Năm 1936, Himsworth phân biệt: ĐTĐ kháng với insulin và ĐTĐ nhạy cảmvới insulin
- Năm 1976, Gudworth đưa ra danh từ "ĐTĐ type 1" và "ĐTĐ type 2"
- Năm 1985 TCYTTG đưa ra từ "ĐTĐ phụ thuộc insulin" đồng nghĩa với ĐTĐtype 1 và "ĐTĐ không phụ thuộc insulin" đồng nghĩa với ĐTĐ type 2
- Năm 1997, ADA đề nghị dùng từ "ĐTĐ type 1" và "ĐTĐ type 2" để tránhhiểu lầm về chọn thuốc điều trị
Tuy nhiên, khái niệm Tiền đái tháo đường (Prediabetes) thì còn tương đốimới Khái niệm này được cơ quan về Dịch vụ sức khỏe và con người của Hoa
Kỳ (HHS) và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đưa ra vào tháng 3năm 2002 nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về căn bệnh ngày cànglan rộng này
Trang 71.1.2 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ
1.1.2.1 Định nghĩa ĐTĐ
- Theo WHO 2002: “ĐTĐ là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuấtinsulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắcphải và/hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu Tăng glucose máugây tổn thương nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt mạch máu và thầnkinh”.[9]
- Theo ADA 2004: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởităng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt độnginsulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổnthương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thầnkinh, tim và mạch máu”[13]
1.1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO năm 1998 [26]
+ Đường máu lúc đói ≥ 126 mg/dl (ít nhất 2 lần)
+ Đường máu bất kỳ thời điểm nào ≥ 200 mg/dl có kèm theo các triệu chứnglâm sàng hoặc đường máu 2 giờ sau làm nghiệm pháp tăng đường máu ≥ 11,1mmol/l
Theo tiêu chuẩn của ADA 2011:[45]
+ HbA1C ≥ 6,5 %, làm tại phòng xét nghiệm đủ tiêu chuẩn
+ Đường máu đói ≥ 126 mg/dl (7,0 mmol/l)
+ Đường máu 2 giờ ≥ 200 mg/dl (11,1mmol/l) khi làm test dung nạp glucose+ Bệnh nhân có triệu chứng cổ điển của ĐTĐ hay tăng đường máu trầm trọngkèm theo xét nghiệm đường máu ngẫu nhiên ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l)
Trang 81.1.3 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán tiền ĐTĐ
1.1.3.1 Định nghĩa tiền ĐTĐ
Tiền ĐTĐ là tình trạng đường máu cao hơn mức bình thường nhưngchưa đủ đến mức chẩn đoán bệnh ĐTĐ khi làm xét nghiệm đường máu lúcđói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose Tiền ĐTĐ bao gồm: Rối loạn dungnạp glucose (Impaired Glucose Tolerance - IGT) và Rối loạn glucose máu lúcđói (Impaired Fasting Glucose - IFG).[17]
1.1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán Tiền ĐTĐ
Theo ADA 2003 chẩn đoán xác định tiền Đái tháo đường khi có ít nhấtmột trong hai tiêu chuẩn sau: [10] [39]
+ Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm
2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu đường uống từ 7,8 mmol/l (140mg/dl) đến 11,0 mmol/l (198mg/dl) và glucose huyết tương lúc đói < 7,0mmol/l (126mg/dl)
+ Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG): nếu lượng glucose huyếttương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l (100 mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp tăngđường máu dưới 7,8 mmol/l (< 140 mg/dl)
Theo WHO năm 1999
Theo WHO chẩn đoán tiền Đái tháo đường khi có ít nhất một trong haitiêu chuẩn sau:
+ IGT: nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháptăng glucose máu đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến 11,0 mmol/l(198mg/dl) và glucose huyết tương lúc đói < 7 mmol/l (126 mg/dl)
+ IFG: nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1 mmol/l(110 mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125 mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thờiđiểm 2 giờ (nếu đo) của nghiệm pháp tăng đường máu dưới 7,8 mmol/l (<
140 mg/dl)
Trang 91.1.4 Nghiệm pháp dung nạp glucose
Đo đường máu tĩnh mạch lúc đói Sau đó cho bệnh nhân uống 75 gglucose pha trong 250 ml nước, uống hết trong vòng 5 phút Có thể dùngdung dịch Glucose ưu trương để uống với lượng tương đương Sau uống 2
giờ, đo lại đường máu tĩnh mạch lần 2
1.1.4.2 Đánh giá kết quả [16]
Bình thường khi: Đường máu lúc đói < 5,6 mmol/l và đường máu sau 2
giờ uống glucose < 7.0 mmol/l
Chẩn đoán ĐTĐ: Đường máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l và/hoặc đường máu
2 giờ sau khi uống glucose ≥ 11,1 mmol/l
Chẩn đoán là IGT: Đường máu lúc đói < 5,6 mmol/l và đường máu 2
giờ sau khi uống glucose ≥ 7,8 mmol/l và < 11,1 mmol/l
Bảng 1.1 Tóm tắt các dạng chuyển hóa đường [16]
Xét nghiệm Đường máu 2 giờ sau uống glucose (mmol/l)< 7,8 7,8 – 11,0 ≥ 11,1Đường máu
1.2 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIỀN ĐTĐ
Các yếu tố nguy cơ của tiền ĐTĐ cũng là các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ
type 2
1.2.1 Tuổi
Trang 10Yếu tố tuổi được xếp vào vị trí hàng đầu trong các yếu tố nguy cơ củabệnh Đái tháo đường type 2 tăng dần theo tuổi và bắt đầu tăng nhanh ở lứatuổi trên 45 đến 65 (2,8-11,3%) Ở nhóm người này chiếm tỷ lệ 18,3% trongtổng số những người bị mắc bệnh đái tháo đường và có rối loạn dung nạpglucose [40] Theo nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Hoa, thì tỷ lệ mắc bệnhcũng tăng dần theo tuổi có sự tương quan thuận, chặt chẽ giữa tỷ lệ mắcbệnh và độ tuổi với hệ số tương quan r = 0,95 [14] Theo tác giả Tạ VănBình thì tỷ lệ mắc bệnh Đái tháo đường tỷ lệ thuận theo tuổi, tỷ lệ chung
là 6,7% và rối loạn dung nạp glucose máu là 7,6%; lứa tuổi trên 70 là18,8% và rối loạn dung nạp glucose máu là 18,7% [7] Tác giả Phạm ThịHồng Hoa nghiên cứu tại Hà Nội thấy tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói là4,5%, đái tháo đường typ 2 là 6,1% [14] Một nghiên cứu khác tiến hànhtại Thành phố Thái Nguyên, tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói ở lứa tuổidưới 45 là 13,5%, mắc bệnh đái tháo đường là 2,8%, ở lứa tuổi trên 45tương tự là 17,3% và 8,8% [40] Theo P.Zimmet và CS (2001) nghiêncứu tại Úc thấy tỷ lệ mắc bệnh ở tuổi dưới 45 là 2,5% trong khi đó ở lứa tuổitrên 45 là 23,6% [54] Nghiên cứu của tác giả Tạ Văn Bình tại các tỉnh PhúThọ, Sơn La, Thanh Hóa và Nam Định thấy tỷ lệ rối loạn đường máu lúc đói
và đái tháo đường ở tuổi trên 45 là (15,8% và 10,2%) [2]
Khi cơ thể già đi thì chức năng tụy cũng bị suy giảm theo và khảnăng tiết dịch tuỵ cũng giảm Trong khi đó nồng độ glucose máu có xuhướng tăng đồng thời làm giảm sự nhạy cảm của tế bào đích với cáckích thích của insulin Khi tế bào tuỵ không còn khả năng tiết insulin đủvới nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu lúc đói tăng, bệnh đái tháođường thực sự xuất hiện [6]
Tuổi trung bình của bệnh nhân mắc ĐTĐ type 2 vào khoảng 60 – 65 tuổi
Tỷ lệ bệnh bắt đầu gia tăng nhanh ở nhóm người trên 45 tuổi, trên 65 tuổi tỷ
Trang 11lệ mắc bệnh có thể tới 16% dân số chung Theo thống kê của WHO: ở ngườitrên 70 tuổi tỷ lệ mắc ĐTĐ cao gấp 3 đến 4 lần so với tỷ lệ mắc ĐTĐ chung ởngười trưởng thành [45]
Tuy nhiên ngày nay cùng với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, tuổimắc bệnh về ĐTĐ ngày càng được trẻ hóa Theo nghiên cứu của KnowlerW.C, quan sát sự xuất hiện của bệnh ĐTĐ type 2 ở gia đình có tiền căn ditruyền rõ ràng cho thấy rằng ở thế hệ thứ nhất thường xuất hiện ở độ tuổi 60 –
70, đến thế hệ thứ hai, tuổi xuất hiện giảm xuống ở độ tuổi 40 – 50, và ngàynay những người được chẩn đoán là ĐTĐ type 2 không phải là hiếm [62]
1.2.2 Giới
Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ và bệnh ĐTĐ type2 ở hai giới nam và nữ thay đổitùy thuộc vào vùng dân cư khác nhau Theo Paul Zimmet ở các vùng đô thị TháiBình Dương tỷ lệ nữ/nam là 3/1, trong khi theo Kenneth Hughes ở Trung Quốc,Malaysia, Ấn Độ thì tỷ lệ mắc ở cả hai giới là tương đương nhau [60], [51]
Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu của Phan Sĩ Quốc và cộng sự thì nữgiới mắc bệnh nhiều hơn ở nam, chiếm tới 2/3 tổng số người mắc bệnh.[61]
1.2.3 Thừa cân và béo phì
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thừa cân và béo phì là nguy cơ chínhcho tiền ĐTĐ Các mô mỡ nhiều hơn - đặc biệt là xung quanh bụng, thêm khảnăng các tế bào trở thành kháng với insulin
Nghiên cứu của Frank và CS (1980-1986), béo phì là nguyên nhân sốmột của bệnh đái tháo đường [43] Khi nghiên cứu người ta thấy béo bụng cóliên quan chặt chẽ với hiện tượng kháng insulin do thiếu hụt sau thụ thể, do
đó dẫn đến sự thiếu hụt insulin tương đối do giảm số lượng các thụ thể ởngoại vi Do tính kháng với insulin cộng với sự giảm tiết insulin dẫn tớigiảm tính thấm của màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và mỡ, ức chế quátrình phosphoryl hoá và oxy hoá glucose, làm chậm quá trình chuyển hoá
Trang 12carbonhydrat thành lipid, giảm tổng hợp glycogen ở gan, tăng tân tạođường mới và bệnh đái tháo đường xuất hiện [5] Trong bệnh béo phì,tích luỹ lipid xảy ra trong một thời gian kéo dài, do đó suy giảm khả năng
tự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm lipid có thể xảy ra trong một số thờiđiểm và triglycerid dần được tích luỹ lại Ở người béo phì, đái đường lâmsàng thường xuất hiện sau khi 50-70% tiểu đảo langerhans bị tổn thương.Khi cắt bỏ tuỵ thì phải trên 90% lượng tế bào đảo bị cắt bỏ bệnh đái tháođường xuất hiện [5] Kết quả nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và CS chothấy những người có BMI >23 có nguy cơ đái đường typ 2 nhiều hơn gấp3,28 lần so với bình thường và có tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose máu caogấp 2,19 lần so với bình thường [39] Theo Tạ Văn Bình, Hoàng KimƯớc, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở người có BMI<23 là 5,8%, rối loạndung nạp glucose máu là 33,3%; người có BMI>23 thì tỷ lệ mắc bệnh đáitháo đường là 9% và rối loạn dung nạp glucose máu là 23,6% [3] TheoHoàng Kim Ước, tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói và đái tháo đường ởnhóm đối tượng có BMI<23 là 12,8%; 8,0%; có BMI >23 là 16,1% và 8,2%[40] Một nghiên cứu khác thấy tỷ lệ rối loạn đường máu và đái tháo đường ởnhóm có BMI >23 là (15,5%; 9,0%) nhóm có BMI<23 là (10,8%; 6,5%)[2].Theo Trần Đức Thọ, những người có BMI>25 có nguy cơ bị bệnh đái tháođường typ 2 nhiều gấp 3,74 lần so với người bình thường [34] Theo nghiêncứu của Thái Hồng Quang, tỷ lệ béo phì độ 1 mắc đái tháo đường tăng gấp 4lần, béo phì độ 2 tăng gấp 30 lần [29]
Hội đồng các chuyên gia của HHS và ADA khuyến cáo nhân viên y tếnên sàng lọc tất cả những người béo phì từ 45 tuổi trở lên (với chỉ số khối cơthể BMI lớn hơn hoặc bằng 25) Những người béo phì tuổi dưới 45 cũng cầnđược sàng lọc nếu họ có một trong những yếu tố nguy cơ sau: tăng huyết áp,tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ, nồng độ HDL - C thấp và triglyceride cao,ĐTĐ thai kỳ hoặc đẻ con to trên 4kg, hoặc thuộc chủng tộc có nguy cơ bị
Trang 13ĐTĐ type 2 cao (như người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản xứ, người Mỹ gốc Á/dân thuộc các đảo ở Thái Bình Dương và người Mỹ gốc Tây Ban Nha hoặc
Bồ Đào Nha, La tinh) Nếu một người (có yếu tố nguy cơ) được xét nghiệmsàng lọc tiền ĐTĐ và kết quả đường huyết nằm trong giới hạn bình thường thìADA khuyên nên làm xét nghiệm lại 3 năm một lần Nếu một người đượcchẩn đoán tiền ĐTĐ thì nên làm xét nghiệm sàng lọc chẩn đoán ĐTĐ type 2
cứ 1 đến 2 năm một lần
Tiêu chuẩn phân loại BMI [18]
Bảng 1.2 Phân loại BMI
(Theo khuyến nghị của WHO dành riêng cho người trưởng thành châu Á)
cơ là 50% Trường hợp sinh đôi cùng trứng, nếu một người mắc bệnh thìngười kia sẽ được xếp vào nhóm bị đe dọa thật sự đối với tiền ĐTĐ và bệnhĐTĐ.[7]
1.2.5 Tiền sử ĐTĐ thai kỳ hoặc đẻ con nặng cân
ĐTĐ thai kỳ là tình trạng rối loạn dung nạp glucose và/hoặc tăng đườnghuyết được phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ ĐTĐ thai kỳ không loại trừ
Trang 14BN đã bị ĐTĐ từ trước mà không biết, cũng không phân biệt sau khi sinh BNcòn tăng đường máu hay không [27]
Nếu người phụ nữ bị ĐTĐ thai kỳ, hoặc có tiền sử đẻ con nặng cân trên
4 kg thì nguy cơ xuất hiện tiền ĐTĐ và ĐTĐ là lớn hơn người bình thường.Khoảng 30 – 50% những bà mẹ có tiền sử ĐTĐTK sẽ tiến triển thành ĐTĐtrong vòng 5 – 10 năm sau khi có thai Do đó ĐTĐTK cũng là một nguy cơquan trọng của tiền ĐTĐ và ĐTĐ type 2 [58]
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ: theo Hội nghị Quốc tế lần thứ 4 về
ĐTĐ thai kỳ tại Hoa Kỳ 1998
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ
Thời điểm xét nghiệm Ngưỡng giá trị chẩn đoán (mmol/l)
IGT với 75 g glucose IGT với 100 g glucose
Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ của tiền ĐTĐ Người bị tăng HA
có khả năng mắc tiền ĐTĐ hơn người có HA bình thường Tỷ lệ mắc tănghuyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường cao gấp 1,5 đến 2 lần so với nhómkhông mắc bệnh đái tháo đường Đái tháo đường typ 2 và tăng huyết ápthường đi kèm với tình trạng kháng insulin (hội chứng X) hội chứng này baogồm: Béo phì, rối loạn lipid máu (tăng TG, giảm HDL-C) và tăng nồng độinsulin huyết tương phối hợp với tăng huyết áp, bệnh mạch vành Tuynhiên, mối liên hệ nhân quả giữa kháng insulin và tăng huyết áp còn chưa
rõ hoàn toàn [16] Theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, Nguyễn Thị Ngọc
Trang 15Huyền, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở nhóm có tăng huyết áp cao gấp 4lần so với nhóm không có cao huyết áp [7] Theo Hoàng Kim Ước, tỷ lệ đáitháo đường và rối loạn dung nạp glucose máu ở nhóm có tăng huyết áp (10,9%
và 14%), cao hơn nhóm không có tăng huyết áp (2,5% và 9,3%) Nguy cơ bị đáitháo đường ở nhóm tăng huyết áp cao gấp 5,22 lần so với nhóm không có tănghuyết áp [39] Theo Tô Văn Hải (2000), ở Hà Nội người bị tăng huyết áp mắcbệnh đái tháo đường khoảng 54,79% [12] Còn ở một nghiên cứu khác thấy
tỷ lệ rối loạn glucose máu và đái tháo đường ở nhóm có tăng huyết áp(18,4%; 15,0%) và không tăng huyết áp là (11,9%; 5,9%) [2]
Tiêu chuẩn phân loại Tăng HA:
Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán và phânloại tăng HA theo JNC VII [50]
Bảng 1.4 Phân loại tăng HA
1.2.7 Rối loạn Lipid máu
Rối loạn lipid máu có liên quan đến tiền ĐTĐ, làm tăng nguy cơ bị tiềnĐTĐ [10]
Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Lipid máu:
Bảng 1.5 Chẩn đoán rối loạn lipid máu
Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam (2006) khi có một trongcác chỉ số sau: [15]
Trang 16Tên xét nghiệm Đơn vị Bình thường Bệnh lý
ổn định hàm lượng lipid máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng insulin, cótác dụng giảm khả năng tích trữ glucose ở cơ [6] Hoạt động thể lực có vaitrò đặc biệt quan trọng trong bệnh đái tháo đường Trong nghiên cứu, nhómđối tượng ít vận động (dưới 30 phút/ngày) có nguy cơ mắc bệnh đái tháođường và rối loạn dung nạp glucose máu cao hơn nhóm có hoạt động thể lựctrên 30 phút là 2,4 lần [5] Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Kim Ướccho thấy ít hoạt động thể lực tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 6,4%, tỷ lệrối loạn dung nạp là 12,4% [39] Khi hoạt động thể lực dưới 30 phút/ngày tỷ
lệ mắc bệnh là 10,2%, hoạt động thể lực trung bình tỷ lệ là 2,6%, lao độngnặng tỷ lệ là 1,4% [14]
1.2.9 Chế độ ăn, hút thuốc lá, uống rượu bia
Trang 17Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy thói quen ăn mỡ có ảnhhưởng đến quá trình tiến triển của bệnh ĐTĐ Chế độ ăn giàu chất mỡ làmtăng nguy cơ rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường máu đói và làm chomức insulin cũng cao hơn [7]
Kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2002) cho thấy người
có thói quen ăn rau thường xuyên có ỷ lệ mắc ĐTĐ là 2,4%, trong khi đónhững người không có thói quen ăn rau thườn xuyên thì tỷ lệ mắc ĐTĐ là12,4% [19]
Theo một nghiên cứu tại Anh cho thấy những người có thói quen sửdụng đồ ngọt trong bữa ăn làm tăng nguy cơ trở thành béo phì, đặc biệt là ởtrẻ em Béo phì làm tăng sự kháng insulin và là nguy cơ của rối loạn đườngmáu và ĐTĐ type 2 [57]
Wei M, Gibbons nghiên cứu “ Ảnh hưởng của rượu đến bệnh ĐTĐ” chothấy kết quả như sau: Những người đàn ông có thói quen uống nhiều rượu cónguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,2 đến 2,4 lần so với những người đàn ông khônguống rượu hoặc uống điều độ từ 60 đến 100 ml/ 1 tuần Rượu bia có ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự tiết insulin của tụy và làm giảm sự nhạycảm insulin Nhưng nếu uống rượu vang với lượng vừa phải < 100 ml/1 tuần
có thể cải thiện độ nhạy cảm của insulin [67]
Nghiên cứu của Tạ văn Bình và cộng sự (2002) cho thấy người có thóiquen uống bia rượu có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp hơn 3 lần so với ngườikhông có thói quen uống bia rượu ( OR = 3.36) [19]
Hút thuốc lá là nguy cơ của bệnh ĐTĐ type 2 cũng được nhiều nghiêncứu chỉ ra Người hút thuốc có nguy cơ gấp 2 lần mắc ĐTĐ so với ngườikhông hút Ngoài ra hút thuốc lá còn là nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch,tiêu hóa và cơ xương khớp [6]
Trang 18Nghiên cứu của Mann J (2004) chỉ ra rằng, hút thuốc lá làm tăng tínhkháng insulin do đó làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [54] Theo David A,Escalante, Duk Kyu Kim và cộng sự cho rằng hút thuốc lá làm tăng nguy cơmắc bênh ĐTĐ Những người ĐTĐ hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ chết tới 30 đến40% so với những người bình thường [44]
1.2.10 Chủng tộc người có nguy cơ bị ĐTĐ type 2 cao
Người ta nhận thấy người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản xứ, người Mỹ gốc
Á, dân thuộc các đảo ở Thái Bình Dương và người Mỹ gốc Tây Ban Nha hoặc
Bồ Đào Nha, La tinh có nhiều khả năng phát triển tiền ĐTĐ [2],[6],[10]
Theo kết quả khảo sát của Trung tâm sức khỏe Hoa Kỳ (NHANES II,
1967 – 80) cho thấy tỷ lệ ĐTĐ ở trong tất cả các nhóm tuổi ở người Mỹ gốcPhi cao hơn 50 – 70% so với người da trắng, thậm chí còn cao hơn nữa trongmột số chủng tộc thiểu số khác Những người Mỹ gốc Cu ba có tỷ lệ ĐTĐ caohơn tỷ lệ chung là 60%, người Mỹ gốc Mexico và gốc Puerto Rico cao hơn120% [42], [47]
1.3 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH VÀ CAN THIỆP
Trang 19động thể lực trung bình RLDNG 9,6%, hoạt động thể lực nặng RLDNG là1,6% Như vậy tỷ lệ RLDNG giảm dần theo cường độ hoạt động thể lực [20] Nghiên cứu Da Quing tại Trung Quốc cho thấy luyện tập thể lực đã giảm46% tiến triển thành ĐTĐ sau 6 năm [63].
Theo The Finnish Diabetes Provention Study ( DPS) được công bố năm
2001, nghiên cứu trên 522 người quá cân bị IGT chia làm 2 nhóm can thiệpbằng thay đổi lối sống, hoạt động thể lực và nhóm chứng, thời ian theo dõi là3,2 năm Kết quả cho thấy nhóm can thiệp đã giảm được 58% nguy cơ pháttriển thành ĐTĐ type 2 so với nhóm chứng [64]
1.3.2 Giảm cân
Mục tiêu thay đổi hành vi lối sống được đặt lên hàng đầu vì nó an toàn
và hiệu quả trong kiểm soát đường huyết và giảm nguy cơ mắc các bệnh timmạch Người mắc tiền ĐTĐ nên giảm cân nặng từ 5 đến 10% và về lâu dài nênduy trì mức cân nặng này, sử dụng các chiến lược như tự theo dõi, đặt mục tiêuđiều trị khả thi, từng bước một, kiểm soát các tác nhân kích thích [10]
Theo The Finnish Diabetes Prevention Study, được công bố năm 2001,nghiên cứu trên 522 người thừa cân bị IGT được xếp ngẫu nhiên vào nhómchứng hoặc vào nhóm can thiệp bằng thay đổi lối sống Những người trongnhóm can thiệp tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn giảm cân để đạt được giảm trên5% trọng lượng cơ thể, và tăng mức hoạt động thể lực vừa phải ít nhất 30phút/ngày, 5 lần/tuần Các đối tượng nghiên cứu được làm nghiệm pháp dungnạp glucose hàng năm để xác định tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2, thời gian theo dõi là3,2 năm Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc mới ĐTĐ hàng năm ở nhóm chứng là7,8%, ở nhóm can thiệp lối sống tích cực đã làm giảm 58% nguy cơ tiến triểnthành ĐTĐ type 2 (p < 0,001) [59]
1.3.3 Điều chỉnh chế độ ăn
Trang 20Chế độ ăn hợp lý, kiểm soát tốt lượng đường và các dạng đường ăn vàohàng ngày cũng góp phần quan trọng để phòng tránh tiền ĐTĐ và dự phòngtiến triển đến ĐTĐ [7], [10]
Chế độ ăn của bệnh nhân béo phì được khuyến cáo giảm 25 – 30% nhucầu năng lượng hàng ngày, chế độ ăn không quá 1200 Kcal/ngày, không ảnhhưởng đến chế độ sinh hoạt hang ngày của bệnh nhân, thành phần các chấtcũng cân bằng để cung cấp 50% glucid, 30% lipid, 20% protid Đối với bệnhnhân có cân nặng bình thường thì cung cấp khoảng 1500 – 1600 Kcal/ngày vàthành phần : 50 – 60% glucid, 25 – 35% lipid, 15 – 20% protid Các loạiđường hấp thu nhanh phải giảm thiểu hay loại trừ [33]
Trong một nghiên cứu dịch tễ tại Uganda tác giả Tuomilelito và KnowerW.C cho thấy trong khẩu phần ăn có hàm lượng chất xơ cao sẽ làm giảmglucose máu ở những người mắc RLDNG, từ đó làm giảm nguy cơ tiến triển
từ RLDNG thành ĐTĐ type 2 [7]
P Jean Ho và Jonh R.Turtle nghiên cứu trên khẩu phần ăn của nhữngngười RLDNG cho thấy nếu giảm 25 đến 30% chất béo trong khẩu phần ăn sẽgiảm đáng kể nguy cơ chuyển từ RLDNG thành ĐTĐ tới 30% [46]
Kết quả nghiên cứu của Pereira và Ludwig cũng cho kết quả tương tự,với chế độ ăn ít chất béo làm giảm cân dẫn tới tăng nhạy cảm insulin, giảmđường máu đói và giảm đường máu 2 giờ sau ăn, làm giảm nguy cơ mắc tiềnĐTĐ và bệnh ĐTĐ [7]
1.3.4 Bỏ thuốc lá, rượu
Thuốc lá và rượu có ảnh hưởng đến đường máu Do vậy, việc bỏ thuốc lá
và rượu sẽ giúp cơ thể kiểm soát đường huyết tốt hơn, từ đó giảm được nguy
cơ phát triển thành tiền ĐTĐ [6],[7],[10],[11]
Trang 21Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc ĐTĐ gấp đôi người không hút thuốc
lá Ngoài ra, hút thuốc lá còn là nguy cơ cao gây ra các bệnh về hô hấp, timmạch, tiêu hóa và các bệnh cơ xương khớp [6] Theo nghiên cứu của Minami
và cộng sự cho thấy hút thuốc lá có ảnh hưởng xấu đến HA Nếu ngườinghiện thuôc lá ngừng hút sau 24 giờ thì HA đã được cải thiện Nếu ngườiĐTĐ mà hút thuốc thì nguy cơ về biến chứng tim mạch sẽ tăng lên rất nhiềulần [53] Mann J (2001) cho rằng hút thuốc lá làm tăng tính kháng insulin, do
đó làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [54] Theo David A, Escalante và cộng
sự cho rằng hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type2 Nhữngngười ĐTĐ mà hút thuốc làm tăng tỷ lệ chết lên tới 30 – 40% so với ngườikhông hút [43]
Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước đều đưa một kết luận rằng,hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ, tăng nguy cơ biến chứng của bệnh
Do vậy bỏ thuốc là việc làm hết sức quan trọng để góp phần phòng chốngtiến triển thành ĐTĐ
Wei M, Gibbons nghiên cứu ảnh hưởng của rượu đến bệnh ĐTĐ chothấy kết quả là: những người có thói quen uống nhiều rượu có nguy cơ mắcĐTĐ cao gấp 2,2 đến 2,4 lần so với người không hút thuốc [68]
1.3.5 Điều trị THA, rối loạn lipid
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, điều trị tăng HA và rối loạn lipid máu
sẽ làm giảm nguy cơ về tiền ĐTĐ cũng như giảm các biến chứng [10] Theonghiên cứu của Tạ Văn Bình, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, tỷ lệ mắc bệnh đáitháo đường ở nhóm có tăng huyết áp cao gấp 4 lần so với nhóm không cócao huyết áp [7] Theo Hoàng Kim Ước, tỷ lệ đái tháo đường và rối loạndung nạp glucose máu ở nhóm có tăng huyết áp (10,9% và 14%), caohơn nhóm không có tăng huyết áp (2,5% và 9,3%) Nguy cơ bị đái tháođường ở nhóm tăng huyết áp cao gấp 5,22 lần so với nhóm không có tăng
Trang 22huyết áp [39] Theo Tô Văn Hải (2000), ở Hà Nội người bị tăng huyết ápmắc bệnh đái tháo đường khoảng 54,79% [12] Vì vậy điều trị tích cực tìnhtrạng THA và RLLP máu sẽ làm giảm nguy cơ mắc tiền ĐTĐ và ĐTĐ.
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới có nhiều thống kê về tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ và tình trạng tiềnĐTĐ cũng như nhiều nghiên cứu về các biện pháp phòng chống tiền ĐTĐtiến triển thành ĐTĐ đã được công bố
Tại Hoa Kỳ, số liệu theo National Diabetes Fact Sheet 2011 [55]:
- Có tổng số 25,8 triệu người mắc ĐTĐ, chiếm 8,3% dân số
- Đã được chẩn đoán 18,8 triệu người
- Chưa được chẩn đoán là 7 triệu người
- Tiền ĐTĐ là 79 triệu người
- Năm 2010, phát hiện mắc mới là 1,9 triệu người trên 20 tuổi
Ở Singapore, theo NHS 2004, có tới 12 % dân số ở tuổi từ 18 đến 69 bị tiềnĐTĐ [56]
Ở Trung Quốc, theo một nghiên cứu năm 2008 trên 45000 người dân tuổi
Trang 23nông thôn), Ấn Độ 4,6%: 12,5% (2007; nông thôn), Man-đi-vơ-3.0% : 3,7%(2004, toàn quốc), Nepal 19,5%: 9,5% (2007, đô thị), Pakistan 3,0%: 7,2%(2002, nông thôn), Sri Lanka-11,5%: 10,3% (2005-2006, toàn quốc) Dân cư
ở đô thị có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn Một xu hướng ngày càng tăng trong tỷ lệmắc bệnh tiểu đường đã được quan sát trong thành thị / nông thôn Ấn Độ vànông thôn Sri Lanka Chỉ số epidemicity bệnh tiểu đường giảm với tỷ lệ ngàycàng tăng của bệnh tiểu đường tại các quốc gia Đã được nhìn thấy Một chỉ sốepidemicity cao ở Sri Lanka (2005/2006-52.8%), trong khi đối với các nướckhác, chỉ số epidemicity tương đối thấp (nông thôn Ấn Độ 2007-26,9%; đô thị
Ấn Độ 2002/2005-31.3%, thành thị và Bangladesh- 33,1%) Nghiên cứu đãđưa ra kết luận rằng ĐTĐ là một đại dịch ở vùng Nam Á với sự gia tăngnhanh chóng trong hai thập niên qua Nghiên cứu đã kêu gọi một chiến lượckhẩn cấp để phòng chữa đại dịch này [49]
Theo The Finnish Diabetes Prevention Study, được công bố năm 2001,nghiên cứu trên 522 người thừa cân bị IGT được xếp ngẫu nhiên vào nhómchứng hoặc vào nhóm can thiệp bằng thay đổi lối sống Những người trongnhóm can thiệp tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn giảm cân để đạt được giảm trên5% trọng lượng cơ thể, và tăng mức hoạt động thể lực vừa phải ít nhất 30phút/ngày, 5 lần/tuần Các đối tượng nghiên cứu được làm nghiệm pháp dungnạp glucose hàng năm để xác định tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2, thời gian theo dõi là3,2 năm Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc mới ĐTĐ hàng năm ở nhóm chứng là7,8%, ở nhóm can thiệp lối sống tích cực đã làm giảm 58% nguy cơ tiến triểnthành ĐTĐ type 2 (p < 0,001) [59]
Theo The Da Qing Study, nghiên cứu trên 577 người mắc IGT và thừacân ở thành phố Da Qing của Trung Quốc, được chia ngẫu nhiên vào 4 nhóm:nhóm 1 – nhóm chứng, nhóm 2 – chỉ bằng chế độ ăn, nhóm 3 – chỉ bằng chế
độ hoạt động thể lực, nhóm 4 – cả chế độ ăn và tập luyện thể lực Kết quả
Trang 24nghiên cứu cho thấy tất cả các đối tượng được can thiệp chỉ bằng chế độ ăn,chỉ bặng hoạt động thể lực, và kết hợp cả 2 biện pháp trên đều giảm có ýnghĩa nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ type 2 so với nhóm chứng là 36%, 39%,47% ( p< 0,05) Tỷ lệ nguy cơ ĐTĐ type 2 giảm chung là 40,7%, không có sựkhác biệt trong việc giảm nguy cơ giữa các nhóm can thiệp [38].
Theo Tuomilehto J, Phần Lan, nghiên cứu trên 522 người béo phì mắcIGT, chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm, nhóm chứng và nhóm can thiệp bằng chế
độ ăn và luyện tập thể lực Kết quả cho thấy sau thời gian nghiên cứu trungbình 3,2 năm, nhóm can thiệp giảm tới 58% nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ sovới nhóm chứng [66]
Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu được công bố về biện phápphòng chống tiền ĐTĐ tiến triển thành ĐTĐ bằng thuốc Diabetes PreventionProgram tiến hành trên 3234 người béo phì mắc IGT, được chia làm 3 nhóm :nhóm 1 – tích cực điều chỉnh lối sống bằng chế độ ăn và tập thể dục, nhóm 2– dùng metformin, nhóm 3 – dùng giả dược Sau thời gian nghiên cứu trungbình là 2,8 năm, nhóm tích cực điều chỉnh lối sống giảm được tới 58% nguy
cơ tiến triển thành ĐTĐ type 2 so với nhóm dùng giả dược, trong khi nhómdùng metformin giảm được 31% nguy cơ [42]
Chiasson JL nghiên cứu trên 1429 người có IGT, chia làm 2 nhóm :nhóm 1 uống acarbose là một thuốc ức chế men glucosidase làm chậm hấpthu đường vào máu, nhóm 2 uống giả dược Sau thời gian nghiên cứu trungbình là 3,3 năm, nhóm uống acarbose giảm được nguy cơ tiến triển thànhĐTĐ type 2 đến 36% [41]
1.4.2 Nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội, tỷ lệ củabệnh ĐTĐ và tình trạng bệnh lý tiền ĐTĐ trong 10 năm qua có xu hướng tăngnhanh Tuy nhiên những số liệu về bệnh ĐTĐ mới chỉ giới hạn ở một số
Trang 25thành phố lớn, những số liệu về tiền ĐTĐ cũng như các yếu tố nguy cơ củatiền ĐTĐ thì còn rất hạn chế.
- Nghiên cứu của bệnh viện Nội tiết TW trên phạm vi toàn quốc năm 2001 thì tỷ
lệ ĐTĐ tại 4 tỉnh TP lớn của Việt Nam (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HồChí Minh) trong lứa tuổi 30-64 là 4,0%, tỷ lệ tiền ĐTĐ là 5,1% Tỷ lệ đối tượngđiều tra có các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ là 38,5% Cũng qua số liệu điềutra, số bệnh nhân ĐTĐ không được chẩn đoán là 44% [2]
- Điều tra toàn quốc năm 2002, tỷ lệ bệnh ĐTĐlứa tuổi 30-64 của VN là 2,7%,
tỷ lệ tiền ĐTĐ là 7,3%, riêng khu vực thành thị và khu công nghiệp tỷ lệ bệnhĐTĐ là 4,4%.Tỷ lệ bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh là 64,6% [2]
Qua nghiên cứu một số tỉnh thành khác đã thu được kết quả như sau:
- Cao Bằng (2004), tỷ lệ ĐTĐ là 6,8% Tỷ lệ rối loạn đường huyết lúc đói vàsau làm nghiệm pháp là 30,2%
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là người đến khám sức khỏe tạikhoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, bệnh viện Bạch Mai, thỏa mãn đầy đủcác tiêu chuẩn lựu chọn và loại trừ
Trang 26Tiêu chuẩn lựa chọn:
Là người Việt Nam , khỏe mạnh
Tuổi từ 30 đến 69, không phân biệt giới tính
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Đã được chẩn đoán ĐTĐ hoặc tiền đái tháo đường trước đó
Dưới 30 tuổi hoặc trên 69 tuổi
Đang dùng thuốc có ảnh hưởng đến đường huyết: corticoid, thiazid, thuốc ức chế beta, phenytoin, acid nicotinic, …
Đang mắc bệnh cấp tính, bệnh tâm thần
Đã ăn trong vòng 8 giờ
Phụ nữ đang mang thai
Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, bệnhviện Bạch Mai
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 10 năm 2012
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang
Sơ đồ thiết kế các bước tiến hành nghiên cứu (trang 32 ).
Trang 27- Họ tên, tuổi, địa chỉ, điện thoại.
- Tiền sử bệnh ĐTĐ của gia đình: bố mẹ, anh, chị, em ruột
- Tiền sử ĐTĐ thai kỳ, đẻ con nặng cân (> 4kg)
- Các thuốc đang dùng
- Hỏi các bệnh đã mắc trước đây
Khám lâm sàng:
- Đo HA: xác định HATT, HATTr với đơn vị là mmHg
- Đo chiều cao, đơn vị là m, sai số không quá 1cm
- Đo chu vi VE, đơn vị là cm
- Đo cân nặng, đơn vị là kg, sai số không quá 100g
- Tính chỉ số BMI theo công thức
BMI = cân nặng/chiều cao2
Trang 28- Làm nghiệm pháp dung nạp đường máu: Tất cả những người thỏa
mãn tiêu chuẩn nghiên cứu đều được làm nghiệm pháp dung nạp đường máutheo đúng qui trình, đảm bảo người tham gia phải nhịn ăn 8 – 12 giờ:
Trong 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp, bệnh nhân ăn uống không hạnchế carbohydrat (> 150 g/ngày) và vận động thể lực bình thường
Nhịn đói từ 8 đến 12 giờ trước khi làm nghiệm pháp Có thể uống nướctrong thời gian này, nhưng không được hút thuốc Nên tiến hành nghiệm phápvào buổi sáng
Đo đường máu tĩnh mạch lúc đói Sau đó cho bệnh nhân uống 75 gglucose pha trong 250 ml nước, uống hết trong vòng 5 phút
Sau uống 2 giờ, đo lại đường máu tĩnh mạch lần 2
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.2.4.1 Đo nhân trắc
Xác định cân nặng, chiều cao và tính ra chỉ số BMI
Đo chiều cao, cân nặng vào buổi sáng, người được kiểm tra nhịn ănsáng, mặc quần áo mỏng, bỏ giày dép khi cân đo
Cân đo hai lần ở mỗi số đo, sau đó lấy giá trị trung bình của hai lần cân
đo làm kết quả đo
Trang 29+ Cân: Đặt cân lên mặt phẳng chắc chắn, điều chỉnh cân về 0, yêu cầungười được kiểm tra bỏ giày dép, mũ, quần áo nặng, đứng lên cân ngay ngắn,nhìn về phía trước, hai tay để dọc thân mình Thầy thuốc đọc kết quả, ghi lại
số đo, chính xác đến 0,1 kg
b) Đo chiều cao:
- Trang bị: Thước đo chiều cao
- Trình tự đo: Yêu cầu người được kiểm tra bỏ giày dép, mũ, nơ buộctóc, đứng thẳng ngay ngắn, hai gót chân sát vào nhau và sát vào bệ sau củathước, các mốc chẩm - vai - mông - gót sát vào mặt tường đo, hai tay thả lỏng
tự nhiên Người đo đọc kết quả trên cột thước thẳng, ghi số đo với chính xácđến 0,5 cm
c) Đo vòng eo:
- Trang bị: Thước đo dây không co giãn
- Trình tự đo: Đo ở điểm hẹp nhất trong khoảng cạnh dưới bờ sườn vàmào chậu Người đo đứng phía trước, điều chỉnh thước đo phải nằm ngangquanh lưng Nếu không có chỗ hẹp rõ ràng, đo trực tiếp trên da ở điểm giữa
bờ dưới sườn và mào chậu Người được đo đứng thẳng ngay ngắn, hai taybuông lỏng, và thở ra nhẹ nhàng Người đo đọc kết quả, lấy số chính xác tới0,1 cm
Trang 30- Tiến hành đo: Người được đo ngồi ngay ngắn, đặt một cỏch tự nhiờnkhuỷu, cẳng tay và bàn tay trỏi ngửa trờn bàn, cỏnh tay trần ( hoặc xắn cao) đủ
để băng cuốn cỏnh tay nằm trờn nếp khuỷu 2 cm, điều chỉnh để cỏnh tay nằm
ở mặt phẳng ngang với tim Người đo đặt ống nghe ở nếp khuỷu tay trỏi vàtiến hành bơm hơi đo Xả chậm bao hơi với tốc độ 2 mmHg/s, đọc và ghi kếtquả HATT, HATTr chớnh xỏc đến 2 mmHg Đo HA lại lần hai sau 5 phỳt.Lấy giỏ trị trung bỡnh của hai lần đo làm kết quả HATT, HATTr
2.2.4.3 Cỏc kỹ thuật xột nghiệm sinh húa
Cỏc xột nghiệm được làm tại phũng Xột nghiệm của khoa Khỏm chữabệnh theo yờu cầu, bệnh viện Bạch mai Kỹ thuật lấy mỏu và xột nghiệm tuõnthủ theo đỳng quy trỡnh của bệnh viện Bạch mai
Xột nghiệm lipid mỏu:
- Lấy máu tĩnh mạch buổi sáng (lúc đói), ly tâm tách huyết tơng
- Định lợng các thành phần lipid TG, TC, LDL- C và HDL-C tronghuyết tơng theo phơng pháp enzym so màu
- Sử dụng kit thử của hóng Roch và mỏy sinh húa OLYMPUS 640tại phũng Xột nghiện khoa Khỏm chữa bệnh theo yờu cầu - Bệnhviện Bạch Mai
Làm nghiệm phỏp:
- Xột nghiệm Glucose mỏu lỳc đúi trước khi làm nghiệm phỏp
- Cho bệnh nhõn uống 75g glucose khan pha trong 250ml nước đểnguội, uống trong vũng 5 phỳt
- Sau 2 giờ làm lại xột nghiệm glucose mỏu
- Định lượng đường huyết bằng mỏy định lượng đường huyếtnhanh:
Sure step plus, do hóng Lifescan Johnson’s sản xuất, bằng phương
Trang 31pháp so màu.
2.2.5 Các tiêu chuẩn đánh giá được áp dụng trong nghiên cứu
2.2.5.1 Tiêu chuẩn xác định tiền ĐTĐ
Theo ADA 2003 [10] [39] chẩn đoán xác định tiền Đái tháo đường khi
có ít nhất một trong hai tiêu chuẩn sau:
Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến 11,0 mmol/l (198mg/dl)
Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG): nếu lượng glucosehuyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l (100 mg/dl) đến 6,9 mmol/l(125 mg/dl)
2.2.5.2 Tiêu chuẩn phân loại BMI
Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn phân loại BMI theokhuyến nghị của WHO dành riêng cho người trưởng thành châu Á [18]
Bảng 2.1 Phân loại BMI
Trang 322.2.5.3 Tiêu chuẩn phân loại tăng HA
Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán và phânloại tăng HA theo JNC VII [50]
Bảng 2.2 Phân loại tăng HA
2.2.5.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Lipid máu
Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạnlipid máu theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam (2006), chẩn đoán rốiloạn lipid máu khi có một trong các chỉ số sau
Bảng 2.3 Phân loại rối loạn lipid máu [15]
Trang 332.2.6 Các biến số cần thu thập trong nghiên cứu
Bảng 2.4 Các biến số cần thu thập trong nghiên cứu
Tên biến số Ý nghĩa, đơn vị đo
Phương pháp thu thập
G0 Nồng độ glucose máu trước khi làm nghiệm
pháp dung nạp glucose (mmol/l)
Xét nghiệm
G2 Nồng độ glucose máu lúc 2 giờ làm nghiệm
pháp dung nạp glucose (mmol/l)
Xét nghiệm
HDL-C Nồng độ HDL-C trong máu (mmol/l) Xét nghiệmLDL-C Nồng độ LDL-C trong máu (mmol/l) Xét nghiệm
Trang 34- Các số liệu thu thập trong nghiên cứu được xử lý theo phương phápthống kê y học với phần mềm SPSS 16.0.
- Sử dụng các thuật toán thống kê trong y học để xử lý và phân tích sốliệu: test Student, Crosstab để so sánh các giá trị trung bình, độ lệch của cácbiến địn lượng, test χ2 để so sánh các tỷ lệ mắc bệnh giữa các nhóm nghiêncứu So sánh phân tích các tỷ lệ khảo sát tương quan, tính tỷ suất chênh OR
p > α: Khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức (1- α)100%
p < α: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức (1- α)100%
2.2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi được sự cho phép của lãnh đạo bệnhviện Bạch mai, sau khi "Đề cương nghiên cứu" đã được Hội đồng khoa họcthông qua, đồng ý cho triển khai
- Chỉ đưa vào nghiên cứu những người sau khi họ đã được nghe giảithích rõ ràng về mục đích, nội dung và yêu cầu của nghiên cứu, nên đã tựnguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
- Những người từ chối tham gia nghiên cứu vẫn được khám, tư vấn chuđáo cho họ
- Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật, bảođảm không lộ thông tin
- Mọi số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu, không sửdụng cho mục đích khác
Trang 35Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu
GM < 7,0 mmlo/l
Khám LS
XN cơ bản
Làm nghiệm pháp dung nạp glucose
Làm nghiệm phápdung nạp glucose
Go ≥ 7,0 và/hoặcG2 ≥11,1 mmol/l
Tiền ĐTĐ
Xác định tỷ lệ tiền ĐTĐ
Tìm hiểu các yếu tố nguy
cơ ở người tiền ĐTĐ
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG NHÓM NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, có 1090 người được lựa chọntham gia, trong đó có 1054 người thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn lựa chọn vàloại trừ, 36 người bị loại khỏi nghiên cứu: 5 người đã được phát hiện ĐTĐ từtrước (chỉ khi có kết quả xét nghiệm bệnh nhân mới nói thật là đã bị ĐTĐ), 4người có tuổi dưới 30, 2 người có tuổi trên 70, 25 người đã ăn trước khi xétnghiệm máu lại sau 2 giờ uống uống 75 g glucose Trong 1054 người thỏamãn tất cả các tiêu chuẩn nghiên cứu, chúng tôi thấy có đặc điểm chung như dưới đây
1.1.1 Tuổi
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng theo nhóm tuổi
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
ở nhóm tuổi 50 – 59 với 35,0 %, nhóm tuổi 60 – 69 chiếm 13,2 %
3.1.2 Giới tính
Trang 3768.5%
Nam Nữ
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới
Trang 38Nhận xét:
BMI trung bình của cả hai giới là 22,6 ± 2,88 kg/m2, thấp nhất là 15,2kg/m2 cao nhất là 49 kg/m2 BMI trung bình của nam là 22,8 ± 2,79 kg/m2,của nữ là 22,6 ±2,92 kg/m2 BMI trung bình của hai giới khác biệt không có ýnghĩa thống kê (p > 0,05) Tỷ lệ tăng BMI (≥ 23) ở nam là 46,1%, cao hơn ở
nữ là 39%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tăng BMI theo tuổi
Nhận xét:
Tỷ lệ tăng BMI ở lứa tuổi 30 - 39 là 34,5 %, tuổi 40 - 49 là 41,6%, tuổi
50 - 59 là 46,3 % và cao nhất ở nhóm tuổi 60 - 69 là 53,9 %
Trang 39nữ giới là 78,7 ± 8,57 cm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Tỷ lệ vòng eo tăng chung cả nam và nữ là 32,1%, ở riêng nam là15,4%, ở riêng nữ là 39,8%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p < 0,05
61,2
38,8
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Trang 40Nhận xét:
Tỷ lệ tăng vòng eo tăng dần theo tuổi Ở nhóm tuổi từ 30 - 39 có tỷ lệtăng vòng eo là 20,8%, nhóm tuổi 40 - 49 là 25,8%, nhóm tuổi 50 - 59 là41,6%, nhóm tuổi 60 - 69 là 38,8% Kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ vòng eotăng cao nhất ở nhóm tuổi 50 - 59 với 41,6%
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
100
Tỷ lệ %
HA bình thường Tăng HA
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tăng HA theo nhóm tuổi
Nhận xét:
Ta thấy HA tăng dần theo tuổi, tỷ lệ tăng HA ở nhóm tuổi 30 – 39 là4,4%, ở nhóm tuổi 40 – 49 là 13,5%, ở nhóm tuổi 50 – 59 là 27,9% và caonhất ở nhóm tuổi 60 - 69 với 41 %